Chiến cụ Thiết giáp VNCH Thiết pháo xa M-125 và M-106 – Trần Lý

                                                           Trần Lý

Trân Lý (trích Kỵ binh Phù Đổng)

  Lực lượng Thiết giáp VNCH được Hoa Kỳ cung cấp một số Xe thiết giáp có gắn sẵn các loại súng cối để yểm trợ chiến trường. Cũng từ kinh nghiệm của chiến trường Việt Nam nên sau đó Lục quân Hoa Kỳ cũng chế tạo riêng những loại xe gắn súng cối cho riêng họ..

    Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu nhận các Thiết vận xa M-113 vào năm 1960, với quan niệm xe sẽ được dùng trong nhiệm vụ chuyển vận binh sĩ đến chiến trường nhanh chóng, tăng khả năng di động của bộ binh. Xe được xem như ‘taxi chiến trường’. Tuy nhiên trong thời gian thiết kế, xe cụng được dự trù để có thể dùng trong các nhiệm vụ khác hơn.. Để giúp bảo trì, huấn luyện nên ngay cả các cơ phận cũng được tiêu chuẩn hóa để có thể dùng chung cho các xe phát xuất từ một kiểu căn bản. Một trong những cải biến đầu tiên là xe dược chuyên dùng để chở súng cối, gọi tạm là Thiết pháo xa (mortar-carrier).

    Trên chiến trường, các đơn vị cơ giới thường di chuyển khá nhanh, rất dễ vượt khỏi tầm yểm trợ của pháo binh, và để có thể yểm trợ cấp thời cho lực lượng tấn kích, các nhà nghiên cứu võ khí của Lục quân HK đã nghĩ đến việc lắp đặt súng cối trên sàn xe half-track, không nắp ..Kết quả của Chiến trường Thế chiến 2 và  Triều tiên đã chứng minh được hiệu năng của các xe chở súng cối..

    Ngay khi thiết kế xe M-113 và khi sản xuất, Lục quân HK đã phác họa một kiểu xe có thể gắn trên sàn xe các loại súng cối 81 và 107 ly.

  • Súng cối 81, với biệt danh ‘pháo binh của Tiểu đoàn’, rất hựu hiệu khi yểm trợ cho các cuộc hành quân cấp.. tiểu đoàn. Súng chỉ nặng 37.3 kg (27 pounds), có thể bắn các quả đạn nặng 4 kg (9 pounds), tầm xa đến 6 km. Các xạ thủ lão luyện có thể bắn mỗi phút 7-8 quả thật chính xác vào mục tiêu chỉ định..

      –

                                             Súng cối 81 ly

  • Súng cối 107 ly hay 4.2 inch, mạnh hơn có thể đặt dưới quyền điều động của Lữ đoàn hay Sư đoàn. Súng nặng 300kg (627 pounds), bắn đạn nặng 12 kg (27 pounds) vào những mục tiêu xa khoảng 7.5 km. Xạ thủ có thể bắn loạt đầu 18 viên và sau đó 3-4 quả mỗi phút.
  • Cả hai loại súng cối đều rất cần thiết cho các cuộc hành quân của bộ binh. Súng cối 81 có thể yểm trợ cho các đơn vị nhỏ khi đụng trận, còn cối 107 khi đặt sẵn trên xe sẹ có thể di chuyển nhanh đến chiến trường để thanh toán mục tiêu địch.

    Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, các kỹ sư về võ khí đã thay đổi một số chi tiết để có thể gắn 2 loại súng cối trên xe M-113 : Trước hết là tìm cách đặt một hệ thống bàn tiếp hậu cố định trên sàn xe (trong trường hợp bình thường, bàn tiếp hậu súng cối là một mâm thép tròn với những chân cọc ở mặt dưới, khi khai hỏa, chân cọc cắm sâu vào đất, giữ nòng súng cố định để tăng độ chính xác). Mặt trên của bàn có thể di chuyển hay thay đổi vị trí của súng cối . Súng 81 có thể xoay đủ một vòng 360 độ; còn súng 107 chỉ xoay trong một vòng cung 90 độ,

   Hệ thống bàn tiếp hậu và sàn xe phải chịu nổi sức phản hồi khi khai hỏa, và để có thể bắn từ trong xe, thiết kế của nóc xe đã được thay đổi : một khoảng tròn được trổ ở nóc phía sau xe và được đậy bằng một cửa có hai cánh nở ra ngoài để giúp che ánh lửa. Khi khai hỏa, cửa của bửng sau cũng được hạ xuống để xạ thủ dễ xoay trở..

