Con heo đau tim

1

Trần Trúc Việt

Lời giới thiệu: Cựu Hải-Quân Trung-Úy Trần Trúc Việt xuất thân khóa 19 sĩ quan Hải-Quân Nha-Trang.

Năm 1972, khi đang tòng sự trên Hải-Vận-Hạm Ninh-Giang HQ 403 và sắp thuyên chuyển về Giang-Đoàn 21 Xung-Phong, ông Việt được chấp thuận sang Hoa-Kỳ du học. Ông Việt thụ huấn khóa II Communications tại  Naval Postgraduate School.

Đọc những dòng sau đây, quý vị sẽ có ý niệm rõ ràng hơn về một trong những trường Hải-Quân có tầm vóc quốc tế mà nhiều sĩ quan Hải-Quân V.N.C.H. đã theo học.

https://i2.wp.com/www.nps.edu/Images/Images/Campus%20Map%20Dec%202015.jpg

Naval Postgraduate School (NPS) là trường đại học cao cấp nhất được trực tiếp quản trị bởi Bộ-Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trường NPS nằm trong thành phố Monterey, thuộc tiểu bang California, một thành phố du lịch nằm ven biển với khí hậu mát mẻ gần như quanh năm, cách San Jose độ hơn một giờ lái xe. Nói đến NPS là nói đến một trường đại học có rất nhiều sĩ quan thuộc các quốc gia đồng minh của Hoa-Kỳ theo học, dĩ nhiên trong đó có các sĩ quan Quân-Lực V.N.C.H., đa số xuất thân từ Trường sĩ quan Hải-Quân Nha-Trang và Trường Võ-Bị Quốc-Gia Đà-Lạt.

Sơ Lược về Sự Tổ Chức của Naval Postgraduate School

Trường  Hậu Đại-Học Hải-Quân Hoa-Kỳ gồm có ba khối: General Lines School, Engineering School và Management School.

https://fbcdn-sphotos-h-a.akamaihd.net/hphotos-ak-xfa1/v/t1.0-9/39928_151127618230819_6847312_n.jpg?oh=72b3a5c0615f9be58f95c5a87aaff589&oe=578038B4&__gda__=1467747535_e0caec9314454e6b5826b1e20098be22

Management School (Tạm dịch là Trường Quản-Trị). Trường này có lớp riêng cho sĩ quan Hải-Quân Hoa-Kỳ và lớp riêng, ngắn và dài hạn dành cho sĩ quan đồng minh. (International Defense Management Course).

Trường NPS không chỉ dành riêng cho sĩ quan Hải-Quân, mà thời đó, chính phủ V.N.C.H. gửi cả sĩ quan Lục-Quân, Không-Quân và luôn cả công chức cao cấp quốc phòng sang tu nghiệp. Về sau, Hoa-Kỳ mở ngay tại Việt-Nam lớp quản trị cho Quân-Lực V.N.C.H.

Engineering School (Tạm dịch là Trường Kỹ Thuật và Cơ khí). Trường này dạy cho sĩ-quan Hải-Quân Hoa-Kỳ xuất thân từ Annapolis và General Lines School và cũng dạy cho sĩ-quan Hải-Quân Đồng-Minh.

Những sĩ quan Hải-Quân Việt-Nam theo học trường này được chia ra hai nhóm:

  • Sĩ quan cơ khí học các ngành như: Mechanical, Electronic…
  • Sĩ quan chỉ huy học các ngành: Communications, Operations Research, Aerology…

General Lines School (Tạm dịch là trường dạy ngành chỉ huy). Đa số sĩ quan Hải-Quân Hoa-Kỳ theo học tại NPS đều xuất thân Annapolis Naval Academy. Sĩ quan nào xuất thân từ OCS hoặc Naval Aviation School, v. v… đều phải ra đơn vị phục vụ một thời gian tối thiểu là hai năm rồi mới được xin về NPS học tiếp để lấy bằng Cao Học (Master’s Degree), hoặc tiến sĩ (Ph.D.); do đó NPS được gọi là trường hậu đại học.

Những sĩ quan đồng minh, nhất là sĩ quan Hải-Quân Việt-Nam, theo học trường này đều phải là sĩ quan ngành chỉ huy.

Những Tiêu Chuẩn Được Tuyển Chọn Để Theo Học Trường NPS

Qua chương trình MAP (Military Assistance Program) của chính phủ Hoa-Kỳ, sĩ quan Hải-Quân muốn theo học Trường NPS phải hội đủ những điều kiện sau đây: Có văn bằng hoặc chứng chỉ của phân khoa Đại Học Khoa-Học Saigon; điểm Anh ngữ tối thiểu 80; và hồ sơ quân bạ phải không có “củ”. Ban Du Học thuộc Phòng Quân-Huấn, Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân có nhiệm vụ xét đơn các ứng cử viên xem có đủ điều kiện hay không sau đó hồ sơ hợp lệ của sĩ quan ghi danh sẽ được chuyển về Trường NPS để duyệt xét, tuyển chọn và quyết định.

Vì phương pháp tuyển chọn do chính Trường NPS quyết định chứ không phải do Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân cho nên rất công bình. Sau khi nộp hồ sơ, các sĩ quan phải chờ để được gọi về thi Anh ngữ tại trường Sinh-Ngữ Quân-Đội. Nhiều sĩ quan bị loại vì không về kịp để thi Anh ngữ. Trường hợp của tôi khá may mắn, hai lần trước về không kịp vì tàu đang công tác; lần thứ ba – cũng là lần chót – bảy giờ sáng tàu vừa cặp bến chưa cột hết giây, tôi đã xin phép Hạm-Trưởng “phóng” xuống bờ, lấy Honda chạy một mạch đến Trường Sinh-Ngữ Quân-Đội, vừa kịp giờ vào phòng thi.

Được Chấp Thuận và Lên Đường Du Học

Trong đợt tôi đi, danh sách có năm sĩ quan. Bốn người, kể cả tôi, cùng khóa và một người khóa đàn em. Trong bốn người cùng khóa, có một anh nổi tiếng từ quân trường và có biệt danh là “Gà Tồ”. Anh này phải ở lại đi sau vì không đủ điểm Anh ngữ; lý do vì mê chơi cờ tướng nên thường bỏ học Anh ngữ và phải kể cộng thêm cái “gà tồ” của anh nữa. Những sĩ quan được chính thức lên đường phải qua một số thủ tục cần thiết như: xin Thông Hành Quân-Vụ, Sự Vụ Lệnh, chiếu khán nhập cảnh, may quân phục, đổi tiền, v. v…

Chúng tôi đi bằng phi cơ từ phi trường Tân-Sơn-Nhất, dừng tại Hawaii độ hai giờ rồi bay thẳng sang Lackland Air Force Base, San Antonio, Texas, để học thêm ba tháng Anh ngữ. Sau thời gian học Anh ngữ, bốn người chúng tôi đáp máy bay sang Travis Air Force Base, California; từ đây, chúng tôi lấy bus đến Trường NPS.

Trong thời gian di chuyển từ Việt-Nam sang Mỹ, mặc dù Anh văn đã học “một bụng” nhưng mà nói thì múa máy tay chân hơi nhiều. Nhờ đi chung bốn đứa cho nên cũng đỡ, trật đứa này còn đứa khác. Trường hợp anh “Gà Tồ” thì bi đát hơn, vì anh đi trễ nên chỉ có một mình. Anh kể rằng khi ghé tạm nghỉ ở Hawaii, anh đi tìm rest room – danh từ duy nhất anh học tại trường Sinh ngữ Quân-Đội – đi mấy vòng mà không thấy rest room đâu cả, chỉ thấy mấy nơi đề Gentlemen, anh ngẩm nghĩ, không biết mình có được xem như là một Gentleman hay không, vì quần áo xốc xếch quá. Cuối cùng anh đành nhịn, không dám mở cửa bước vào!

Chương Trình và Các Môn Học

Mặc dù được Bộ-Hải-Quân quản trị, nhưng thật ra không có gì là quân đội cả, chương trình học không khác gì các trường Đại Học dân sự, ngoại trừ phải lấy nhiều môn học cho mỗi quarter, gần như gấp đôi so với các đại học ngoài. Vì vậy mà ghế trong thư viện của NPS được các sĩ quan “đánh bóng” rất kỹ vào những ngày cuối tuần; đặc biệt là sĩ quan thuộc các quốc gia đồng minh.  Những môn học thường được sĩ quan Việt-Nam theo học gồm:

Electronic Engineering
Mechanical Engineering
Communications
Operations Management
Operations Research.

Ban giảng huấn đa số là giáo sư dân chính. Nếu tôi không lầm thì có tất cả ba khóa học dài hạn được Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân gửi sĩ quan theo học qua chương trình MAP. Ngoài ra, tại NPS có hai khóa huấn luyện ngắn hạn đặc biệt về Quản-Trị Quốc-Phòng (Defense Management) mỗi năm một lần dành riêng cho sĩ quan cấp Tướng; khóa ba tháng dành cho sĩ quan cấp Đại-Tá. Mỗi năm đều có nhiều sĩ quan cao cấp Việt-Nam theo học hai khóa này. Một người rất đặc biệt trông coi về hành chánh và giao tế cho hai khóa Quản-Trị Quốc-Phòng tại NPS mà tất cả sĩ quan đều kính trọng vì sự phóng khoáng và giúp đỡ tận tình của Bà. Đó là bà Betty Field. Có thể nói, không một sĩ quan nào theo học tại NPS, khóa ngắn hạn cũng như dài hạn, mà không nhận được sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần của Bà. Sau tháng 4-1975, vì sự tận tình tranh đấu và giúp đỡ những sĩ quan Việt-Nam còn đang theo học tại Trường đang gặp khó khăn, Bà đã được sự kính mến và xem như là “Mẹ Tinh Thần” của các sĩ quan tị nạn. Tôi cũng như nhiều sĩ quan khác bọi Bà bằng Mom. Các con của tôi gọi Bà bằng Grandma. Hiện giờ Bà vẫn còn trông coi các khóa Quản-Trị Quốc-Phòng tại NPS.

Trợ Cấp Tài Chánh Học Hành và Ăn Ở

Với số tiền trợ cấp 600 Mỹ kim một tháng – không thuế – được coi là dư giả đối với vật gía vào năm 1972, xăng 32 xu một ga-lông và đi chợ 20 Mỹ kim thì đầy xe. Sĩ quan có thể thuê nhà ở ngoài, mua xe hoặc mặt thường phục đi học.

Chương trình học cũng giống như các đại học dân sự, không như mọi người lầm tưởng là sẽ nặng về quân sự. Có một anh bạn thuộc Trường Võ-Bị Quốc-Gia Đà-Lạt, cụ bị đem theo đồ trận và giày trận, vì nghĩ rằng chắc phải lăn lộn dữ dội ngoài thao trường; khi biết chương trình chỉ toàn học chữ, anh cảm thấy lỡ bộ, bèn dấu biệt đôi giày trận, không bao giờ dám nhắc tới nữa. Đa số sĩ quan bị trở ngại khoảng ba tháng đầu.

Sĩ quan Việt-Nam theo học tại NPS có năm đông nhất lên khoảng 21 người. Những khóa học Electronic, Mechanical và Communications kéo dài ba năm; khóa Operations Research khoảng hai năm rưỡi; khóa Operations Management khoảng 18 tháng. Sĩ quan Bộ-Binh thường theo học khóa Operations Research. NPS là trường đại học về văn hóa cao cấp nhất của quân đội Mỹ, được công nhận bởi hệ thống đại học Miền Tây Hoa-Kỳ và có quyền cấp phát văn bằng tiến sĩ.

Một sĩ quan nổi tiếng trong Hải-Quân Việt-Nam là ông Nguyễn Tiến Ích. Ông xong cao học ở NPS và sau đó theo học ở MIT và đỗ bằng tiến sĩ. Trường hợp đặc biệt có hai sĩ quan đã hai lần theo học NPS, đó là Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn Vân và Hải-Quân Trung-Tá Hà Ngọc Lương. Ông Lương về nước và tự tử chết khi xảy ra cuộc rút quân tại Nha-Trang vào đầu tháng 4 năm 1975. Anh Dzĩnh, một sĩ quan Bộ-Binh, nhỏ con nhưng bù lại anh có một khối óc thật vĩ đại, thuộc loại thiên tài. Anh Dzĩnh theo học khóa Operations Research, được tất cả giáo sư kính nể. Một giáo sư đã nói rằng: “Anh Dzĩnh có cả một thư viện trong đầu.” Anh về nước khoảng cuối năm 1974. Nhà trường sẵn sàng can thiệp để anh ở lại tiếp tục học lấy bằng tiến sĩ, nhưng anh từ chối.

Những Sinh Hoạt Trong Trường và Ngoài Trường

Hằng năm nhà Trường thường tổ chức nhiều buổi văn nghệ và triển lãm quốc tế, đặc biệt là ngày International Day. Vào ngày này, những sĩ quan và gia đình thuộc các quốc gia Đồng-Minh thường làm những món ăn “quốc hồn quốc túy” để giới thiệu món ăn truyền thống của quê hương mình. Riêng về phía Việt-Nam, chỉ toàn sĩ quan “độc thân tại chỗ”, cho nên chỉ biết mượn vài bộ lư hương và đồ gốm để trưng bày.

