Contact

Nhớ tỉnh lỵ Gia Định ngày xưa – Phạm Công Luận

Phạm Công Luận

Lăng Đức Thượng công Lê Văn Duyệt (Nguồn: Internet)

Khi dì Út của tôi về làm dâu ở làng Bình Hòa, bà ngoại tôi dặn: “Bình Hòa là tỉnh lỵ của tỉnh Gia Định, con người đàng hoàng lịch sự, con phải nhớ luôn giữ lễ nghĩa!”.Sáu mươi năm qua, dì tôi vẫn còn sống ở đó nhưng cái tên Gia Định đã không còn là địa danh chính thức và cái tên Bình Hòa chỉ còn trong trí nhớ của người cố cựu sống lâu đời ở đây. Dì tôi bảo, bây giờ lên xe taxi yêu cầu: “Về ngã tư Bình Hòa”, không phải tài xế nào cũng biết ngã tư này nằm ở đâu. Đó là ngã tư nơi giao nhau giữa hai đường Nơ Trang Long – Lê Quang Định (trước 1975 là Nguyễn Văn Học – Lê Quang Định) ở quận Bình Thạnh.

 Thời xưa, người ta còn gọi ngã tư Bình Hòa là “Ngã Tư thầy Sóc” (gọi trại tên của ông Nguyễn Văn Sách, làm chức Thị lang thời vua Tự Đức, khi Pháp chiếm Nam Kỳ không ra làm việc cho Tây, ở nhà mở phòng khám đông y lấy tên Thảo Xuân Đường). Thầy Sóc là người nhà của ông bang biện Chỏi, một người có uy tín ở làng Bình Hòa xưa

.

Các giáo viên trường nữ công Gia Định (Nguồn: Gia đình ông Tư Trường)

Quanh Ngã Tư Bình Hòa vẫn còn ba quán ăn lâu năm là quán cơm tấm bao tử Đông Hoa Xuân, quán mì Minh Sanh trên đường Nơ Trang Long và quán hủ tíu Đạt Phong trên đường Phan Văn Trị. Cả ba quán còn giữ được hương vị không khác nhiều lắm so với năm sáu chục năm trước. Mấy ông Việt kiều gốc Gia Định mỗi lần về chơi đều rủ nhau ra ăn đủ ba quán, để nhớ lại thời tuổi trẻ của mình. Họ nhắc đến trường Vẽ Gia Định, trường Nữ công Gia Định. Họ tự hào vì Bình Hòa là quê của bà Lê Thị Ngọc, chủ chuỗi nhà hàng Đức Thành Hưng tới chín cái cạnh tranh ngon lành với hệ thống tiệm nước của ngườii Hoa từ thập niên 1930. Bình Hòa cũng là quê của họa sĩ Nguyễn Văn Minh, người thực hiện bức sơn mài cực lớn “Bình Ngô đại cáo” trong Dinh Độc Lập. Là quê của hai chị em họa sĩ tranh lụa nổi tiếng Tố Oanh, Tố Phượng. Cụ Vương Hồng Sển cũng đã chọn vùng đất này làm quê hương.

Thập niên 1940, ngã tư Bình Hòa tuy nhỏ nhưng rất nhộn nhịp nhờ có ga xe điện. Chung quanh ga có nhiều tiệm nước bán bánh bao, bán cà phê, xíu mại. Ngoài ra còn có tiệm hớt tóc, tiệm may, tiệm sửa xe đạp… và nhiều hàng rong. Buổi sáng có xe ngựa chở hàng bông, chở cá từ miệt Bà Điểm-Hóc Môn, Thông Tây- Gò Vấp xuống chợ Bà Chiểu bỏ mối.

Dì Út đang sống hẻm Ba Cây Sao số 104 Nơ Trang Long (lúc đó đường có tên: route Fédérale numéro 1- đường Liên bang số 1). Dì kể cho đến năm 1961, khi về làm dâu nhà ông Tư Trường là con ông bang biện Chỏi, còn thấy dấu vết đường xe điện chôn dưới đất ngay ngã tư này. Chung quanh đó còn nhiều cây me, cây thị xanh um. Ngay góc ngã tư có cái bót cảnh sát (nhà ga xe điện cũ).

Học sinh trường Mỹ thuật Gia Định thập niên 1960 (ảnh đăng trên nguyệt san Trẻ)

Ba chồng dì Út, ông Tư Trường là một người lúc sinh tiền luôn được người dân quanh ngã tư Bình Hòa quý mến, thỉnh thoảng vẫn được nhắc trong những ngày giỗ chạp. Nhà khá giả, ông mỗi ngày tự lái chiếc xe hơi hiệu Traction đen to đùng đi làm ở Tòa Hành Chánh tỉnh Gia Định – dân quanh vùng quen gọi là Tòa Bố. Ông là thư ký Ty Hành chánh, là thành viên của ủy ban Vệ sinh tỉnh lo việc cấp giấy phép kinh doanh trong tỉnh Gia Định. Dân làm ăn buôn bán đều cậy nhờ ông khi cần mở tiệm, mở cơ sở buôn bán. Tuy có quyền thế ít nhiều, tính ông hào sảng, chỉ ham săn bắn. Năm nào cũng vậy, đến Tết là có người được ông giúp đỡ trong năm tìm đến để biếu quà. Hôm nào có ở nhà, ông ra đứng trước cửa, la mắng xa xả người mang quà đến: “Tui đã nói rồi, tui không lấy, mà còn mang đến!” rồi bắt mang quà cáp về. Có người đợi một lát khi ông ra sau nhà thì đem bỏ đại vô con hẻm sát vách. Nói cho cùng, đây là những món quà Tết thông thường như lạp xưởng, vịt lạp, gà vịt sống, bánh pía, trà… chứ không phải cao lương mỹ vị gì, nhưng tính ông Trường là vậy. Cũng có người mang đến khi ông đi vắng, một trong hai bà vợ của ông thương tình nhận giúp là thế nào cũng bị ông la như tắt bếp.

Đến tuổi gần sáu mươi, ông Tư Trường đổi chiếc Traction lấy chiếc xe Jeep để đi săn cùng đám bạn. Nhóm săn của ông, đa số làm nhà nước, có người sống trong ngôi biệt thự cổ họ Lê số 237 Nơ Trang Long (đã bị đập hoàn toàn năm 2018) vác súng đi săn miệt An Lộc, Bình Long, Sông Bé… Thỉnh thoảng hàng xóm lại thấy chiếc Jeep phủ đầy bụi đỏ của ông trở về, lấp ló đôi chân thú săn được. Về nhà, vợ con ông đem xả thịt, cho hàng xóm một mớ, mớ còn lại xào lăn, cuốn lá lốt, nấu súp cho cả nhà ăn hay xẻ khô để ông nhậu với bạn. Tuy vậy, phụ nữ trong nhà có mấy lần khuyên ông đừng đi săn nữa, vì “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” nhưng ông mê quá không bỏ được.

Tòa Bố Gia Định. Sau 1954 là Tòa Hành chánh tỉnh Gia Định (Nguồn: Internet)

Bình Hòa là chốn êm đềm nhưng nằm trên con đường lưu thông quan trọng từ Bắc xuống Nam tỉnh Gia Định nên có khi đứng giữa các cuộc giao tranh trước 1975. Tết Mậu Thân năm 1968, dì Út lúc đã ra riêng, từ Phú Nhuận ẵm con gái về thăm nhà ba má chồng thì xảy ra chiến sự, có lệnh giới nghiêm. Mấy người dân chạy từ cầu Băng Ky xuống tới đó sợ quá ùa vô nhà, xin chui xuống gầm hai bộ ván gõ để tránh đạn lạc. Mấy đứa nhỏ trong nhà cũng chui xuống ván, chỉ có ba chồng của dì tỉnh bơ đi lại trong nhà. Ông Tư Trường qua lại quát mấy đứa nhỏ, chui vô gầm ván mà còn để… mông ló ra ngoài. Khi tiếng súng im, dì Út ra ngoài ngồi bên cái bàn chỗ cửa thông ra sân sau, dỗ cho con ăn vừa lo cho mấy đứa con đang ở nhà, thì một viên đạn từ trên trời nhểu xuống ngay trước mặt dì, chỉ cách một tấc. Dì xanh mặt, quyết định về nhà ngay. Cô em chồng dùng xe Honda chở hai mẹ con dì Út chạy luồn trong các con hẻm, từ Bình Hòa qua xóm Gà, về ngã tư Phú Nhuận rồi liều mạng chạy băng qua đường Võ Di Nguy vắng ngắt để vô hẻm nhà dì trên đường Nguyễn Minh Chiếu. Xong cô em vội vã quay xe, lại luồn mấy hẻm về nhà. May mà không ai bị việc gì.

Năm 1972, khi thằng Tý cháu nội mới sinh vài tuần, ông Tư Trường bảo: “Tui đi săn kiếm con nai ăn đầy tháng thằng Tý!”. Ông rủ hai người con trai nhưng không ai chịu đi cùng. Cuối cùng, ông cùng mấy người bạn leo lên xe Jeep lên đường, rồi cả xe và người mất tích luôn trên cánh rừng nào đó ở miệt Bình Long, cho đến giờ là gần nửa thế kỷ.

Một ngôi nhà trong dòng họ Nguyễn ở Ngã Tư Bình Hòa (Ảnh: tác giả PCL)

Khu Ngã Tư Bình Hòa đến nay vẫn còn mấy căn nhà cổ. Nhà ông Sang, chuẩn tướng Không quân thời trước, nằm ngay mặt tiền đường Nơ Trang Long, ló ra trên hàng rào xi măng là mái ngói xưa rêu phong, nghe nói bên trong cũng đã hư hao nhiều. Nhà ông Tư Trường nhờ xây lại tường, tu sửa thường xuyên nên vẫn còn vững chắc, vẫn còn dãy nhà ngang phía sau nhưng sân đã thu hẹp lại vì cất thêm nhà ở cho con cháu trong họ. Nhà ông Mười Hai sâu trong hẻm Ba Cây Sao, có một cổng ngó ra nghĩa trang gia đình họ Nguyễn còn nguyên trong khu vườn đầy tiếng chim và tiếng gà rúc (ông Vương Hồng Sển viết trong sách là có lần đi ngang nghĩa trang này, có thấy trồng một loại bông vàng mà ông tưởng là bông điên điển). Còn nhà bà Năm Hồ vẫn giữ được cái sân rộng, ngôi nhà gỗ ba gian bên trái vẫn còn và phía bên phải là ngôi nhà mới xây khang trang. Cái sân nhà này khá đẹp, không có gì thay đổi sau hơn nửa thế kỷ tồn tại.

Ngã tư Bình Hòa đi về hướng Thủ Đức khoảng hơn trăm mét sẽ tới Ngã Năm Bình Hòa. Trong cuốn Văn thi sĩ tiền chiến, nhà văn Nguyễn Vỹ kể sau khi di cư vào Nam năm 1954, nhà viết kịch Vi Huyền Đắc cùng gia đình sống trong căn nhà tĩnh mịch, giữa một cảnh trí nên thơ ở Ngã Năm Bình Hoà mà ông đặt tên là Hoàng Mai Hiên. Nhà chỉ hai vợ chồng và một u già. Ông Vi Huyền Đắc dịch truyện Tàu cho vài tờ báo, vợ làm cô giáo đi dạy ở trường tiểu học Đa kao. Họ bỏ lại ngôi biệt thự ở bến Hạ Lý ngoài Hải Phòng để sống đơn sơ như vậy.

Tác giả và ngôi nhà số 237 Nơ Trang Long, nay đã đập hoàn toàn (Ảnh: Nguyễn Đình)

Ngã năm Bình Hòa là nơi có năm trục lộ đi ra nhiều ngã, trong đó có quốc lộ số 1 đi đến các tỉnh miền Đông và miền Trung. Ngôi nhà họa sĩ Nguyễn Hoàng Hoanh nằm trong hẻm nhỏ gần đó, khiêm tốn như gia chủ, người từng được giải thưởng Hội họa Quốc gia năm 1970 với bức tranh Khởi Nghĩa.

Vài người quanh khu Bình Hòa còn nhắc lại chuyện đánh Pháp trong khu Đồng Ông Cộ gần đó, câu chuyện huyền hoặc về hồn ma cô Ba Trâm, một thiếu nữ chết oan ức sau trường Vẽ Gia Định thập niên 1920, thỉnh thoảng xõa tóc đứng xin quá giang xe ngựa rồi trả tiền giấy sau biến thành lá tre, chuyện học trò trường Vẽ bãi khóa trong thập niên 1930 vì bất đồng với cô giáo Lê Thị Lựu… Đất xưa, dù không quá cổ kính nhưng cũng đủ thấm đậm những chuyện huyền hoặc của thời Tả quân cai trị, thời xe ngựa lóc cóc đưa người sành điệu lên Bà Chiểu ăn cơm và nghe hát đờn ca tài tử ở quán Đức Thành Hưng hồi thập niên 1940.

Với tôi, Ngã Tư Bình Hòa là một vùng đất sang trọng, với khá nhiều nhà xưa từ thập niên 1930 nằm giữa vườn cây xanh um, vẫn giữ được chất Gia Định xưa mà người ở lâu trên thành phố này mới đủ tinh tế nhận ra trong giọng nói, hương vị tô mì hoành thánh và mấy món ăn quen thuộc Nam bộ trong mâm cơm cúng ngày giỗ Tết.

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2022/09/nho-tinh-ly-gia-inh-ngay-xua-pham-cong.html

TRẠI LLĐB GIA VỰC – BA TƠ (QUẢNG NGÃI) & KHÓI LỬA RANH GIỚI QUÂN ĐOÀN I – QUÂN ĐOÀN II VNCH – TRẬN GIẢI TỎA ĐÈO BÌNH ĐÊ – BẮC BÌNH ĐỊNH .

onnguonsuviet.com

Ảnh của gia-vuc.com

Ảnh của gia-vuc.com

Duyên hải miền Trung khói lửa !
Gia vực là một xã của quận Ba tơ, Tỉnh Quảng Ngãi (Quảng Ngãi có ba quận miền núi là Minh Long, Sơn Hà và Ba tơ) Gia vực nối với Ba tơ bằng QL 24.
Về phương diện hành chánh Xã Gia vực chỉ có 4 ấp đánh dấu bằng A, B,C và D nằm gọn trong một khu lòng chảo có núi non bao quanh Trại LLĐB Gia vực nằm cách quận lỵ Ba Tơ 18 Km về phía Tây- Tâynam ; cách LZ English 56 Km phía Tây bắc …
Phi trường Gia vực :có phi đạo đất nện dài 3200 Ft , các C-123 có thể đáp xuống. Trại cũng kiểm soát TL 5 nối KonTum và Quảng Ngãi .
Sông Rê tuy cạn vào mùa khô không thể di chuyển bằng thuyền nhưng lại dâng cao và chảy xiết trong mùa nuớc lũ .
Người Hre có thể được xem như một nhóm dân sắc tộc thiểu số đặc biệt , sinh sống tập trung trong các vùng cao nguyên Bình Định và Quảng Ngãi.
Trong những thế kỷ trước, dân Hre đã từng tấn công xuống các khu cư dân Việt ven biển cướp phá gia súc bắt cả phụ nữ và trẻ em Kinh.
Sự pha trộn sắc tộc qua nhiều thế hệ đã tạo một sắc dân khoẻ mạnh và thông minh hơn nhiều sắc dân Thượng khác và không được cảm tình của dân Việt vùng đồng bằng ,duyên hải .
Tháng 8 năm 1945, khu vực rừng núi các tỉnh Bình-Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam do Việt Minh CS (VMCS) kiểm soát, họ đã thành lập 2 tiểu đoàn dân quân Hre hoạt động trong vùng Ba Tơ-Minh Long..(Đây là tiền thân của đội du kích Ba tơ) .
Năm 1946, Lực lượng viễn chinh Pháp tại Viễn Đông (Corps Expedition naire Francais en Extreme-Orient=CEFEO) bắt đầu tấn công tái chiếm các khu vực đồng bằng miền Trung và chỉ mới chiếm lại được vài tiền đồn trong các vùng xa xôi.
Năm 1949 người Hre nổi dậy, chống đối VMCS và kéo chạy về đồn Tây Kon Plong (Kon Tum) để nhờ Pháp bảo vệ…
Mãi đến tháng 4 năm 1951, Pháp mới có nhân lực để quy tụ các bộ tộc Hre, tổ chức thành một lực lượng quân sự chống VMCS , lúc đầu gồm khoảng 200 dân quân Hre đang tạm ngụ tại Kontum và chỉ hoạt động giới hạn trong vùng Sơn Hà-Vi muk.
Trại LLĐB Gia vực :
Trại Gia vực được LLĐB Mỹ (SF) thiết lập vào tháng Hai năm 1963 (A-729), lực lượng CIDG căn bản của Trại là người Hre. Đây là một trong những trại đầu tiên SF lập tại Vùng 1, trên vị trí đồn Kon Plong (cũ) sau khi tập trung được quanh Gia vực trên 1500 dân Hre và 300 dân Việt. Trại gần sông Rê, nằm trong quận Ba tơ thuộc Quảng Ngãi, cách Đà Nẵng khoảng 80 miles vế phía Tây-Nam: khi thiết lập Trại Gia vực thuộc Vùng 2 nhưng đến 1964 VNCH điều chỉnh lại biên giới các Vùng và Gia vực chuyển sang Vùng 1 và là Trại cực Nam của Vùng 1 với nhiệm vụ chính là phòng thủ biên giới và canh chừng CS xâm nhập từ phía núi xuống. Bãi mìn phía trước trại còn sót lại nhiều quả mìn chôn, gài từ thời Pháp .
Từ Gia vực, LLĐB Mỹ đã mở nhiều cuộc hành quân về Ba Tơ và các đại đội cơ hữu của Trại đã nhiều lần hành quân trợ giúp các Trại khác trong vùng Quảng Ngãi. Các toán thám sát LRRP (Long Range Reconnaissance Patrol) cũng dùng Gia vực làm nơi xuất phát .

Ảnh của gia-vuc.com

Liên quân Việt-Mỹ đã mở cuộc hành quân Pershing tảo thanh vùng ranh giới các tỉnh Bình Định-Quảng Ngãi, Tham gia hành quân gồm các lực lượng của SĐ 1 Không Kỵ HK, Lữ đoàn 3 /SĐ 25 HK, SĐ 22 BB VNCH và SĐ Mãnh hổ Nam Hàn (giới hạn trong tỉnh Bình Định). Cuộc hành quân kéo dài từ 12 tháng 2 năm 1967 đến 19 tháng Giêng 1968.
Trong khuôn khổ cuộc hành quân này SĐ 1 Không kỵ đã tiến vào vùng thung lũng sông Rê từ ngày 7 tháng 8, và dùng trại Gia vực như một căn cứ chỉ huy và tiếp liệu.
Trại Gia vực và Tiểu Đoàn (TĐ) 70 Biệt Động Quân (BĐQ) Biên phòng .
Trại Gia vực được SF bàn giao lại cho LLĐB vào 31 tháng Giêng năm 1969, lúc này dân số Xã Gia Vực khoảng 6500 người (Việt và Hre). Một toán liên lạc SF vẫn ở lại đến khi 460 Dân sự Chiến đấu được chuyển đổi thành TĐ 70 BĐQ ngày 30 tháng 9 năm 1970 trực thuộc Liên đoàn 11 BĐQ cùng các TĐ 68 (CIDG của Trại Minh Long) và 69 (CIDG Trại Ba tơ) .
Khi Trại được bàn giao, các CIDG đã được gửi đi huấn luyện tại Dục Mỹ và cải biến thành Biệt Động Quân Biên phòng, một TĐ BB của SĐ 22 tạm trấn đóng và tình hình an ninh quá khả quan nên Trại được giao lại cho một Đại đội ĐPQ của quận Ba Tơ trần giữ cùng một Trung đội Nghĩa Quân Hre..cho đến khi TĐ 70 BĐQ hoàn tất huấn luyện trở lại trấn giữ.
Ngày 19 tháng 9 năm 1974, huy động 1 Tr đoàn BB (các TĐ 8 và 406 CS), cùng Đặc công, Pháo các loại, có xe tăng yểm trợ đã tấn công Chi khu cùng Trại Gia vực CS pháo kích liên tục và dùng BB tấn công . 5 tiền đồn bị mất nhưng quân trú phòng phản ứng quyết liệt và tái chiếm ngay trong ngày..Thời tiết xấu , TĐ 70 không nhận được phi pháo yểm trợ : 50 binh sĩ hy sinh và số bị thương lên cao , không tản thương .. các chiến sĩ chiến đấu trong vô vọng và toàn bộ các cứ điểm phòng thủ bị tràn ngập ngày 21 tháng 9. TĐ 70 BĐQ đã chiến đấu đến cùng , Đ úy Trần Nghĩa TĐ Phó hy sinh cùng trên 200 quân tử thủ, chỉ 21 chiến sĩ sống sót phân tán tìm về Kontum và Quảng Ngãi và TĐ được tái tổ chức và bổ xung .. Đầu năm 1975, việc phòng thủ tỉnh Quảng Ngãi được giao cho Trung đoàn 6/SĐ 2 BB và LĐ 11 BĐQ (gồm các TĐ 68, 69 và 70).

Liên đoàn 4 Biệt động quân: Từ miền Tây đến Phú Yên-Bình Định:
Từ năm 1967, bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH đã ban hành văn thư phát triển lực lượng Mũ Nâu. Theo đó, tại mỗi Vùng chiến thuật, thành lập một liên đoàn Biệt động quân đặt thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Quân đoàn/Vùng chiến thuật. Tại Miền Tây Nam phần, Liên đoàn 4 Biệt động quân được thành lập với sự tập hợp 5 tiểu đoàn Biệt động quân đang yểm trợ cho 3 Sư đoàn Bộ binh:
– Tiểu đoàn 32 Biệt động quân, hậu cứ tại Mỹ Tho và tiểu đoàn 41 Biệt động quân ở Kiến Hòa: yểm trợ cho Sư đoàn 7 Bộ binh. (Đến năm 1972, Tiểu đoàn 32 Biệt động quân tách khỏi Liên đoàn 4 BĐQ và bổ sung cho Liên đoàn 7 Biệt động quân vừa được thành lập).
– Tiểu đoàn 43 Biệt động quân ở Sa Đéc yểm trợ cho Sư đoàn 9 Bộ binh.
– Tiểu đoàn 42 Biệt động quân ở Bạc Liêu và Tiểu đoàn 44 Biệt động quân ở Sóc Trăng yểm trợ cho Sư đoàn 21 Bộ binh.
Trong hai năm 1970 và 1971, Liên đoàn 4 Biệt động quân là một trong những nỗ lực chính của Quân đoàn 4 trong các cuộc hành quân ở Cam Bốt và dọc theo biên giới ở Miền Tây. Tháng 4/1972, Liên đoàn 4 được bộ Tổng tham mưu QL/VNCH điều động tăng viện cho chiến trường Quảng Trị. Tháng 5/1972, liên đoàn trở lại Miền Tây để cùng với các lực lượng Bộ binh của Quân đoàn 4 tham gia nhiều cuộc hành quân giải tỏa áp lực của Cộng quân tại Định Tường và các tỉnh biên giới.
Gần cuối năm 1973, sau chiến thắng tại Núi Dài ở Miền Tây, Liên đoàn 4 Biệt động quân được điều động tăng viện cho Quân đoàn 2, hành quân tảo thanh Cộng quân tại Phú Yên. Đến dầu năm 1974, do tình hình Bắc Bình Định sôi động, Liên đoàn 4 được bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao trách nhiệm giải tỏa áp lực Cộng quân tại khu vực Tam Quan, Bồng Sơn. Tại chiến trường này, sư đoàn 3 Sao Vàng CS đã điều động 1 trung đoàn đánh chiếm và tổ chức chốt chận dọc theo dãy núi phía Bắc Bình Định, bắn phá các xe cộ lưu thông trên Quốclộ 1. Trong giai đoạn đầu, nhiệm vụ nhổ chốt được giao cho hai Tiểu đoàn 42 và 44 Biệt động quân. Hai tiểu đoàn này mất gần một tháng, tung các đại đội ra “nhổ” từng chốt của Cộng quân. Nhưng do đối phương tận dụng địa thế đồi núi của đèo Bình Đê ,là một rặng thuộc dãy núi Trường Sơn đâm ra biển, đoạn đường đi ngang qua đèo quanh co khúc khuỷu-để tổ chức cụm chốt ngay trên đỉnh đèo cắt đứt Quốc lộ 1. Đèo Bình Đê gần địa giới hai tỉnh Quảng Ngãi-Bình Định là một trong những đèo chiến lược trên Quốc lộ 1.
Tiểu đoàn 43 Biệt động quân và trận đánh trên đỉnh đèo Bình Đê:
Để tái lập giao thông trên đoạn đường từ Tam Quan đến Sa Huỳnh, bộ chỉ huy Liên đoàn 4 Biệt động quân giao nhiệm vụ “nhổ” chốt hiểm hóc này cho Tiểu đoàn 43 Biệt động quân. Sau khi nghiên cứu địa thế, tiểu đoàn đã di chuyển ban chỉ huy lên sát mục tiêu, chỉ cách đỉnh đèo khoảng 300 mét để điều động các đại đội khởi động cuộc tấn công. Biết được nỗ lực của Biệt động quân là giải tỏa đèo, Cộng quân đã sử dụng Pháo binh từ hướng An Lão pháo kích vào bộ chỉ huy Tiểu đoàn 43 BĐQ. Cùng lúc đó, ở đỉnh đèo, từ các vị trí trú ẩn sau hốc đá, Cộng quân đã dùng AK, B 40 bắn xuống các trung đội Biệt động quân đang tìm cách vượt qua cánh đồng lầy dưới chân núi. Trong ba ngày liên tiếp, bộ chỉ huy tiểu đoàn bị pháo kích liên tục, các cánh quân bị đặc công CS bò đến gần quấy rối, số thương vong của tiểu đoàn đã lên tới 20 người.
Qua đến ngày thứ 4, Đại tá Vũ Phi Hùng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 4 Biệt động quân, đã liên lạc với chi khu Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi, nằm ở phía Bắc đèo Bình Đê) mượn đường cho đại đội Trinh sát của liên đoàn đổ quân xuống đỉnh một ngọn núi trong quận này cách cụm chốt của Cộng quân khoảng 2 Km rồi từ đây âm thầm di chuyển về hướng mục tiêu. Trong khi đó, Tiểu đoàn 43 Biệt động quân được lệnh gia tăng cường độ tấn công từ phía Nam lên để đánh lạc hướng địch. Nửa đêm ngày thứ 4, đại đội Trinh sát báo cáo cho Đại tá Hùng là cánh quân đã đến vị trí ấn định. Vị Liên đoàn trưởng Liên đoàn 4 BĐQ ra lệnh cho pháo đội Pháo binh kéo các khẩu pháo 105 ly đến chân một hẻm núi chuẩn bị tác chiến khi có lệnh khai hỏa.
Kế hoạch sắp xếp xong thì trời vừa rạng sáng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 4 BĐQ đã có mặt dưới chân đèo và ra lệnh cho Pháo binh khai hỏa. Hàng trăm trái đạn 105 ly bắn trực xạ lên đỉnh đèo, khói bụi mịt mù, đá núi văng xuống chân đèo. Pháo binh kết thúc giai đoạn hỏa tập với quả đạn khói trắng tín hiệu để cho đại đội Trinh sát-đã bố trí sẵn từ khuya, nhào lên nhanh chóng thanh toán mục tiêu. Cùng với cuộc tấn công của Trinh sát, Tiểu đoàn trưởng 43 Biệt động quân cho lệnh 2 đại đội tiến nhanh qua cánh đồng lầy, để tấn công lên đèo. Khoảng nửa giờ sau, đại đội Trinh sát đã làm chủ trận địa, báo cáo về bộ chỉ huy liên đoàn là đã hạ sát 32 Cộng quân tại chỗ. Hai đại đội của Tiểu đoàn 43 Biệt động quân được lệnh tiếp tục truy kích đánh tràn xuống phía bên kia chân núi. Cánh quân này đã khám phá một vị trí đóng quân và kho quân lương của địch quân được ước định là cấp tiểu đoàn.
Trinh sát Biệt động quân nhảy vào mật khu An Lão:
Sau khi bị đánh bật ra khỏi đèo Bình Đê, vào một đêm tháng Hai-1974, Cộng quân đã điều động 1 đơn vị khác thuộc sư đoàn 3 Sao Vàng tấn công chiếm lại đỉnh đèo chiến lược này. Quân trú phòng đã đẩy lùi đối phương, hạ sát hơn 30 Cộng quân và bắt tại trận 2 tù binh. Để thăm dò các hoạt động của địch quân trong thung lũng An Lão, Trung úy Huỳnh Văn Thơm, đại đội trưởng Đại đội Trinh sát liên đoàn 4 BĐQ đã đích thân dẫn hai binh sĩ và 1 sĩ quan CS hồi chánh vào tận mật khu của đối phương. Toán BĐQ và hồi chánh viên mặc quân phục CS. Sau ba ngày thám sát, Trung úy Thơm đem về một xấp ảnh chụp lính CS, xe Molotova tiếp tế của CS di chuyển ngang qua cầu bắc qua suối và ba tù binh CS mới từ Bắc vào. Cũng cần ghi ràng mật khu An Lão là căn cứ địa của sư đoàn 3 Sao Vàng CS và cũng là khu trung chuyển của các đơn vị chủ lực CS trên đường xâm nhập vào chiến trường Quân khu II .
Trận tấn công từ bờ biển khu vực Bồng Sơn:
Khai thác lời khai của tù binh, Liên đoàn 4 Biệt động quân mở cuộc hành quân tảo thanh một số làng đánh cá dọc theo ven biển trong địa hạt Bồng Sơn. Theo tin tức của ban Hai chi khu, khu vực mà Liên đoàn 4 Biệt động quân sắp hành quân là khu bất khả xâm phạm của du kích CS ở Bình Định. Lực lượng Địa phương quân Bồng Sơn đã tổ chức vài cuộc hành quân tảo thanh nhưng đều bị tổn thất do mìn bẫy của địch quân cài dày dặc từ Quốc lộ 1 ra đến ven biển. Để có đủ yếu tố khởi động cuộc hành quân, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 4 Biệt động quân ra lệnh cho Tiểu đoàn 44 BĐQ điều động các toán nhỏ đi thám sát địa thế. Các toán này báo cáo là không thể tổ chức tấn công từ Quốc lộ 1 vào được. Trong buổi họp hành quân, Thiếu tá Nguyễn Văn Tước, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 43 Biệt động quân đề nghị liên đoàn ủy nhiệm cho tiểu đoàn của ông khởi động cuộc tấn công từ biển lên theo chiến thuật của Thủy quân Lục chiến.
Đêm hôm đó, đợi cho nước thủy triều rút xuống, Tiểu đoàn 43 Biệt động quân rời tuyến xuất phát từ một bãi biển trong quận Tam Quan ở phía Bắc. Các đại đội của tiểu đoàn lợi dụng tiếng sóng biển vỗ vào bờ, âm thầm di chuyển dọc theo bờ biển về hướng Nam (Bồng Sơn).
Khi mặt trời ló dạng, đại tá Hùng cùng ban tham mưu bay chỉ huy trên 1 trực thăng đã hướng dẫn hai trực thăng võ trang yểm trợ cho ba đại đội của Tiểu đoàn 43 Biệt động quân dàn hàng ngang vượt qua sóng biển tiến vào khu làng đánh cá. Bị tấn công bất ngờ, Cộng quân kháng cự yếu ớt rồi tháo chạy. Tiểu đoàn 43 Biệt động quân tung quân lục soát khu vực, tịch thu được hơn 1000 bao gạo Trung cộng hàn kín trong các bao nylon để trên các ghe chài lớn. Những bao gạo này được thả từ ngoài khơi, do sóng biển đưa vào, du kích CS Bình Định thu hồi rồi đợi đêm xuống tải vào thung lũng An Lão. Từ đó, bộ phận hậu cần của sư đoàn 3 Sao Vàng dùng Molotova chở lên Cao nguyên phân phối cho các đơn vị chính quy CS.
Trung úy Huỳnh Văn Thơm, Đại đội trưởng Trinh sát, tự sát ngay tại trận địa:
Tháng 4-1974, Liên đoàn 4 Biệt động quân bàn giao khu trách nhiệm ở Bắc Bình Định cho Liên đoàn 6 Biệt động quân, di chuyển xuống phía Nam giải tỏa phi trường Phù Cát. Sau một tuần giao tranh, Liên đoàn 4 Biệt động quân đã loại ngoài vòng chiến hơn 200 Cộng quân rồi lập tuyến án ngữ ở phía Bắc quận Bình Định.
Giữa năm 1974, sư đoàn 3 Sao Vàng CS tiếp tục áp lực các quận phía Bắc Bình Định, Liên đoàn 4 Biệt động quân lại được lệnh tăng phái cho Sư đoàn 22 Bộ binh. Trong một trận giao tranh kéo dài 5 ngày, các chiến sĩ Liên đoàn 4 Biệt động quân loại khỏi trận địa hơn 1 tiểu đoàn CS, buộc đối phương phải rút về An Lão. Trong trận đánh này, phía Biệt động quân có 37 quân nhân tử trận, 50 bị thương, trong đó có Trung úy Huỳnh Văn Thơm, Đại đội trưởng Trinh Sát, sau khi biết mình sẽ phải cưa chân, đã dùng súng K 59 (tịch thu của CS) bắn vào đầu tự sát. Trung úy Thơm đã vĩnh viễn ở lại với chiến trường Bình Định như một Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân !

Nguồn: https://onnguonsuviet.com/p104a656/tran-chien-deo-binh-de-bac-binh-dinh-

Chìm Vào Chân Mây – ĐQV. C130/435

XIN ĐĂNG LẠI BÀI VIẾT CỦA MỘT NIÊN TRƯỞNG C.130

Chìm Vào Chân Mây
ĐQV. C130/435

Ngày ấy cũng đã xa, hơn ba chục năm trời trôi qua, đời người ngắn lại. Những nghịch cảnh, những trớ trêu của cuộc đời nghĩ lại chỉ là phù du. Canh bạc nào chẳng có người thắng kẻ thua. Huống hồ một canh bạc chính trị lớn, thật bẩn thỉu.

Người ta đã đánh cá không bằng những đồng tiền thưởng, mà bằng tuổi trẻ của cả thế hệ đang lớn lên. “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau”. Câu hát ngày nào mà bây giờ hay bất cứ lúc nào hát lên cũng đúng. Cái mai sau ấy như một lời hứa hẹn của tương lai, chứ hiện tại thì khác hẳn.

Thế hệ anh đã hy sinh cho cuộc chiến. Các nhà lãnh đạo hồi đó đã không khéo tay để “nướng” trọn cả một thế hệ trẻ, như đã nướng chiếc bánh quá lâu, cháy khét. Bây giờ còn lại bao nhiêu đứa rải rác khắp các thành phố lớn nhỏ trên thế giới. Những ông cụ non chưa đủ tuổi để hưởng tiền già, ngồi tụ họp với nhau, nói chuyện “dĩ vãng” vàng son?. Những trận đánh ngoạn mục chỉ người cùng lớp tuổi mới cảm thông.

Nói chuyện chiến tranh trong xã hội hòa bình đang đua đòi chạy theo vật chất. Xa vời quá và cũng không phù hợp với lớp người vẫn cho mình là giới thức thời, họ đã tránh né phần đóng góp của mình cho cuộc chiến chung. Còn với lớp trẻ, chiến tranh là cái quái gì đối với những tân tiến của khoa học giả tưởng ngày nay. Với những anh hùng người máy như “Rambo,” “Rocky”… lớp người trẻ họ thờ ơ cho rằng quá mất thì giờ để nghe chuyện xưa cũ. Những gì đã xảy ra trong rừng sâu nước độc ở một nơi nào đó trên mảnh đất có tên là Việt Nam.

Thật thế, nếu họ muốn thì chỉ bỏ vài “đôla” mua một vé ciné là có đầy đủ. Ngoài cảnh bom rơi đạn nổ còn có cả bóng dáng đàn bà trong chiến trận của màn ảnh màu đại vĩ tuyến. Ôi Việt Nam quê hương anh, thật bẽ bàng!. Chiến trận Việt Nam đã không được tô màu và thi vị hóa. Lớp cha, anh chỉ còn biết ngậm ngùi. Hình ảnh ngày xưa mình đã tham dự, đã hy sinh nay còn lại những gì? Chẳng còn gì thật, Lộc nghĩ như thế trong cơn say, và cũng biết chẳng còn ai có thì giờ đi bắt bẻ ý viết của một người đang “xỉn”. Lộc đã loạng quạng mượn đôi chén để bắt đầu kể chuyện.

Gạt bỏ những trận đánh lớn, đánh nhỏ, những kế hoạch tham mưu chiến thuật phiền toái mà chỉ tạm là người ngoài phố, bàng quang nhìn thấy gì lúc cửa nát nhà tan. Lộc không nhìn với đôi mắt mất thần của kẻ tạm gọi là thua cuộc mà chỉ quan sát như một ống kính vô hồn thâu lại những hoạt cảnh mà người đời gọi là biến cố.

Ngày ấy Lộc còn là một phi công chiến đấu, hàng ngày xách dù đi bay chung với đồng đội, đời thật vui. Nhiều phi vụ hiểm nguy nhưng với tuổi trẻ, đó là dịp được thử thách với đường bay can trường thật đẹp của tuổi mới lớn đi ướp mộng đời. Bầu trời bao la, soải cánh chim bằng, tự do và thoải mái. Trên trời cao xanh có những lúc anh đã giang rộng đôi cánh như muốn ôm cả vũ trụ vào đôi tay bé nhỏ. Ôm lấy cuộc đời mà mình đã ấp ủ từ lâu, nay mới được thỏa chí tang bồng. Sau những chuyến bay như thế, êm ái cũng có mà nhiều khi toát mồ hôi lạnh cũng có.

Lộc trở về với cuộc sống bình thản như trăm vạn thằng con trai mới lớn khác. Lộc hí hửng đi đón người yêu bé nhỏ của buổi tan trường, thâu nhận những dỗi hờn vu vơ hay vài chuỗi cười dí dỏm. Chàng đã tạm quên đi những hiểm nguy vừa qua của mấy giờ trước đó đã đùa giỡn trên không trung, đem mạng sống ra thách thức với thế trận. Đôi khi Lộc thấy trong anh hình như có hai trạng thái trái ngược hẳn nhau. Khi lâm trận, trên trời cao, hung hăng như con cọp xám, lúc xuống đất hiền lành như con cừu non vụng dại.