   Đạn súng cối được tồn trữ dọc hai vách bên trong xe :

  • Xe súng 81 chở được 120 quả đạn
  • Xe 107 chở được 88 quả

Ngoài ra mỗi xe còn mang theo một bàn tiếp hậu bình thường (rời) để có thể sử dụng súng bên ngoài xe khi cần thiết.

   Vì hai loại súng cối khác nhau nên Lục quân Hoa Kỳ đã đặt cho xe chở súng cối 81 là M-125 và xe chở cối 107 là M-106.

Cả hai xe được sản xuất thử vào 1961, số lượng hạn chế. Đến 1965 khi các M-113 được thay máy từ chạy xăng sang diesel thì các xe chở súng cối cụng được thay đổi ký hiệu thành M-125 A-1 M-106 A-1

Nhìn phía ngoài thì 2 xe có hình dáng tương tự như xe M-113, nhưng trên thực tế chỉ có M-125 A-1 là có kích thước như M-113 ; còn M-106 A-1 dài hơn 15 cm và rộng hơn 25 cm. M-125 nặng hơn M-113 khoảng 100-150 kg; còn M-106 nặng hơn M-113 đến gần 1 tấn (950 kg)..

  • Súng cối và Kỵ binh VNCH

  Năm 1962, khi tiếp nhận các M-113, Kỵ binh VNCH có cấp số : mỗi chi đoàn 9ược trang bị thêm 3 súng cối 81 và một súng không giật 57 mang theo xe.

  Tháng 5 năm 1965, Toán nghiên cứu vũ khí Lục Quân Mỹ thử cấp tạm cho Thiết đoàn 2 Kỵ binh VNCH bốn Xe M-106 để lập thành Chi đội xe Súng cối..dùng để thử nghiệm thực tế chiến trường..

   Đến 1967, Kỵ binh VNCH được trang bị thêm Xe M-125 A-1 và Chi đội Xe này do Bộ Chỉ huy Thiết đoàn sử dụng.

   Bàng thống kê quân dụng của Thiết giáp Năm 1973 ghi :

  • M-125 A-1 : 129 xe trong đó 2 xe dành cho Trường Thiết giáp
  • M-106 A-1 : 86 xe, 2 xe giữ tại Trường.

Ghi chú : Kỵ binh Hoa Kỳ không dùng xe M-125. chỉ dùng M-106 A-1 và sau đó là  A-2

                Đến 1988 thay thế toàn bộ bằng M-1064 và M-1064 A-3  chở cối 120 ly

               Kỵ binh Úc dùng M-125 A-1 như xe yểm trợ chiến trường.

  • Vài đặc điểm kỹ thuật : M-106 A-1

Kích thước : dài 4.9 n , ngang 2.7 m ; cao 2.2 m

Trọng lượng xe  trống : 11.7 tấn, tối đa khi hành quân 13.2 tấn

Nhân viên điều khiển : 6 người

Vận tốc tối đa trên bộ : 42 mph ; khi lội nước 3.6 mph

Bình nhiên liệu : 90 US gallon = 340 L

Tầm hoạt động  tối đa : 460 km

Động cơ : diesel GMC 6V53T , 210 mã lực

Vũ khí trang bị:  Súng cối 107 ly M-30,  xoay được 43 độ phài, 46 độ trái

                          1 đại liên .30 ; mang được 88 quả đạn.

                                                                                     Trần Lý 11/2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: