Contact

Chuyện Ông Giáo

Thảo Lan

 

Trời cuối năm mau tối, mới hơn 6 giờ mà đã tối mịt mù. Bên ngoài trời mưa rả rích thật buồn. Ông Giáo chợt cảm thấy một nỗi buồn nhè nhẹ từ đâu lan đến tâm can. Mấy đứa cháu nội của ông đang ngồi chơi game trên chiếc máy vi tính phát ra tiếng gì tựa như tiếng côn trùng kêu rả rích vào những buổi chiều mưa xa xưa khi còn ở quê nhà.

Đã lâu lắm rồi ông không còn được nghe những tiếng kêu như thế vào những đêm mưa, nhất là khi trời bắt đầu trở lạnh ở bên Mỹ này. Ông chợt nhớ đến những đêm mưa xa xưa ở quê nhà khi ông còn trẻ. Nhớ những tiếng ếch nhái, ễnh ương kêu vang khắp nơi. Nhớ đến bài văn mà ông đã dạy cho bao thế hệ học sinh trong chương trình lớp Một mà giờ ông vẫn còn thuộc nằm lòng phần mở đầu.

“Mới hơn 8 giờ tối, mưa mới tạnh. Tiếng ễnh ương kêu uềnh oang khắp vườn. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều, bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau. Tí lại ngồi bên cha thỏ thẻ, “con nhớ má và em Tơ quá ba à”. Bác Hai Hoành xen vô trêu Tí “tối nay Tí và ba ở lại đây….” . Bài này còn dài lắm nhưng ông chỉ còn nhớ đến đó.

Bây giờ các đứa cháu của ông làm gì biết được những bài văn mộc mạc như thế. Chúng làm sao hiểu được có những lúc ông chúng nhớ da diết một tiếng cóc nhái kêu, một tiếng dế gáy vang trong đêm tối. Làm sao chúng có thể hiểu được nhiều khi ông chúng nó thèm nghe một tiếng mưa rơi trên mái tranh vào lúc nửa đêm. Thèm cái mùi hơi đất xông lên từ những cơn mưa đầu mùa. Đến ba của chúng, con trai ông, mà giờ đôi khi cũng quên hết những kỷ niệm ngày xưa thuở thơ ấu của nó thì làm sao những đứa cháu ông sinh đẻ ở Mỹ này lại có thể hiểu được nỗi lòng của ông chúng nó.

Ông Giáo năm nay đã bước sang tuổi 80. Ngày xưa khi còn trẻ ông có dạy học ở một ngôi trường làng tại quê ông bên dòng sông Cửu Long đục ngầu phù sa. Cuộc sống khi ấy thật êm đềm với những người dân thật thà chất phác.

Rồi chiến tranh xảy đến đã tàn phá làng quê ông và cướp đi người vợ hiền của ông. Ông đem thằng Hai, đứa con trai duy nhất mà người vợ sanh được cho ông khi đó mới ngoài ba tuổi, lên Sài Gòn để kiếm sống. Ông giáo làng khi xưa giờ phải lăn lộn làm mọi việc nặng nhọc từ phụ hồ đến khuân vác.

Sau một thời gian, ông dọn về khu nhà trọ của những người dân lao động lam lũ ở Khánh Hội. Hàng ngày ông đạp xích lô kiếm sống bỏ mặc thằng Hai lê la trong sự đùm bọc của những người dân cùng xóm. Tối về ông cố gắng dạy cho thằng Hai để cho nó biết chút chữ nghĩa với đời chứ mang tiếng là con ông giáo mà một chữ bẻ đôi không biết thì ông sợ mang tội với tổ tông. Dần dần khi nhận thấy các con em của những người cùng xóm đều không có điều kiện để đi học đến nơi đến chốn như thằng Hai, ông đã dạy thêm cho chúng mỗi tối.

Ngoài việc giúp cho các trẻ nhỏ biết đọc biết viết, ban đầu ông chỉ dạy như để phần nào đền đáp lại tấm lòng của những người dân nghèo ở đây đã đối xử với hai cha con ông khi mới dọn đến. Nhưng dần dà ông mới nhận thấy công việc dạy trẻ nhỏ ở đây đã tạo cho ông cái cảm giác là người hữu ích cho xã hội và nó cũng đã giúp cho ông được tiếp tục theo đuổi cái nghề mà bao đời nay cha ông của ông đã theo đuổi nó.

Mặc dù công việc đạp xích lô của ông cũng là một công việc lương thiện, đổ mồ hôi để kiếm bát cơm nhưng sao bấy lâu nay trong lòng ông vẫn có cảm giác không giúp ích được gì nhiều cho xã hội. Và điều khiến ông cảm thấy ấm lòng đó là ông lại được gọi bằng cái tên trìu mến “ông Giáo” thay vì “tía thằng Hai” như trước kia. Ôi lâu lắm rồi từ ngày ông bỏ làng quê, bỏ dòng sông để lên Sài Gòn bươn chải kiếm sống đến giờ ông mới lại được gọi bằng hai chữ “ông Giáo” thân thuơng này.

Thế rồi thằng Hai cũng được vô trường học. Ông Giáo vẫn tiếp tục mở lớp dạy thêm buổi tối cho các trẻ nhỏ trong xóm và cả những bạn học cùng lớp của thằng Hai. Ông không những chỉ dạy trẻ mù chữ không có điều kiện đến trường mà còn mở lớp dạy thêm cho các học sinh cần học thêm nhất là các em học sinh lớp Năm chuẩn bị để luyện thi đệ thất. Nhờ thế đời sống của hai cha con ông Giáo cũng đỡ vất vả hơn trước. Những hôm mưa bão liên tục vắng khách hoặc những hôm ốm đau không chạy xích lô được ông không còn phải lo thiếu hụt nhiều như xưa nữa.

Rồi thì thời thế đổi thay. Người lao động chân tay như ông được đề cao trong xã hội mới nhưng cuộc sống hai cha con ông lại càng vất vả hơn như những người dân khác ở khu xóm ông. Tuy vất vả nhưng hòa bình rồi, nhìn thằng Hai được học hành đến nơi đến chốn không còn phải lo tương lai phải cầm súng giết chóc nữa ông Giáo rất yên tâm. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn rồi chiến tranh lại xảy ra hết ở biên giới phía Tây Nam lại đến biên giới phía Bắc.

Chương trình giáo dục thì sao mà lạ quá không giống những gì ông dạy học trò ngày xưa. Đâu rồi cái thời “tiên học lễ hậu học văn” hay “muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Không muốn nhìn tương lai thằng Hai phải cầm súng bắn giết trên đất người, ông Giáo gom hết tài sản dành dụm được của cả một đời chỉ được một vài chỉ vàng và cạy cục xin để gửi cho nó đi theo một chuyến tàu vượt biên. Chủ tàu là người có con được ông Giáo dạy dỗ khi xưa nên đã nể nang nhận cho thằng Hai đi theo với giá rẻ hơn mọi người khác.

Cái ngày thằng Hai đi biệt tăm chưa có tin tức về, ông Giáo lo lắm. Ông lo có lỗi với mẹ nó. Ngày bà Giáo ra đi trong lửa đạn, trước khi hấp hối bà đã dặn dò ông phải cố gắng chăm lo nuôi nấng cho thằng Hai nên người. Ông còn lo có lỗi với tổ tông vì chỉ có nó là người thừa kế hương hỏa cho họ nhà ông. Thế mà sao ông lại nỡ đẩy con ra giữa biển khơi bao la không bến bờ như thế. May mà chuyến đi của thằng Hai được trót lọt.

Sau một thời gian dài ở đảo thằng Hai được nhận vào Mỹ. Thư từ qua lại ông Giáo luôn nhắc nhở con mình ráng theo đuổi con đường học vấn. Cũng may thằng Hai cũng biết nghe lời cha và có thể cũng nhờ gia đình cha mẹ nuôi người Mỹ của thằng Hai biết chăm lo hướng dẫn nó nên sau khi hết trung học thằng Hai đã biết ghi danh học đại học để có tương lai ổn định.

Rồi đến ngày thằng Hai cưới vợ. Ông vừa mừng mà lại vừa buồn. Mừng vì đã là bậc làm cha mẹ thì còn có nỗi lo nào lớn hơn là nỗi lo cho con cái mình ấm êm hạnh phúc. Mừng vì ông cảm thấy đã thực hiện trọn vẹn được lời hứa năm xưa với người vợ quá cố. Nhưng buồn vì không được đứng ra lo cho ngày trọng đại của đứa con duy nhất của mình. Buồn vì cảm thấy từ nay đã có người chia sẻ bớt với ông tình thương mà trước giờ chỉ có hai cha con dành cho nhau.

Rồi thằng Hai đẻ cho ông đứa cháu đích tôn để thừa kế giòng họ. Ba năm sau nó cho ông thêm một đứa cháu gái nữa cùng với tờ giấy bảo lãnh qua đoàn tụ. Cầm tờ giấy trên tay ông suy nghĩ lung lắm. Ông không muốn bỏ quê hương, bỏ phần mộ tổ tiên và mẹ thằng Hai không người hương khói. Cuối cùng được lời khuyên của bạn bè chòm xóm, ông về quê bốc mộ mẹ và ông bà nội thằng Hai đem hỏa táng rồi ký gửi vô chùa. Từ đây ông cảm thấy yên tâm vì không còn lo phần mộ bị lạnh lẽo hương khói những ngày lễ Tết nữa.

Cái ngày đầu tiên qua đoàn tụ với thằng Hai không cho ông một cảm giác như mong đợi. Chỉ có 3 bố con lếch thếch đi đón ông. Hỏi mẹ sấp nhỏ đâu thì thằng Hai nói phải đi làm. Thằng Tèo cháu đích tôn của ông năm đó mới 5 tuổi còn con Bí em nó mới chỉ lên 2 mà sao người mẹ nào lại để cho bố chúng nó trông như vậy. Trên đường lái xe về nhà thằng Hai tâm sự cùng ông.

– Con không muốn tía lo nên không kể ra trong thư mà thôi. Chúng con ly thân với nhau cả hơn 6 tháng nay rồi. Con thuơng hai đứa nhỏ nên dành phần nuôi mà cũng may mẹ tụi nó cũng không có ý kiến gì.

Ông Hai ngán ngẩm buồn bã than thầm trong bụng không hiểu kiếp trước hai cha con ông có làm gì ác không mà nay cả hai lại phải chịu cảnh góa vợ sớm như nhau. Có nhiều lúc ông buồn quá muốn bỏ về Việt Nam sống nhưng lại nghĩ đến cảnh ba cha con thằng Hai côi cút nên ông lại không nỡ. Rồi từ đó ông phụ với thằng Hai chăm nom hai đứa bé.

Thằng Tèo con Bí đều ngoan ngoãn biết vâng lời ông. Nhờ có bàn tay của ông Giáo trong nhà mà thằng Hai có thể yên tâm làm việc. Cũng nhờ có ông mà hai đứa cháu nội biết đọc và viết tiếng Việt một cách rành rọt. Đến năm thằng Tèo và cả con Bí đều vào đại học thì trời xui đất khiến làm sao mà thằng Hai lại về Việt Nam cưới một cô vợ trẻ hơn mười mấy tuổi đem qua Mỹ.

Được cái trời không nỡ dồn ai mãi vào bước đường cùng nên cô con dâu sau này của ông rất ngoan ngoãn chịu chăm lo nhà cửa và biết kính trên nhường dưới. Rồi cô con dâu trẻ này lại cho ông thêm hai đứa cháu gái kháu khỉnh sinh đôi nữa. Thằng Hai lúc này thì công danh sự nghiệp cũng được tiến triển tốt nên cuộc sống cũng thoải mái. Hai đứa cháu gái nhỏ ngoan ngoãn dễ thuơng lại được ông nội dạy cho tiếng Việt như hai anh chị nó ngày trước.