Lộc rất yêu đời nhưng cuộc sống chẳng dễ dàng như chàng nghĩ. Biến cố lớn đã tràn đến như bão táp dữ dội tàn phá tất cả. Con sóng đỏ được yểm trợ bởi ngoại bang tràn ngập biến thành cảnh mới, tan hoang. Nhà cửa sụp đổ với pháo đạn và người dân hốt hoảng chạy tìm kiếm chỗ dung thân. Một cuộc bạo động? Không đó là cuộc giải phóng thứ hai, sau lần giải phóng hụt năm Mậu Thân sáu tám để lại biết bao cảnh tang thương. Bảy năm sau một cảnh tượng hãi hùng hơn thế nữa, do người bạn thân tình ngoại quốc phản bội đã tiếp tay, đồng lõa. Như một gả bán công khai của đồng minh cho loài yêu xanh tinh quái Cộng Sản. Cô gái lỡ thời Việt Nam đành cúi mặt lên xe hoa đã được trang hoàng bằng những mắt dây kẽm gai, chịu đựng những sóng gió ba đào. Ngày bắt đầu với số phận ấy, Lộc đã nhìn thấy gì?

Một Tân Sơn Nhất yêu thương niềm nở, tiếp đón thường ngày những lần chạm bánh, nhẹ như những nụ hôn phớt qua trên má người yêu. Phi cơ đủ các loại trở về đây sau một ngày bay bổng mệt nhoài. Hôm nay đây khác hẳn, đã bẽ bàng đón nhận đau thương bằng những trái đạn pháo của con tàu bội phản. Bắt đầu từ chiều hai mươi chín tháng tư bảy mươi lăm; phi đạo đã bị trải bằng những vết đạn và một vài quả bom nhỏ của hai chiếc A.37 phản nghịch. Sáng ngày hôm sau, cảnh tượng hãi hùng hơn. Ngay từ nửa khuya về sáng, TSN vẫn còn trong hơi sương và những vết đạn lửa bắn chéo nhau vội vã không xé tan được làn sương mỏng quái ác ấy. Nhiều hoa tiêu từ những trại độc thân đang tìm cách trở vào phi đoàn. Họ trở lại đây, chỗ hội họp hằng ngày, nơi gắn bó với con tàu mà chúng đã vô tình như nối chặt cuộc sống tình cảm từ bao giờ. Những liên hệ mật thiết của phi công trẻ tuổi đầy nhiệt huyết với con tàu chung thủy thân yêu, chứa đầy kỷ niệm của những lần thao túng trên chiến trận.

Tới gần bảy giờ sáng, sương mới bắt đầu tan, Lộc thấy trên trời còn mờ mờ bóng chiếc phi cơ độc nhất AC 119K còn đang bận với vòng bay. Tiếng động cơ nổ như gọi mời những cánh chim còn say ngủ hãy thức dậy nhập đoàn. Số đạn trên tàu bây giờ chẳng còn bao nhiêu, bảy ngàn bộ trên cao, con tàu bồn chồn muốn nhập cuộc vào vòng bắn. Bay thêm một vòng nữa để nhận định tình hình rồi quyết định rời độ cao xuống thấp hơn. Ở năm ngàn bộ, những khẩu súng máy trên tàu bắt đầu làm việc. Trải làn đạn đầu tiên vào vùng Hạnh Thông Tây, khu có một cao điểm là nóc chuông nhà thờ, phía tây bắc vòng đai phi trường. Làm nao núng những dàn súng phòng không của địch, những khẩu súng cối và bọn điều chỉnh tác xạ đang chờ lệnh tấn công.

Vòng bay kế tiếp đã làm hoảng sợ những tên địch đang bị xiềng chân vào càng súng phòng không mà chúng phải sống chết ở lại giữ điểm then chốt chiến lược. Chiếc AC 119K sau khi làm được vài vòng phía bên trái mục tiêu vừa đổi hướng cho trục tiến, vô tình tránh được chiếc hoa tiễn SA-7 tầm nhiệt đầu tiên bay lên. Chiếc tàu vẫn anh dũng vào sát mục tiêu hơn trong vòng bay kế tiếp, mong muốn diệt được ổ súng phòng không lợi hại này. Không may ngay lúc đó một hỏa tiễn tầm nhiệt khác phóng lên, trúng ngay máy số hai, xé nát con tầu, cắt ngang chiếc cánh bên phải, xăng nhớt văng ra xa, nổ bùng trong bụm lửa đỏ ngầu.

Con tàu mất thăng bằng, với lực sẵn có đã xô nó vào vòng xoáy mãnh liệt. Sức ly tâm làm tung mấy khẩu súng 7.62 ly và đã đẩy người xạ thủ ra chơi vơi ngoài không trung. Chiếc tàu bốc lửa mang theo hình hài của phi hành đoàn cuộn tròn theo con lốc xoáy của khối sắt nặng nề đang vung vãi trên không. May thay có một cánh dù vừa bung nhưng chưa kịp nở tròn thì chân người xạ thủ đã chạm đất. Trọng lực của trái đất làm nẩy thân anh như một trái banh xẹp. Phi hành đoàn của đại úy “Thành Đen”, chiếc tàu thứ hai sau chiếc C 130 trong vòng chưa đầy một tháng của sư đoàn V không quân, lâm nạn.

*
Trời vẫn còn mù sương, nhưng người ta có thể nhận diện nhau, những khuôn mặt quen thuộc hàng ngày. Bây giờ nhóm phi công từ các khu cư xá độc thân mới qua được trạm kiểm soát ngăn khu đậu máy bay để vào phi đoàn chờ lệnh. Nắng cũng bắt đầu lên cao tiếng súng nổ cũng bớt dần rồi ngưng.

Người ta cũng tưởng chỉ có thế thôi rồi một ngày mới lại bắt đầu với sinh hoạt bình thường như mọi ngày. Các quán cà phê sẽ đông người và ở đó người ta sẽ bàn tán sôi nổi về trận đánh đêm qua. Xôn sao hồi hộp như một trận túc cầu quốc tế được tường thuật trên đài phát thanh. Nhưng không, còn hơn thế nữa, nó như một trận đấu quyền anh chỉ nghỉ đôi phút để sửa soạn cho một hiệp đấu khác gây cấn hơn. Khoảng tám giờ sáng, loạt pháo thứ hai đã câu vào căn cứ Tân Sơn Nhất một cách thật chính xác.

Những đám cháy từ những chiếc phi cơ trúng đạn nơi bãi đậu đã chứng tỏ lần pháo này có sự điều chỉnh hữu hiệu của tiền sát viên pháo binh cộng sản. Dãy phi cơ khổng lồ C.130 _ sau chuyến bay đêm qua, ngoan ngoãn đậu trong ụ phía đối diện khu phi trường dân sự _ bây giờ chịu bó tay nằm đó để nhận những trái đạn pháo quái ác của cộng sản đỏ. Nằm bất động, thúc thủ chịu trận như con “kình ngư” bị kẹt trong vùng nước cạn. Chiếc máy bay đầu tiên trúng đạn đang bốc cháy, sức nóng bốc lên cao thật nhanh với ngọn lửa đỏ đậm quyện vào đám khói đen của nhiên liệu và dầu mỡ. Mùi khét lẹt của dây điện và vật liệu bằng chất nhựa cháy tỏa ra nhanh chóng.

Người ta tiên đoán và đang chờ đợi một tiếng nổ long trời lở đất khi mà ngọn lửa cháy xém tới bình xăng nơi cánh. Phi đoàn 435 vận tải tọa lạc gần đó với số nhân viên phi hành không đầy đủ đã bắt đầu thấy xôn xao. Họ lo sợ cho những con tàu khác bị cháy lây. Nhiều phi công vội vã không chờ lệnh, đã tự động chạy ra di chuyển con tàu thân yêu ra xa đám lửa, sang một vị trí khác an toàn hơn. Đây là một phản ứng tự nhiên, vì có dời con tàu đi chỗ khác chăng nữa thì chúng vẫn ở luẩn quẩn quanh đây trong tầm tác xạ hữu hiệu của địch quân. Đợt pháo kích này hơi lâu làm thiệt hại thêm một chiếc C. 130 nữa. Trong ánh nắng vàng tươi của buổi bình minh, trớ trêu thay bầu trời Tân Sơn Nhất bỗng chốc biến thành hỏa mù.

Trên bãi đậu, một con tàu đang bốc cháy, biến thành bất khiển dụng vĩnh viễn, nằm trong ụ chịu đựng như những nấm mồ của định mệnh chờ sẵn. Con tàu ít ra trong những giây phút cuối cùng, nó vẫn tự hào rằng đêm qua còn về kịp nơi bến đậu cũ hằng ngày của phi trường mẹ, để rồi theo ngọn lửa sáng nay, bị cưỡng bức tức tưởi, ra đi như một nghiệp số.

Tới mười giờ sáng, trời vẫn nắng. Cái nắng ban mai của Saigon một ngày thật đẹp trời nhưng đau xót bẽ bàng để chứng kiến những biến động đổi đời của một dân tộc hiền hòa đang bị phản bội và bị bán đứng cho Cộng Sản. Phi đoàn 435 vận tải tuy đang xáo trộn vì tình thế, nhưng kỷ luật rất cao. Người ta vẫn kiên nhẫn chờ lệnh. Ngoài sân bay trước mặt, một chiếc trực thăng biệt phái đã bắt đầu quay máy rồi làm thủ tục cất cánh. Lác đác có vài nhân viên phi hành trực thăng khác đang chạy với theo để lên tầu quá giang trở về đơn vị gốc vùng IV chiến thuật.

Mười giờ ba mươi vị thiếu tá trực phi đoàn 435 gọi điện thoại tới phòng hành quân chiến cuộc. Không ai trả lời, hoặc giả không có ai dám trả lời. Trước tình trạng mịt mờ này, ông quay điện thoại qua Không đoàn 33 chiến thuật. Tình trạng vẫn không khá, dường như chẳng có ai rảnh rỗi để ngồi ôm điện thoại như thường ngày. Suy nghĩ vài phút, ông gọi lại phòng hành quân chiến cuộc bằng số điện thoại khác. Nhưng tình trạng vẫn tăm tối mịt mù. Trước tình cảnh ấy, đại úy H. trưởng phi cơ của phi hành đoàn túc trực hành quân trong ngày buộc miệng chửi thề. Thỏa cơn tức, ông quay sang vị Thiếu tá thúc giục:

– Thiếu tá đã đến lúc chúng ta phải tự lo. Gia đình chúng tôi còn kẹt lại ngoài Côn Sơn từ đêm qua.

Vị thiếu tá quay lại hỏi cộc lốc:

– Phi đoàn còn bao nhiêu trưởng phi cơ?

– Tôi không rõ, sáng nay chỉ thấy lác đác vài ông. Anh em vào phi đoàn không đầy đủ có lẽ vì kẹt đường.

Mẩu đối thoại chỉ có thế và rồi Lộc nghe có tiếng nổ thật gần, làm rung chuyển căn nhà gỗ hai từng lầu. Anh thấy vị thiếu tá nói nhỏ vài câu với mấy người trưởng phi cơ đứng quanh đó. Rồi họ chạy đi lấy túi bay, không kịp lãnh dù. Mấy người hoa tiêu phụ ngơ ngác đứng nhìn. Rồi khẩu lệnh ra, chia nhóm hoa tiêu phụ thành từng nhóm hai ba người một. Lời dặn dò không có tính cách như một lệnh.

– Các anh “co pilot” theo từng toán một ra lấy tàu. Ông nào nhiều kinh nghiệm sẽ bay ghế Co Pilot, ông nào bay yếu ngồi ghế… trưởng tàu. Tôi nói rõ, bay ghế trưởng tàu không có nghĩa là trưởng tàu mà trái lại các ông này phải nghe lệnh của… Co Pilot.

Một cái lệnh? Chao ôi! điên đảo thay lúc giao thời. Đó là một cái lệnh hay là lời dặn dò của buổi chợ chiều? Ôi chua xót làm sao! Cái giờ phút cuối của một Không Lực đứng vào hàng thứ tư trên thế giới đang tan rã. Rồi Lộc nghe:

– Các anh đi từng toán một, cách nhau năm phút. Xe “Pick Up” không đủ và dễ gây xáo trộn. Lên trời sang tần số “Guard” để liên lạc. Có hai nơi nên tới đó là phi trường Côn Sơn và phi trường Utapao Thailand.

Nói xong, họ trao nhau những mẩu giấy nhỏ có ghi tần số truyền tin của phi trường tới. Lộc chỉ nghe được có thế thôi rồi thì tản mác, phi đoàn bỏ hoang. Trong giây lát mọi người biến đi như một câu chuyện phù thủy biến hóa truyền kiếp. Tấm bản đồ trên tường với những tọa độ mật, vẫn được phủ bằng tấm màn vải dày vô tư. Ngăn tủ bản đồ phi hành, tài liệu huấn luyện, tiểu sử và chiến tích từng phi công, những kế hoạch, những dự định tương lai vẫn còn để nguyên .

Chỉ thiếu những hình ảnh của chiến tranh đang tàn phá ngoài kia. Tất cả để lại thật ngăn nắp như một ngẫu nhiên phải có. Lộc rời phi đoàn mà chẳng dám nhìn lại lần chót. Biết mình đa cảm và Lộc vẫn sợ tình cảm rồi sẽ lội dòng nước mắt trong buổi phân ly. Khi đã xa chốn này, không hiểu anh có đủ can đảm để xóa tan những kỷ niệm vương vấn giăng mắc nơi đây. Phòng họp hành quân, nơi mà chiếc máy lạnh cũ vẫn đều đều rên rỉ tạo những âm thanh đều đều như cố ru ngủ trong những buổi trưa hè nóng như thiêu đốt của Saigon mùa nắng hạ.

Đó là chuyện cũ, còn bây giờ Lộc phải tự cứu lấy thân, phải nhảy vọt ra khỏi vùng nguy hiểm này. Chiếc xe Honda màu đậu xanh Lộc mới cho sơn lại tuần trước, thay dầu máy và thay đôi vỏ xe mới hiệu Michelin đàng hoàng như một liên đới chót đưa anh ra bến đậu phi cơ. Tội nghiệp, đến giờ phút này mà nhiều người như Lộc, vẫn tin tưởng vào tính hình đất nước, vẫn hy vọng vào một may mắn nhiệm mầu vào giờ chót. Chiếc xe mà Lộc đã cẩn thận trả giá từng đồng khi quyết định mua nó và đã săn sóc để nó được gần với anh, bây giờ tiễn đưa Lộc ra đây trên sân đậu ngổn ngang những đám cháy. Những vết đạn cày sâu của quân thù làm loang lỗ sân đậu.

Cảnh tượng ở đây có thể nói còn tàn bạo và nguy hiểm hơn cả với những cảnh do phim ảnh cố tạo nên. Lộc vội vã đi tìm phương tiện thoát thân. Anh đảo qua hết dãy này rồi sang dãy khác. Phi cơ nhiều quá, đủ loại nhưng thiếu người điều khiển. Trên sân người ta chạy dáo dác chưa biết về đâu, và anh cũng vậy đi tìm kiếm phi cơ. Lộc là phi công chiến đấu mới vừa được thuyên chuyển về phi đoàn vận tải, chưa được huấn luyện trên những chiếc tàu to lớn như thế này. Trời ơi tiếc quá! Giá mà Lộc điều khiển được nhỉ.

Có một chiếc C 130 đang Taxi thật chậm, ngoằn ngoèo tránh những mảnh sắt vụn vương vãi trên sân. Ngớ ngẩn như đứa bé tập lái xe đạp ba bánh chập chững lần đầu. Lộc thấy nơi cửa sổ phòng lái, người phi công chính giơ tay vẫn anh và chỉ về phía sau tàu. Gác vội chiếc xe Honda Dame, Lộc chạy vội vàng lại phía cửa hậu đã được mở sẵn. Gió cánh quạt thổi, đẩy anh đi như không muốn cho anh lại gần. Chiếc áo bay căng phồng, Lộc như người đang lội ngược dòng nước. Cuối cùng anh cũng bám được vào thành tàu. Người ta kéo anh lên.

Theo đà tay kéo, Lộc ngã chúi vào trong lòng tầu. Ngồi thu mình dưới sàn như một kẻ hèn nhát, chạy trốn. Lộc đang rời bỏ quê hương và gia đình. Hình ảnh bố mẹ, anh chị em quây quần bên nồi cơm đạm bạc đang chờ Lộc về. Những trái cà trắng phau phau, và bát canh mà mẹ anh vội vàng nấu chưa kịp ăn. Nhìn con, mẹ dặn về sớm. Bát canh rau ngót, Lộc biết mẹ để dành cho anh từ chiều hôm qua vẫn còn đó. Những miếng giò thịt heo trắng mịn màng mà bao giờ cũng vậy, bà múc cho anh nhiều nhất nhà. Nhưng bây giờ Lộc không trở lại được. Anh tưởng tượng đến những âu lo của người thân khi thấy anh biệt tích rồi hớt hãi đi kiếm tìm. Saigon ơi! Gia đình đó, thôi vĩnh biệt tất cả. Ra đi mà không biết ngày trở về. Kỷ niệm nào còn vướng chân anh buổi tan trường.

Thời gian nào còn quyện tuổi học trò. Tình yêu thủa mới lớn yêu đương một chiều. Thôi hết thật rồi những chiều Thứ Bảy dạo phố ngắm nhìn những tà áo mỏng đủ màu bay trong gió. Tuổi thanh niên của Lộc đó, hết rồi, nó đã quá ngắn ngủi và đau thương. Quanh đây trong bầu không khí ngột ngạt với những bộ mặt mất thần ưu tư. Lộc biết rằng mình mới ra khỏi vùng lửa đạn. Rồi con tàu đi về đâu? Anh chỉ biết lờ mờ rằng tàu đang rời khỏi địa phận Việt Nam. Nó vội vã bỏ lại tất cả, vùng đồng bằng ruộng thẳng cánh cò bay hay miền núi đồi cao nguyên mầu mỡ của đất nước thân yêu. Bây giờ lênh đênh trong lòng tàu, đành phó mặc tất cả cho bàn tay người phi công đưa đẩy chuyến tàu viễn xứ.

Hơn nửa giờ đồng hồ sau, tâm hồn Lộc mới bình được đôi chút, và cái tò mò đang nảy nở mãnh liệt, thôi thúc trong anh. Đứng dậy, Lộc nhìn qua cánh cửa sổ. Ngoài trời vẫn còn nắng, phản chiếu ánh sáng bảy màu long lanh của vòng quay nơi đầu cánh quạt động cơ. Dưới kia là biển cả với màu xanh biếc của vùng nước mặn. Ra đi với cuộc đời mới, Lộc chẳng còn gì ngoài chùm chìa khóa vẫn còn nguyên trong túi quần. Thấy cộm, Lộc lấy ra đặt nó trong lòng bàn tay. Lắc đầu chán nản anh nghĩ thầm, “rồi đây nó sẽ trở thành vật lưu niệm duy nhất, đánh dấu một thời đã qua.” Lộc mất mát quá nhiều, kể cả tuổi trẻ. Những ngày tháng rong chơi rồi cũng sẽ mất và tiếp nối bằng những ngày dài biệt xứ tay trắng tay. Lộc chẳng muốn nghĩ thêm gì nữa, phải chăng định mệnh đã an bài.

Quá mệt, Lộc ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Một giấc ngủ thật bình yên đến khi nghe tiếng bánh xe chạm mặt phi đạo Lộc mới choàng dậy. Ngơ ngác nhìn chung quanh. Tàu vào bến đậu. Lộc giụi mắt ngạc nhiên vì vẫn có những người lính Không Quân Việt Nam ra tiếp đón như thường ngày. Tiếp đón một phi vụ không được báo trước. Theo dòng người, Lộc bước xuống phi cơ. Ngoài trời nắng vẫn còn chói chang và gió biển thổi mạnh. Cơn gió có mùi vị khác với gió của thành phố nơi anh ở.