Sở dĩ sĩ quan Việt-Nam không được phép đem gia đình theo là vì, trong những năm trước, có một sĩ quan – có lẽ bất mãn với Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân đã không cho phép ông gia hạn học thêm – đã cùng vợ trốn sang Canada, không chịu trở về nước. (Theo quy chế cũ, sĩ quan được phép đem vợ theo nếu khóa học hơn một năm). Từ đó, Bộ-Tổng-Tham-Mưu cấm tuyệt đối, không cho sĩ quan du học đem vợ con theo.

Tất cả sĩ quan đều thuê phòng trọ cách trường vài blocks để có thể đi bộ đến Trường. Đa số đều có xe, thỉnh thoảng rủ nhau đi San Francisco ghé phố Tầu ăn mì và mua thực phẩm Á-Đông. Những sĩ quan trẻ thỉnh thoảng cũng làm một chuyến đi xa tận Nevada thăm Mustang Ranch.

Sĩ quan thâm niện hiện diện lúc đó là Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn Ngọc Quỳnh. Thỉnh thoảng Ông mời các sĩ quan họp để, thứ nhất, nhắc nhở các sĩ quan vài điều cần thiết; thứ hai, để thưởng thức món phở đặc biệt và tiếng cười “bất hủ” của Hải-Quân Trung-Tá Đoàn Doanh Tài.

Vùng Monterey và Pacific Grove có khoảng năm gia đình Việt-Nam kỳ cựu và rất hiếu khách. Các sĩ quan trẻ thường đến chơi vào dịp cuối tuần. Đặc biệt phải kể đến gia đình ông bà Thiệp và gia đình Cụ Diệp. Có lẽ tất cả sĩ quan theo học tại NPS đều biết, ngoài đức tính hào phóng và hiếu khách, hai gia đình này còn có mấy cô con gái rất đẹp và dễ thương. Mấy chàng sĩ quan trẻ đôi khi bị “C” cũng vì mấy cô dễ thương này.

Có một trường cũng rất đặc biệt thuộc thành phố Pacific Grove là Trường Sinh Ngữ Quân-Đội (Defense Language Institute). Vào những năm Hoa-Kỳ đổ quân tối đa vào Việt-Nam, Trường đã có hơn 200 giáo chức người Việt dạy tiếng Việt cho những quân nhân chuẩn bị sang Việt-Nam.

Biến Cố Tháng 4 Năm 1975

Mấy tháng trước biến cố tháng 4-1975, những sĩ quan đang theo học tại NPS đều thấy rõ người Mỹ đang chuẩn bị bỏ miền Nam Việt-Nam. Gần như trong suốt thời gian này tất cả sĩ quan không ai còn tinh thần để học nữa. Trong giảng đường thì như người mất hồn, chỉ chờ chiều về để cùng nhau đón xem tin tức từ các đài ABC, NBC và CBS.

Sau tháng 4 năm 1975, Trường NPS chấm dứt việc huấn luyện sĩ quan Việt-Nam, vì chính phủ V.N.C.H. không còn nữa! Tất cả được chuyển qua quy chế tị nạn. Anh em thỉnh cầu nhà Trường gia hạn cho những sĩ quan chỉ còn một hoặc hai quarter nữa là mãn khóa được tiếp tục học cho xong. Nhà Trường chấp thuận, nhờ đó một số sĩ quan đã kịp thời hoàn tất chương trình học. Tôi thuộc vào số sĩ quan may mắn này. Tôi đã hoàn tất văn bằng cao học vào tháng 6 năm 1975.

Tiếc rằng tôi đã không được dịp đem vốn kiến thức hấp thụ tại xứ người để về phục vụ quê hương Việt-Nam và quân chủng Hải-Quân V.N.C.H.!

http://www.diepmylinh.com/tran-truc-viet

 

</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

Giữa mùa hè năm 1980, “Trại Đá” gần đầy tù cải tạo. Ngoài số tù bên Trại B chuyển qua còn có một số ở trại “Vườn Đào” lên và một số ở Phước Long về.

Trong số Phước Long có danh hề “Khá Nặng”. Sở dĩ gọi là Khá Nặng vì câu nói đùa của anh ấy.

Hôm đó chủ nhật, được nghỉ lao động. Chúng tôi đang “vui chơi, tắm giặt, nghe đài” thì được lệnh ai nhà nào về nhà nấy, cổng mỗi nhà đều bị khóa lại. Tù chỉ được quanh quẩn trong sân hay ở trong nhà.

Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau thì có đám tù mới tới, hỏi ra thì họ từ Phước Long về.

Năm 1977, có một đám trung úy, thiếu úy, từ các trại Suối Máu, An Dưỡng, Hóc Môn, v.v… do quân đội Cộng Sản quản lý đưa đi lao động ở Phước Long, làm “nhiệm vụ kinh tế”. Sau đó, một số ít được tha. Số còn lại, giao cho Công An rồi họ được đưa về đây.

Khi đám tù rách rưới như ăn mày, lếch thếch mang vác đồ đạc đi qua cái sân lớn để vào các dãy nhà phía sau. Chúng tôi đứng sát cổng nhà để coi và tìm người quen.

Vài người nhận ra nhau, gọi kêu ơi ới. Bỗng Khả Năng xuất hiện. Sau năm năm tù, trông anh ốm đi nhiều, dù chưa bằng Phi Thoàn, cũng là danh hề thường đóng chung với anh. Thấy anh, chúng tôi mừng rỡ gọi to: “Khả Năng! Khả Năng!” Đang vác một cái xắc ma-re đựng “tư trang” khá nặng, anh cũng dừng lại, quay về phía chúng tôi, giướng mắt nhìn, nói đùa:

– “Khá nặng rồi mấy anh ơi! Không còn Khả Năng nữa mà khá nặng!” (1)

Ý anh muốn nói ở tù như vậy cũng đã lâu, là án tù “khá nặng”. Nghe anh nói đùa với giọng thảm, chúng tôi cùng cười!

Miền Nam hồi trước có nhiều danh hề: Thanh Việt, Thanh Hoài, Phi Thoàn, Khả Năng, v.v…

Khả Năng và Phi Thoàn “trong hạn tuổi quân dịch” nên phải nhập ngũ. Đến 30 tháng Tư, Phi Thoàn chỉ mới được “loon” thượng sĩ, thuộc hàng hạ sĩ quan, khỏi bị “tập trung cải tạo”. Khả Năng “loon” chuẩn úy nên “phải đóng tiền đi ở tù.”