Bây giờ thì hai đứa cháu nhỏ của ông đã lên 10. Kỳ này ba mẹ nó gọi tên Mỹ ở nhà luôn là Jen và Jess, đọc tắt của Jennifer and Jessica. Nhiều lúc ông chép miệng than đặt tên con cái chi mà đọc nghe trẹo cả lưỡi.

Thằng Tèo, con Bí cũng đã lập gia đình và mỗi đứa cho ông một đứa chắt xinh xắn như thiên thần. Chỉ có điều chúng nó lấy người bản xứ mà lại ở xa nên ông Giáo không có dịp để dạy cho hai đứa chắt vài câu tiếng Việt. Ngày ngày sau khi thằng Hai đi làm thì vợ nó chỉ ở nhà đưa đón hai đứa con đi học rồi lo cơm nước. Ông Giáo thì lanh quanh làm vườn chăm sóc mấy luống hoa, vài khóm rau ngoài vườn. Dạo gần đây ông không còn cảm thấy khỏe như xưa nữa nên không còn ra vườn thuờng xuyên như trước.

Bắt đầu năm nay thì vợ thằng Hai cũng đã xin đi phụ làm cho tiệm nail khi hai đứa cháu đã đến trường. Cả ngày quanh quẩn ở nhà chán ông Giáo lại càng nghĩ mông lung đến những chuyện xa xưa. Đôi khi ông lại nhớ đến những áng văn mộc mạc, những câu hò trên sông nước của người dân quê ông bên dòng sông Cửu Long quanh năm đục mầu phù sa. Ông tiếc rồi ông lại lo vì rồi đây các cháu ông, những đứa trẻ sinh ra trên đất Mỹ này làm sao có thể cảm được cái hay của những áng văn chương xa xưa.

Chả cần đến thế hệ các đứa trẻ ở hải ngoại, ngay cả những đứa trẻ ngay tại Việt Nam giờ đây ông nghĩ chúng cũng chả còn quan tâm đến những gì mà thế hệ ông ngày trước quan tâm. Với chúng thì chỉ có các trò chơi game trên phone, trên tablet, trên video là có thể lôi cuốn và có thể khiến chúng suốt ngày dán mắt vào.

Do cảm thấy cái ngày ông phải đi gặp má thằng Hai cũng không còn xa lắm, ông cứ nghĩ làm cách nào để có một di sản tinh thần nào đó để lại cho đứa con duy nhất của ông và các con cháu của nó. Ngày xưa vì chiến tranh, vì kế sinh nhai nên ông đã không có đủ điều kiện để lo cho thằng Hai có một cuộc sống đầy đủ về cả vật chất lẫn tinh thần.

Giờ thì rõ ràng nhờ phúc đức tổ tiên, và ông tin nhờ hai cha con bao lâu nay ăn ở hiền lành nên cuộc sống thằng Hai không hề thiếu thốn cực khổ như cha nó ngày trước. Tuy nhiên ông vẫn cảm thấy thiếu sót khi nghĩ đến không truyền lại được cho thằng Hai những áng văn hay, những tác phẩm kinh điển của kho tàng văn học Việt Nam như ngày xưa cha ông của ông đã truyền lại cho ông khi ông còn là đứa bé. Ôi sao mà ông Giáo nhớ những lúc xưa kia ông nội ông ngồi vuốt râu khề khà đọc cho ông nghe Lục Vân Tiên.

Trước đèn xem truyện Tây minh,

Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.

Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,

Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.

Rồi đến cha ông những lúc la dạy con cũng lấy lời giáo huấn của cụ Đồ Chiểu ra để chỉ bảo cho ông điều hay lẽ phải.

Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh là câu trau mình

Rồi khi ông đến tuổi biết tự mình đọc thì sao mà quên được những lúc ông miệt mài xem những quyển tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh hay của những nhà văn miền Nam khác như Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Ông nghiền ngẫm xem đi xem lại cái cảnh thầy phái viên nhà báo Chim Trời đi xuống ấp Cà Bây Ngọp tìm độc giả Tư Có để truy thâu tiền báo trong Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư của Sơn Nam. Ông xem đến thuộc nằm lòng mà vẫn không thấy chán.

Ôi cái ấp Cà Bây Ngọp ở miệt Rạch Giá đó không biết chỉ có trong trí tưởng tượng của nhà văn hay là có thiệt mà sao ông thấy gần gũi y như quê ông ngay bên dòng sông Cửu Long này. Ông lại nhớ đến cái thời ông vào tuổi thanh niên trai tráng chiều chiều vác chiếc đàn bầu đi ca Dạ Cổ Hoài Lang ở xóm bên.

Từ là từ phu tướng

Bảo kiếm sắc phong lên đàng

Vào ra luống trông tin nhạn

Đêm năm canh mơ màng

Em luống trông tin chàng

Cho gan vàng quặn đau í à

Rồi ông nhớ lời má thằng Hai trách yêu.

– Người ta nói ‘Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu’. Ai biểu hồi đó ông cứ cho tui nghe đàn bầu chi để giờ tui phải bỏ tía má dìa với ông.

Ôi sao mà ông nhớ cái ánh mắt long lanh của má thằng Hai khi nói câu đó. Càng nghĩ miên man ông càng buồn nhưng rồi trong đầu ông bỗng lóe lên một ý nghĩ. Phải rồi ông đã biết di sản mình sẽ để lại cho thằng Hai và mấy đứa cháu chắt của ông là gì.

Nghĩ đến đây, ông đứng phắt dậy lấy ngay giấy bút ra ngồi xuống viết. Từ đây mỗi ngày ông sẽ viết chuyện đời ông từ thuở còn lê la bên dòng sông đục mầu phù sa đến khi bươn chải kiếm sống ở đất Sài Thành rồi lạc bước lưu vong. Đây chính là cái di sản văn hóa mà ông dự định sẽ truyền lại cho thằng Hai và các con cháu của nó, bắt đầu bằng cái tựa “Chuyện Ông Giáo”.

Thảo Lan

Chuyện Kỷ Niệm 40 năm trận chiến Khánh Dương tháng 3 năm 1975

Ai về Dục Mỹ Buôn Ma Thuột
Nếu có dừng chân ghé Khánh Dương
Chậm chân người hỡi nhè nhẹ bước
Kẻo đạp lên mình các bạn tôi.
Ngày nào sinh tử thề hẹn ước.
Sao đành để lại một mình tôi
Đã mấy ĐÔNG về Anh vẫn đợi
Là bấy XUÂN qua thấy thẹn lòng

Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù. LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LSM 404 chở các TĐ 2,5,6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ, Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LSM 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LSM 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC..Trời gần sáng thì TĐ 2,5,6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ /Tiền Sát /TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào ) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.

HAI VAN HAM HUONG GIANG HQ401

Hai thằng sĩ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17,18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra. Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong. Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền, nhưng 2 cô nói: Hai anh đợi ba em một chút, còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy. Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.

Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì, thuốc lá, đồ hộp v.v. toàn là đồ ăn liền. Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn, tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình. Một lát tôi mới có thể nói: Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc. Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình. Một lát sau bánh mì, thuốc lá, đồ hộp được phát ra cho anh em..

Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây ,từng gói một quăng lên xe cho anh em. Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù. Bao nhiêu mệt mỏi, thất vọng, bất mãn vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan, vất vả tại Thường Đức tan biến hết. Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có. LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN. Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể. Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ.

Tôi được lãnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra. Lảnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ trên xe có khoảng 10 Nhảy Dù của các TĐ/ND tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: “Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh”. Tôi la to và rõ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe. Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi Đi đâu vậy? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời:Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ. Ông bảo:Nhớ về đơn vị sớm.Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to: Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ, hú hồn… Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND.

Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh, xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê. Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay. Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6 Tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC. tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo họ dể dàng bọc hậu ,xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.

Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, Hiệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Siĩ Hùng đã vĩnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác) Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt . ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng ,lội suối , nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới.Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6 Quân số ít ỏi.không liên lạc, tiếp tế,thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là đều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt.

ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều, Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm cây AK của Hiệp bây giờ mới hữu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất, Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống. Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nữa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi.. Tôi tìm một chỗ kín đáo gần con suối cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt và ổ VC mà cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chỗ nguy hiểm nhất là chỗ an toàn nhứt.

Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. Trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2, 2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả. Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái. Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú “tấp pi” đầu tiên của VC chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó. Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới.

https://dongsongxua.files.wordpress.com/2019/03/quan-khanh-duong..jpg?w=825

Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi. Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác.Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngủ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sĩ quan người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dễ thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ. Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi.”Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được”. Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. “Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh” tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý. Chúng tôi được đưa vào trụ sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.

Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mủ Đỏ

Dạo đó anh đi mười bảy tuổi
Thiên Thần Mũ Đỏ Xứng đời trai
Vũ trụ mình ta chân đạp gió
Không gian lơ lửng bắt mây trôi
Ngang dọc tung hoành vùng hỏa tuyến
Giữ yên bờ cõi đất Phương Nam
Thần Kinh thương nhớ tình lưu luyến
Đồng Khánh trường tan má đỏ hồng
Anh rời Hiệp Khánh vào chiến địa
Phong Điền nối tiếp Động Ông Đô
Thường Đức vang danh quân giặc khiếp
Vu Gia vượt sóng giữ sông xanh
Một không sáu hai đầy xác cộng
Sư ba lẻ bốn chốc tan tành
Mùa xuân năm ấy hoa mai rộ
Đại Lộc bình yên có Hoa Dù
Tháng ba mười sáu theo quân lệnh
Lướt sóng quân hành xuôi giang Nam
Bỏ lại sau lưng nhiều tình lỡ
Tiễn Anh nước mắt ướt vai nầy
Về mái trường xưa qua Đồng Đế
Được nhìn tượng đá đứng ngàn năm
Có người em gái nằm xỏa tóc
Để đợi anh về dẩu trăm năm
Nha Trang chào đón đoàn quân lạ
Dục Mỹ chiều nay ngập bóng Dù
Quân Đoàn Hai thối theo lộ 7
Để lại Nhảy Dù chốt Khánh Dương
Hai sư đoàn cộng tràn nhau xuống
Một Lữ Đoàn Dù gắng tiến lên
Tứ bề thọ địch Đèo M’Rack
Xung phong tiếp viện Buôn Ea Thi
Ngạo nghễ trên tay viên đạn cuối
Nhảy Dù hai chữ cố gắng thôi

Thiên Thần gẫy cánh ngàn thây đổ
Khánh Dương thương nhớ Lữ Đoàn 3
Chí trai vị quốc không danh lợi
Vong thân bất nhục đáng anh hùng
Máu đào tươi thắm màu Mũ Đỏ
Xác thân tô điểm áo Hoa Dù
Nợ nước muôn đời trên vai nặng
Ơn nhà trọn kiếp mãi trong tâm.

Những ngày cuối tháng 3 / 2015

Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

Phụng Dực, trận đánh để đời – Nguyễn Phú

Nguyễn Phú

“Old soldiers never die they just fade away.”
(Người lính già không bao giờ chết, họ chỉ mờ nhạt đi.)

https://dongsongxua.files.wordpress.com/2019/03/trai-phu-dong-su-doan-23-bo-binh-ban-me-thuoc.jpg?w=648

Tôi được gặp Ðại Tá Võ Ân lần đầu tại Chi khu Phước An, lúc ấy là chiều 17 tháng 3 năm 1975.

Trong những ngày cuối cùng của Ban Mê Thuột, Phước An trở thành trung tâm điểm của các hoạt động quân sự ráo riết nhất, Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thọ quận trưởng đã nhiều ngày không ngủ, vóc dáng thư sinh của anh như càng quắt hơn nữa, nhưng anh vẫn như con thoi tiếp đón hết toán quân này đến vị chỉ huy khác. Từ khi tiếng súng nổ 2 giờ sáng Thứ Hai ngày 10 tháng 3, Phước An trở thành nơi tập trung của mọi đơn vị, từ Trung Tá Phạm Công Cẩn với đoàn lính quận Buôn Hô, đến Trung Ðoàn 45 từ Pleiku về chuẩn bị cho cuộc tái chiếm Ban Mê Thuột. Tỉnh trưởng cuối cùng của Darlac, Ðại Tá Trịnh Tiếu cũng có mặt tại đây, nên Thiếu Tá Thọ chủ nhà suốt ngày đêm bận bịu tiếp đón, sắp đặt mọi chuyện.