Côn Sơn là đây, có người cho Lộc biết như thế. Một hòn đảo phía nam của dải đất hình chữ S. Và anh đã bàng hoàng xúc động. Lộc chưa ra khỏi đất nước anh. May quá Lộc còn có ngày trở về. Anh vươn vai, chưa biết đi về đâu và phải làm gì bây giờ. Nhìn trước mặt, bãi biển xa tắp tận chân mây, phía đằng sau là núi đồi xanh ngắt.

– Anh có thấy gì tại sân đậu TSN trước khi tàu cất cánh không?
Tiếng một người lạ đến làm quen. Lộc trả lời:
– Thấy chứ, ai mà chẳng thấy cảnh khói lửa hãi hùng ấy.

Người bạn mới quen nhìn thẳng vào mắt Lộc nói:
– Không, tôi muốn nói đến người phi công bị tàu cán, nằm sóng soải trên mặt đất.
Lộc ngạc nhiên hỏi vội:
– Hả, chuyện thật không?
Giọng trả lời quả quyết:
– Chính mắt tôi trông thấy mà.

Chuyện hi hữu thật, phi công mà bị máy bay cán chết ở dưới đất. Nếu quả đúng như vậy thì đây cũng không phải là lần đầu tiên Lộc nghe được cái tin như thế. Mấy năm trước đây khi nghe một chuyện thật trớ trêu, anh đã bùi ngùi thương tiếc. Tại phi trường Pleiku, chỉ sau vài phút rời tàu, một ông quan tư tàu bay đã bị cán chết. Quái ác thay lại bị chính con tàu B-57 mình vừa điều khiển vài phút trước đó. Bây giờ trong hoàn cảnh này Lộc lại nghe thêm một tin tương tự. Một ông quan năm phi công cũng bị cán chết bởi C.130, loại tàu mà chính ông ta đã từng bay nhiều giờ. Trong những trường hợp hi hữu như thế này, có thể gọi là sinh nghề tử nghiệp không, hay đó chỉ là số mạng.

*
Ở lại Côn Sơn qua một đêm, những chiếc tàu C 119 đáp vội chiều qua, vẫn còn nằm rải rác quanh đây, bây giờ không sử dụng được nữa vì thiếu nhân viên kỹ thuật. Nghe nói dường như mỗi sáng, nhân viên kỹ thật phải điều chỉnh hệ thống gì đó ở cánh quạt thì tàu mới quay máy được. Lộc không phải là dân kỹ thuật nên không được biết. Chỉ biết rõ có một điều duy nhất bây giờ là, với số gia đình của nhân viên phi đoàn C 130 nay lại cộng thêm với số người mà tàu C 119 chở ra đây, chắc chắn với hai chiếc C 130 còn lại, không thế nào chở hết được số người hiện có tại đảo. Người ta đang lo và tiên đoán sẽ có một sự lộn xộn tranh giành có thể đem tới sự ẩu đả sẽ xảy ra. Mới sáng sớm, người ta làm danh sách lên tàu. Ưu tiên dành cho nhân viên của phi đoàn C 130 trước nhất. Rồi tới các phi công của các loại tàu chiến đấu, đa số là F5, A 37. Còn dân trực thăng may mắn hơn vì có một số tàu từ phi trường Bình Thủy bay tới, ghé qua đây đổ tí xăng cho an toàn, rồi lên đường ra hạm đội.

Quang cảnh lấy xăng thật vui, mới đầu mấy ông C 130 chê xăng nhớt ở vùng tỉnh lẻ, sau đó tính toán lại thấy lượng xăng không đủ để bay qua ThaiLan. Lệnh cấm đổ xăng được ban ra khẩn cấp. Xăng để dành cho C 130 mà thôi. Thế là cảnh ta về ta tắm ao ta, mấy ông C 130 cởi trần để tát gầu sòng. Những chiếc nón sắt được chuyền cho nhau để múc từng nón đầy xăng JP4, kéo lên cao, đổ vào miệng bình xăng nhỏ xíu. Khi người Hoa Kỳ chế tạo những chiếc máy bay này chắc chắn họ không bao giờ ngờ được có ngày hôm nay.

Cái hình ảnh “hò dô ta” chỉ xảy ra một lần duy nhất như thế trong cảnh tượng thật đau lòng này. Ôi Không Quân danh tiếng muôn đời. Cả tiếng đồng hồ, những chiếc nón sắt đầy xăng được luân chuyển hầu như chẳng thấm vào đâu với cánh đại bàng C 130. Trong bối cảnh ấy, trên phi đạo, một chiếc Dakota C 47 đang vội cất cánh. Họ về lại Saigon cùng với những người đổi ý không muốn rời quê hương, trở về lại nơi sinh sống hàng ngày. Người phi công của chiếc tàu này có lẽ trong lúc hấp tấp đã bỏ quên gia đình. Lộc không biết họ về lại thật hay họ đã “xé lẻ” trước tình trạng nhận thấy số người ứ đọng đứng quanh đây.

Ông thiếu tá H. xuất thân từ trường võ bị Đàlạt gọi mời họp. Tất cả có bốn ông tá Không Quân trên hòn đảo thanh vắng này. Cả bốn ông đều là phi công nhưng lái các loại tàu khác nhau. C 130, C 119, F 5 và L19. Mặc dù Bộ tư lệnh Sư đoàn V Không Quân đã đề cử một ông tá khác ra đây từ chiều hôm trước để điều hành. Nhưng bây giờ tình hình đã thay đổi ngay khi có lệnh tan hàng từ đài phát thanh. Ngay khi bắt đầu buổi họp khẩn cấp này, ông thiếu tá H. đã tỏ ra là người có bản lĩnh.

Ông nói thật rõ ràng. “Cấp bậc cao nhất ở đây là thiếu tá, tôi không kể thâm niên, vì là sĩ quan hiện dịch xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia. Tôi có bổn phận và trách nhiệm phải điều hành công việc này”. Mới đầu thì có tiếng xù xì nhưng sau rồi cũng êm vì tất cả nhận thấy có lý. Mười lăm phút sau, một L19 đã nhận lệnh cất cánh đi tìm tàu Hải Quân Hoa Kỳ ngoài khơi để liên lạc. Sau đó chiếc L19 đã đáp lại Côn Sơn. Có tin đã liên lạc được với Hải Quân Hoa Kỳ và họ đang tìm cách để gọi một thương thuyền, ghé vào đảo để đón dân tị nạn.

Tưởng một điều cũng nên nói rõ ở đây, Côn Sơn là một trung tâm nhốt tù cộng sản lớn nhất của Việt nam. Bây giờ trong tình trạng hỗn quân hỗn quan, không ai coi trại tù cả. Mặc dù sau cuộc trao trả tù binh vừa qua nhưng một số tù nhân vẫn còn lại đủ để gây khó dễ cho nhóm gia đình quân nhân vừa tới đảo. Thể theo lời yêu cầu của thiếu tá H., tiểu khu Côn Sơn đã cho tăng cường một tiểu đội giữ an ninh phi trường. Tiểu đội này chia làm hai tổ, gác giữ hai đầu con đường dẫn tới phi đạo. Hai khẩu đại liên ba mươi hướng về phía trại tù. Nhưng độ vài giờ sau, dường như hai khẩu súng này đã đổi hướng. Thấy vậy thiếu tá H. giục anh em và gia đình lên tàu. Số dân còn lại đông quá, cũng may là họ rất kỷ luật và kiên nhẫn đợi chiếc thương thuyền đang cặp bến.

Trên đường bay nhỏ của đảo Côn Sơn, chiếc C130 chót cất cánh nặng trĩu, khó khăn với đường bay thật ngắn mà sức chở đã quá sức ấn định. Đã tới cuối phi đạo rồi mà tàu thì vẫn còn lưỡng lự chưa chịu lên. Gió quạt của bốn động cơ bán phản lực thổi bụi cát bay mù cuối sân. Người ta thấy nước biển tung tóe sát bánh xe và con tàu cứng đầu vẫn lầm lì không chịu cất cánh lên cao. Như một phản ứng tự nhiên, có vài người vội vã chạy dọc theo phi đạo tiến về hướng biển, tưởng rằng con tàu sẽ gặp khó dễ. Nhưng không, nó đã chuyển mình.

Trông xa như một tàu ngầm vừa trồi lên khỏi mặt nước. Tàu ở vị thế sà sà mặt biển rất lâu như gượng gạo né tránh làn nước mặn đang cố với tay xoa bụng tàu. Con tàu càng lúc càng xa bờ đất liền. Bao nhiêu con mắt vẫn hồi hộp ngó theo, cầu mong sao cho nó tai qua nạn khỏi. Chiếc C130, hiền từ nhẫn nại như một con diều hâu già uể oải, bay thật thấp ra mãi tận ngoài khơi rồi cuối cùng nó cũng gượng gạo lên được. Nó bắt đầu bay vòng lại chậm chạp với độ nghiêng cánh thật lơi. Vòng qua phi đạo lần chót, khoảng một ngàn bộ trên cao, nhẹ lắc cánh như còn lưu luyến, rồi ngập ngừng bay về hướng tây bắc, giã từ tất cả những cam go, hãi hùng để chấp nhận một tương lai rất gần mà chẳng ai biết sẽ ra sao.

Ôi Côn Sơn! Sóng biển vô tư đập vào bờ đá, bọt biển trắng xóa tung tóe dưới chân Lộc. Lệ ướt tràn mi liệu nước mắt có mặn bằng hơi bụi bọt biển, đang vương mí mắt. Vào phút chót, nhớ tới bà mẹ già, nhớ tới gia đình, anh em và bát canh rau ngót đượm vị ngọt mùi thịt heo và những trái cà pháo trắng đơn sơ, Lộc đã quyết định ở lại đây trên mảnh đất cằn cỗi này, đứng một mình bơ vơ, lạc lõng nhìn cánh chim trời. Lộc cúi đầu thầm nghĩ. Nó sẽ bay về đâu? Thôi hết rồi! Con chim đang lủi thủi lặng lẽ giã từ tất cả, rời xa phi đạo, con đường bay nho nhỏ, mẩu đất cuối cùng của quê mẹ thân yêu. Nó chao cánh, lưu luyến, nghiêng mình chào vĩnh biệt vùng trời hoang vắng.

Bóng dáng con tàu viễn xứ chìm vào chân mây, nhỏ xíu như cánh nhạn cô đơn. Bất giác Lộc giơ cao tay, vẫy chào lần chót, miệng lẩm bẩm “…thôi nhé bay đi, bay thật xa đi cánh chim nhỏ hiền hòa…”
Mời bạn ghé thăm nhà:
http://thovanyenson.com

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/57215-ch%C3%ACm-v%C3%A0o-ch%C3%A2n-m%C3%A2y

Hỏi mắc cười! – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Ông nhạc sĩ Tuấn Khanh, xin đừng nhầm với nhạc sĩ Tuấn Khanh tác giả bản “Hoa soan bên thềm cũ”.

Cái ngộ là ông nhạc sĩ Tuấn Khanh nầy không nổi tiếng về nhạc; ông lại nổi tiếng về viết báo. Vì ông có rất nhiều bài hay đăng trên trang web của đài VOA, BBC, RFA…

Ông nhạc sĩ Tuấn Khanh mặc dù còn trong nước nhưng mới đây ông có viết một bài về nước Mỹ đại ý là: Trên con đường dài dẫn ra biển Huntington Beach, Quận Cam và nhiều năm gần đây ở Texas, khu Bellaire có những khu nhà rất đẹp. Mỗi căn từ 1 triệu cho đến vài triệu USD. Chủ là những người rất trẻ sống khép kín trong những khu định cư mới của “Ðại Gia Việt cộng”.

Nhưng thiếu gia con của đại gia Việt Cộng nầy nói giọng Bắc mới. Họ mua nhà ngay bằng tiền mặt, mà họ dằn giọng là ‘tiền tươi! (mùi máu?)’.

Họ mua luôn các cơ sở thương mại. Từ các tiệm ‘nails’ với giá vài chục ngàn cho đến các siêu thị giá trên chục triệu USD.

(Ối ăn cắp nhiêu đây mà nhằm nhò gì? Không với tới gót chưn của Bạc Qua Qua, con trai của Bạc Hy Lai cựu Bí thư Trùng Khánh đang bị Tập Cận Bình nhốt trong hộp cho tới xí lắt léo.

Rồi Ilya Medvedev, con trai của cựu Tổng thống Nga Dmitry Medvedev, cánh tay phải đang giúp Putin giết đàn bà con nít ở Ukraine cũng đang sống xa hoa ở Mỹ.

Ilya Medvedev và bố cựu Tổng thống Nga Dmitry Medvedev 

Nước Mỹ buôn bán tự do. Dư, Mỹ xuất cảng. Thiếu, Mỹ nhập cảng. Mỹ đang thiếu ‘con ăn cướp’ thì nhập vô cũng đâu có gì là lạ?

Nói nào ngay cái đám thiếu gia CS nầy sống khép kín là phải. Vì ngoài đồng chí, đồng rận với nhau thì bà con tị nạn CS có ai muốn dây dưa với họ đâu?

Chẳng qua hồi thời học Petrus Ký (63-70) trong lớp có một đứa theo ‘Vi Xi’ rải truyền đơn bậy bạ trong trường. Sau 75, từ từ nó leo lên tới thành ủy viên. Về mặt chánh quyền, nó làm giám đốc một cái Sở rất có ăn. Trong lúc chú em vinh thân phì gia thì mấy thằng bạn chung lớp đang đói nhăn răng trong hộp.

Ðầu những năm 90s, mấy anh chàng bị tù cải tạo nầy được Mỹ cho ‘quy mã’ tức ‘qua Mỹ’ theo chương trình HO. Tưởng một đi không gặp lại, nước sông, nước giếng không còn chung đụng gì với nhau nữa. Ai dè 20 năm sau, lại thấy cái bản mặt của thằng ‘Vi Xi’ nầy lù lù ngồi uống cà phê ngoài hàng hiên ở Quận Cam, thủ đô tị nạn CS. Chú em lái xe ‘brand new’ chừng 100 ngàn đô thôi. Và ở nhà bạc triệu.

Ðúng ra nếu nín khe, không khoe mẽ thì hổng có ai huỡn đâu mà để ý. Năm rồi, tay trưởng lớp có biệt danh là ‘Khỉ già’ bày đặt tổ chức 50 năm lớp cũ, trường xưa. Chú em theo Vi Xi nầy ghi tên đòi tham dự. Mấy đứa khác nghe tin bèn bắn tiếng: “Có nó không có tao!” Tụi nó xúm lại một bầy đòi tẩy chay cuộc họp mặt. Vậy là vài đứa tổ chức rét, giương cờ trắng đầu hàng. Kêu chú ‘Vi Xi’ nầy ở nhà chơi với vợ mầy đi! Vì tụi nó không muốn chơi với mầy!

o O o

Rồi ông nhạc sĩ Tuấn Khanh viết rằng: “Nhiều người Việt tại Mỹ sống bằng đồng tiền lương thiện ít ỏi của mình đã ngạc nhiên hỏi rằng: “Họ là ai? Sao giàu vậy?”

Rồi ông cho “Anh Mến” nào đó, sống ở Kansas hơn 10 năm đã thảng thốt kể rằng anh chứng kiến những người Việt đến Mỹ mua một lúc 2, 3 căn nhà. “Việt Nam bây giờ dễ kiếm tiền lắm hả anh?” anh Mến ngơ ngác hỏi. Thật khó mà giải thích với anh Mến, dù cùng là người nói tiếng Việt với nhau”.

Thưa ông nhạc sĩ! Nói ông đừng buồn, tui e rằng nhân vật Mến là do ông tưởng tượng ra. Vì câu hỏi của anh Mến nào đó nghe thật ngô nghê và thiệt ngu ngơ?!

Chúng tôi vượt thoát xích xiềng nô lệ của CS, nhào ra biển, một sống, mười chết cũng đi không ngớ ngẩn đến mức không biết được câu trả lời.

Những đứa trẻ nầy tiền rủng rỉnh đến từ một đất nước CS độc tài thì chúng tôi ai cũng biết hàng triệu đô la đó là tiền của cha mẹ chúng, là đảng viên cao cấp CS, ăn cướp, ăn cắp của dân chớ nó ở đâu ra?

Rồi ông nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết thêm những điều ai ai cũng biết là: “Những vùng quê đói nghèo phải xin gạo trợ cấp mỗi năm. Nhưng đầy dẫy các quan lớn vẫn lên nhà cao, tậu xe to và viết các dự án xây tượng đài hàng ngàn tỉ…”

“Sài Gòn, Hà Nội… nhớ những ngày nước ngập lụt lội đến tận giường. Những mùa nhập học hàng ngàn phụ huynh vật vã, lê lết khắp nơi chạy trường cho con mình, dù phải gửi lót tay.” Nên ông cho rằng: “Có lẽ người Việt đã quen sống vất vả và chịu đựng nên mọi thứ đã quen dần.”

Không! Không ai quen dần với chuyện bị ăn cướp đâu ông. Chúng tôi, ngoài và ngay cả trong nước, đều biết những chuyện khốn nạn như thế nầy. Ông nói vậy thì tội nghiệp bà con mình. Bị ăn cướp sao bà con không dám chống lại?! Bà con chúng ta buộc phải câm nín vì chánh quyền CS có súng mà người dân lại tay không.

Dẫu sao cũng cám ơn ông nhạc sĩ Tuấn Khanh đã la làng giùm những người bị ăn cướp mà không dám la vì sợ bị ăn… súng.

Nhưng “Ðời có Luật nhơn quả” hay không?

Cướp đồng tiền mồ hôi nước mắt của người ta rồi chạy đi xa, ngay cả chạy đằng trời cũng không thoát thì nói chi tới chuyện chạy qua quận Cam nước Mỹ?

Ông tin tui đi! Ngày phán xét cũng không xa lắm đâu!

DXT

Nguồn: Cảm ơn Mr. VNH “CHIENSICONGHOA” chuyển.

Xứ sở hận thù – Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến

Tuy là một nhà văn danh tiếng nhưng Bá Dương, xem chừng, không được đồng bào/đồng chủng quí mến (hay yêu thích) gì cho lắm. Chả những thế, ông còn bị nhà nước Trung Hoa Dân Quốc bắt giam gần cả chục năm luôn!

Lâu dữ vậy sao ?

Chớ sao! Bởi ổng có cái tật hay cạnh khóe quí vị lãnh đạo cấp cao, và cũng thường chê bai cái đám đồng hương/đồng khói với mình, bằng nhiều lời lẽ chua cay (nghe) rất mất lòng – kiểu như: “Tôi nghi rằng để có thể móc trong mồm một người TQ ra cái câu cám ơn ông e rằng nếu không dùng đến cái cào cỏ năm răng của ông bạn Trư Bát Giới của chúng ta thì không thể được.” (Bo Yang. The Ugly Chinaman and The Crisis of Chinese Culture. Trans Nguyễn Hồi Thủ. Người Trung Quốc Xấu Xí. Westminster, CA: Văn Nghệ, 1999).