Ít lâu sau, Khả Năng bị “biên chế” qua trại Cây, gia nhập đội Văn Nghệ của bầu Trừ (Nguyễn Văn Trừ). Nhân dịp lễ lạc gì đó, đội Văn Nghệ tập tuồng cải lương để trình diễn. Trong khi tập, Lâm, tên Công An (thường gọi “cán bộ Lâm”), trực trại, tự dưng vào làm đạo diễn, buộc diễn viên phải làm như vầy, như kia. Người đóng vai chú bộ đội thì vênh mặt lên, hùng dũng, kiêu hùng. Người đóng vai “tên lính ngụy” thị hèn nhát, sợ hãi, run rẩy… Khả Năng bực mình cự lại tên cán bộ. Tên nầy hăm dọa nhốt anh vào cát-xô. Chỉ hăm dọa thôi, sau đó, không thấy chuyện gì xảy ra cho “anh hề”, anh được “bình an vô sự”..

Thanh Việt và Khả Năng

Trần Trúc Việt

Lời giới thiệu: Cựu Hải-Quân Trung-Úy Trần Trúc Việt xuất thân khóa 19 sĩ quan Hải-Quân Nha-Trang.

Năm 1972, khi đang tòng sự trên Hải-Vận-Hạm Ninh-Giang HQ 403 và sắp thuyên chuyển về Giang-Đoàn 21 Xung-Phong, ông Việt được chấp thuận sang Hoa-Kỳ du học. Ông Việt thụ huấn khóa II Communications tại  Naval Postgraduate School.

Đọc những dòng sau đây, quý vị sẽ có ý niệm rõ ràng hơn về một trong những trường Hải-Quân có tầm vóc quốc tế mà nhiều sĩ quan Hải-Quân V.N.C.H. đã theo học.

https://i2.wp.com/www.nps.edu/Images/Images/Campus%20Map%20Dec%202015.jpg

Naval Postgraduate School (NPS) là trường đại học cao cấp nhất được trực tiếp quản trị bởi Bộ-Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trường NPS nằm trong thành phố Monterey, thuộc tiểu bang California, một thành phố du lịch nằm ven biển với khí hậu mát mẻ gần như quanh năm, cách San Jose độ hơn một giờ lái xe. Nói đến NPS là nói đến một trường đại học có rất nhiều sĩ quan thuộc các quốc gia đồng minh của Hoa-Kỳ theo học, dĩ nhiên trong đó có các sĩ quan Quân-Lực V.N.C.H., đa số xuất thân từ Trường sĩ quan Hải-Quân Nha-Trang và Trường Võ-Bị Quốc-Gia Đà-Lạt.

Sơ Lược về Sự Tổ Chức của Naval Postgraduate School

Trường  Hậu Đại-Học Hải-Quân Hoa-Kỳ gồm có ba khối: General Lines School, Engineering School và Management School.

https://fbcdn-sphotos-h-a.akamaihd.net/hphotos-ak-xfa1/v/t1.0-9/39928_151127618230819_6847312_n.jpg?oh=72b3a5c0615f9be58f95c5a87aaff589&oe=578038B4&__gda__=1467747535_e0caec9314454e6b5826b1e20098be22

Management School (Tạm dịch là Trường Quản-Trị). Trường này có lớp riêng cho sĩ quan Hải-Quân Hoa-Kỳ và lớp riêng, ngắn và dài hạn dành cho sĩ quan đồng minh. (International Defense Management Course).

Trường NPS không chỉ dành riêng cho sĩ quan Hải-Quân, mà thời đó, chính phủ V.N.C.H. gửi cả sĩ quan Lục-Quân, Không-Quân và luôn cả công chức cao cấp quốc phòng sang tu nghiệp. Về sau, Hoa-Kỳ mở ngay tại Việt-Nam lớp quản trị cho Quân-Lực V.N.C.H.

Engineering School (Tạm dịch là Trường Kỹ Thuật và Cơ khí). Trường này dạy cho sĩ-quan Hải-Quân Hoa-Kỳ xuất thân từ Annapolis và General Lines School và cũng dạy cho sĩ-quan Hải-Quân Đồng-Minh.

Những sĩ quan Hải-Quân Việt-Nam theo học trường này được chia ra hai nhóm:

  • Sĩ quan cơ khí học các ngành như: Mechanical, Electronic…
  • Sĩ quan chỉ huy học các ngành: Communications, Operations Research, Aerology…

General Lines School (Tạm dịch là trường dạy ngành chỉ huy). Đa số sĩ quan Hải-Quân Hoa-Kỳ theo học tại NPS đều xuất thân Annapolis Naval Academy. Sĩ quan nào xuất thân từ OCS hoặc Naval Aviation School, v. v… đều phải ra đơn vị phục vụ một thời gian tối thiểu là hai năm rồi mới được xin về NPS học tiếp để lấy bằng Cao Học (Master’s Degree), hoặc tiến sĩ (Ph.D.); do đó NPS được gọi là trường hậu đại học.

Những sĩ quan đồng minh, nhất là sĩ quan Hải-Quân Việt-Nam, theo học trường này đều phải là sĩ quan ngành chỉ huy.

Những Tiêu Chuẩn Được Tuyển Chọn Để Theo Học Trường NPS

Qua chương trình MAP (Military Assistance Program) của chính phủ Hoa-Kỳ, sĩ quan Hải-Quân muốn theo học Trường NPS phải hội đủ những điều kiện sau đây: Có văn bằng hoặc chứng chỉ của phân khoa Đại Học Khoa-Học Saigon; điểm Anh ngữ tối thiểu 80; và hồ sơ quân bạ phải không có “củ”. Ban Du Học thuộc Phòng Quân-Huấn, Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân có nhiệm vụ xét đơn các ứng cử viên xem có đủ điều kiện hay không sau đó hồ sơ hợp lệ của sĩ quan ghi danh sẽ được chuyển về Trường NPS để duyệt xét, tuyển chọn và quyết định.

Vì phương pháp tuyển chọn do chính Trường NPS quyết định chứ không phải do Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân cho nên rất công bình. Sau khi nộp hồ sơ, các sĩ quan phải chờ để được gọi về thi Anh ngữ tại trường Sinh-Ngữ Quân-Đội. Nhiều sĩ quan bị loại vì không về kịp để thi Anh ngữ. Trường hợp của tôi khá may mắn, hai lần trước về không kịp vì tàu đang công tác; lần thứ ba – cũng là lần chót – bảy giờ sáng tàu vừa cặp bến chưa cột hết giây, tôi đã xin phép Hạm-Trưởng “phóng” xuống bờ, lấy Honda chạy một mạch đến Trường Sinh-Ngữ Quân-Đội, vừa kịp giờ vào phòng thi.

Được Chấp Thuận và Lên Đường Du Học

Trong đợt tôi đi, danh sách có năm sĩ quan. Bốn người, kể cả tôi, cùng khóa và một người khóa đàn em. Trong bốn người cùng khóa, có một anh nổi tiếng từ quân trường và có biệt danh là “Gà Tồ”. Anh này phải ở lại đi sau vì không đủ điểm Anh ngữ; lý do vì mê chơi cờ tướng nên thường bỏ học Anh ngữ và phải kể cộng thêm cái “gà tồ” của anh nữa. Những sĩ quan được chính thức lên đường phải qua một số thủ tục cần thiết như: xin Thông Hành Quân-Vụ, Sự Vụ Lệnh, chiếu khán nhập cảnh, may quân phục, đổi tiền, v. v…

Chúng tôi đi bằng phi cơ từ phi trường Tân-Sơn-Nhất, dừng tại Hawaii độ hai giờ rồi bay thẳng sang Lackland Air Force Base, San Antonio, Texas, để học thêm ba tháng Anh ngữ. Sau thời gian học Anh ngữ, bốn người chúng tôi đáp máy bay sang Travis Air Force Base, California; từ đây, chúng tôi lấy bus đến Trường NPS.

Trong thời gian di chuyển từ Việt-Nam sang Mỹ, mặc dù Anh văn đã học “một bụng” nhưng mà nói thì múa máy tay chân hơi nhiều. Nhờ đi chung bốn đứa cho nên cũng đỡ, trật đứa này còn đứa khác. Trường hợp anh “Gà Tồ” thì bi đát hơn, vì anh đi trễ nên chỉ có một mình. Anh kể rằng khi ghé tạm nghỉ ở Hawaii, anh đi tìm rest room – danh từ duy nhất anh học tại trường Sinh ngữ Quân-Đội – đi mấy vòng mà không thấy rest room đâu cả, chỉ thấy mấy nơi đề Gentlemen, anh ngẩm nghĩ, không biết mình có được xem như là một Gentleman hay không, vì quần áo xốc xếch quá. Cuối cùng anh đành nhịn, không dám mở cửa bước vào!

Chương Trình và Các Môn Học

Mặc dù được Bộ-Hải-Quân quản trị, nhưng thật ra không có gì là quân đội cả, chương trình học không khác gì các trường Đại Học dân sự, ngoại trừ phải lấy nhiều môn học cho mỗi quarter, gần như gấp đôi so với các đại học ngoài. Vì vậy mà ghế trong thư viện của NPS được các sĩ quan “đánh bóng” rất kỹ vào những ngày cuối tuần; đặc biệt là sĩ quan thuộc các quốc gia đồng minh.  Những môn học thường được sĩ quan Việt-Nam theo học gồm:

Electronic Engineering
Mechanical Engineering
Communications
Operations Management
Operations Research.

Ban giảng huấn đa số là giáo sư dân chính. Nếu tôi không lầm thì có tất cả ba khóa học dài hạn được Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân gửi sĩ quan theo học qua chương trình MAP. Ngoài ra, tại NPS có hai khóa huấn luyện ngắn hạn đặc biệt về Quản-Trị Quốc-Phòng (Defense Management) mỗi năm một lần dành riêng cho sĩ quan cấp Tướng; khóa ba tháng dành cho sĩ quan cấp Đại-Tá. Mỗi năm đều có nhiều sĩ quan cao cấp Việt-Nam theo học hai khóa này. Một người rất đặc biệt trông coi về hành chánh và giao tế cho hai khóa Quản-Trị Quốc-Phòng tại NPS mà tất cả sĩ quan đều kính trọng vì sự phóng khoáng và giúp đỡ tận tình của Bà. Đó là bà Betty Field. Có thể nói, không một sĩ quan nào theo học tại NPS, khóa ngắn hạn cũng như dài hạn, mà không nhận được sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần của Bà. Sau tháng 4-1975, vì sự tận tình tranh đấu và giúp đỡ những sĩ quan Việt-Nam còn đang theo học tại Trường đang gặp khó khăn, Bà đã được sự kính mến và xem như là “Mẹ Tinh Thần” của các sĩ quan tị nạn. Tôi cũng như nhiều sĩ quan khác bọi Bà bằng Mom. Các con của tôi gọi Bà bằng Grandma. Hiện giờ Bà vẫn còn trông coi các khóa Quản-Trị Quốc-Phòng tại NPS.

Trợ Cấp Tài Chánh Học Hành và Ăn Ở

Với số tiền trợ cấp 600 Mỹ kim một tháng – không thuế – được coi là dư giả đối với vật gía vào năm 1972, xăng 32 xu một ga-lông và đi chợ 20 Mỹ kim thì đầy xe. Sĩ quan có thể thuê nhà ở ngoài, mua xe hoặc mặt thường phục đi học.

Chương trình học cũng giống như các đại học dân sự, không như mọi người lầm tưởng là sẽ nặng về quân sự. Có một anh bạn thuộc Trường Võ-Bị Quốc-Gia Đà-Lạt, cụ bị đem theo đồ trận và giày trận, vì nghĩ rằng chắc phải lăn lộn dữ dội ngoài thao trường; khi biết chương trình chỉ toàn học chữ, anh cảm thấy lỡ bộ, bèn dấu biệt đôi giày trận, không bao giờ dám nhắc tới nữa. Đa số sĩ quan bị trở ngại khoảng ba tháng đầu.

Sĩ quan Việt-Nam theo học tại NPS có năm đông nhất lên khoảng 21 người. Những khóa học Electronic, Mechanical và Communications kéo dài ba năm; khóa Operations Research khoảng hai năm rưỡi; khóa Operations Management khoảng 18 tháng. Sĩ quan Bộ-Binh thường theo học khóa Operations Research. NPS là trường đại học về văn hóa cao cấp nhất của quân đội Mỹ, được công nhận bởi hệ thống đại học Miền Tây Hoa-Kỳ và có quyền cấp phát văn bằng tiến sĩ.

Một sĩ quan nổi tiếng trong Hải-Quân Việt-Nam là ông Nguyễn Tiến Ích. Ông xong cao học ở NPS và sau đó theo học ở MIT và đỗ bằng tiến sĩ. Trường hợp đặc biệt có hai sĩ quan đã hai lần theo học NPS, đó là Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn Vân và Hải-Quân Trung-Tá Hà Ngọc Lương. Ông Lương về nước và tự tử chết khi xảy ra cuộc rút quân tại Nha-Trang vào đầu tháng 4 năm 1975. Anh Dzĩnh, một sĩ quan Bộ-Binh, nhỏ con nhưng bù lại anh có một khối óc thật vĩ đại, thuộc loại thiên tài. Anh Dzĩnh theo học khóa Operations Research, được tất cả giáo sư kính nể. Một giáo sư đã nói rằng: “Anh Dzĩnh có cả một thư viện trong đầu.” Anh về nước khoảng cuối năm 1974. Nhà trường sẵn sàng can thiệp để anh ở lại tiếp tục học lấy bằng tiến sĩ, nhưng anh từ chối.