Anh Võ Ân cùng với khoảng 20 quân nhân vừa di tản từ B50 cạnh phi trường Phụng Dực về tới an toàn. Thiếu Tá Thọ chạy vội ra giữa sân quận đường chào đón toán quân:

– Chào đại tá, đại tá vào phòng em nghỉ, để em cho lính lo cơm nước cho anh em liền.

Thấy vị sĩ quan trẻ măng nhỏ con được đón vào chỉ đeo lon trung tá, tôi nghĩ các sĩ quan thường hay thưa cấp trên cao lên một bậc, như các anh gọi chuẩn tướng bằng thiếu tướng, tôi hỏi Thiếu Úy Bùi Xuân Ðình:

– Ông trung tá này ở đơn vị nào vậy?

– Ðại Tá Võ Ân, trung đoàn trưởng 53. Vừa mới được Tướng Phú đặc cách tại mặt trận.

Vừa thì thầm bên tôi xong, Thiếu Úy Ðình bước qua rót nước mời anh “đại tá”. Tôi giật thót người kín đáo liếc nhìn anh Võ Ân, anh rất trẻ, chỉ chừng ba mươi, khuôn mặt vẫn tươi vui tỉnh táo dù đã một tuần liền không ngủ quần thảo với quân giặc. Anh có dáng dấp của một giáo sư hơn là một quân nhân. Nếu không có bộ đồ trận và lon trung tá trên cổ áo, có lẽ không ai tin rằng anh là một sĩ quan cao cấp, đang đảm nhiệm một chức vụ quan trọng như thế, và lại càng không thể tin được anh chính là người hùng trận Phụng Dực, vừa đánh bại hai sư đoàn khét tiếng của cộng quân, Sư Ðoàn 320 và Sư Ðoàn 316, tại mặt trận phi trường Phụng Dực.

Quận Phước An đầy lính, có lẽ tôi là người mặc thường phục duy nhất trong chi khu, sự có mặt của tôi trong trại lính là một ân huệ đặc biệt từ Thiếu Tá Thọ. Ðã mấy hôm trước, khi quận còn yên tĩnh, tôi từ ngã ba Phước An chạy vào chi khu, xin gặp quận trưởng và trình “Thẻ báo chí” do Bộ Dân Vận Chiêu Hồi cấp, để xin một ghế trên trực thăng bay ra khỏi vùng khói lửa. Thiếu tá quận trưởng đã vị tình lắm, đề nghị cho tôi một chỗ trên chiếc Chinook vừa chuyển quân Trung Ðoàn 45 từ Pleiku đến. chiếc trực thăng hai cánh quạt rời chi khu Phước An không bay thẳng về Nha Trang như phi trình, mà lại đáp xuống gần ngã ba Phước An để đón vài thân nhân, thế là một đoàn người chạy giặc liền tràn lên kín tàu, chiếc Chinook è ạch cố cất cánh khỏi mặt đất, nhưng chỉ nhấc mình lên được chừng chục mét lại rớt xuống ngay sát ngã ba, sau khi cố gắng sửa chữa không thành, phi hành đoàn ôm cặp táp trở lại chi khu, tôi lẽo đẽo lội bộ theo sau. Thiếu Tá Thọ thương tình thằng em hẩm hiu, bèn xếp cho tôi xuống ngủ với các anh thuộc phòng chiến tranh chính trị sư đoàn, ở đó tôi gặp lại các “chiến hữu phe ta”: Thiếu Úy Bùi Xuân Ðình là chồng của chị Huỳnh Thị Hòa Thơ, xướng ngôn viên làm cùng đài phát thanh, Trung Sĩ Lê Kế Chí đạo trưởng Hướng Ðạo Daklak…

 

***

Có thể nói trong những ngày chiến tranh nổ ra ở miền đất hiền hòa Bụi Mù Trời, tôi là một người may mắn, ít ra là đến lúc này.

Hôm trước khi súng nổ, tuy là ngày Chủ Nhật nghỉ, tôi lại có công tác ra phi trường L19 đón Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Ðoàn 2, Quân Khu 2, đến kinh lý BMT, tôi cũng biết tin quận Ðức Lập vừa mất buổi sáng, nhưng tới lúc ấy, tôi không hề nghĩ Việt Cộng dám đánh BMT, nơi có địa thế trống trải, dân cư sung túc và chống Cộng triệt để, bao năm nay vẫn sống yên bình hiền hòa.

Khoảng hơn 2 giờ sáng Thứ Hai, ngày 10 tháng 3 năm 1975, cả thị xã vang lên tiếng đại pháo của giặc, im được một lát, rồi lại pháo, xen lẫn với tiếng súng nhỏ. Chưa hề có kinh nghiệm chiến tranh, tôi dậy sớm đi làm đầu tuần tại đài phát thanh như thường lệ. Ðài có hai cơ sở, thượng tầng có nhà máy phát điện và trụ antenna cao 200m tại ngã ba Chi Lăng, và hạ tầng ở số 1 Tự Do, góc đường ngã sáu cột đèn ba ngọn, tôi làm việc ở hạ tầng này. Ði trên đường Quang Trung, vừa băng qua Phan Chu Trinh gần tới hàng rào nhà thờ chính tòa, hai chiếc xe tăng xuất hiện phía Tòa Giám Mục bắn thẳng một tràng về phía tôi, cố men theo hàng rào xi măng tôi chạy vụt vòng tới đài phát thanh, các anh Nghĩa quân gác cổng phải vội kéo kẽm gai lôi tôi vào.

Khung cảnh tại đài thật hoảng loạn, anh Nguyễn Phụng Hải, giám đốc đài đang công tác ở Saigon chưa về, chúng tôi như rắn mất đầu, cứ cố gắng liên lạc với hệ thống truyền thanh ở Saigon xin lệnh, trong lúc đó, trên làn sóng chỉ phát nhạc quân hành. Mọi người nhốn nháo nghe tiếng súng lúc xa lúc gần, ai cũng muốn tìm đường chạy giặc, nhưng không ai dám bỏ nhiệm sở, và cũng chẳng ai biết nên chạy hướng nào.

Gần trưa, một toán biệt động quân từ phía trường trung học tổng hợp đã xuất hiện ngay cạnh đài giúp chúng tôi vững tâm, tôi vội ra khu gia đình nhân viên định kiếm chút gì ăn lót dạ. Khu nhân viên này nằm phía sau, có cánh cổng thông qua tư dinh Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, tư lệnh Sư Ðoàn 23. Ðúng lúc ấy, bà vợ Tướng Tường đẩy cánh cổng sắt, nói với qua phía chúng tôi:

– Các em rời khỏi đây liền đi, Việt Cộng tới bên Vinh Sơn rồi, đi về phía quân y viện Tăng cường ra cây số ba nghe chưa.

Nói rồi bà quay ngoắt ra sân trước, nơi có hai chiếc thiết giáp bánh hơi đang chờ.

Chúng tôi vội bỏ hết mọi việc, băng qua hàng chè tàu ra đường Hùng Vương, cứ theo sự chỉ dẫn của các anh lính Biệt động quân mang huy hiệu Tiểu Ðoàn 96, đi qua Hội Ðồng Tỉnh, qua trường trung học tổng hợp, tới quân y viện tăng cường nghỉ chân một lát, đến khi nghe tiếng súng nổ vang phía Ty Cảnh Sát quốc gia, chúng tôi vội vàng chạy về hướng Thác nhà đèn, rồi băng ngang buôn Kosier ra quốc lộ 21, tới cửa rạp ciné Nguyễn văn Cơ (?).

Trời đã về chiều, đoàn người có cả đàn bà con nít đi tìm chỗ trú ngụ qua đêm. Ðang phân vân đi loanh quanh, tôi gặp được Ðại Úy Nguyễn Ngọc Tuấn, đại đội trưởng cảnh sát dã chiến và toán cảnh sát của anh, anh Tuấn đề nghị chúng tôi đến tá túc đỡ ở chùa Dược Sư, trong lúc tâm hồn bấn loạn và lo sợ, thật không gì bằng đến những nơi thờ phụng, mái chùa quả là chốn dung thân êm đềm nhất. Tối hôm ấy, tôi có được giấc ngủ say ngon lành ngoài trời, trên nền bệ xi măng của tượng đài Quan Âm hình bát giác, dù không mền gối và cả ngày qua chưa có chút gì vào bụng.

Sáng 11 tháng 3, nhớ lời dặn dò của bà vợ tư lệnh chỉ nói tới cổng số ba, chúng tôi cứ loanh quanh nghỉ chân tại đó, chẳng biết nên chạy đi đâu. Chẳng phải tất cả các quốc lộ xung quanh Ban Mê Thuột đều đã bị cắt đường rồi sao? Ði về hướng nào cũng đi gần đến vùng địch. Ðúng là tiến thoái lưỡng nan!

Vừa lo sợ, vừa chán chường, tôi một mình bước chân đến bên ngôi nhà thờ nhỏ cây số ba. Nhà thờ đóng cửa im ỉm, cha xứ chắc đã đi lánh nạn nơi nào, tôi đứng lặng cầu nguyện bên ngôi giáo đường gỗ cũ kỹ, thả hồn vào lời cầu xin thống thiết.

Bỗng một tiếng nổ kinh hồn vang lên ngay khu nhà dân phía sau nhà thờ, khói đen bốc lên ngùn ngụt, tôi co giò chạy ngược ra đường. Một chiếc xe Jeep từ trong xóm chạy ra, bò lên mặt đường nhựa, tôi vội vàng phóng tới, bám vào sau xe đu mình lên, giọng một người phụ nữ trong xe hối hả:

– Chú vô trong này, coi chừng té.

Tôi rướn người cúi đầu chui vào trong xe, lặng lẽ thu mình vào một góc, toàn những khuôn mặt xa lạ, không biết các anh đồng sự đi chung giờ chạy hướng nào. Chiến tranh ghê gớm quá!

Chiếc xe leo dốc cổng số năm rồi rẽ trái về hướng Phước An. Khi qua cây số mười hai, bên hàng cây cao su thẳng tắp, quân đội đang dàn ra những khẩu đại bác 105 ly, phía sau là vài chiếc xe cam nhông chở đạn.

Ðến Phước An thì trời đã về chiều, dọc theo quốc lộ là từng đoàn xe dân sự, ba lua có, xe lam có, cả máy cày rờ moọc lẫn xe đò, tất cả đều quay đầu về hướng Nha Trang. Khung cảnh nơi đây thật náo nhiệt, người nằm ngồi đầy cả hai bên đường, họ gọi nhau ơi ới như không hề biết đến chiến tranh là gì. Tôi đi dọc theo đoàn xe, hỏi thăm may ra có tìm được cha mẹ anh em. Trời dần tối, những bếp lửa lập lòe nấu ăn bên đường, như những đốm ma trơi gọi hồn dân lành trong cuộc chiến bất nhân và vô nghĩa.

***

Tiếng Thiếu Tá Thọ lôi tôi về thực tại:

– Lệnh cấp trên phải di tản ngay đêm nay. Các anh em chuẩn bị 6 giờ rưỡi lên đường, tôi sẽ đích thân dẫn các anh em theo đường rừng đi tới Khánh Dương. Tới đó sẽ có GMC đưa anh em vào Nha Trang.