Nếu đúng vậy thì Tầu quả là tệ thiệt (và tệ lắm) nhưng có lẽ vẫn chưa đến nỗi nào, nếu so sánh với Ta. Dân Việt chả những đã ngại cảm ơn mà còn phủi ơn, hoặc tỏ ra vô ơn, ra mặt nữa kìa – theo như lời than phiền (mới nhất) vừa đọc được trên trang RFA của blogger Tuấn Khanh:

Tháng 8-2022, Lính thủy trên tàu bệnh viện Mercy của Hải quân Hoa Kỳ vừa khánh thành công trình phúc lợi là một trường học cho trẻ em ở Phú Yên. Toàn bộ chi phí được phía Mỹ tài trợ và sức lao động của lính thủy Mỹ nhằm ghi dấu cho một công trình mang tính hữu nghị và giáo dục.…

Nhìn hình ảnh ngày khánh thành trường mà chỉ loe hoe một vài người đại diện phía chính quyền Việt Nam ngồi cho có, còn bao nhiêu là những người đã dựng lên phía trường, và thầy cô của trường. Thấy mà ngại…

Nhưng những chuyện nói trên cũng không quan trọng bằng chuyện một chương trình giao lưu và hoàn toàn thiện nguyện từ một quốc gia khác, mà không hiểu sao phía truyền thông dư luận viên pro (ủng hộ) nhà nước tổ chức rất công phu những ngôn luận phủ nhận những hoạt động này, và nói rằng đây chỉ là những thứ mua chuộc để phá hoại Việt Nam, hay là giả dối để âm thầm tổ chức diễn biến hòa bình …

Tuấn Khanh khiến tôi nhớ đến một sự việc khác, xẩy ra đã khá lâu, hồi vài ba năm trước. Có bữa, từ San Francisco, tôi bay cái vù xuống phi trường Suvarnabhumi rồi phóc lên một toa tầu điện (BTS – Bangkok Skytrain) để về nhà trọ.

Trên tất cả những màn hình nhỏ trong xe, ngoài đủ thứ quảng cáo thương mại như thường lệ – lạ thay – lại còn xuất hiện rất nhiều hình ảnh và những hàng chữ rất trang trọng (và cảm động) viết bằng cả tiếng Thái lẫn tiếng Anh:

  • An entire country in one in heartfelt thanks. Lời cảm ơn từ tận đáy lòng của cả nước Thái.
  • Without national boundaries, working in unity. Thank you (from) the people of Thailand. (Không biên giới quốc gia, hành động hợp nhất. Lòng tri ân (từ) dân chúng Thái Lan).

Ủa! Chuyện gì vậy ta?

Nhật báo Nation (số ra ngày 15 tháng 7 năm 2018) cho biết : “Chính phủ Thái đã phát hành một video bầy tỏ sự tri ân với toàn thể nhân loại – về sự đồng cảm và hỗ trợ của tất cả mọi người – trong công việc giải cứu đội banh Wild Boars trong một hang động ngập nước, ở huyện lỵ Chiang Rai. Đoạn phim ngắn ngủi này vừa được khởi chiếu trên CNN, và được chia sẻ rộng rãi trên mọi phương tiện truyền thông.”

Asean News Today cũng có bài tường thuật (“The world is one: Thailand says thank you from the heart”) của John Le Fevre, với hình ảnh của người đứng đầu chính phủ Thái – Thủ Tướng Prayut Chan-o-cha – mừng phát khóc, sau khi được biết rằng các nạn nhân đều còn sống sót. Tác giả bài báo, cũng không quên ghi lại lời tri ân từ tận đáy lòng (“heartfelt thank you”) của Nhà Vua và ông Bộ Trưởng Ngoại Giao đã gửi đến tất cả những ai đã tham gia vào việc cứu nguy cho hàng chục công dân của xứ sở này.

Quan sát dân chúng Thái chăm chú lắng nghe từng câu/từng tiếng (“cảm ơn”) chân thành và trân trọng của giới cầm quyền ở xứ sở này – lập đi lập lại nhiều lần, trên màn ảnh nhỏ, trong mấy toa xe điện – khiến tôi đột nhiên “ngộ” ra cái lý do khiến cho người Việt hôm nay không ai có thể thốt lên được đôi lời (“tri ân”) tử tế như đa phần nhân loại.

Chớ các “đồng chí lãnh đạo ở ta” có bao giờ nói đến khoan dung, tha thứ, yêu thương hay ơn nghĩa … đâu! Chế độ hiện hành được dựng lên và duy trì nhờ vào lòng căm thù cùng sự oán hận mà, và thù hận không bỏ sót một ai – kể cả những nông dân chân lấm tay bùn:

  • Giết ! Giết nữa ! bàn tay không chút nghỉ/ Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
  • Lôi cổ bọn nó ra đây/ Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi!

Nhà báo Uyên Vũ cho biết: “Trong sách giáo khoa lẫn trên bục giảng, từ một trẻ nhỏ chập chững bước vào trường tiểu học cho đến một tân khoa cử nhân đều phải học những bài học lịch sử được viết lại cho thuận ý nhà cầm quyền. Những bài học lịch sử bịa đặt, thêm thắt và tràn ngập những căm thù.”

Ngoài “những bài học lịch sử bịa đặt, thêm thắt và tràn ngập những căm thù,” bia căm thù (một đặc sản của chế độ hiện hành tại VN) còn được “tu bổ”, “tôn tạo” và “nâng cấp” thường xuyên – ở khắp mọi nơi:

Blogger Nguyễn Lân Thắng nhận xét: “Có lẽ, sau cuộc chiến, chưa có cuộc chiến tranh nào trên thế giới này lại có nhiều bia căm thù như cuộc chiến tranh Nam Bắc ở Việt Nam.”

G.S Nguyễn Văn Tuấn kết luận: “Những tấm bia căm thù đó chẳng làm cho người Việt mạnh hơn chút nào; ngược lại, nó nói cho người nước ngoài biết rằng người Việt vẫn còn sợ hãi.”

Cách đây khá lâu, tôi đã nghe một nhà văn than thở: “Người ta chỉ cần một hai thập niên để vực dậy một nền kinh tế sa sút nhưng để xây dựng lại niềm tin cho cả dân tộc, cụ thể như dân tộc tôi, nay chỉ còn cầu phép lạ gieo xuống thửa đất hoang hoá này những hạt giống mới để bắt đầu lại.” (Bùi Bích Hà. “Nhìn Lại Quê Hương.” Thế Kỷ 21, Sep. 2003).

Phép lạ – nếu có – e cũng khó nẩy mầm, nếu “gieo xuống” cái mảnh đất chất chứa (và chất ngất) hận thù như ở VN!

Trong những ngày tháng lang thang nơi xứ Thái, tôi cứ nhìn những dòng “loằng ngoằng” khắp nơi mà trộm nghĩ là đất nước này sẽ hòa nhập với thế giới nhanh chóng hơn nữa, nếu ngôn ngữ của họ được biểu đạt bằng mẫu tự abc – alphabétique – như đa phần nhân loại.

Sau khi xem phim Thirteen Lives và thấy thiên hạ (ở khắp mọi nơi trên trái đất) đổ dồn đến hang động Tham Luang, để giải cứu đội banh Wild Boars, tôi mới biết thêm rằng: không có gì tệ hại hơn trong việc cô lập một xứ sở bằng chủ trương ngu xuẩn (và thái độ ti tiện, đốn mạt) của bọn cầm quyền.

Nguồn: https://baotreonline.com/van-hoc/so-tay-thuong-dan/xu-so%cc%89-ha%cc%a3n-thu.baotre

Trận đánh cuối cùng của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù… – Nguyễn Bá Toản (T242)

Nguyễn Bá Toản

Trận đánh cuối cùng của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù tại mặt trận Long Khánh và Cuộc vượt biển có một không hai của QLVNCH, Lữ Đoàn I Nhảy Dù Vượt biển Đông – 30/4/1975
Nguyễn Bá Toản (T242)

Lời người viết: bài viết này đã được đăng trong Đặc san CÁNH HOA DÙ nhân ngày Đại Hội Gia Đình Mũ Đỏ VN – XXXV (Lần thứ 35); nhưng nhà in đã cắt xén và sửa chữa làm bài viết in trong đặc san này có một vài chỗ sai và không trọn vẹn; vì vậy người viết cho đăng lại bài nguyên thủy nơi trang điện tử này.

Kính thưa quý Độc giả, đã 40 năm trôi qua, hôm nay nhân ngày Đại Hội GĐMĐ XXXV (July 2015) được tổ chức tại vùng DMV (District of Columbia, Maryland, Virginia), 242 (1) xin được ghi lại một ít hồi ức về những sự kiện đã xảy ra trên đường hành quân với Đại Đội 11 Nhảy Dù thuộc Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù vào những tháng ngày cuối của chiến tranh Việt Nam. Truyện kể gồm hai phần:

1. Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù (TĐ1ND) tiến vào Mặt trận Long Khánh. Trong phạm vi này, 242 chỉ thuật lại những gì đã xảy ra cho ĐĐ11ND thôi vì người viết đã phục vụ tại đơn vị này liên tục từ 12/1973-30/4/1975.

2. TĐ1ND rút khỏi Mặt trận Long Khánh và cuộc vượt biên có một không hai của một đơn vị Bộ Binh thiện chiến QLVNCH, Lữ Đoàn I Nhảy Dù, bằng thuyền sang Mỹ.

Trong truyện kể dưới đây, người viết chỉ thuật lại những gì mắt mình đã thấy. Tuy nhiên sẽ có một vài mẩu chuyện người viết chỉ nghe anh em (AE) kể lại thôi và dĩ nhiên sẽ có ghi chú tử tế trong những trường hợp như thế. Chữ “khoảng” chỉ thời gian thay cho ngày, tháng, năm trong câu chuyện vì đã lâu nên 242 quên sạch sẽ ngày chính xác của một vài sự kiện. Kính mời quý Độc giả theo dõi câu chuyện sau đây. Trân trọng. –T242.


****** ||| ******

I – Trận đánh cuối cùng của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù
tại mặt trận Long Khánh

Sơ lược về người viết: 242 (1) trình diện Trung Tâm 2 Tuyển mộ nhập ngũ tọa lạc tại Thành, thị xã NhaTrang, tỉnh Khánh Hòa vào khoảng tháng 9, năm 1972, và sau khi tốt nghiệp Khóa 10A-1972 Sĩ Quan Trừ Bị tại quân trường Đồng Đế Nha Trang, 242 tình nguyện về Binh chủng Nhảy Dù QLVNCH và tốt nghiệp Khóa 321 Nhảy Dù tháng 11, 1973.

Từ Khối Bổ Sung/Sư Đoàn Nhảy Dù, 242 được C-130 bay ra Huế trình diện Bộ Tư Lệnh/Sư Đoàn Nhảy Dù Tiền Phương, lúc bấy giờ đồn trú tại căn cứ Hiệp Khánh, Thừa Thiên-Huế. Lưu lại Bộ Tư Lệnh/Sư Đoàn Nhảy Dù Tiền phương 2 tuần lễ để học khóa điều chỉnh Pháo binh. Sau đó được bổ về TĐ1ND lúc ấy đang đóng tại làng Cổ Bi, huyện Hiền Sĩ, Huế. Tiểu Đoàn đóng quân ở làng Cổ Bi bình an vô sự, được hơn 1 năm thì vào đầu tháng 8, năm 1974, tình hình chiến sự sôi động trở lại sau mùa ngưng chiến Hòa đàm Ba-lê 1973.

Thường Đức, vùng khói lửa chiến tranh tàn bạo:

Bọn cộng sản Bắc Việt đã chính thức xé bỏ Hòa Đàm Ba-lê bằng việc xua quân chiếm đóng quận lỵ Thường Đức phía nam đèo Hải Vân của VNCH, mục tiêu chính là Đồi 1062, một cao điểm có thể nhìn thấy cả thành phố Đà Nẵng từ chóp đỉnh. TĐ1ND được lệnh hành quân Mặt trận Thường Đức (2). Trong trận này, TĐ1ND và các đơn vị Nhảy Dù bạn đã gây rất nhiều thiệt hại cho quân bên kia, riêng TĐ1ND cũng hy sinh không nhỏ ở trận này, 242 đã mất đi 4 vị Thần ưng (3) thân thiết nhất ở Đồi 1062 này trong 3 tuần đầu giao tranh. Sau gần một năm hành quân tại Thường Đức, chúng tôi, Lữ Đoàn I Nhảy Dù gồm 3 tiểu đoàn tác chiến 1, 8 và 9ND được lệnh rời mục tiêu Đồi 1062 để về Sài Gòn trang bị đơn vị và dưỡng quân.

Khói lửa chiến tranh tiếp tục lan vào cửa ngõ Sài Gòn:

Thời gian dưỡng quân và trang bị đơn vị tại hậu cứ TĐ1ND, trại Nguyễn Trung Hiếu tọa lạc trên đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, không bao lâu thì lại được lệnh lên đường hành quân. Nhưng lần hành quân này là Tiểu khu Long Khánh, phía bắc Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên trong đời lính Nhảy Dù được hành quân gần nhà. Từ hậu cứ TĐ1ND đến tỉnh Long Khánh khoảng hơn 80 cây số/km (59-60 miles/dặm Anh). 242 còn nhớ mãi cảnh một chiếc phản lực F5 hay A37… thả bom xuống Dinh Độc Lập lúc đoàn công-voa (convoy) GMC chở TĐ1ND trực chỉ Long Khánh ngang qua thủ đô Sài Gòn. Sau này mới biết là tên Trung úy phi công KLVNCH nằm vùng tên Nguyễn Thành Trung là thủ phạm trong việc ném bom này (4).

Khoảng hơn 2 giờ đồng hồ thì đoàn công-voa chở TĐ1ND vào địa phận Long Khánh, nơi đây AE nhảy dù bắt đầu thấy các Chiến xa M48 QLVNCH cũng đang di chuyển cùng chiều với đoàn công-voa chở quân Dù, nhìn cảnh này, trong thâm tâm 242 bắt đầu nghĩ đến chiến tranh chết chóc rất khốc liệt sắp xảy ra. Lúc này đây danh số 242 là trung đội trưởng thực thụ với 20 tay súng dưới tay tuổi từ 17…, ngồi gọn trong lòng Quân Xa GMC, riêng 242 sinh ngày 30-March-1954, vừa tròn 21 tuổi. Đoàn xe đến điểm hẹn rồi, và điểm hẹn cũng là tuyến xuất phát của cuộc hành quân này. Chúng tôi được đổ xuống một bìa rừng cao su, các Sĩ quan Trung đội trưởng nhận bản đồ hành quân, và đến xế chiều toàn thể TĐ1ND được trực thăng vận ngay vào “vùng hành quân”. Đêm nay anh Nhỏ, Tiểu đoàn trưởng TĐ9ND, bị thương vì đạn pháo, nghe đâu Nghĩa quân của giáo xứ Bảo Định cố thủ trong khuân viên giáo đường Bảo Định bắn nhầm quân bạn vì nghĩ đấy là quân VC nên ông Nhỏ lãnh đạn phải di tản!

TĐ1ND, Thiếu tá Ngô Tùng Châu K19VB, Tiểu đoàn trưởng, vào mặt trận Long Khánh với 5 đại đội như sau:

1. ĐĐ10ND: Đại Đội Súng Nặng, Trung úy Nhân(?) Đại đội trưởng chỉ huy, nhiệm vụ bảo vệ Bộ chỉ huy (BCH) TĐ1ND và yểm trợ hỏa lực cận phòng (cối 81ly) cho các đại đội tác chiến

2. ĐĐ11ND: Thiếu úy Khanh Đại đội trưởng chỉ huy

3. ĐĐ12ND: Trung úy Thọ K25VBĐL chỉ huy

4. ĐĐ15ND*: Đại úy Lộc K23VBĐL chỉ huy

5. ĐĐ14ND: Trung úy Hữu chỉ huy

ĐĐ11ND vào vùng hành quân với 4 trung đội và ban chỉ huy (bch) như sau:

Ø Trung đội 1 – Hắc Long (Rồng đen) do Thiếu úy Mẫn chỉ huy
Ø Trung đội 2 – Thanh Long (Rồng xanh) do Chuẩn úy Nguyễn Văn Ba chỉ huy
Ø Trung đội 5* – Hoàng Long (Rồng vàng) do Thiếu úy Nguyễn Bá Toản (T242) chỉ huy
Ø Trung đội 4 – Xích Long (Rồng đỏ) (242 không nhớ cu nào trách nhiệm khoản này)
Ø Bạch Long (Rồng trắng) – bch ĐĐ11ND do Thiếu úy Khanh Đại đội trưởng trụ trì.

Các danh hiệu truyền tin này do anh Thể đặt cho khi anh còn là Đại đội trưởng/ĐĐ11ND. Nghe rất cải lương đượm tí kiếm hiệp nhưng bùi tai, không ai phàn nàn.

* Vì một lý do nào đó (dị đoan) mà các đại đội thuộc TĐ1ND tránh các con số 3 và 13. Do đó mới có các Trung đội 5 [3] và Đại Đội 15 [13]

Vùng hành quân đầu tiên của TĐ1ND trong trận này bắt đầu là một ngôi làng nhỏ trong một khu vườn trái cây đang chín mọng. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời 242 thấy vườn trái cây mênh mông bao la với vô vàn trái cây chín thơm ngát một vùng như thế. Lác đác bên các gốc ổi đã có một số trái ổi rơi nằm trên đất và đang rữa thối, có lẽ vì chiến tranh đến bất thường nên các chủ vườn không thể hái trái cây đem ra chợ bán.

ĐĐ11ND được lệnh làm khinh binh tiến về ngôi làng nhỏ trên để làm đầu cầu tiến vào thị xã Xuân Lộc với Trung đội 1 của Thần ưng (3) Mẫn đi đầu, Trung đội 5 (242) bao chót. Trung đội 2 (Ba) theo chân 1, Trung đội Súng Nặng 4 luôn cặp sát bch đại đội do Thần ưng Khanh làm Sĩ quan Đại đội trưởng. Nơi đây – ngày hôm nay – có một sự việc trọng đại xảy ra: Đại úy Trần Văn Thể K24VB đã bàn giao ĐĐ11ND cho Thiếu úy Khanh và anh Thể về BCH TĐ1ND giữ chức Sĩ quan hành quân, tức Ban 3 Tiểu Đoàn.

Khoảng trưa, Trung đội 5 vượt qua một vườn ổi xá-lị chín thơm phưng phức, không có bóng dáng đồng bào ở đây, lúc này địch pháo kích bằng cối 61ly rải rác không chính xác vào khu vực ĐĐ11ND đang hành quân tảo thanh. 242 nghỉ dừng chân, nhân tiện thưởng thức ổi xá-lị chín với Binh nhất (B1) Tập (những cây ổi ở đây rất thấp, cao ngang nhau, không cần trèo, có lẽ là loại cây “chiết” nên cao vừa tầm tay hái). Hai AE đang dùng ổi chín và ngợi khen ổi Long Khánh thì… Đoành! Một trái đạn cối 61ly của địch quân vu vơ (random) rơi ngay bên hông và đốn ngã người lính nhảy dù cao, đẹp trai, B1 Tập, người anh cao hơn cả cây ổi. Tập trút hơi thở bên cây ổi chín thơm ngát mùi quê hương miền nam nước Việt… lặng lẽ không lời trăn trối. Nhìn người AE Nhảy Dù ra đi mà chết điếng người! Khoảng cách giữa 2 AE chúng tôi lúc bấy giờ gần lắm, có thể bắt tay nhau được. Bụi đất bu quanh hai AE và quả ổi cũng biến mất khỏi bàn tay khi ấy, 242 không hề hấn gì. Đúng ra, Tập đã chết thay cho 242. “quả ổi” định mệnh đã khiến 242 phân vân không ngừng nhiều ngày sau đó. Vì nếu anh ta cứ tiếp tục di chuyển hay 242 đã không rủ hắn hái ổi thì Tập vẫn còn sống đâu đây trên quả đất này.