Những Sinh Hoạt Trong Trường và Ngoài Trường

Hằng năm nhà Trường thường tổ chức nhiều buổi văn nghệ và triển lãm quốc tế, đặc biệt là ngày International Day. Vào ngày này, những sĩ quan và gia đình thuộc các quốc gia Đồng-Minh thường làm những món ăn “quốc hồn quốc túy” để giới thiệu món ăn truyền thống của quê hương mình. Riêng về phía Việt-Nam, chỉ toàn sĩ quan “độc thân tại chỗ”, cho nên chỉ biết mượn vài bộ lư hương và đồ gốm để trưng bày.

Sở dĩ sĩ quan Việt-Nam không được phép đem gia đình theo là vì, trong những năm trước, có một sĩ quan – có lẽ bất mãn với Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân đã không cho phép ông gia hạn học thêm – đã cùng vợ trốn sang Canada, không chịu trở về nước. (Theo quy chế cũ, sĩ quan được phép đem vợ theo nếu khóa học hơn một năm). Từ đó, Bộ-Tổng-Tham-Mưu cấm tuyệt đối, không cho sĩ quan du học đem vợ con theo.

Tất cả sĩ quan đều thuê phòng trọ cách trường vài blocks để có thể đi bộ đến Trường. Đa số đều có xe, thỉnh thoảng rủ nhau đi San Francisco ghé phố Tầu ăn mì và mua thực phẩm Á-Đông. Những sĩ quan trẻ thỉnh thoảng cũng làm một chuyến đi xa tận Nevada thăm Mustang Ranch.

Sĩ quan thâm niện hiện diện lúc đó là Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn Ngọc Quỳnh. Thỉnh thoảng Ông mời các sĩ quan họp để, thứ nhất, nhắc nhở các sĩ quan vài điều cần thiết; thứ hai, để thưởng thức món phở đặc biệt và tiếng cười “bất hủ” của Hải-Quân Trung-Tá Đoàn Doanh Tài.

Vùng Monterey và Pacific Grove có khoảng năm gia đình Việt-Nam kỳ cựu và rất hiếu khách. Các sĩ quan trẻ thường đến chơi vào dịp cuối tuần. Đặc biệt phải kể đến gia đình ông bà Thiệp và gia đình Cụ Diệp. Có lẽ tất cả sĩ quan theo học tại NPS đều biết, ngoài đức tính hào phóng và hiếu khách, hai gia đình này còn có mấy cô con gái rất đẹp và dễ thương. Mấy chàng sĩ quan trẻ đôi khi bị “C” cũng vì mấy cô dễ thương này.

Có một trường cũng rất đặc biệt thuộc thành phố Pacific Grove là Trường Sinh Ngữ Quân-Đội (Defense Language Institute). Vào những năm Hoa-Kỳ đổ quân tối đa vào Việt-Nam, Trường đã có hơn 200 giáo chức người Việt dạy tiếng Việt cho những quân nhân chuẩn bị sang Việt-Nam.

Biến Cố Tháng 4 Năm 1975

Mấy tháng trước biến cố tháng 4-1975, những sĩ quan đang theo học tại NPS đều thấy rõ người Mỹ đang chuẩn bị bỏ miền Nam Việt-Nam. Gần như trong suốt thời gian này tất cả sĩ quan không ai còn tinh thần để học nữa. Trong giảng đường thì như người mất hồn, chỉ chờ chiều về để cùng nhau đón xem tin tức từ các đài ABC, NBC và CBS.

Sau tháng 4 năm 1975, Trường NPS chấm dứt việc huấn luyện sĩ quan Việt-Nam, vì chính phủ V.N.C.H. không còn nữa! Tất cả được chuyển qua quy chế tị nạn. Anh em thỉnh cầu nhà Trường gia hạn cho những sĩ quan chỉ còn một hoặc hai quarter nữa là mãn khóa được tiếp tục học cho xong. Nhà Trường chấp thuận, nhờ đó một số sĩ quan đã kịp thời hoàn tất chương trình học. Tôi thuộc vào số sĩ quan may mắn này. Tôi đã hoàn tất văn bằng cao học vào tháng 6 năm 1975.

Tiếc rằng tôi đã không được dịp đem vốn kiến thức hấp thụ tại xứ người để về phục vụ quê hương Việt-Nam và quân chủng Hải-Quân V.N.C.H.!

http://www.diepmylinh.com/tran-truc-viet

 

</div>
” data-medium-file=”” data-large-file=”” />

&

Cũng mùa hè năm đó, chúng tôi được tin có phái đoàn Liên Hợp Quốc đến thăm.

Trước đó, khi chúng tôi mới qua trại A, đã có phái đoàn Cộng Sản ngoại quốc đến. Hôm đó cũng là ngày chủ nhật, đang nghỉ ở nhà thì chúng tôi được lệnh vào hết trong nhà, khóa cửa lại, không cho ai đứng ngoài sân. Cổng mỗi nhà cũng khóa lại.

Võ Phước Thọ nhanh trí, đoán biết là có phái đoàn ngoại quốc tới, trong khi cán bộ chưa kịp khóa cổng thì anh ta phóng ngay ra khỏi cổng, viết ngay trên đường đất mấy chữ “S.O.S”. Một lúc thì có khoảng năm hay sáu người đi chậm chậm ngang cổng từng nhà. Tới cổng nhà chúng tôi bị giam, – chúng tôi rình trong nhà – nhờ chúng tôi leo lên cao, nhìn ra ngoài theo mấy cái cửa thông gió.

Trong phái đoàn có hai ba bà đầm mắt xanh mũi lõ, có lẽ là người Nga hay Đông Âu và một anh chàng Nhật, còn trẻ, da vàng mũi tẹt, khá lùn, và nói xí xô xí xào tiếng Nhật, tiếng Anh với vài người khác trong đoàn. Anh chàng nầy thấy mấy chữ S.O.S do Võ Phước Thọ vẽ trên đất bèn gọi mấy người kia tới xem, đưa máy hình lên chụp, xong bọn họ đi ra cổng lớn. Sau đó, thì chúng tôi được “thả chuồng” – ra khỏi nhà, được ra sân, chuyện trò –

Khoảng nửa tiếng sau, trung tá Dziệt Cộng Trịnh Văn Thích, trại trưởng, vào đứng ngay cổng, nói chõ vào, giận dữ:

– “Cái gì mà phải vẽ dấu hiệu cấp cứu! Anh nào vẽ? Anh nào vẽ?”

Y không đi một mình, có một Công An khác đi theo, hông đeo súng nhỏ, có lẽ để bảo vệ y.

Trung tá Thích cũng chỉ đứng ngay cổng nói chõ vào chớ không dám vào trong sân. Y coi tù đã mấy chục năm, kinh nghiệm lắm. Vào sâu, lỡ tù trùm mền đánh cho thì sao?! Sau đó Công An quản giáo có điều tra tìm người viết mấy chữ S.O.S. nhưng công cốc.

&

Bây giờ thì trại đông hơn trước nhiều. Lần nầy đến thăm là phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Mấy hôm trước thân nhân lên thăm, báo cho biết là phái đoàn Liên Hợp Quốc đang thăm mấy trại ngoài bắc, ngoài trung, nên chúng tôi đoán chừng vậy.

Sáng hôm đó bỗng kẻng gọi tập trung đi làm trễ.

Quá bảy giờ mà chưa nghe đánh kẻng như thường lệ. Vậy là anh em tù xôn xao. Người ta nói to với nhau, có vẻ mừng: “Liên Hiệp Quốc tới! Liên Hiệp Quốc tới!” Trong tâm trạng tuyệt vọng, như đang bị trôi giữa dòng nước lũ, vớ nhằm cộng rều cũng tưởng như vớ được tấm ván. Không rõ phái đoàn của “ông già bất lực Liên Hợp Quốc” có làm nên trò trống gì không, mà người ta cũng hy vọng vậy.

Chín giờ kẻng đánh, các đội tập trung ở sân lớn chờ gọi đi. Bỗng có một đội trong đám Vườn Đào được gọi vào nhà, biểu chờ lệnh. Thế rồi các đội khác bị gọi đi, ra khỏi trại. Có điều lạ, cán bộ không gọi đội trưởng cho người đi nhận cuốc để cuốc đất như thường lệ.

Thông thường mỗi đội chỉ có hai – có khi chỉ một – vệ binh cầm súng đi theo – “Để bảo vệ các anh vì sợ đồng bào căm thù Mỹ Ngụy mà đánh các anh!” Cán bộ giải thích vậy! –

Bữa nay, mỗi đội có tới ba hoặc bốn vệ binh đi theo “bảo vệ cải tạo viên” – Việt Cộng bao giờ nói nghe cũng tình nghĩa dữ lắm! – Tất cả các đội đều được dẫn đi ngược vào phía sau trại, sát bìa rừng. Vào đó, chúng tôi được ngồi chơi, không lao động, lao cải gì hết! – Trưa, mỗi đội cử ba người – hai người về nhà bếp nhận bắp, một người gánh nước uống cho bữa trưa.

Khoảng ba giờ chiều, được về trại nghỉ! Đúng là một hôm “vui chơi” khỏe khoắn, khỏi cuốc đất, lại còn được về sớm – thông thường thì năm giờ chiều mới về.

Về tới trại thì được “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”! Bữa nay khỏi lao động vì Công An dẫn tù đi trốn phái đoàn Liên Hợp Quốc, sợ phái đoàn gặp tù, “mấy anh phát biểu linh tinh, không có lợi cho cách mạng.” Cán bộ lại giải thích vậy.

Cuối cùng thì phái đoàn Liên Hợp Quốc chưa lên thăm trại được!

Bấy giờ anh em mới rõ thêm nhiều điều vui. Đội “Vườn Đào” được ở nhà là để “làm cảnh”.

Những anh em đó được lệnh ở nhà thay áo quần sạch sẽ, lành lặn, tập họp đi lên “lớp học tập”. Lớp là căn phòng đầu hồi, có đặt hai dãy bàn, phủ khăn, chưng mỗi bàn hai bình bông. “Ăn khoai mì mà chưng bông!”

Mấy ông vườn đào chia nhau ngồi trên những cái băng gỗ hai bên bàn. Ngồi chờ lâu quá, chẳng ma nào tới, “học viên” buồn ngủ, ngáp vặt, nói tục, và kháo chuyện bậy: “Ăn khoai mì mà cũng bày đặt bình hoa!” hoặc “Học xong 10 bài từ đời nảo đời nào mà chưa mãn khóa.” v.v… Xong rồi, được về sớm, lại “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”, một ngày khỏe re!

Nhà bếp, nằm bên cạnh cổng vào, hôm đó được lệnh nấu cơm trắng thay vì khoai mì hay bắp hột. Nhưng vì phái đoàn Liên Hợp Quốc không lên nên cơm ấy được lệnh mang ra cho cán bộ “ăn giùm” để tỏ rõ lòng “cao thượng, không coi trọng” miếng ăn của Dziệt Cộng! Còn tù cải tạo thì vẫn bổn cũ hằng ngày, soạn đi soạn lại: Một bữa khoai mì lát, một bữa bắp hột!

Cũng nhắm mục đích cho buổi trình diễn thêm phần hấp dẫn, một con heo được dắt từ khu chăn nuôi ra. Con heo được cột trước mái hiên nhà bếp, chờ tin phái đoàn Liên Hợp Quốc chắc chắn sẽ lên thì mới làm thịt heo!

Phái đoàn Liên Hợp Quốc không lên, heo lại được dẫn về chuồng: “Cho (heo) sống lại một ngày” nữa, như tên một tác phẩm của Dương Hà. (Cho tôi sống lại một ngày)

Tối đó, đám tù cải tạo tập trung từng nhóm, uống nước trà, bàn bạc lung tung, tham mưu đủ hạng. Có người cho rằng đám “Vườn Đào”, người Miền Nam, hiền hòa hơn, không phát biểu lung tung, bạt mạng như đám Saigon nên được ở lại “làm kiểng cho cách mạng”.

Con heo thì sau một ngày chờ chết mà chưa chết, sợ quá nên hiện đang đau… bệnh tim, phải đưa đi cấp cứu. Chỉ có một con heo mà đủ lời bàn của… Mao Tôn Cương. Tới 10 giờ tối, điện tắt, đi ngủ.

Vậy mà nhiều người đoán đúng!

Sáng hôm sau, bảy giờ sáng, chưa có kẻng tập trung, có nghĩa lại chờ phái đoàn Liên Hợp Quốc lên, lại được đem đi giấu, thêm một ngày nữa khỏi lao động, vào rừng “vui chơi”, tụ nhau lại mà nói đùa, chiều về sớm, “tắm giặt, nghe đài”. Ai nấy cười nói vui mừng xôn xao.

Hôm đó, cuối cùng phái đoàn Liên Hợp Quốc lại cũng chưa lên. Trên đường về, bữa nay vui hơn hôm qua vì tù cải tạo được nghỉ lao động, ngày mai lại cũng chuẩn bị đón phái đoàn Liên Hợp Quốc nữa, khỏi cuốc đất thêm một ngày nữa. Tổng cộng là được ba ngày.

Trên đường vào trại, khi đội của tôi đi ngang nhà bếp, lại nhằm lúc một anh tù cải tạo đội cấp dưỡng (nhà bếp) đang dắt heo trả về lại chuồng. Lê Văn Y nghịch, tiện chân, đá vào mông con heo một cái; heo kêu “éc”. Trần Nguyên Bình, đi bên cạnh, nói:

– “Đá nó tội mày!”

– “Tội chi nữa! Bữa nay không chết, mai cũng chết!”

Lương văn Lịch cười, nói to:

– “Hai ngày nay nó sợ quá, đau tim nặng lắm rồi! Không chừng đêm nay “qua đời”!

– “Nó có qua đời mày cũng chẳng được gì đâu. Bất quá miếng thịt bằng ngón tay út.” Y nói.

Bỗng Nguyễn Quang Ngọc la to lên:

– “Con heo đau bệnh tim anh em ơi! “Không phải tui mấy ông ơi! Tui mới cưới vợ, không phải tui mấy ông ơi!”

Cả đám cười ồ! Có người cười hô hố vì câu nhại đó!

Nguyên là hồi còn ở Trại Cây (trại B), một hôm cán bộ dẫn đi xem phim Nguyễn Văn Trỗi, ra về, có một anh “tù cải tạo” nguyên trước làm giám thị ở khám Chí Hòa, kể lại rằng hôm bắn Nguyễn Văn Trỗi, anh ta có đi theo:

“Nó đâu có anh hùng như trong phim. Biết dẫn đi bắn, nó vừa đi vừa khóc: “Không phải tui mấy ông ơi! Tui mới cưới vợ. Người ta cho tui tiền để tui cưới vợ mấy ông ơi!”

Chuyện nầy anh em chuyền tai nhau trong trại, nhiều người biết. Từ đó có nhiều người thường nhại câu “Không phải tui mấy ông ơi!” để cười chơi mỗi khi bị cán bộ bắt vì ăn cắp củ khoai mì hay trái bắp dấu trong lưng quần.

Ngày mai là ngày thứ ba, thế nào phái đoàn Liên Hợp Quốc cũng lên.

Chiều hôm đó, vài ba anh em trong Hội Nhân Quyền của luật sư Trần Danh San bí mật họp nhau bàn chuyện ngày mai làm thế nào có người ra gặp phái đoàn Liên Hợp Quốc, đưa thư khiếu nại. Nội dung thư chỉ nói mấy điều quan trọng:

Một là, đây không phải là trại học tập cải tạo. Học tập thì phải có ngày khai giảng, mãn khóa, còn ở đây học đã lâu, đã năm năm nhưng không biết bao giờ mãn khóa, cho về.

Thứ hai, xác nhận đây là trại tù khổ sai Cộng Sản. Tù thì cũng phải đưa ra tòa, phải có án, hết án phải được tha về.

Thứ ba, đây là những tù binh chiến tranh, binh lính, viên chức chế độ Saigon cũ. Tù binh thì phải được đối xử theo Công ước Genève.

Tôi không nhớ ai là người viết tiếng Anh bức thư nầy, nhưng người chép ra giấy là họa sĩ Hải. Anh nầy được tha sau đó có mấy tháng và được đi Pháp cùng gia đình.

Dương Tiến Đông được anh em trong nhóm Nhân Quyền chọn ra gặp phái đoàn. Dương Tiến Đông cũng tình nguyện đảm nhận công việc nầy.

Đông tính nóng, hiếu động và gan lì.

Anh em họp nhau bàn với Đông là khi tới gần phái đoàn Liên Hợp Quốc, cứ tự động xông tới. Thằng cán bộ đi theo sẽ không dám bắn. “Tụi nó không dám bắn người ngay trước mặt phái đoàn Liên Hợp Quốc”. Anh em dặn Đông: “Rán mà chịu! Phái đoàn Liên Hợp Quốc về rồi thì chúng nhốt mày vào “cát-xô” và chơi một đòn hội chợ bầm mình.”

Bọn cán bộ ở đây có thói quen trả thù tù cải tạo, khi có anh em nào bị nhốt vào “cát xô” thì chiều hôm đó, khi “trật tự” đem cơm ra cho người bị nhốt, bọn nó ba bốn đứa đánh đòn hội chợ trong khi người tù cải tạo còn mang còng ở tay và chân còn bị cùm vào thanh sắt ngang trên sàn, không có cách gì chống đỡ được.

Trưa hôm sau, khi còn đang ở trong bìa rừng thì Đông giả bộ đau bụng, xin về trại lấy thuốc uống. Cán bộ quản giáo không cho về. Đông giả bộ xin đi cầu nhiều lần. Anh ta nói với cán bộ: “Tui bị tiêu chảy đi re re! Kiểu nầy thì chẳng mấy lúc người khô nước mà chết! Tui mà chết là cán bộ mang tiếng ác. Anh em họ cũng khiếu nại cán bộ cho xem.”

Dọa cán bộ xong, anh ta giả bộ nằm rên hừ hừ, than vãn đau quá! Mãi tới quá trưa, thấy anh ta đau, không chịu ăn trưa, cán bộ quản giáo mới cho một vệ binh cầm súng đi theo, cho Đông về trại trước. Gần tới trại, anh ta đi thật nhanh. Đông người cao, chân dài, đi lẹ, anh vệ binh phải lết giò mới theo kịp.

Khi vừa tới góc bờ thành bên tay phải quặt ra phía trước, Đông vừa thấy phái đoàn Liên Hợp Quốc đang lên xe. Khoảng đường còn khá xa, Đông muốn chạy cho nhanh nhưng anh vệ binh chạy theo gọi lại, mở cơ bẩm cho đạn lên nòng kêu rắc rắc. Đông vẫn cứ đi nhanh.

Khi Đông vừa tới cổng trại thì đoàn xe phái đoàn Liên Hợp Quốc rời khỏi sân văn phòng trại. Đông tiếc hùi hụi, về nhà nằm, anh ta không ngớt chưởi thề: “Thằng quản giáo Chinh cho tao về trễ. Sớm hơn cỡ năm phút là tao đưa được lá thư cho Liên hiệp Quốc rồi. Đ. má! Mất một dịp bằng vàng!”

hoànglonghải

(1)-Nghe nói sau khi được tha, khoảng năm 1982, danh hề Khả Năng vượt biên bằng đường bộ, bị bắn chết. Không rõ phe nào giết ông!

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 22) Con heo đau tim

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s