Tôi phụ anh Bùi Xuân Ðình soạn chiếc ba lô của anh, bỏ lại gạo và những gì không thật cần thiết, chỉ giữ hai gói khoai dẻo và vài bịch gạo sấy ăn đường. Nhìn qua phòng làm việc của quận trưởng, vóc dáng nhỏ con của Ðại Tá Võ Ân vẫn ngồi bình thản trên salon, toán lính của anh đã đến trước cửa, nhấp ngụm trà nóng, anh đứng bật dậy chào mọi người, chúc bình an rồi thoăn thoắt rời khỏi trại, như coi nơi đây chỉ là trạm dừng chân phút chốc. Tôi thẫn thờ đứng dậy nhìn theo bóng anh thoắt ẩn thoắt hiện giữa đám quân nhân, rồi vụt biến mất nhanh chóng qua một khúc cua. Tiếc mãi chưa được hỏi anh điều gì về diễn biến của trận đánh anh hùng thoáng nghe kể lại.

***

Cuộc sống sau năm 1975 ở quê nhà nhiều tủi nhục, nhiều ước ao bỏ xứ. Mọi chuyện xưa Ban Mê tưởng chừng đã thành đống tro tàn bay theo gió.

Thật tình cờ, một buổi sáng cuối năm 1990, tôi gặp lại khuôn mặt “quen lắm” của anh Võ Ân ở chợ Trương Minh Giảng Saigon, tôi bạo dạn lại gần chào anh.

– Chào “ông thầy,” ông thầy khỏe không?

– Cảm ơn, tau cũng khỏe, mi ở 53?

– Dạ không, em trước ở đài phát thanh Ban Mê Thuột, có gặp anh ở chi khu Phước An ngày cuối.

– Vậy à, giờ làm gì?

– Em nghe nói anh đi “học tập” cũng lâu lắm.

– Ờ! Mười mấy cuốn, ngoài Bắc.

– Anh bán hàng ở đây?

– Tau phụ bả bán mấy phụ tùng xe đạp này nè, ráng qua ngày, chờ đi.

– Anh uống với em ly cà phê!

Trong lúc cởi lòng tâm sự với anh nơi góc quán cóc, máu “nghề nghiệp” trong tôi bỗng nổi lên, tôi liền thỏ thẻ hỏi anh:

– Kỳ đó mà đủ đồ chơi chắc anh chơi tới bến?

– Thôi chuyện cũ rồi, nhắc chi, đời còn dài…

***

Tôi đến Mỹ năm 1992, định cư ở Denver, thuộc tiểu bang Colorado là vùng cao nguyên nằm giữa nước Mỹ, tuy ở trên cao nguyên, nhưng Denver không có nhiều đồi núi, mà cũng tương đối bằng phẳng, chẳng khác gì cao nguyên Darlac. Vậy là ở Việt Nam cũng ở Ban Mê, qua đây lại cũng ở Ban Mê nốt. Người Việt định cư ở đây không nhiều, chỉ chừng 10,000, nhưng túm tụm vào dọc một khúc đường Federal, nơi có chợ Mê Kông, chợ Thái Bình Dương, văn phòng Bác Sĩ Trần Kim Ðiền, Nha Sĩ Trần Mộng Quỳ, có tiệm vàng Kim Anh của một cựu học sinh THBMT sau tôi 6 lớp…

Chỉ vài tháng sau, anh chị Ðình-Thơ cũng từ BMT qua định cư ở Denver, chúng tôi bèn họp nhau làm một chương trình truyền hình tiếng Việt, tuần phát hình một lần, làn sóng được đài truyền hình Mỹ tặng không. Người Việt ở đây đang khao khát nghe tiếng Việt, nên truyền tai nhau đón coi dữ lắm, nhờ vậy chúng tôi được nhiều người biết mặt chào hỏi.

Hôm ấy, một anh Việt Nam hàng xóm qua thăm hỏi tôi trước nhà, mời anh vào uống nước mới biết anh là Thiếu Tá Nguyễn Phước Lai, tiểu đoàn trưởng 1/53, mới qua định cư xứ Mỹ. Hỏi thăm về Ðại Tá Võ Ân, anh cho biết anh Võ Ân cũng đang ở Denver, nhưng vừa bị tai biến mạch máu não. Tôi quyết định dịp này phải hỏi anh kỳ được, về trận đánh để đời của Trung Ðoàn 53, Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tại phi trường Phụng Dực.

Nhờ anh làm cuộc hẹn, chúng tôi đến thăm anh Võ Ân trong căn hộ đơn sơ ven thành phố Denver đầy nhà chọc trời, giữa những đồ đạc cọc cạch của người mới đến định cư, anh cố ngồi dậy, chúng tôi đỡ anh ra salon, anh có vẻ yếu lắm, giọng nói không còn dễ nghe, nhưng mắt anh sáng lên mỗi khi chúng tôi nhắc đến chiến địa năm xưa, những địa danh, những tên tuổi cũ.

***

Phụng Dực là tên của phi trường chính Ban Mê Thuột, nằm cách thị xã khoảng 7 km, trên đường đi Trung Hòa, Kim Châu, Lạc Thiện…

Phi trường được thành lập năm 1951 để có thể tiếp nhận các phi cơ cỡ lớn, với tên gọi phi trường Ban Mê Thuột.

Trước đó, người Pháp có lập một phi trường với phi đạo ngắn dành cho phi cơ nhỏ, nằm ngay bên trung tâm thị xã, nối với cây số ba, phục vụ cho các ông chủ đồn điền và quan chức, được đặt tên là phi trường Lạc Giao, sau này dành cho trực thăng và phi cơ thám thính nên gọi là phi trường L19.

Thời ấy, cao nguyên còn nhiều thú hoang, cọp, voi, tê giác, trâu rừng (min), cá sấu, chim phượng hoàng… còn đầy dẫy, người dân sống quanh phi trường Ban Mê Thuột đều biết hàng đàn chim phượng hoàng mỏ cứng mấy chục con ngày nào cũng quanh quẩn kiếm ăn gần phi trường, chúng dạn dĩ đến nỗi người đến đuổi cũng không sợ, chỉ chao lên mấy bước lại đáp xuống gần đó trên phi đạo.

Năm 1957, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đến khai mạc hội chợ Ban Mê Thuột, khi máy bay hạ cánh xuống phi trường, ông thấy một đàn chim lớn bay lên. Tổng Thống Diệm hỏi chúng là loài chim gì mà to lớn thế,

– Dạ thưa cụ, chim phượng hoàng.

– À, chim phụng, chim phụng bay lên, vậy thì đặt tên phi trường này là “phụng dực.”

Phi trường mang tên Phụng Dực là từ đó.

***

Trung Ðoàn 53 BB đến đóng quân tại B50 gần bên phi trường Phụng Dực vào đầu tháng 3 năm 1975, Ðây là một căn cứ có chu vi trên một cây số, trước đây là một trại lực lượng đặc biệt của Mỹ nên công sự được xây cất rất kiên cố, có tất cả 11 hầm đủ sức chịu đựng được đạn pháo 130 ly, xung quanh có xếp bao cát cao làm thành những ụ chiến đấu cá nhân. Ngoài xa là một vòng đai hàng rào kẽm gai nhiều lớp bao bọc.

Thực ra trung đoàn đến Phụng Dực để dưỡng quân sau trận Dak Song dữ dội vùng biên giới Việt-Miên gần Ðức Lập. Tại đây luân phiên chỉ một tiểu đoàn trấn đóng cùng bộ chỉ huy trung đoàn, hai tiểu đoàn khác phải hành quân bảo vệ lãnh thổ, chống lại các cuộc tấn công giành dân lấn đất liên tục của cộng quân, dù hai bên đã ký hiệp định đình chiến Paris ngày 27 tháng 1, 1973.

Trưa ngày 10 tháng 3, 1975 cùng lúc với trận cường tập vào thị xã BMT, Trung Ðoàn 25 chính qui BV tấn công Phụng Dực, nhưng Trung Tá Võ Ân, trung đoàn trưởng 53 BB, chỉ với một tiểu đoàn 3/53, nhờ các công sự vững chắc, đã chống trả rất anh dũng các đợt tấn công bằng xe tăng T54, đại pháo 122 ly và 130 ly của địch, cộng quân đã bị đánh bại phải rút lui bỏ lại trận địa gần 200 xác, 4 chiếc T54 bị cháy cùng nhiều vũ khí.

Ngày 12 tháng 3, Sư Ðoàn 320 BV củng cố xong vị trí chiếm được tại thị xã Ban Mê Thuột, bắt đầu tiếp tục tấn công vào phi trường Phụng Dực. Trung Tá Ân ban lệnh cố thủ và chỉ thị cho các binh sĩ tiết kiệm đạn dược, anh ra lệnh cho thu nhặt súng đạn B40, B41 của địch, bắn cháy thêm nhiều chiến xa của Cộng quân.

Ngày 14 tháng 3, trong lúc bay chiếc phi cơ nhỏ U 17 để trực tiếp điều quân, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú qua máy truyền tin liên lạc, đã thông báo đặc cách mặt trận cho anh lên đại tá, vị đại tá duy nhất của các sĩ quan khóa 12 Thủ Ðức.

Ngày 15 tháng 3, địch tung thêm Sư Ðoàn 316 vào trận địa, chuẩn bị cho đợt tấn công cuối cùng, dứt điểm tuyến phòng thủ đã tơi tả của Trung Ðoàn 53. Ðại Tá Võ Ân cùng đồng đội vẫn không nao núng, đánh một trận thật đẹp để đời.

Ðến khi phi vụ thả dù tiếp tế cuối cùng vì phòng không địch quá rát, đã thả từ độ cao rất lớn, rơi quá xa vị trí, đến tận hồ trung tâm thực nghiệm, lương thực và đạn dược đều đã cạn kiệt. Cùng lúc có lệnh từ sư đoàn, buộc đơn vị rời khỏi căn cứ. Những chiến sĩ Trung Ðoàn 53 đành phân tán trong bóng đêm, bỏ lại sau lưng trận chiến anh hùng trong lịch sử Ban Mê.

Phú Nguyễn

Viết nhân 40 năm trận Phụng Dực.
(Tưởng nhớ và kính tặng hương hồn Ðại Tá Võ Ân TrÐT/53)

Nguồn: https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2015/06/13/nguyen-phu-phung-duc-tran-danh-de-doi/

Đức tính giản dị của cô Ba một thời nổi tiếng Sài Gòn xưa

Nói về Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19 và những thập niên đầu thế kỷ 20 thì phải kể đến xà bông Cô Ba. Vì sao lại đặt tên là Cô Ba? Cô Ba là ai?

Có người cho rằng cái tên “Cô Ba” liên quan đến cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Việt Nam do người Việt tổ chức vào năm 1865. Đó là cuộc thi Miss Sài Gòn dành riêng cho các người đẹp Việt Nam. Tuy có tên như vậy nhưng điều lệ được phổ biến không chỉ ở phạm vi Sài Gòn mà còn lan ra nhiều vùng phụ cận, nên sau đó đã có gần 100 cô gái đăng ký dự thi. Kết quả người đoạt vương miện Hoa hậu là cô Ba, con gái của ông Chánh, làm nghề thư ký. Trước vẻ đẹp rực rỡ của cô Ba, nhiều người Pháp đã đề nghị cô chụp ảnh để đăng báo ở chính quốc.

Những chuyện chưa biết về xà bông Cô Ba một thời nổi tiếng Sài Gòn

Họ rất muốn chụp cô trong trang phục áo tắm nhưng cô không đồng ý. Chân dung cô sau đó được vẽ rồi in thành tem với số lượng phát hành lớn chưa từng có. Một thời gian sau đó, cô Ba lấy chồng Việt Nam bình thường và sống giản dị, bỏ lại đằng sau ánh hào quang phù phiếm và không bị ảnh hưởng bởi lối sống phương Tây.

Những chuyện chưa biết về xà bông Cô Ba một thời nổi tiếng Sài Gòn

Sở dĩ gọi cô là “cô Ba xà bông” vì hình của người đẹp này được in nổi trên các sản phẩm của Hãng xà bông Việt Nam do ông Trương Văn Bền lập ra. Các hình ấy xuất hiện cùng lúc với các mẫu xà bông hình vuông nhiều cỡ, nặng 250 gr, 500 gr hoặc chỉ 125 gr, về sau thêm loại lớn và dài nặng gần 1 kg đúc thành cây mua về cắt từng miếng nhỏ xài dần. Mỗi loại như thế đều có sự “hiện diện” của cô Ba, lưu hành đến các nơi đô hội, dần dần đến tận các chợ miền xa ngoài Sài Gòn và lục tỉnh.