Sơ qua về Tập: Anh là người rất chịu khó, “rất khỏe mạnh” và can đảm, bơi giỏi, có thể thích hợp với Người Nhái hơn là Nhảy Dù, người anh cao ráo và đẹp mã, một con người rất tháo vát, quê anh ở vùng 4. Hồi đánh ở Đồi 1062, có một lần, TĐ1ND không nhận được quân lương (tiếp tế), cả Trung đội 5 chúng tôi cạn lương khô lẫn tươi. Để cứu đói, một mình Tập lặng lẽ xuống núi/hạ san (Đồi 1062 cao 1.62km) vào làng Hà Nha, đi không địa bàn hướng dẫn, nhắm một đường thẳng từ đỉnh xuống chân núi. Thời tiết hôm ấy lại âm u nữa, hạ san dễ nhưng lên khó, mây mù phủ đỉnh núi suốt ngày nên từ chân núi nhìn lên không biết đỉnh nào là mục tiêu mình muốn đến. Vậy mà chỉ hơn nửa ngày, Tập đã trở lại quả núi với vài ký ngô pha gạo mua được của dân làng Hà Nha dưới chân núi. Mỗi lần nghĩ đến tình cảnh này, 242 phải ngậm ngùi thương nhớ về người chiến binh Nhảy Dù này khôn nguôi, 242 không thể quên đi được hình ảnh ngày hôm đó và cái chết của Tập, nó cứ ám ảnh mãi mãi thôi….

Trở lại chiến trận Long Khánh, trong ngày này, ĐĐ11ND đã chiếm trọn vẹn ngôi làng nhỏ, lục soát và đã tìm thấy một số dân trốn trong hầm (đào trong nhà dân). Không phát hiện một tên địch trong vùng hành quân.

Đường vào Xuân Lộc:

Tuần thứ 3, tháng tư, 1975: ĐĐ11ND tiếp tục hành quân tiến về thị xã Xuân Lộc thuộc Tiểu khu Long khánh. Trên đoạn đường này, đơn vị hành quân bình an vô sự hay gặp sự phản kháng rất yếu ớt từ hướng địch quân cộng sản Bắc Việt. Vào một buổi sáng tinh sương, chúng tôi họp hành quân ở một bìa rừng cao su với Đại đội trưởng Khanh, Khanh chia công tác cho các thần ưng như sau: Trung đội 5 khinh binh (các Trung đội, ngoại trừ Trung đội Súng Nặng, của ĐĐ11ND thường chia phiên nhau làm khinh binh trong các công tác chiến trường); Trung đội 1 (Mẫn) đi sau trừ bị; Trung đội 2 Chuẩn úy Ba và Trung đội 4 (Súng Nặng) cùng bch đại đội đi sau cùng. Vào ngày này khu vực hành quân của ĐĐ11ND rất thanh bình, không có pháo kích hay tiếng súng cá nhân nổ tí tách trong rừng cây quanh vùng. Trưa hôm ấy cả ĐĐ11ND dùng cơm ở một bìa rừng cao su trước khi xuất quân.

Khoảng 13:30g Hoàng Long (danh hiệu truyền tin của Trung đội 5) bắt đầu vượt tuyến xuất phát từ bìa rừng và tuần tự là các “Long” đã được anh Khanh chia cắt. Đi được hơn một giờ thì Bạch Long lệnh cho khinh binh báo cáo tình hình. Hoàng Long tả địa hình cho Bạch Long biết hướng tiến quân đằng trước hoàn toàn trống trải, không chạm địch, rất thinh lặng. Khanh lệnh cho toàn ĐĐ11ND dừng chân để anh lên quan sát địa hình. Khanh đổi đội hình tiến quân: Hoàng Long hành quân lục soát vườn mía và bảo vệ sườn trái cho đại đội, Hắc Long tiến vào rừng phía trước. Đi được khoảng hơn nửa giờ thì Hắc Long (Trung đội 1/ĐĐ11ND) bị lọt ổ phục kích của địch khi đoàn quân vừa chạm mí rừng. Thần ưng Mẫn cùng các khinh binh đầu của anh bị hạ tại chỗ không phản ứng kịp. Lệnh Bạch Long cho toàn đại đội án binh bất động và TĐ1ND đã điều động ĐĐ15ND của anh Lộc (K23VBĐL), từ hướng tây bắc tiến xuống giải quyết ổ phục kích trước khi hoàng hôn xuống. Chiến công này là của Thần ưng Lịch từ ĐĐ15ND sang tiếp ứng cho thằng 11.


Kết quả: địch bỏ lại dăm bảy xác chết, một trong các khẩu súng cá nhân tịch thu được của địch gồm 1 khẩu CKC bắn sẻ. Khẩu này đã bắn Thiếu úy Mẫn phía trước từ trán xuyên qua ót và nón sắt, ngay phút đầu tiên Hắc Long lọt ổ phục kích.

Đêm nay, Đại đội trưởng chia cắt công việc cho các Thần ưng còn lại của ĐĐ11ND: Trung đội 1 do Trung sĩ nhất Nguyễn Văn Đức hay “Đức đen” thay thế cố Trung úy Mẫn vừa tử trận hôm chiều, cùng với Trung đội 2 và 4 bao bọc bch đại đội, Trung đội 5 khinh binh nằm tiền đồn cho ĐĐ11ND bên kia cánh rừng.

Một điều cần để ý là các “thần ưng” (3) ngày ấy còn trẻ lắm, không có kinh nghiệm chiến trường, đã hy sinh một cách lãng nhách, và cố Trung úy Khanh là trường hợp điển hình. Khanh được đôn lên chức Đại đội trưởng ĐĐ11ND khi anh Thể nhận nhiệm vụ mới, trưởng B3 (ban hành quân) tiểu đoàn. Cũng nên biết, ĐĐ11ND là Đại Đội Nhảy Dù tiên khởi của Binh chủng Nhảy Dù/VNCH và là đại đội đầu tiên của Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH xếp theo thứ tự. Đêm nay, Khanh cho các Sĩ quan Trung đội trưởng biết anh sẽ sử dụng lại hệ thống phòng thủ vừa mới lấy được của địch quân. 242 quan sát hệ thống hầm hố này và nhận thấy đây chỉ là loại hầm dã chiến vừa mới được thiết lập vội vã vì vật liệu dùng làm hầm còn “tươi rói”, AE đề nghị: thế cũng được nhưng phải sửa sang lại cho chắc hơn, vì kinh nghiệm từ mặt trận Thường Đức, hầm hố chiến đấu ở Thường Đức rất kiên cố, của cả ta lẫn địch. Có lẽ vì thiếu kinh nghiệm hay vì một lý do nào đó… mà Khanh đã không chú ý đến đề nghị của AE. Hừng đông hôm sau, địch trả thù dùng cối 61ly của chúng dội vào hệ thống phòng thủ bch ĐĐ11ND suốt nửa giờ đồng hồ và hậu quả là Khanh tử trận ngay trong căn hầm chỉ huy vừa chiếm được của địch chiều hôm qua bằng một loại đạn pháo vòng cầu rất tầm thường.

Trong tuần này, ngay tại địa thế này, ĐĐ11ND gặp vận đen, trong chỉ vỏn vẹn hai ngày, tử thần đã cướp đi hai Thần Ưng và 3-4 khinh binh Nhảy Dù ưu tú của Sư Đoàn Nhảy Dù. Riêng phe địch để lại 5, 7 xác chết và một ít súng cá nhân xoàng. Trong cuộc giao tranh này, phía địch đã lời to, và ta lỗ quá mất thôi! Anh Thể tạm thời xử lý thường vụ ĐĐ11ND. Khi ra Phước Tuy thì bàn giao lại cho 242.

Sau trận phục kích ĐĐ11ND này thì khoảng 2 đêm sau, toàn thể TĐ1ND được lệnh triệt thoái khỏi mặt trận Long Khánh. 242 còn nhớ rất rõ đó là một đêm trăng thanh gió mát, bầu trời ban đêm đầy sao và rất thơ mộng cộng thêm với hương thơm ngát từ vườn cây ăn trái đang chín tới. 242 bàng hoàng vì lệnh cho gài mìn trước khi thực hiện buổi dạ hành. Ý thức được đây là tài sản mầu mỡ của đồng bào miền nam, nên đã lờ đi không gài mìn trước khi rời địa điểm. Kể từ đêm nay, 242 bắt đầu nghĩ vận nước đã hết cho toàn thể miền nam nước Việt bởi vì rất dễ hiểu thôi: Long Khánh là cửa ngõ của Sài Gòn, rút khỏi Long Khánh và còn gài mìn nữa thì… chẳng còn gì nữa để gỡ gạc.

Kết luận: trong hai trận đánh: Thường Đức và Long Khánh, cường độ đạn bay giữa hai bên thật khủng khiếp. Người ta không thể cậy tài để khoe khoang chiến tích của họ… Ai đó đã nói rất đúng: “trên chiến địa, chỉ có đạn tránh người chứ người không thể tránh đạn.” Thật thế, có thấy đạn bay đâu mà tránh né chúng được! Là bổn đạo Công giáo, 242 nghĩ Thiên Chúa đã phái một hay nhiều Thiên Thần từ trời cao xuống gìn giữ mình nên mới thoát được các trận chiến kinh khủng này. Đây chỉ là “niềm tin” hay “đức tin” của một cá nhân thôi.

Trên đây là câu chuyện về trận đánh của ĐĐ11ND/TĐ1ND tại mặt trận Long Khánh. Kính mời quý vị theo dõi phần II, cuộc triệt thoái của TĐ1ND từ Mặt trận Long Khánh về Tiểu khu Phước Tuy, và sau đó là cuộc vượt biên có một không hai của QLVNCH do Lữ Đoàn I Nhảy Dù QLVNCH thực hiện vào ngày 30-Tháng-4-Đen “năm ấy”.

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/9236-tr%E1%BA%ADn-%C4%91%C3%A1nh-cu%E1%BB%91i-c%C3%B9ng-c%E1%BB%A7a-ti%E1%BB%83u-%C4%91o%C3%A0n-1-nh%E1%BA%A3y-d%C3%B9?19190=

Tình Báo trong Chiến Tranh Việt Nam – Lâm Vĩnh Thế

Lâm Vĩnh Thế

pham ngoc thao

Phạm Ngọc Thảo (cầm mi-crô), tháng 2/1965. Ảnh: Tạp chí Life.

Lâm Vĩnh Thế

Tôn Tử (544-496 Trước Công Nguyên), binh gia nổi tiếng của Trung Hoa, đã dành hẳn một chương trong cuốn Binh pháp nổi tiếng của ông, Thiên thứ 13, để bàn về vấn đề tình báo trong quân sự, cụ thể là tầm quan trọng của việc sử dụng gián điệp trong chiến tranh. Hơn 2500 năm sau khi ông mất, những gì ông viết trong Thiên thứ 13 đó vẫn còn nguyên giá trị của nó. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trong thời cận và hiện đại, từ các Thế Chiến I và II cho đến các cuộc chiến tranh địa phương, cục bộ và giới hạn, tình báo đều đóng một vai trò quan trọng. Chiến tranh Việt Nam cũng không đi ra ngoài quy luật này. Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Ðồng Minh Hoa Kỳ cũng như phe Cộng sản đều sử dụng tình báo đến mức độ tinh vi. Bài viết này được thực hiện nhằm giúp bạn đọc có một cái nhìn tổng quát về hệ thống tình báo của cả hai phe lâm chiến, và một cái nhìn chi tiết hơn trong một vài trận đánh quan trọng của cuộc chiến.

Mục Tiêu và Chức Năng của Công Tác Tình Báo

Mục tiêu của công tác tình báo là cung cấp cho các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm về chính trị và quân sự những thông tin cần thiết về mọi khía cạnh, đặc biệt là về ý đồ, của phe địch để họ có thể kịp thời đối phó và chiến thắng đối phương. Do đó, chức năng chính yếu của công tác tình báo bao gồm 3 lãnh vực chính sau đây:

• Thu thập tin tức về địch
• Phân tích / tổng hợp và đánh giá tin tức về địch
• Khai thác tin tức: suy đoán ý đồ của địch và tiên đoán hành động của địch

Ngoài chức năng chính yếu vừa kể, công tác tình báo cũng bao gồm luôn cả các lãnh vực phản gián sau đây:

• bảo vệ an ninh, đề phòng sự xâm nhập của địch vào trong hệ thống của mình
• ngụy tạo tin tức để che dấu ý đồ và đánh lừa địch

Trong lãnh vực thu thập tin tức, có rất nhiều phương thức khác nhau, trực tiếp cũng có mà gián tiếp cũng có, nhưng nói chung, hai phương thức chính là:

• qua con người (thí dụ: các điệp viên), tức là tình báo nhân sự (tiếng Anh gọi là Human Intelligence hay HUMINT)
• qua máy móc, theo dõi các tin tức của địch, tức là tình báo tín hiệu (tiếng Anh gọi là Signal Intelligence hay SIGINT) 

HUMINT bao gồm công tác thu thập tin tức từ rất nhiều nguồn tin (loại người) khác nhau, nhưng quan trọng nhứt là những tin tức do điệp viên của phe ta cung cấp bằng nhiều cách thức khác nhau, cũng như tin tức thu thập được qua thẩm vấn các tù hàng binh, các cá nhân hoạt động cho địch bị bắt hay các điệp viên của địch đã về hàng.

SIGINT bao gồm tất cả các hình thức theo dõi, chặn bắt tín hiệu truyền thông và điện tử giữa người và người, cũng như giữa máy và máy, trong đó có rất nhiều trường hợp phải giải mã vì các thông điệp đã được đối phương ngụy trang bằng mã số trước khi truyền đi. 

Do đòi hỏi của các công tác chuyên môn phức tạp vừa kể trên, các hệ thống tình báo luôn luôn phải có các trung tâm huấn luyện để đào tạo nhân viên, các trung tâm thẩm vấn để khai thác tin tức từ các người của phe địch, và phải có đầy đủ các trang thiết bị cần thiết để theo dõi và chặn bắt tín hiệu truyền thông và điện tử của phe địch. 

Hệ Thống Tình Báo của VNCH 

Những thông tin trình bày dưới đây phần lớn tập trung trong khung thời gian của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa, tức là trong thời gian cuộc chiến đã leo thang với sự tham gia của quân đội Mỹ. Trong thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, hệ thống tình báo của VNCH còn rất thô sơ, gần như chỉ là một bộ máy mật vụ với nhiệm vụ chính yếu là bảo vệ chế độ mà thôi. Cho đến cuối năm 1960, VNCH chỉ có 2 cơ quan sau đây:

• Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội: thành lập năm 1956, trực thuộc Phủ Tổng Thống, do Bác sĩ Trần Kim Tuyến chỉ huy, có nhiệm vụ chính là công tác tình báo và bảo vệ chế độ. Họạt động của Sở bên ngoài lãnh thổ VNCH rất giới hạn, chủ yếu chỉ có tại Cao Miên.1 Sở này bị giải thể năm 1962, sau vụ ném bom Dinh Ðộc Lập của 2 phi công Không Lực VNCH là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc.
• Ðoàn Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung: thành lập năm 1957, do Dương Văn Hiếu chỉ huy, có nhiệm vụ chính là công tác tình báo, phản gián, nhằm phá vỡ các tổ chức nội tuyến của Bắc Việt tại Miền Nam. Ðoàn này bị giải tán sau vụ đảo chánh ngày 1-11-1963 lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm.2 

Hệ thống tình báo của VNCH khá phức tạp, bao gồm một số cơ quan và đơn vị, với chức năng về an ninh và tình báo chồng chéo lên nhau, trong đó quan trọng nhứt là Khối Cảnh Sát Ðặc Biệt (thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia), Nha An Ninh Quân Ðội, Tổng Nha An Ninh Hành Chánh, Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Phòng 2 và Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. 

Khối Cảnh Sát Ðặc Biệt (CSÐB)

Sắc Lệnh số 17A/TT/SL do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký ngày 1-3-1971 cải tổ ngành cảnh sát công an, biến Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) thuộc Bộ Nội Vụ, thành Bộ Tư Lệnh CSQG trực thuộc Phủ Thủ Tướng.3 Khối CSÐB là một bộ phận quan trọng của Bộ Tư Lệnh CSQG, dưới quyền chỉ huy của 1 vị Trưởng Khối, Phụ Tá Tư Lệnh CSQG, Ðại Tá Huỳnh Thới Tây, về sau, ngày 1-2-1975, thăng cấp Chuẩn Tướng.

Nhiệm vụ của Khối CSÐB thuộc về 2 lãnh vực Tình Báo và Phản Tình Báo:

• Tình Báo: thu thập tin tức về phe Cộng sản và những tổ chức ngoại vi của Cộng sản thông qua 3 bộ phận là Tình Báo Diện Ðịa, Tình Báo Xâm Nhập, và Kế Hoạch Phượng Hoàng

• Phản Tình Báo: cài người vào các đoàn thể chính trị, tôn giáo, nghiệp đoàn, thanh niên, sinh viên, vv. để phát hiện các phần tử Cộng sản trà trộn vào các đoàn thể này.
Ðể thực hiện tốt nhiệm vụ vừa kể trên, Khối CSÐB đã được quy định với một hệ thống tổ chức có quy mô toàn quốc như sau:

• Tại trung ương, đứng đầu là 1 vị Trưởng Khối được xếp ngang hàng với một Tổng Giám Ðốc, bên dưới gồm một số Nha do các vị Giám Ðốc chỉ huy; đó là các Nha Tình Báo, Nha Phản Tình Báo, Nha Ðiều Hành Công Tác, và Nha Yểm Trợ; dưới các Nha có các Sở (do Chánh Sở chỉ huy), Phòng (do Chủ sự chỉ huy), và Ban (do Trưởng Ban chỉ huy) đảm trách các công tác chuyên môn khác nhau

• Tại địa phương có các cấp:

   – Cấp Ðô Thành và các Khu: do một Giám Ðốc chỉ huy, với 4 Sở (Nghiên Cứu, Huấn Luyện, Công Tác và Yểm Trợ), bên đưới có các Phòng, Ban chuyên môn
   – Cấp Tỉnh và Thị Xã: do một Trưởng F chỉ huy, được xếp ngang hàng với một Chánh Sở, bên dưới có các Trưởng G điều khiển 4 Phòng (Nghiên Cứu, Công Tác, Yểm Trợ, và Thẩm Vấn)
   – Cấp Quận: do một Trưởng G chỉ huy, được xếp ngang hàng một Chủ Sự, bên dưới có các Trưởng Ban điều khiển 4 Ban (Nghiên Cứu, Công Tác, Khai Thác, và Văn Thư + Yểm Trợ) 5

Nha An Ninh Quân Ðội

Tên của cơ quan an ninh này được giữ như thế suốt thời Ðệ Nhất Cộng Hòa cho đến ngày 19-6-1965 thì đổi thành Cục An Ninh Quân Ðội, trực thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.6 Nhiệm vụ chính yếu của Cục thuộc lãnh vực phản gián, nhằm chống lại sự xâm nhập của địch vào hàng ngũ quân nhân QLVNCH. 

Tại trung ương, Cục gồm có 5 Khối: Hành Chánh, Huấn Luyện, An Ninh, Phản Gián, và Tiếp Vận.

Tại địa phương, Cục có các đơn vị (Phòng, Ban) theo từng cấp:

• Khu: Thủ đô và tất cả 4 Vùng Chiến Thuật
• Tiểu Khu: tất cả các Tỉnh và Thị Xã
• Chi Khu: tất cả các Quận 

Ngoài nhiệm vụ chính là phản gián như vừa kể trên, Cục còn được giao một số nhiệm vụ khác về an ninh như:

• Nhận xét, cho ý kiến về các bổ nhiệm, thăng cấp trong QLVNCH
• Cấp thông hành về an ninh (security clearances) cho quân nhân và công chức
• Duyệt xét và chấp thuận cho các đơn xin xuất ngoại du học hay tu nghiệp của các quân nhân và công chức

Cục An Ninh Quân Ðội có một đội ngũ nhân sự gồm tất cả 4328 người, trong đó Tổng Hành Dinh tại Sài Gòn có 657 người, Biệt Khu Thủ Ðô có 221 người, mỗi Quân Khu có 50 người, mỗi Tiểu Khu (cấp Tỉnh) có 30 người, mỗi Chi Khu (cấp Quận) có 6 người; ngoài ra mỗi Quân Ðoàn có 20 người, và mỗi Sư Ðoàn có 25 người.7

Cục An Ninh Quân Ðội được quyền bắt giữ và thẩm vấn mọi công dân của VNCH, cả quân nhân lẫn dân sự. 

Tổng Nha An Ninh Hành Chánh

Năm 1971, sau vụ gián điệp Việt cộng Huỳnh Văn Trọng, một cơ quan an ninh tình báo cho phía dân sự, giống như Cục An Ninh Quân Ðội dành cho bên quân sự, được thành lập và mang tên là Tổng Nha An Ninh Hành Chánh.Tổng Nha này hình thành do quyết định nâng Nha An Ninh Hành Chánh của Bộ Nội Vụ lên thành Tổng Nha An Ninh Hành Chánh, đặt trực thuộc Phủ Thủ Tướng, với vị Tổng Giám Ðốc đầu tiên là Ðại Tá Nguyễn Văn Tuấn, và gồm có một số Sở. Sở đầu tiên được thành lập là Sở Huấn Luyện với vị Chánh Sở là Thiếu Tá Võ Thành Ðức (từ Khối CSÐB của Bộ Tư Lệnh CSQG đặc phái sang). Sở Huấn Luyện đã tổ chức được một vài khóa huấn luyện tại các Quân Khu cho các vị Phó Quận Trưởng Hành Chánh thuộc các tỉnh trong Quân Khu về các vấn đề An Ninh Cơ Sở, An Ninh Nhân Sự, và An Ninh Tài Liệu.9 Tổng Nha này vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển cơ sở khi Miền Nam thất trận nên chưa lập được nhiều thành tích như Cục An Ninh Quân Ðội. 

Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo

Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo (sau đây sẽ viết tắt là PÐU; tài liệu của Hoa Kỳ khi dịch sang tiếng Anh thường dùng từ Central Intelligence Organization, hay Central Intelligence Office = CIO) được thành lập bởi Sắc Lệnh số 109/TTP do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ký ngày 5-5-1961.10Tuy nhiên PÐU chỉ chính thức hoạt động từ năm 1962 sau khi hoàn tất cơ cấu tổ chức và bắt đầu tuyển dụng nhân viên và huấn luyện.11 Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm, PÐU trải qua nhiều xáo trộn với 5 vị Ðặc Ủy Trưởng (toàn là quân nhân, 4 tướng lãnh và 1 đại tá) trong 4 năm liền (1963-1967).12 Ngày 7-5-1968, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Ðặc Ủy Trưởng, bị thương nặng trong một cuộc đụng độ với Việt Cộng (trong đợt 2 của cuộc Tổng Tấn Công Mậu Thân) và được đưa ra nước ngoài trị thương. Tháng 9-1968, Trung Tá Nguyễn Khắc Bình (Bí thư của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu) được cử thay thế và PÐU được đặt trực thuộc Phủ Tổng Thống. Ðặc Ủy Trưởng Nguyễn Khắc Bình về sau thăng lên cấp Ðại Tá tháng 6-1969, thăng Chuẩn Tướng ngày 1-11-1972, và thăng Thiếu Tướng ngày 1-2-1975.13 Chính Ðặc Ủy Trưởng Bình là người đã lên kế hoạch và thực hiện việc cải tổ PÐU.

Sau khi hoàn tất việc cải tổ, PÐU có một cơ cấu tổ chức như sau: 14

SoDo_001.jpg

• Khối Kế Hoạch: bí danh là Ban A, có nhiệm vụ tổng hợp tất cả các tin từ 2 Khối Quốc Nội và Quốc Ngoại; 2 Ban quan trọng của Khối Kế Hoạch là:
– Ban A10: có nhiệm vụ soạn thảo bản tin tình báo hàng ngày để trình lên Tổng Thống vào mỗi buổi sáng 15
– Ban A8: phụ trách các công tác đặc biệt do Ðặc Ủy Trưởng giao phó
• Khối Tình Báo Quốc Ngoại: bí danh là Ban E, Khối này đặc trách công tác tình báo tại một số quốc gia như Lào, Kampuchia, Thái Lan, Nhật, Hong Kong và Pháp.
• Cục Tình Báo Quốc Nội: bí danh là Ban T, Cục này đặc trách công tác phản gián trong nước, với các 3 Phân cục được giao phó các công tác như sau:
   – Phân cục Ðiệp báo: bí danh là Ban K, thu thập tin tức của địch qua các đội công tác tại tất cả các tỉnh và thị xã.
   – Phân cục Phản gián: bí danh là Ban U, với công tác chính là cài người vào hàng ngũ địch và phát hiện những điệp viên của địch cài vào hàng ngũ của ta.
   – Phân cục An ninh Chính trị: bí danh là Ban Z, công tác chính là theo dõi, xâm nhập vào các chính đảng, phong trào, hội đoàn, nghiệp đoàn để phát hiện và phá vỡ các âm mưu xâm nhập của địch.
• Khối Yểm Trợ: bí danh là Ban Y, ngoài các công tác yểm trợ thông thường qua 2 Sở là Sở Nhân Viên và Sở Hành Chánh Tài Chánh, Khối này còn có Sở Kỹ Thuật, với bí danh là Ban M, phụ trách tất cả các công tác kỹ thuật chuyên môn trong ngành tình báo như chụp hình, quay phim, in ấn, truyền tin, nhận tin, giải mã, vv.
• Trung Tâm Huấn Luyện Tình Báo Quốc Gia: bí danh là Ban D, phụ trách huấn luyện nghiệp vụ tình báo cho tất cả nhân viên các cấp của PÐU
• Trung Tâm Quốc Gia Thẩm Vấn: bí danh là Ban Q, với nhiệm vụ chính là thẩm vấn các tù hàng binh và cán binh Cộng sản đã được chiêu hồi.

Từ tháng 11-1971, một ban mới được thành lập trong Khối Kế Hoạch với bí danh là Ban A17 do một Phụ tá Ðặc biệt của Ðặc Ủy Trưởng điều khiển, với nhiệm vụ chính là theo dõi và xâm nhập vào các phong trào và tổ chức thanh niên – học sinh – sinh viên, đặc biệt là Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, để phá vỡ các âm mưu và hoạt động của các cán bộ và đoàn viên mà Thành Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh đã cài vào các phong trào và tổ chức đó.16

Tổng số nhân viên của PÐU là 1.400 người trong đó nhân viên cao cấp có trình độ tốt nghiệp đại học chiếm đến 60%, được hưởng các quy chế đặc biệt như được hoãn dịch (gốc dân sự) hay được giải ngũ (gốc quân nhân).17 

Tuy được tổ chức rất có quy củ với ngân sách dồi dào và một lực lượng nhân sự có trình độ cao, PÐU đã không hoàn thành tốt trong công tác tình báo chiến lược vì càng ngày càng nghiêng nặng về chính trị và sau cùng trở thành một “cơ quan tình báo của Phủ Tổng Thống”.18 

Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) QLVNCH là một cơ cấu quân sự khổng lồ của VNCH với nhiệm vụ yểm trợ và điều hợp hoạt động của tất cả các quân binh chủng và các đại đơn vị của QLVNCH qua rất nhiều Nha Sở và Phòng Ban, trong đó Phòng 2 là Phòng giữ nhiệm vụ về tình báo nhân sự (HUMINT), do một sĩ quan cấp Ðại Tá chỉ huy. Vị Trưởng Phòng 2 cuối cùng của BTTM là Ðại Tá Hoàng Ngọc Lung, xuất thân Trường Sĩ Quan Nam Ðịnh, Khóa 1 (năm 1951).19 

Phòng 2 BTTM có cơ cấu tổ chức như sau: 20

SoDo_002.jpg

Tuy không phải là cơ quan tình báo duy nhứt của QLVNCH (vì ngoài Phòng 2 BTTM còn có Phòng 7 BTTM, Cục An Ninh Quân Ðội, các cơ quan tình báo của Hải Quân và Không Quân), Phòng 2 BTTM là bộ phận quan trọng nhất chịu trách nhiệm về quân báo, đặc biệt là tình báo tác chiến (combat intelligence), của QLVNCH, với một hệ thống đơn vị trực thuộc trải rộng khắp các đơn vị từ cấp Quân đoàn xuống đến cấp Tiểu đoàn, và từ cấp Vùng xuống đến cấp Chi Khu (Quận). Tại trung ương, Phòng 2 BTTTM có 2 đơn vị là Ðơn Vị 101 phụ trách thu thập tin tức tình báo, và Ðơn Vị 306 tức Trung Tâm Quân Báo phụ trách khai thác tin tức tình báo. Sĩ quan Phó Trưởng Phòng 2 đương nhiên kiêm mhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Ðơn Vị 306. 

Ðơn Vị 101

Ðơn vị này đã được đổi tên nhiều lần như sau:

• 1961-1963: Biệt Ðội Sưu Tập
• 1964-1965: Biệt Ðoàn 300
• 1965-1968: Liên Ðoàn Yểm Trợ 924
• 1968-1975: Ðơn vị 101

Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Ðơn Vị 101 là Ðại Tá Lê Ðình Luân tốt nghiệp Khóa 2 (tháng 4-1953) Trường Sĩ Quan Thủ Ðức.21 Tất cả các sĩ quan của đơn vị đều phải trải qua khóa huấn luyện tình báo tại Trường Tình Báo của Lục Quân Hoa Kỳ tại Okinawa (Nhật Bản).

Ðơn Vị 101 có tổ chức hàng dọc như sau: 22

• Ðoàn: ở cấp Vùng hay Quân Ðoàn, có tất cả 5 Ðoàn mang bí số 65, 66, 67, 68, và 69 (cho Biệt Khu Thủ Ðô), chỉ huy trưởng là một sĩ quan mang cấp bậc Trung Tá
• Toán: ở cấp Khu hay Sư Ðoàn, chỉ huy trưởng là một sĩ quan mang cấp bậc Thiếu Tá
• Lưới: ở cấp Tiểu Khu, chỉ huy trưởng là một sĩ quan mang cấp bậc Ðại Úy
Công tác thu thập tin của Ðơn Vị 101 bao gồm cả 2 lãnh vực: tình báo tác chiến và tình báo lãnh thổ (territorial intelligence) và phương thức thu thập chính được sử dụng là tình báo nhân sự (HUMINT) qua 2 lối:
• Công khai: thu thập và khai thác tin của các Phòng 2 và Ban 2 của các cấp đơn vị từ quân đoàn xuống đến tiểu đoàn, và các cấp lãnh thổ từ khu xuống đến chi khu, qua việc thẩm vấn và khai thác tin từ tù hàng binh, các tài liệu bắt được của địch, và việc chận bắt tín hiệu truyền tin của địch
• Bí mật: thu thập tin của mật báo viên của các Lưới được tổ chức cho xâm nhập vào các vùng xôi đậu, ngay cả trong hậu phương của địch 

Ðơn Vị 306 (Trung Tâm Quân Báo)

Dưới quyền chỉ huy của Phó Trưởng Phòng 2 BTTM, Ðơn Vị 306 thật ra gồm nhiều trung tâm quân báo với những chức năng khác nhau bao gồm: 23
• Trung tâm quân báo hỗn hợp: cung cấp tin tình báo tác chiến và lãnh thổ cho Phòng 2 BTTM QLVNCH, và Ban 2 của Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam (J2-MACV)
• Trung tâm khai thác tài liệu hỗn hợp: tập trung và khai thác tất cả các loại tài liệu (kể cả sách báo, phim ảnh chính thức của Bắc Việt) thu được của địch, và báo cáo cho Phòng 2 TTM và J2-MACV
• Trung tâm khai thác quân dụng hỗn hợp: tìm hiểu, khai thác tất cả các loại vũ khí, đạn dược, quân dụng tịch thu được của địch, và soạn thảo tài liệu Chiến cụ của Việt Cộng để phổ biến cho tất cả các đơn vị của QLVNCH học tập 
• Trung tâm thẩm vấn hỗn hợp: có nhiệm vụ thẩm vấn các tù hàng binh, hồi chánh viên quan trọng, từ cấp đại đội trở lên; khi tình hình chiến trường sôi động, có thể tăng phái người cho các đại đơn vị
• Trung tâm quản trị quân báo: quản trị toàn thể nhân viên quân báo tại trung ương cũng như tại địa phương.
Sau khi quân Mỹ rút khỏi VNCH, Ðơn Vị 306 được cải tổ thành các Khối như sau:
• Khối Quốc nội: gồm có các Ban như sau:
   – Ban quốc nội tại 4 Vùng Chiến Thuật
   – Ban ước tính: cung cấp các báo cáo định kỳ
   – Ban nghiên cứu: về tổ chức của địch 
• Khối Quốc ngoại: bao gồm các công tác:
   – Theo dõi tình hình Bắc Việt, đặc biệt là viện trợ của các nước Cộng sản
   – Theo dõi tình hình chính trị, quân sự của Lào và Kampuchia
   – Gồm các Ban: Bắc Việt, Ðông Nam Á, Nghiên Cứu, Liên Lạc Quốc Ngoại (phối hợp, khai thác các báo cáo của các Tùy Viên Quân Sự tại các Tòa Ðại Sứ của VNCH) 
• Khối Sưu tập: thu thập, lưu trữ, kiểm soát tất cả các loại tin thu thập được từ mật bào viên, tù hàng binh, hồi chánh viên, cũng như từ các bộ phận tình báo tín hiệu (SIGINT) 
• Khối Kế, huấn, tổ: phụ trách các lãnh vực kế hoạch, huấn luyện và tổ chức cho toàn ngành quân báo

Việc huấn luyện cho nhân viên Phòng 2 BTTM được thực hiện tại Trường Cây Mai. Trước năm 1961 Trường Cây Mai mang tên là Trường Quân Báo và Chiến Tranh Tâm Lý mà Chỉ Huy Trưởng là Thiếu Tá Phạm Văn Sơn. Từ đầu năm 1961, Trường Cây Mai đổi tên là Trường Quân Báo và bắt đầu cung cấp những khóa huấn luyện về tình báo chiến trường (Field Operation Intelligence, hay FOI) do Biệt Ðội Sưu Tập phối hợp tổ chức với các huấn luyện viên Hoa Kỳ, giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Việt. Khóa 1 gồm 16 sĩ quan, khóa 2 gồm 25 sĩ quan, và các khóa kế tiếp về sau được gửi đi học tại Okinawa, Nhật Bản.24 

Phòng 2 BTTM còn có 1 bộ phận nữa rất quan trọng, mặc dù không có hiện diện trong sơ đồ tổ chức: đó là Phòng Tình Hình (Situation Room). Phòng này được sử dụng như một trung tâm hành quân của Phòng 2 BTTM trong những thời điểm sôi động với những trận đánh lớn ngoài chiến trường, với những hệ thống truyền tin trực tiếp với các Quân đoàn, Sư đoàn, vv. để kịp thời trao đổi các tin tức về tình báo và chiến thuật với các đơn vị đang lâm chiến.25

Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

Phòng 7 BTTM QLVNCH chịu trách nhiệm về công tác tình báo tín hiệu (SIGINT) và các hoạt động về an ninh truyền tin. Về SIGINT, Phòng 7 đảm nhận cả 2 lãnh vực: Tình Báo Thông Tin (Communications Intelligence = COMINT) và Tình Báo Ðiện Tử (Electronic Intelligence = ELINT). Vị sĩ quan đã chịu trách nhiệm thành lập Phòng 7 vào năm 1964 và đảm nhận chức vụ Trưởng Phòng 7 cho đến tháng 4-1975 là Chuẩn Tướng Phạm Hữu Nhơn, tốt nghiệp Khóa Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh (1951).

Phòng 7 BTTM được tổ chức như sau: 26

SoDo_003.jpg

Phòng 7 BTTM gồm có tất cả 3.500 nhân viên phục vụ tại các đơn vị ở trung ương và một số đơn vị tại địa phương. Tại trung ương, Phòng 7 được chia thành 3 Khối, 3 đơn vị đặc biệt và Biệt Ðội Kỹ Thuật. Tại địa phương, nhân viên của Phòng 7 hoạt động trong 4 Trung Tâm SIGINT tại Ðà Nẵng (Vùng I), PLeiku (Vùng II), Sài Gòn (Vùng III), và Cần Thơ (Vùng IV).

Khối I gồm có 3 Ban: 3, 4 và 5. Ban 3 phụ trách giữ liên lạc với các Phòng 2 (Tình Báo) và Phòng 3 (Hành Quân) của BTTM, cập nhật thông tin về tình hình địch, soạn thảo và phổ biến các báo cáo về tình báo kỹ thuật. Ban 4 soạn thảo các báo cáo về không thám và phát hiện điện đài, theo dõi các chuyến bay và báo cáo những thay đổi về kỹ thuật của các điện đài của địch. Ban 5 xử lý các cung từ của tù hàng binh liên quan đến tình báo tín hiệu, các bản tin của các đài bạn (BBC, VOA) và địch, soạn thảo các bản tin hàng ngày, và duy trì liên lạc với các cơ quan tình báo dân sự và quân sự khác về những vấn đề có liên quan đến tình báo tín hiệu.

Khối II gồm 2 Ban, Ban 6 và Ban 7, và phụ trách về an ninh truyền tin. Ban 6 xử lý các dữ liệu kỹ thuật và soạn thảo các báo cáo về an ninh truyền tin và đề nghị những biện pháp sửa chữa. Ban 7 nghiên cứu các biện pháp an ninh về mật mã, duy trì liên lạc với Phòng 6 (Phản Gián) của BTTM và tổ chức thanh tra về mật mã trong toàn quân.

Khối III, gồm 3 Ban là Ban 8, Ban 9 và Ban 10, chịu trách nhiệm về nghiên cứu, cải thiện, và phối hợp giữa yểm trợ và huấn luyện. Ban 8 lo về các vấn đề tổ chức, tuyển mộ, hoạt động, yểm trợ, bảo trì và vận chuyển. Ban 9 chịu trách nhiệm về kiểm tra các kế hoạch hoạt động ngắn hạn. Ban 10 lo về huấn luyện chuyên viên, theo dõi huấn luyện, và soạn thảo tài liệu huấn luyện.

Ðơn Vị 15, trong khoảng thời gian 1961-70, là đơn vị duy nhất chịu trách nhiệm về kiểm thính. Về sau công tác này được giao cho các trung tâm SIGINT tại các vùng chiến thuật, và đơn vị này được giao nhiệm vụ giải mã các thông địch được mã hóa của địch.