Như thế cô Ba đã nghiễm nhiên trở thành “người mẫu” đầu tiên gắn liền với một thương hiệu Việt Nam mới ra đời đầu thế kỷ 20. Sự ra đời này cùng với hình ảnh cô Ba, theo một số nhà quan sát, đã nhấn mạnh sự có mặt của sản phẩm Việt và chấm dứt sự thao túng gần như độc quyền của Hãng xà bông Marseille của Pháp đối với người tiêu dùng Việt Nam lúc bấy giờ.

Những chuyện chưa biết về xà bông Cô Ba một thời nổi tiếng Sài Gòn

Về việc cô Ba được ông Trương Văn Bền chọn làm biểu tượng bên hương thơm xà bông Việt, tác giả “Sài Gòn năm xưa” đề cập đến một cách rõ nét rằng:

Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia, hồi Tây mới đến có cô Ba, con gái thầy thông Chánh là đẹp không ai bì, đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi Nhà nước in hình vào con tem Nhà Thơ Dây Thép (Bưu điện).

Những chuyện chưa biết về xà bông Cô Ba một thời nổi tiếng Sài Gòn

Cạnh cô Ba, tác giả cũng nhắc đến một số hoa khôi khác như Tư Nhị, Sáu Hương, Hai Thời… vốn là những người đẹp đã làm nghiêng ngả nhà cửa ruộng vườn của nhiều tay hiếu sắc. Theo đó, các cô mỗi chiều ngồi trên xe Delage để mui trần, có tài xế riêng, hoặc ngồi trên xe Hoa Kỳ mới cáu cạnh để lượn đi lượn lại quanh các đường phố chính của Sài Gòn từ chợ Bến Thành qua đường Bonard (đường Lê Lợi ngày nay) vòng qua trường Chasseloup – Laubat (trường Lê Quý Đôn ngày nay), xuống khu Chợ Lớn, khoe sắc trên đường nhựa “để lên Thủ Đức ăn nem hoặc đến tắm suối Xuân Trường… Tối lại dưới bóng đèn, các cô như bướm tề tựu đủ mặt cạnh sòng bài sòng me, hoặc năm ba người gầy mâm hút có đờn ca giúp vui, báo hại các cậu con chủ điền muốn lên mặt với chị em đành phải trốn về bán lúa vay bạc Chà, cố cầm sự nghiệp ông bà để lại” mà chạy theo cho kịp nếp ăn chơi của các hoa khôi đương thời.

Nhưng mà nếp sống ấy dường như không phù hợp với cô Ba xà bông. Có người bảo vì cô sinh ra trong một gia đình công chức nên không quen sống buông thả, người khác cho rằng bản tính của cô vốn vậy từ lâu.

Theo Saigonxua.org và Fanpage Saigonxua

Nguồn: https://trithucvn.net/van-hoa/nhung-chuyen-chua-biet-ve-xa-bong-co-ba-mot-thoi-noi-tieng-sai-gon.html

Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi, 1975: Bỏ Ngõ Cam-Ranh

Trích từ tài liệu Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi, 1975 của Điệp Mỹ Linh

Trong khi Phó-Đề-Đốc Hoàng Cơ Minh thực hiện kế hoạch đổ bộ Qui-Nhơn thì, tại Cam-Ranh, một số Tướng lãnh từ Đà-Nẵng rút vào, xử dụng tư dinh của Phó-Đề-Đốc Minh làm nơi tạm trú.Trong tình cảnh hỗn loạn và không có sự hiện diện của Tư-Lệnh Hải-Quân Vùng II Duyên-Hải tại Bộ-Chỉ-Huy, nhiều quân nhân ngang nhiên vào kho khiêng đi những dụng cụ điện tử Mỹ còn để lại.

Về đến Cam-Ranh, chính Phó-Đề-Đốc Hoàng Cơ Minh ra lệnh cho đám quân nhân vô kỹ luật này đem tất cả dụng cụ điện tử để lại chỗ cũ; nếu không, Ông sẽ bắn ngay tại chỗ.  Sau đó, Tư-Lệnh Vùng II Duyên-Hải dùng trực thăng thị sát diễn tiến những cuộc “đổ” và “bốc” quân.

Hai Van Ham Huong Giang HQ404..jpg

Tại vịnh Cam-Ranh, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, cựu Tư-Lệnh Quân-Đoàn II, dùng một chiến đỉnh ra HQ 404 thăm Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, cựu Tư-Lệnh Vùng I Chiến-Thuật.

Sau đó, HQ 404 được lệnh ủi bãi Tân-Cảng để tất cả Thủy-Quân Lục-Chiến xuống Cam-Ranh; chỉ đưa một mình Trung Tướng Ngô Quang Trưởng về Saigon.

Trong khi Thủy-Quân Lục-Chiến rời HQ 404, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng lặng lẽ rời chiến hạm, đi theo những người lính đã cùng chia xẻ những giờ phút cuối cùng trong đời binh nghiệp của Ông! Hạm-Trưởng HQ 404 trình: “Thưa Trung-Tướng, lệnh từ Saigon yêu cầu tôi đưa Trung Tướng về Saigon. Xin Trung Tướng ở lại tàu cho.” Trung Tướng Trưởng đáp: “Xin phép Saigon cho Thủy-Quân Lục-Chiến về Saigon dưỡng quân và chỉnh đốn hàng ngũ. Nếu bắt họ xuống Cam-Ranh thì tôi sẽ xuống luôn.”

Yêu cầu của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được Bộ-Tổng-Tham-Mưu chấp thuận.

Riêng HQ 802, sau khi “đổ” tất cả binh sĩ của Sư-Đoàn II Bộ-Binh, Thủy-Quân Lục-Chiến và đồng bào xuống Cam-Ranh, được lệnh trở ra Qui-Nhơn. Nhưng vừa ra khỏi vịnh Cam-Ranh, Hạm-Trưởng HQ 802 nhận được phản lệnh: Hủy bỏ công tác Qui-Nhơn. Về Cam-Ranh trình diện Vùng II Duyên-Hải.

Trở lại Cam-Ranh, HQ 802 được lệnh chuyển vận toàn bộ thành phần còn lại của Sư-Đoàn Thủy-Quân Lục-Chiến về Vũng-Tàu.

Từ Qui-Nhơn vào Cam-Ranh, HQ 403 kéo theo nhiều LCU Quân-Vận, LCVP, LCM và vớt thêm rất nhiều người trên những ghe chạy ven biển. Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất, cựu Tư-Lệnh mặt trận Kontum, nhập hạm lúc nào, tại hải phận nào, không ai hay. Khi vào đến vịnh Cam-Ranh, biết có sự hiện diện của Tướng Phạm Duy Tất trên chiến hạm, Hạm-Trưởng HQ 403 cặp bên hông HQ 3, mời Tướng Phạm Duy Tất sang HQ 3.

Ngày 1 tháng 4, tại Bộ-Chỉ-Huy Vùng II Duyên-Hải, Phó-Đề-Đốc Diệp Quang Thủy hội ý với Trung Tướng Lê Nguyên Khang, phụ tá hành quân Tổng-Tham-Mưu Quân-Lực V.N.C.H. và Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư-Lệnh Thủy-Quân Lục-Chiến. Phó-Đề-Đốc Thủy cho rằng với lực lượng cơ hữu và những đơn vị khác từ Đà-Nẵng và Qui-Nhơn rút vào, V.N.C.H. chỉ cần phá sập các cầu trên quốc lộ I thì có thể giữ được Cam-Ranh, chờ Saigon tăng phái để lập phòng tuyến Cam-Ranh. Tướng Khang và Tướng Lân đồng ý. Phó-Đề-Đốc Thủy liên lạc với Phó-Đô-Đốc Chung Tấn Cang, xin hai đại đội Người Nhái để thực hiện công tác phá cầu.

Sau khi nhận được yêu cầu của Phó-Đề-Đốc Thủy, vì tình hình tại Bộ-Tổng-Tham-Mưu rối loạn, Phó Đô-Đốc Cang phải liên lạc trực tiếp với Thủ-Tướng Trần Thiện Khiêm.

Chiều 1 tháng 4, Tư-Lệnh Hải-Quân, Phó-Đô-Đốc Chung Tấn Cang, thông báo cho Phó-Đề-Đốc Diệp Quang Thủy: Phải rút khỏi Cam-Ranh theo lệnh trên!

Vào thời điểm này, trong lúc lên Bộ-Chỉ-Huy Vùng II Duyên-Hải nhận chỉ thị, Hải-Quân Trung-Tá Dương Hồng Võ, Chỉ-Huy-Phó Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Cam-Ranh, gặp Trung Tướng Lâm Quang Thi. Tướng Thi hỏi:

– Anh còn bao nhiêu lính? Mình tử thủ.

– Thưa, tôi còn một ngàn sáu trăm lính; nhưng vũ khí chỉ là vũ khí để huấn luyện chứ không có súng lớn.

– Có đơn vị tiếp vận gần đây, anh ghé lấy.

– Dạ, đơn vị đó đi hết rồi.

– Nếu nó chạy thì nó chạy mình không chứ nó mang súng ống theo làm gì. Anh cứ tới phá kho. Mình tử thủ.

Trung-Tá Võ không biết phải đáp như thế nào, chỉ cười, rồi vào phòng hành quân nhận lệnh. Khi Trung-Tá Võ trở ra, trực thăng chở các vị Tướng đang lấy đà, nâng thân tàu lên!

HAI VAN HAM NINH GIANG HQ403..jpg

Tối 1 tháng 4, HQ 403 được lệnh đón tân binh, quân nhân và gia đình tại cầu tàu Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Cam-Ranh.

Cầu tàu không đèn, nước lại ròng và gió từ trong bờ thổi ra rất mạnh. Ba lần HQ 403 cập vào, cả ba lần đều bị dạt ra. Hạm-Trưởng HQ 403 phải đổi lối cặp lùi. Hạm-Trưởng HQ 403 thường áp dụng lối cặp này mỗi khi về bến, hoặc mỗi khi phải trực cầu Tư-Lệnh mà bị nước xuôi dòng. Những lần đó Hạm-Trưởng HQ 403 thành công. Nhưng lần này, vì không đèn, vị sĩ quan đứng sau lái không cho dấu hiệu kịp thời, cho nên HQ 403 đụng vào cầu và bị thủng một lỗ lớn!

Trong khi Hạm-Trưởng và nhân viên HQ 403 tận dụng mọi khả năng để đưa chiến hạm vào cứu  nhóm người trên cầu tàu thì, trong nhóm người ấy, một số quân nhân nổi loạn, cướp của, giết người, gây kinh khiếp một vùng. Một Trung-Đội Lôi-Hổ giúp Hải-Quân tước vũ khí đám loạn quân, tái tạo an ninh rồi mới đưa được mọi người lên HQ 403.

HQ 403, được lệnh xuôi Nam trong khi nhiều thương thuyền ngoại quốc và xà-lan đầy người vẫn còn neo trong vịnh.

Tình cảnh vịnh Cam-Ranh trong thời điểm này không khác chi Đà-Nẵng. Lính nổi loạn, bắn bừa ra chiến hạm. Người từ ghe hay tàu nhỏ hoặc xà-lan leo lên tàu lớn, hụt tay, rớt xuống biển. Trẻ em bị ném từ dưới ghe nhỏ hoặc xà-lan lên tàu lớn. Người trên tàu lớn chụp hụt, em bé rơi vào giữa hai thành tàu. Tiếng thét hãi hùng. Tiếng “bụp” khô khan. Vệt máu đỏ trên thành tàu. Một cơ thể tí ti chập chờn trên mặt nước đã loang màu hồng!

Bên Ba-Ngòi, từng suối người cuồn cuộn tuôn về Nam.

Ngày 2 tháng 4, Phó-Đề-Đốc Diệp Quang Thủy rời Cam-Ranh bằng HQ 7. Chính chiến hạm HQ 7 này, đầu thập niên 60, Phó-Đề-Đốc Diệp Quang Thủy đã từng là Hạm-Trưởng.

Phó-Đề-Đốc Hoàng Cơ Minh, sau khi ra lệnh thiêu hủy kho dụng cụ điện tử do Mỹ để lại, lên HQ 3, vào phòng tuyến Phan-Rang.

2 giờ chiều cùng ngày, quân của Sư-Đoàn 10 Việt-Cộng tiến vào Cam-Ranh không gặp bất cứ một sự kháng cự nào cả!

Nguồn: https://www.diepmylinh.com/cam-ranh

Cuối tháng 3/75 tuyến đầu thất thủ

Trọng Đạt

Tình hình chung

Sau tháng 1/1973 VC vẫn tiếp tục vi phạm Hiệp định Paris, cuộc chiến vẫn tiếp diễn nhưng VNCH còn đủ mạnh, khoảng cuối 1973 Hạ viện Mỹ bắt đầu cắt giảm viện trợ 50% mỗi năm 1974, 1975 khiến miền Nam ngày càng suy yếu, CS ngày càng mạnh hơn . Ông Nguyễn đức Phương dựa theo M.Maclear (Vietnam: The ten Thousand Day war) cho biết vào ngày mất Ban Mê Thuột 13/3/1975 Hạ viện Mỹ bác bỏ 300 triệu viện trợ bổ túc cho VNCH do TT Ford đệ trình. Đại sứ Martin cũng thông báo cho TT Thiệu biết quân viện cho năm tới (1976) sẽ không được chuẩn chi (Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 732). Tin sét đánh đã khiến TT Thiệu mất tinh thần để rồi đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.

Nói trắng ra Hạ Viện Mỹ đã cạn tầu ráo máng buộc miền nam VN phải đầu hàng CS. Trong khi tại chính trường nước Mỹ vấn đề VN không được ai quan tâm tới, chỉ còn TT Ford và người phụ tá Kissinger cố gắng một cách tuyệt vọng để xin chút phương tiện cho VNCH. Vào lúc này đảng Dân Chủ nắm đại đa số Quốc hội Mỹ (67% Hạ viện và 60% Thượng viện), họ chống chiến tranh VN tích cực, đảng nọ phá đảng kia, bao giờ cũng vậy, ai cũng đều biết cả. Theo nhận xét của Kissinger (Years of Renewal trang 464) thì TT Ford không tìm được giải pháp nào để thoát ra khỏi sự bế tắc, thảm kịch không thể nào tránh khỏi.

(… there were no easy, heretofore undiscovered way out of this morass…

The tragedy had become simply inevitable.)

Gerald Ford chẳng khác nào một ông Tổng thống bù nhìn, lại nữa ông đã không do dân bầu, lên thay thế TT Nixon khi mà đảng Cộng Hòa bị mất quá nhiều uy tín qua vụ tai tiếng Watergate.

Tình hình miền nam VN lúc này quá u ám, Hoa Kỳ đã bắt tay được Trung Cộng tháng 2/1972 và hòa được với Sô Viết tháng 5/1972, thuyết Domino không còn ý nghĩa. Bây giờ là lúc họ quẳng cái miếng xương Đông Dương đi, được Cộng sản quốc tế khuyến khích, Hà Nội mừng rú vội chạy lại vồ ngay lấy. Năm 2006 trên internet tôi thấy có người hỏi cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn:

“Chúng ta đã biết trước là thua tại sao vẫn đánh để khiến bao nhiêu người chết thảm?”

Một câu hỏi thật khó có câu trả lời…

Tối 29/3/1975 đài phát thanh BBC Luân Đôn cho biết Đà Nẵng đã thất thủ, một trăm ngàn quân bị bắt làm tù binh, đó cũng là ngày sụp đổ của toàn bộ Quân khu I, hung tin ghê gớm ấy đã khiến cho cả nước kinh hoàng: Quân khu I nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ và thiện chiến nhất của VNCH, bốn Sư đoàn chính qui chủ lực, bốn Liên đoàn Biệt động quân đã hoàn toàn tan rã sau 9 ngày cầm cự và triệt thoái. Mặc dù nay nhiều bí mật về cuộc lui binh đã được tiết lộ, Bộ Tổng tham mưu VNCH, các vị Tướng lãnh, các giới chức quân sự liên hệ đã bạch hóa diễn tiến của trận chiến bi thảm này, các nhà nghiên cứu quân sử, các nhân chứng, ký giả chiến trường… đã biên soạn, kể lại diễn tiến của mặt trận vùng Hoả tuyến nhưng người ta tưởng như nó vẫn còn nhiều điều bí ẩn và khó hiểu, chưa bao giờ trong cuộc chiến tranh Quốc -Cộng giai đoạn 1960-1975 một lực lượng to lớn của miền Nam lại có thể thua nhanh đến thế. Cũng có người cho rằng tấn thảm kịch này bắt nguồn từ ảnh hưởng của những yếu tố chính trị hơn là về quân sự.

https://i0.wp.com/batkhuat.net/images/GenNgoQuangTruong.JPG

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng

 

Các tài liệu, sách báo nói về cuộc lui binh Quân đoàn I của Bộ tổng tham mưu Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Thiếu Tướng Hoàng Lạc, nhà nghiên cứu quân sử Nguyễn Đức Phương, ký giả chiến trường Phạm Huấn và những lời thuật lại của các nhân chứng … nói chung không hoàn toàn giống nhau, có khi còn trái ngược nhau là khác.

Quân khu I là một giải đất dài và hẹp hình cán chảo chạy theo hướng Tây Bắc, Đông Nam, gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng tín, Quảng Ngãi, dân số vào khoảng ba triệu người. So với các Quân khu khác Vùng Một nhỏ hẹp nhất, đây là nơi tiếp giáp với Bắc Việt, chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nên cũng gọi là vùng Hoả tuyến. Từ sau khi ký hiệp định Paris, nửa triệu quân đồng minh đã rút đi, VNCH một mình phải gánh vác toàn bộ chiến trường. Lãnh thổ quá rộng, không đủ lực lượng trấn giữ nên tại đây VNCH chỉ còn kiểm soát được phần đất nằm phía bên phải của giải đất theo chiều dọc tức là phía Đông, còn phía Tây do Cộng thuộc quyền kiểm soát của CSBV. Dần dần VNCH chỉ còn những tỉnh lỵ và thị xã và các quận do sự lấn chiếm theo lối tầm ăn dâu của địch, kể từ sau ngày 19/3/1975, nếu nhìn trên bản đồ quân sự (Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối VNCH trang 166) ta sẽ thấy miền Nam chỉ còn kiểm soát được vào khoảng gần một phần ba (1/3) diện tích Quân khu 1.

Năm 1972 Quân khu I đã là một chiến trường lớn, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt đẫm máu giữa các đại đơn vị của hai miền Nam Bắc .Vì tình hình sôi động đặc biệt của vùng hỏa tuyến ngoài ba Sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn, TT Thiệu còn cho hai Sư đoàn tổng trừ bị Nhẩy Dù và Thủy quân lục chiến ra đóng tăng cường. Đạn dược tiếp liệu ngày càng thiếu thốn bi đát, theo ông Cao Văn Viên (sách đã dẫn trang 92) từ tháng 7/1974 hoả lực miền Nam giảm hơn 70% và vào tháng 2/1975, đạn tồn kho các loại súng tại kho Trung ương chỉ còn đủ cung ứng khoảng một tháng (30 ngày).

Miền Nam không được Mỹ yểm trợ B52; tiếp liệu, đạn dược đã gần kiệt quệ, tài khóa 1974, 1975 bị cắt giảm 50% mỗi năm (Kissinger, Years of Renewal trang 472). Ngay từ cuối tháng 12/1974 khi BV xử dụng ba sư đoàn tấn công Phước Long, pháo binh VNCH tại đây đã phải đếm từng viên đạn để tiết kiệm hầu còn đủ chiến đấu (Kissinger, Years of Renewal, trang 490)

Trong khi ấy CS quốc tế vẫn tiếp tục viện trợ dồi dào cho BV. Theo BBCVietnamese.com ngày 10-5-2006, viện trợ quân sự CS quốc tế cho BV giai đoạn 1969-1972 là 684,666 tấn vũ khí, giai đoạn 1973-1975 là 649,246 tấn vũ khí coi như không thay đổi. Từ tháng 12/1974 Nga Sô đã viện trợ quân sự cho Hà Nội tăng gấp bốn lần hơn trước (Kissinger, Years of Renewal trang 481).

Nhìn sơ các con số và các dữ kiện trên chúng ta cũng đủ biết ai sẽ thắng , ai thua, về điểm này Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn có nói

Xin nhắc lại một lần nữa, nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ của Miền Nam là không có viện trợ (phương tiện chiến tranh)

(Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam 1954-1975, trang 406)

Cuối năm 1974 tình hình chiến sự ở Quân khu I yên lặng được một thời gian, VNCH đẩy lui cuộc tấn công của BV vào đồng bằng Tây Nam Đà Nẵng, CSBV có lợi thế về địa hình, vì gần hậu cần miền Bắc, họ được bổ sung quân số và tiếp liệu thuận lợi. Từ tháng 6 cho tới cuối năm 1974 các lực lượng Quân đoàn I của VNCH bị tổn thất trong các trận giao tranh không được bổ sung nên quân số thiếu hụt. Quân khu 1 được chia làm hai khu Bắc và Nam, Bắc gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên dưới quyền Bộ Tư lệnh tiền phương do Trung tướng Lâm Quang Thi chỉ huy, ba tỉnh còn lại Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi do Tư lệnh Quân đoàn Trung Tướng Ngô Quang Trưởng trực tiếp chỉ huy.

Bố trí chủ lực quân VNCH như sau:

-Sư đoàn Nhẩy Dù vàTQLC, Lữ đoàn 1 Thiết kỵ từ Bắc Thừa Thiên lên tới Nam sông Thạch Hãn kéo dài sang phía Tây Quảng Trị.

Lực lượng cơ hữu của Quân khu và các Liên đoàn Biệt động quân bảo vệ các tỉnh còn lại:

– Sư đoàn 1BB và Liên đoàn 15 Biệt động quân đóng tại Thừa Thiên.

– Sư đoàn 3 BB và Liên đoàn 14 BĐQ đóng tại Đà Nẵng, Quảng Nam.

– Sư đoàn 2 BB và hai liên đoàn 11, 12 BĐQ bảo vệ Quảng Tín, Quảng Ngãi.

(Theo Nguyễn đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 751)

Các đơn vị yểm trợ gồm trên 10 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn phòng không, một lữ đoàn thiết kỵ. Hải quân gồm các giang đoàn xung phong, trục lôi, tuần thám tại Thuận An, các duyên đoàn tại Cửa Việt, tại Thuận An, Tư Hiền… Sư đoàn 1 Không quân đóng tại Đà Nẵng. Quân số của Quân đoàn vào khoảng 90,000 chủ lực và 75,000 địa phương quân, nghĩa quân, số gồm cả thành phần không tác chiến. Đây chỉ là con số lý thuyết, trên thực tế thì thấp hơn không được như vậy vì nhiều lý do.

Lực lượng Cộng sản tại Quân khu I chia hai địa bàn hoạt động lấy đèo Hải Vân làm ranh giới do các Tướng Lê Tư Đồng, Nguyễn Hữu An, Chu Huy Mân chỉ huy. Theo tác giả Nguyễn Đức Phương tại đây Bắc việt có 7 sư đoàn (324B, 325, 320B, 312, 304, 711, 2) và 3 Trung đoàn độc lập tổng cộng vào khoảng 8 sư đoàn (Sách đã dẫn trang 752).

Theo ông Cao Văn Viên, tại đây BV có 5 sư đoàn (341, 325C, 324B, 304, 711), 10 trung đoàn độc lập (52, 4, 5, 6, 27, 31, 48, 51, 270, 271), 3 Trung đoàn đặc công (5, 45, 126), toàn bộ vào khoảng hơn 8 Sư đoàn. Lực lượng cơ giới yểm trợ gồm 3 Trung đoàn xe tăng, 12 Trung đoàn phòng không, 8 Trung đoàn pháo binh (Những Ngày Cuối Của VNCH trang 160).

Theo Nguyễn Đức Phương lực lượng địch tổng cộng vào khoảng 71,000 người. Bắc Việt có ưu thế về vũ khí đạn dược hơn VNCH rất nhiều, chủ lực quân coi như gấp hai.

Diễn tiến của mặt trận

Trong khi mở chiến dịch Ban Mê Thuột, CSBV tại Quân khu I cũng xâm nhập đánh phá các nơi để cầm chân quân đội VNCH như tại Quảng Trị, họ chiếm quận Hải Lăng Bắc Thừa Thiên, xâm nhập các xã ven biển Thừa Thiên. Phía Nam đánh các cao điểm của Sư đoàn I, tấn công tuyến sông Bồ nhưng bị đẩy lui bỏ lại 200 xác chết, tại Quảng Tín địch chiếm 2 quận Tiên phước, Hậu Đức ngày 10/3 bắn phá tỉnh lỵ Tam Kỳ…

Ngày 11/3, sau khi CS tấn công chiếm Ban mê Thuột một ngày, Tổng thống Thiệu triệu tập phiên họp tại Dinh Độc Lập, có mặt Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang. TT Thiệu cho biết trước tình hình khó khăn do quân viện bị cắt giảm, áp lực địch mạnh, ta chỉ có thể giữ được Quân khu III, Quân Khu IV và một vài tỉnh duyên hải QK I và QK II, QK I chỉ giữ Huế và Đà Nẵng (Những Ngày Cuối Của VNCH trang 129, 130, 131)

Trong lúc tình hình quân sự có vẻ không thuận lợi cho ta thì theo yêu cầu của TT Thiệu, Bộ TTM lệnh cho Tướng Trưởng trả Sư đoàn Nhẩy Dù về Trung ương.

Ngày 13/3 TT Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng về Sài Gòn họp Hội Đồng an ninh Quốc gia, thành phần gồm Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Thiệu cho biết tình hình khó khăn do cắt giảm quân viện, ông không tin Mỹ sẽ can thiệp dù Cộng Sản tấn công miền Nam nên phải tái phối trí lực lượng, rút quân bỏ những miền cao nguyên rừng núi để giữ những vùng mầu mỡ còn hơn đứng chung chính phủ Liên Hiệp với Cộng Sản.

Ngày 14/3 Tướng Trưởng về Quân đoàn I họp tham mưu, thảo luận kế hoạch tái phối trí, Nhẩy Dù sẽ rút về Sài Gòn, hôm sau Liên đoàn 14 BĐQ nhận vùng trách nhiệm của Lữ đoàn TQLC 369 tại Quảng Trị để Lữ đoàn này về Phú Lộc thay Lữ đoàn Dù, một lữ đoàn TQLC sẽ chịu trách nhiệm khu vực sông Bồ để bảo vệ Huế.

Ngày 17/3 Lữ đoàn 258 TQLC sẽ rời Quảng Trị để về Đà Nẵng thay lữ đoàn 2 Dù. Dân chúng sợ hãi đã di tản ồ ạt trên quốc lộ Một từ mấy ngày nay làm cản trở việc điều quân tái phối trí.

Ngày 18/3 Thủ tướng Trần Thiện Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vấn đề dân tỵ nạn, ông cho Tướng Trưởng biết sẽ không tăng viện Quân khu I vì tình hình Quân khu III nghiêm trọng, Việt Cộng đánh Dầu Tiếng, áp lực Tây Ninh, Long Khánh, Bình Tuy…

Ngày 19/3 Tướng Trưởng được triệu về Sài Gòn họp lần thứ hai, thành phần phiên họp cũng như lần trước nhưng có thêm Phó tổng thống Trần Văn Hương. Tướng Trưởng trình bầy hai kế hoạch lui binh:

Kế hoạch Một: các đơn vị sẽ theo Quốc lộ Một từ Huế, Chu lai về Đà Nẵng, trong trường hợp Quốc lộ Một bị cắt thì sẽ theo kế hoạch Hai.

Kế hoạch Hai: Các lực lượng Quân đoàn sẽ tập trung tại ba cứ điểm Huế, Đà Nẵng và Chu Lai, tầu Hải quân sẽ chuyên chở lính từ Huế, Chu Lai về Đà Nẵng. Trong cả hai kế hoạch Đà Nẵng là điểm phòng thủ chánh, điểm tựa cuối cùng, Tướng Trưởng đề nghị giữ cả ba cứ điểm để phân tán lực lượng địch và gây tổn thất tối đa cho Việt Cộng, ông Thiệu cho biết giữ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Ông Cao Văn Viên cho rằng kế hoạch của Tướng Trưởng là hợp lý.

“Kế hoạch lui quân của Quân đoàn 1 soạn thảo rất hợp lý và đầy đủ, gồm kế hoạch dự phòng để đối phó với những bất ngờ do địch gây ra. Khi trận chiến khai diễn như Kế Hoạch Hai dự trù và các đơn vị của Quân đoàn 1 rút hết về Đà Nẵng, chúng ta chỉ còn hai hành động phải làm: Cố thủ tại chỗ hoặc rút bằng đường biển nếu tình thế bắt buộc. Như vậy vào thời điểm trên, đâu còn cần đến kế hoạch dự phòng nào khác”

(Những Ngày Cuối Của VNCH Trang 163)

Thật ra kế hoạch nghe thì hay nhưng thực hiện được lại không phải dễ, thực tế rất phũ phàng, BV tấn công gấp rút, dân chúng di tản làm náo loạn khiến binh sĩ mất tinh thần. TT Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng cố gắng giữ được tất cả những phần đất có trong tay sau đó ông bảo Tướng Quang soạn bài hiệu triệu trên đài phát thanh Huế để trấn an dân chúng, quyết bảo vệ Huế đến cùng. Buổi họp này không thấy nói đến triệt thoái mà chỉ là kế hoạch co cụm để giữ đất.

Ngày 19/3 Quảng Trị bỏ ngỏ, chi đoàn Thiết giáp, liên đoàn 14 BĐQ rút về bên này Mỹ chánh lập phòng tuyến mới. Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh vào Quân khu. Theo Tướng Hoàng Lạc, Giám mục Phạm Ngọc Chi địa phận Đà Nẵng và Giám mục Nguyễn Kim Điền khuyên không nên đổ máu vô ích vì các siêu cường đã sắp đặt cả rồi.

Sáng 20/3 Tướng Trưởng bay ra bộ chỉ huy tiền phương họp các cấp chỉ huy bàn kế hoạch phòng thủ Huế như Tổng thống ra lệnh phải giữ bằng mọi giá. Tình hình mặt trận tương đối còn tốt đẹp, các đơn vị hoàn hảo, tinh thần cao duy trì được kỷ luật, ai nấy đồng lòng tử thủ, dân chúng di tản nhiều. Tướng Trưởng lạc quan khi thấy Huế phòng thủ tốt. Trưa hôm đó ông Thiệu đọc hiệu triệu dân trên đài phát thanh Huế. Đến chiều khi về tới Đà Nẵng TướngTrưởng nhận được lệnh của dinh Độc Lập chỉ giữ Đà Nẵng thôi nếu tình hình bó buộc, ông Thiệu lý luận Quân đoàn I không đủ lính để bảo vệ cả ba cứ điểm Chu lai, Huế và Đà Nẵng. Tướng Trưởng được quyền tùy cơ ứng biến.

Quân khu I ngày một nguy ngập, Cộng quân đã bắt đấu tấn công mạnh theo thế gọng kìm từ trên Quảng Trị đánh xuống và từ dưới Quảng Ngãi đánh lên, dân chúng chạy loạn ồ ạt từ Huế kéo về Đà Nẵng, từ Quảng Nam Quảng Ngãi kéo lên. Ngày 21/3 địch tấn công Phú Lộc, áp lực mạnh trên Quốc lộ Một, dân tản cư đông như kiến từ Huế về Đà nẵng. Sư đoàn I VNCH có pháo binh và không quân yểm trợ đẩy lui cuộc tấn công của BV nhưng họ có ưu thế về lực lượng nên Sư đoàn 1 cầm cự đến trưa ngày 22 thì thất thủ, Trung đoàn 1 BB (SĐ1) và Liên đoàn 15 Biệt động quân bị đẩy lui, một khúc đường Quốc lộ Một bị cô lập, Trung đoàn I bị thiệt hại nặng, Tướng Trưởng ra lệnh thu gọn tuyến phòng thủ Huế.

Dân chúng và quân cụ bắt đầu được chở bằng tầu ra khỏi Đà Nẵng, ngày 23/3 Việt Cộng pháo kích Huế rời rạc không gây thiệt hại gì nhiều nhưng khiến dân chúng hốt hoảng náo động như hỗn loạn. Tại phía Nam Vùng Một tình hình nguy ngập khi quận Hậu Đức, Tiên Phước thuộc Quảng Tín bị Việt cộng chiếm, Sư đoàn 2 và Liên đoàn 12 BĐQ chặn được áp lực địch tấn công về Tam Kỳ và các vùng duyên hải. Trước áp lực dồn dập của Cộng quân Tướng Trưởng ra lệnh di tản 2 quận Sơn Trà, Trà Bồng Quảng Ngãi, những tiền đồn xa tiếp tế cũng được di tản, Tướng Trưởng cho gom các lực lượng rời rạc lại để bảo vệ những điểm trọng yếu vào trận cuối cùng. Sự chỉnh đốn của Tướng Trưởng đem lại chút bình yên gượng gạo cho 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Tín trong 2 ngày.

Sáng ngày 24/3 tại phía Nam Quân khu 1, BV tấn công mạnh tại Quảng Tín, Sư đoàn 711, Trung đoàn 52 BV và xe tăng đánh Tam Kỳ, đặc công đột nhập tỉnh lỵ thả tù gây rối loạn đến trưa thì Tam Kỳ thất thủ. Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 3 VNCH từ Quảng Nam được lệnh tiến về Quảng Tín để giúp Địa phương quân chạy từ Tam Kỳ về. Tam kỳ mất, dân ùn ùn chạy về Đà Nẵng. Tại Quảng Ngãi Cộng quân tấn công dữ dội, đặc công và địa phương quân Việt Cộng tại Quảng Ngãi tấn công phi trường, các cơ sở hành chánh quân sự Quảng Ngãi. Đường Quốc lộ Một từ Quảng Ngãi tới Chu lai bị cắt đứt, đường ra biển bị cô lập, chỉ trong một ngày tình hình Quân khu 1 rối loạn đến mức không còn kiểm soát được nữa. Quân đoàn chấp thuận cho tiểu khu Quảng Ngãi mở đường máu về Chu Lai nhưng chỉ có vài đơn vị về được.

Ngày 25/3 tất cả các đơn vị Quân đoàn I tụ lại 3 phòng tuyến chính: Chu Lai phía nam, Đà Nẵng ở giữa và Huế phía Bắc, các lực lượng của Quân đoàn I bị thiệt hại nhiều khi di tản về các phòng tuyến này, tinh thần binh sĩ xuống thấp, ai nấy chán nản chưa bao giờ trong đời chinh chiến họ thấy tuyệt vọng như hiện nay. Trong tình thế khó khăn Tướng Trưởng lại nhận thêm một lệnh nữa từ dinh Độc Lập, TT Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng dùng ba Sư đoàn cơ hữu của Quân đoàn: SĐ1, SĐ2, SĐ3 để phòng thủ Đà Nẵng, Sư đoàn TQLC đóng vai trừ bị. Đêm đó Tướng Trưởng cho Sư đoàn I và các đơn vị quanh Huế rút về Đà Nẵng, ông lệnh cho Sư đoàn 2, Chi khu Quảng Ngãi và thân nhân của họ rút ra Cù Lao Ré, một đảo ngoài khơi Chu lai. Hai tầu dương vận hạm đón Sư đoàn 2 tại Chu lai đưa về Cù Lao Ré, cuộc vận chuyển thành công hơn mặc dù có hỗn loạn nhưng một nửa quân số của Sư đoàn 2 đã lên tầu đưa về Bình Tuy, chính phủ tuyên bố Huế và Chu lai thất thủ ngày 25/3.

Các lực lượng Huế bắt đầu di tản, Sư đoàn I và các đơn vị cơ hữu rút ra cửa Tư Hiền. Hải quân và công binh sẽ bắc cầu để quân di tản đi ngược vào đất liền rồi dùng đường bộ về Đà Nẵng. Sư đoàn TQLC và các đơn vị trực thuộc sẽ triệt thoái bằng tầu Hải quân. Sáng ngày 26/3 biển sóng to làm đình trệ cuộc vận chuyển, cầu nối giữa Tư Hiền và đường bộ chưa hoàn tất. Đến trưa thủy triều dâng cao không thể vượt biển được trong khi ấy Cộng quân đuổi theo nã pháo vào cửa Tư Hiền và các địa điểm tập trung gây nhiều thiệt hại, hỗn loạn diễn ra không còn quân kỷ, Sư đoàn I tan rã tại đây chỉ có một phần ba về được đến Đà nẵng, tới nơi họ rã ngũ đi tìm thân nhân.

Trong khi đó thì Lữ đoàn kỵ binh với hơn 100 thiết giáp các loại từ mặt trận Bắc Huế tiến về cửa Thuận An, theo sau là các đơn vị pháo binh với hằng trăm khẩu pháo, TQLC, BĐQ, ĐPQ từ tuyến sông Bồ đang lũ lượt kéo về, hỗn loạn lại diễn ra. Hai tầu dương vận hạm đến cửa Thuận An để chở TQLC, tầu hải vận đĩnh và quân vận đĩnh chở người từ bờ ra dương vận hạm.

Sư đoàn 325 CS chuyển vào Quảng Nam phối hợp với sư đoàn 304 CS tấn công Đà Nẵng, Sư đoàn 2 CS cũng tiến về thành phố. Quân đội VNCH lập phòng tuyến phòng thủ bảo vệ Đà Nẵng, phía Tây 2 lữ đoàn TQLC, phía Nam Sư đoàn 3 và ĐPQ Quảng Nam. Ngày 27/3/1975 các cuộc phòng thủ Đà Nẵng thành ra vô hiệu trước sự hỗn loạn, Cộng quân dồn nỗ lực bao vây thành phố. Từ bắc Đà Nẵng hai Sư đoàn 324B và 325C CSBV cùng với Trung đoàn xe tăng và hai Trung đoàn pháo tiến dọc theo thung lũng Voi bao vây thành phố. Phía Nam Sư đoàn 711, 304 BV tiến chiếm Đại Lộc và Dục Đức, Đà Nẵng đã nằm trong tầm pháo của quân thù. Tại thành phố lớn thứ hai của miền nam này Quân đoàn I chỉ còn có Sư đoàn 3 và 2 lữ đoàn TQLC, các Sư đoàn 1 và 2 đã bị rã ngũ trên đường triệt thoái, một phần đã được tầu chở ra khơi, lực lượng không đủ để đương đầu với áp lực quá đông của BV, lại nữa thành phồ với hằng triệu người tỵ nạn đã trở nên hỗn loạn không thể nào kiểm soát được.

Sáng ngày 28/3/1975 Tướng Trưởng họp khẩn cấp các đơn vị trưởng ban hành một số biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị các đơn vị di tản trong thành phố nhưng ta không còn đủ quân tác chiến để thực hiện kế hoạch này. Các quân nhân có mặt được sung vào các đơn vị tác chiến nhưng không đủ để bù vào thiệt hại do cuộc triệt thoái gây ra. Trưa 28/3 Phòng 2 thuộc Bộ TTM cho Quân đoàn I biết Cộng quân có thể tấn công trong đêm, Sư đoàn I Không quân được lệnh di tản về Phù Cát, Phan Rang, Quân đoàn I ban lệnh ứng chiến tại các tuyến phòng thủ. Hai giờ trưa các xã ấp quanh Đà Nẵng đã lọt vào tay Cộng quân. Địa phương quân, nghĩa quân tan rã, binh sĩ rã ngũ rời đơn vị.

CSBV pháo phi trường, căn cứ Hải quân khi trời vừa tối rất dữ dội và chính xác nhờ những toán đặc công, tiền pháo viên chỉ điểm hướng dẫn. Tướng Trưởng vội báo cáo về Bộ Tổng tham mưu và gọi cho Tổng thống Thiệu xin di tản bằng đường biển. Tướng Thiệu không ra lệnh rõ ràng chỉ hỏi vu vơ nếu di tản thì có thể được bao nhiêu. Pháo kích của BV khiến cho liên lạc giữa Sài Gòn và Đà Nẵng bị cắt đứt, Tướng Trưởng lập tức ra lệnh bỏ Đà Nẵng, ông họp với Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư lệnh Hải quân vùng I và các cấp chỉ huy để hẹn địa điểm rút quân tại chân đèo Hải Vân , núi Non Nước và cửa khẩu Hội An.

Rạng sáng ngày 29/3/1975 sương mù bao phủ dọc theo bờ biển, ngoài khơi tầu đã có mặt ở điểm hẹn, thủy triều thấp tầu không vào bờ được, binh sĩ phải lội ra biển. Cuộc di tản êm xuôi cho đến khi khi BV phát hiện bèn pháo kích vào địa điểm tập trung quân và tầu ngoài khơi gây nhiều thiệt hại, đoàn tầu di tản được khoảng 6,000 TQLC, 3,000 lính Sư đoàn 3 và nhiều đơn vị khác.

Đà Nẵng được coi như thất thủ ngày 29/3/1975. Có tài liệu cho biết VNCH mất 130 máy bay tại Đà Nẵng. Năm 1976 Tướng Trưởng trả lời một cuộc phỏng vấn cho biết khoảng 6,000 TQLC, non nửa lực lượng của Sư đoàn và 4,000 quân thuộc các binh chủng khác đã được tầu bè cứu thoát. Tướng Nguyễn Duy Hinh Tư lệnh Sư đoàn 3 cho biết trong số 12,000 người của Sư đoàn 3 chỉ có 5,000 đến được điểm tập trung và sau cùng chỉ có 1,000 người lên được tầu. Tổng cộng có 70,000 người dân được cứu thoát và 16 ngàn lính, 4 Sư đoàn kể cả TQLC bị thiệt hại nặng nề không thể gọi là đơn vị chiến đấu được nữa. Tất cả quân trang quân dụng, vũ khí, xe tăng đại bác… của Quân khu I coi như mất hết.

Quân khu I thất thủ một cách dễ dàng trong khoảng 10 ngày, không có lực lượng nào được tổ chức để đánh chận hậu, đánh trì hoãn khi Quân đoàn di tản. Cuộc lui binh thất bại hoàn toàn được coi tồi tệ hơn so với Quân đoàn II, hỗn loạn gấp bội phần, sự thiệt hại về nhân mạng cao hơn cuộc triệt thoái tại Tây nguyên nhiều.

Trọng Đạt

Nguồn: htps://hung-viet.org/p11a13839/cuoi-thang-3-75-tuyen-dau-that-thu-1

Westminster sẽ có Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Hoàng Sa

Linh Nguyễn

Sơ đồ mô hình dự án Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Hoàng Sa. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – Dự án xây dựng Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Hoàng Sa tại công viên Freedom Park, do Thị Trưởng Westminster Trí Tạ và Phó Thị Trưởng Kimberly Hồ đề nghị, sẽ được thảo luận lúc 5 giờ chiều và bỏ phiếu trong phiên họp thường lệ tối Thứ Tư, 27 Tháng Ba, của Hội Đồng Thành Phố Westminster.

Phái đoàn dân cử cho biết như trên trong chuyến thăm tòa soạn nhật báo Người Việt vào sáng Thứ Sáu, 22 Tháng Ba. Cùng tháp tùng là ông Trương Văn Song, cựu hội trưởng Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long, trưởng ban vận động xây dựng Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Hoàng Sa.

Thị Trưởng Trí Tạ cho biết ông và Phó Thị Trưởng Kimberly Hồ được gợi ý làm công việc này, sau khi tham dự lễ tưởng niệm 74 tử sĩ Hoàng Sa hồi đầu năm nay, do Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long tổ chức.

“Người Việt tị nạn chúng ta luôn đồng hành với những nỗ lực chống Trung Cộng xâm lăng của đồng bào trong nước. Tôi và phó thị trưởng đề nghị lập đài tưởng niệm để ghi nhớ tinh thần bất khuất trong trận hải chiến oai hùng của Hải Quân Việt Nam với 74 chiến sĩ hy sinh, và cũng để thế hệ sau tìm hiểu và biết ơn công lao của tiền nhân,” thị trưởng nói với nhật báo Người Việt.

“Nếu được hội đồng thành phố chấp thuận, đây sẽ là đài tưởng niệm 74 tử sĩ Hoàng Sa đầu tiên được lập nên tại hải ngoại,” ông Trí nói thêm.

Ông Trương Văn Song (trái), cựu hội trưởng Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long, góp ý với dự án Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Hoàng Sa của Thị Trưởng Trí Tạ và Phó Thị Trưởng Kimberly Hồ, tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Ông Trương Văn Song nhân dịp này cho biết thêm chi tiết về mô hình đề nghị, nếu được chấp thuận, sẽ được đặt phía bên phải của Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, vị trí nhìn vào từ đường All American Way.

Về chi phí, ông nói: “Phí tổn phỏng chừng $70,000, sẽ do Hội Ái Hữu Hải Quân Cửu Long gây quỹ với sự hỗ trợ tinh thần của thành phố nên hoàn toàn độc lập, không sử dụng đến ngân quỹ của Westminster.”

“Mặt trước là bức tường đá cẩm thạch cao 5 foot với hình bản đồ Việt Nam trên nền lá cờ vàng ba sọc đỏ, bên cạnh là vị trí đào Hoàng Sa. Phía sau là bức tường cao 9 foot, trên cùng là huy hiệu Hải Quân VNCH. Dưới là hàng chữ ‘Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Hoàng Sa – Paracel Monument.’ Tiếp theo là danh sách tên của 74 tử sĩ Hoàng Sa,” ông Song mô tả.

Ông cho biết hai bức tường sẽ được đặt trên bệ cao 15 inch, bề ngang 9.2 ft, khắc bằng song ngữ Việt-Anh, dòng chữ “Hải chiến Hoàng Sa: Tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của dân Việt Nam.”

Phó Thị Trưởng Kimberly Hồ cho biết: “Đây là một nỗ lực. Không có gì tự nhiên mà có. Quan trọng là tinh thần đoàn kết của cộng đồng, của ý muốn chung. Nhờ thế mà nhìn lại, ngày nay chúng ta mới có Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Tượng Đài Ghi Ơn Các Chiến Sĩ Anh Hùng Tuẫn Tiết. Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Hoàng Sa cũng thế.”

“Tôi kêu gọi đồng hương tham dự đông đảo buổi họp quan trọng vào Thứ Tư tới, lúc 5 giờ chiều, 27 Tháng Ba. Hãy đến để có tiếng nói, chứng tỏ sức mạnh, và nêu cao tinh thần bất khuất chống ngoại xâm phương Bắc cùng đồng bào trong nước!,” vị phó thị trưởng khẳng định. (Linh Nguyễn)

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/westminster-se-co-dai-tuong-niem-chien-si-hoang-sa/?utm_source=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di+Vi%E1%BB%87t+Newsletter&utm_campaign=85fdb71e9b-&utm_medium=email&utm_term=0_cf5f0a479c-85fdb71e9b-166071713