Ðơn Vị 16 chịu trách nhiệm về an ninh truyền tin cho QLVNCH và một số cơ quan trọng yếu của chính phủ, soạn thảo các báo cáo về các vi phạm an ninh truyền tin, thanh tra các cơ sở về mật mã và tài liệu mật, và phối hợp với Phòng 6 (Phản Gián) của BTTM để duyệt xét các thủ tục về mật mã trong QLVNCH.

Ðơn Vị 17, được thành lập vào năm 1970 để phối hợp với hai Phi Ðoàn 716 và 718 của Không Quân VNCH trong việc thiết lập các phi trình cho các phi vụ tình báo tín hiệu. Các Phi Ðoàn này là đơn vị của Không Ðoàn 33 thuộc Sư Ðoàn 5 Không Quân đóng tại căn cứ Tân Sơn Nhất. Phi Ðoàn 716 có 5 chiếc phi cơ U-6A, và Phi Ðoàn 718 có 33 chiếc phi cơ EC-47.

Bốn Trung Tâm SIGINT tại 4 vùng chiến thuật có trách nhiệm thu thập tin tức qua các công tác kiểm thính và khám phá địa điểm phát tuyến của các điện đài của địch. Ðể hỗ trợ cho hoạt động của các Trung Tâm này còn có thêm một số trạm kiểm thính tại Phú Bài (Vùng I), Sông Mao (Vùng II), Vũng Tàu (Vùng III) và đảo Côn Sơn. Tại các vùng chiến thuật, mỗi sư đoàn bộ binh đều có 1 đơn vị thuộc Biệt Ðội Kỹ Thuật chịu trách nhiệm về tình báo tín hiệu.
Hệ Thống Tình Báo của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ cũng có 2 hệ thống tổ chức tình báo song hành tại VNCH. Ðó là Trạm CIA Sài Gòn (CIA Saigon Station, Central Intelligence Agency = Cơ quan Trung Ương Tình Báo) nằm trong Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn và Ban 2 của Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam (J2-MACV).

Trạm CIA Sài Gòn

Trong thời gian Chiến Tranh Việt Nam, từ 1961đến 1975, Trạm CIA Sài Gòn đã trải qua các đời Trưởng Trạm (Chief of Station, hay COS) sau đây:
• 1961-1962: William Colby, về sau trở thành Giám Ðốc CIA (Director of Central Intelligence, hay DCI) 1973-1976
• 1962-1963: John Richardson
• 1963-1965: Peer de Silva
• 1965: John L. Hart
• 1966: John Lapham
• 1966-1968: Gordon L. Jorgensen
• 1968-1972: Theodore Shackley
• 1972-1975: Thomas Polgar 

Trạm CIA Sài Gòn không những thu thập tin tình báo về Việt Cộng mà còn theo dõi tất cả các hoạt động của chính phủ VNCH, và, sau khi Hoa Kỳ gửi quân tham chiến tại Miền Nam, soạn thảo và phổ biến những báo cáo hàng tuần về tình hình tại VNCH và cuộc chiến. Loại báo cáo hàng tuần này, với tựa đề là “Situation in South Vietnam,” thường gồm khoảng 20-30 trang với một số bản đồ và biểu đồ, và được thực hiện theo một dàn bài thống nhất như sau: 27

• Toát yếu
• Bản đồ Nam Việt Nam
• Tình hình Miền Nam Việt Nam
– Tình hình chính trị
– Tình hình quân sự
– Xây dựng nông thôn
• Bản đồ Bắc Việt Nam
• Các phát triển trong Khối Cộng sản
• Các phát triển tại các nước đệ tam
• Phụ đính:
– Thống kê chiến trường của QLVNCH: số thương vong
– Thống kê chiến trường của QLVNCH: số các cuộc giao tranh và tấn công của địch
– Các chỉ số kinh tế của VNCH
– Thống kê giá bán lẻ hàng tuần tại Sài Gòn

Ngoài ra, 
Trạm CIA Sài Gòn còn thực hiện rất nhiều công tác an ninh tình báo khác tại VNCH trong suốt thời gian chiến tranh. Công tác được nói đến nhiều nhất là Chiến dịch Phượng Hoàng nhằm nhận diện và tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (Việt Cộng) tại nông thôn Miền Nam. Từ 1965 cho đến 1972, Chiến dịch Phượng Hoàng đã “vô hiệu hóa” tổng cộng 81.740 cá nhân bị tình nghi là người của Mặt Trận,28 và “góp phần tiêu diệt và phá hoại đến 95% cơ sở cách mạng ở một số khu vực tại miền Nam Việt Nam.” 29

J2-MACV

Khi Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự của Hoa Kỳ tại VNCH (MACV = Military Assistance Command Vietnam) được thành lập vào tháng 2-1962, sau rất nhiều tranh cãi trong chính phủ của Tổng Thống John F.Kennedy, và đặt dưới quyền chỉ huy của một vị tướng 4-sao, Ðại Tướng Paul Harkins, vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong việc giúp đỡ chính phủ VNCH chống lại phong trào nổi dậy (counterinsurgency) của Cộng sản tại Miền Nam được nâng lên một tầm quan trọng cao hơn. Lúc đó Phái Bộ Cố Vấn Viện Trợ Quân Sự của Hoa Kỳ tại VNCH (MAAG = Military Assistance Advisory Group dưới quyền chỉ huy của một vị tướng 3-sao, Trung Tướng Lionel C. McGarr) vẫn còn tiếp tục hoạt động thêm một thời gian gần một năm mới bị hủy bỏ và hoàn toàn sáp nhập vào MACV. Tuy nhiên, trong một thời gian hơn 3 năm (từ tháng 2-1962 đến tháng 3-1965), bộ phận J2-MACV chỉ làm nhiệm vụ cố vấn, hỗ trợ và huấn luyện cho hệ thống quân báo của VNCH mà thôi. Ðứng đầu J2-MACV lúc đó chỉ là một sĩ quan cấp Ðại Tá, Ðại Tá James M. Winterbottom, một sĩ quan Không Quân.30 Ðầu năm 1964, sau khi cuộc cải tổ cơ cấu chỉ huy của MACV được hoàn tất, do đề nghị của Tướng Harkins và được Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara chấp thuận, cấp số của chức vụ Phụ Tá Tham Mưu Trưởng MACV, Trưởng Ban 2 (Assistant Chief of Staff MACV, J2) được nâng từ cấp Ðại Tá lên cấp Tướng. Ngày 15-1-1964, Chuẩn Tướng Carl A. Youngdale, thuộc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, được cử làm Trưởng J2-MACV và tổng số nhân viên của J2 tăng từ 76 lên 135 người.31 J2-MACV lần lượt hoạt động dưới quyền chỉ huy của các vị tướng sau đây:

• Từ 1-1962 đến 7-1965: Chuẩn Tướng Carl A. Youngdale, Thủy Quân Lục Chiến, hồi hưu với cấp bậc Thiếu Tướng
• Từ 7-1965 đến 5-1967: Thiếu Tướng Joseph A. McChristian, Lục Quân, hồi hưu với cấp bậc Thiếu Tướng
• Từ 5-1967 đến 5-1969: Thiếu Tướng Philip B. Davidson, Lục Quân, về hưu với cấp bậc Trung Tướng
• Từ 5-1969 đến 8-1972: Thiếu Tướng William E. Potts, Lục Quân, hồi hưu với cấp bậc Trung Tướng

Về phần MACV, vì không tán thành chủ trương lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Tướng Harkins có mâu thuẫn lớn với Ðại sứ Hoa Kỳ lúc đó là ông Henry Cabot Lodge, Jr., và sau cùng bị thay thế bằng phó tướng của ông là Trung Tướng (3-sao) William C. Westmoreland, được thăng lên cấp Ðại Tướng (4-sao) vào cùng ngày 1-8-1964 khi được cử nắm giữ chức vụ Tư Lệnh MACV.

Sau khi Hoa kỳ ồ ạt đưa quân bộ chiến vào VNCH năm 1965 (vào cuối năm 1965, quân số Hoa Kỳ tại Miền Nam đã tăng từ 23.000 lên đến 184.000), nhu cầu về tình báo chiến trường (combat intelligence) của MACV gia tăng mãnh liệt. Cấp số của Trưởng Ban J2-MACV cũng được nâng thêm một bậc từ cấp Chuẩn Tướng lên cấp Thiếu Tướng. Thiếu Tướng Joseph A. McChristian được cử thay thế Chuẩn Tướng Carl A. Youngdale từ tháng 7-1965. Về sau những người kế nhiệm Trưởng J2-MACV đều mang cấp Thiếu Tướng: Thiếu Tướng Philip B. Davisdon và Thiếu Tướng William E. Potts. 

Cả 3 vị Thiếu Tướng vừa nêu tên bên trên tiếp tục mở rộng và phát triển J2-MACV về cả 2 mặt thu thập và khai thác tin tình báo, đồng thời phối hợp hoạt động rất chặt chẽ với phía VNCH.

Với đà phát triển mạnh mẽ đó, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Joseph A. McChristian, đến giữa năm 1967, J2-MACV đã có tổng số nhân viên trên 600 người.32 với một cơ cấu tổ chức như trong biểu đồ sau đây: 33 

SoDo_004.jpg

Thật ra, số người mà J2-MACV điều động còn cao hơn rất nhiều. Theo tường trình của chính Thiếu Tướng McChristian, các đơn vị tình báo thuộc Lục Quân Hoa Kỳ đặt dưới sự điều động của ông vào tháng 6-1967 đã có tổng số nhân sự từ 102 tăng lên đến 2.466, và tổng số cố vấn (cho các cơ quan tình báo của VNCH) đã từ 218 tăng lên đến 622. Các đơn vị tình báo thuộc Lục Quân Hoa Kỳ nói trên bao gồm các đơn vị sau đây: 34

• Ðoàn 525 Quân Báo (525th Military Intelligence Group) 
• Ðoàn 149 Quân Báo (149th Military Intelligence Group) có nhiệm vụ Thu Thập tin)
• Tiểu Ðoàn 1 Quân Báo (1st Military Intelligence Battalion; phụ trách Yểm Trợ Không Thám = Air Reconnaissance Support) có nhiệm vụ cung cấp không ảnh cho các đơn vị tác chiến)
• Tiểu Ðoàn 519 Quân Báo (519th Military Intelligence Battalion) cung cấp nhân sự và yểm trợ cho các Trung Tâm Hỗn Hợp)
Riêng Ðoàn 525 Quân Báo thì chịu trách nhiệm điều động các đơn vị quân báo sau đây:
• Một đại đội tín hiệu (a signal company) có trách nhiệm chận bắt truyền tin của các đơn vị địch
• Một phân đội không quân (an aviation detachment) có trách nhiệm thực hiện và diễn giải các không ảnh về hoạt động của các đơn vị địch
• Ðoàn 135 Quân Báo (135th Military Intelligence Group) phụ trách công tác phản gián, với các tổ phân phối khắp 4 Vùng Chiến Thuật bên cạnh các tổ của Cục An Ninh Quân Ðội VNCH) 

Phối Hợp Công Tác Tình Báo Giữa VNCH và Hoa Kỳ

Vì khối lượng rất lớn cũng như mức độ phức tạp của tin tức tình báo (cộng thêm sự khác biệt về ngôn ngữ Anh-Việt), và vì cùng chiến đấu chống lại một kẻ địch chung, Phòng 2 Bộ TTM QLVNCH và Ban J2-MACV đã đồng ý thiết lập một số cơ quan và đơn vị tình báo hỗn hợp để chia sẻ tin tức và phối hợp hoạt động. Vị sĩ quan QLVNCH đồng nhiệm với Thiếu Tướng McChristian, Trưởng J2-MACV, là Ðại Tá Hồ Văn Lời, Trưởng Phòng 2 BTTM QLVNCH. Ðại Tá Hồ Văn Lời, sinh năm 1928 tại Ðịnh Tường, là một sĩ quan hiện dịch thuộc Bộ Binh, tốt nghiệp Khóa 3 Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt (Khóa Trần Hưng Ðạo, năm 1951).35 Sự thỏa thuận giữa hai nước đồng minh trong cuộc chiến đưa đến sự hình thành và hoạt động của 4 Trung Tâm Hỗn Hợp về tình báo: Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Sự Hỗn Hợp (Combined Military Interrogation Center – CMIC), Trung Tâm Khai Thác Tài Liệu Hỗn Hợp (Combined Document Exploitation Center – CDEC), Trung Tâm Khai Thác Quân Dụng Hỗn Hợp (Combined Materiel Exploitation Center – CMEC), và Trung Tâm Tình Báo Hỗn Hợp Việt Nam (Combined Intelligence Center Vietnam – CICV). 

Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Sự Hỗn Hợp

Công tác thẩm vấn các tù hàng binh và hồi chánh viên được cả 2 phía Việt Mỹ đặt ưu tiên cao trong công tác tình báo hỗn hợp. Các trung tâm thẩm vấn quân sự được thiết lập tại các quân đoàn và sư đoàn. Riêng tại các tiểu khu (tỉnh) thì các trung tâm thẩm vấn được đặt dưới quyền điều khiển CSQG (đơn vị CS đặc biệt của địa phương), nhưng khi cần thì các đơn vị quân báo Việt-Mỹ cũng được quyền sử dụng. Trung tâm thẩm vấn hỗn hợp trung ương (CIMC) được đặt tại Sài Gòn, dưới sự chỉ huy kết hợp của Trung Tá Frederick A. Pieper, Thiếu Tá Lawrence Sutton và Ðại Úy Lâm Văn Nghĩa.36 

Công tác thẩm vấn được thực hiện theo những quy định rất chặt chẽ. Trước tiên là sự phân biệt rõ rệt giữa tù hàng binh và hồi chánh viên. Hồi chánh viên luôn luôn được đối xử một cách thân thiện và đặc biệt hơn, với chủ đích tạo cho họ cảm giác ấm áp, và cho họ thấy rõ là sự “trở về” của họ rất được hoan ngênh. Trong thời gian thẩm vấn, hồi chánh viên cũng được thoải mái, có nhiều tự do hơn. Sau khi chấm dứt thẩm vấn, họ được quyền chọn trung tâm chiêu hồi mà họ muốn về làm việc. Một số hồi chánh viên quan trọng, như Thượng Tá Tám Hà, Chính Ủy Sư Ðoàn 5 (Việt cộng), hồi chánh tại Bình Dương năm 1970, hay Trung Tá Lê Xuân Chuyên, thuộc bộ đội chính quy của Bắc Việt, hồi chánh tại Bình Tuy năm 1967, đã được chính phủ VNCH cử nhiệm vào một số chức vụ quan trọng tại Bộ Dân Vận Chiêu Hồi hay Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.37

Tuy có phân biệt đối xử, nhưng về nội dung thẩm vấn thì hoàn toàn giống nhau đối với tù hàng binh hay hồi chánh viên, với mục tiêu nhằm khai thác tin tức về 5 lãnh vực sau đây:

• Lực lượng địch bên ngoài lãnh thổ của VNCH, nghĩa là tại Bắc Việt, Miên, và Lào.
• Lực lượng địch bên trong lãnh thổ của VNCH.
• Chiến thuật, vũ khí, quân dụng, hạ tầng cơ sở và các hoạt động tâm lý chiến của địch.
• Phản gián: các kế hoạch và hoạt động phá hoại, cài người (nội tuyến) vào các cơ sở của VNCH và các quân đội đồng minh.
• Lộ trình, hành lang, và phương thức xâm nhập từ Miền Bắc.

Các báo cáo thẩm vấn thực hiện tại các trung tâm thẩm vấn địa phương phải được đánh giá về mức độ quan trọng của tin tức khai thác được, và sau đó chuyển về trung ương. Các đối tượng thẩm vấn cũng phải được xếp hạng về chức vụ của họ trong hệ thống của địch quân và tầm quan trọng của tin tức mà họ cung cấp. Tùy theo mức độ quan trọng, đối tượng thẩm vấn sẽ được bảo vệ và di chuyển nhanh hay chậm về các trung tâm thẩm vấn ở cấp cao hơn, hay có thể đưa về ngay Trung Tâm Thẩm Vấn Trung Ương tại Sài Gòn.

Sau khi thẩm vấn hoàn tất, các tù hàng binh sẽ được đưa ra giam giữ tại trại giam trên đảo Phú Quốc.

Trung Tâm Khai Thác Tài Liệu Hỗn Hợp

Tài liệu thu thập được của địch cũng là một nguồn tin tình báo rất quan trọng. Cả hai cơ quan quân báo của VNCH (Phòng 2 BTTM) và Hoa Kỳ (J2-MACV) đã đồng ý thành lập Trung Tâm Khai Thác Tài Liệu Hỗn Hơp, đặt trụ sở gần căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt và bắt đầu hoạt động từ ngày 24-10-1966, với trên 300 nhân viên quân sự và dân sự Việt Mỹ. 

Tiến trình khai thác tài liệu của địch gồm các giai đoạn sau đây:

• Phân loại tài liệu 
• Ðánh giá tài liệu
• Phiên dịch tài liệu
• Phân phối tài liệu

Trong công tác phân loại, tài liệu của địch được phân ra làm 5 loại như sau:

• Loại A: cần phải được xử lý ngay lập tức, ví du một bản kế hoạch của địch nhằm phục kích một đơn vị bạn, với kết quả được thông báo ngay bằng “đường dây nóng” (hot line) cho đơn vị bạn.
• Loại B: tài liệu có giá trị tình báo chiến lược, thí dụ như các giấy ban khen có ghi tên cá nhân và đơn vị phục vụ, hay các sổ sách ghi chép thành phần, quân số, vị trí đóng quân của các đơn vị địch; loại tài liệu này sẽ nhanh chóng được dịch sang tiếng Anh để phổ biến và đánh số tài liệu ngay; phần lớn tài liệu được xử lý tại Trung Tâm thuộc loại tài liệu này.
• Loại C: tài liệu không có giá trị tình báo, thí dụ một tấm bản đồ của Châu Phi; loại tài liệu này sẽ không được xử lý mà chuyển giao ngay cho phía VNCH để tùy nghi.
• Loại D: loại tài liệu tuyên truyền, thí dụ một tờ truyền đơn kêu gọi lính Mỹ viết thư cho một tổ chức phản chiến chẳng hạn; loại này bao gồm cả các loại giấy bạc của Bắc Việt; loại này cũng không được xử lý tại Trung Tâm, tài liệu tuyên truyền thì được chuyển giao cho các cơ quan chiến tranh tâm lý, giấy bạc thì chuyển cho các cơ quan thích hợp.
• Loại E: loại tài liệu về mật mã truyền tin, loại tài liệu này cũng sẽ không được xử lý tại Trung Tâm mà chuyển giao ngay cho các cơ quan về SIGINT. 

Sau đó, các tài liệu thuộc 2 loại A và B sẽ được chuyển đến một nhóm các chuyên viên cao cấp về tài liệu để họ viết ra các bản tóm lược nội dung cho từng tài liệu. Những tài liệu quá chi tiết sẽ được chuyển đến Ban Dịch Thuật để được dịch sang tiếng Anh toàn văn tài liệu. 

Trong suốt thời gian hoạt động, Trung Tâm đã xử lý một số lượng tài liệu rất lớn, lên đến hàng triệu trang. Xin đơn cử một thí dụ để minh họa: nội trong 2 tháng đầu năm 1967, với 2 cuộc Hành Quân lớn của quân đôi Mỹ (Cedar Falls, tháng 1-1967, trong Vùng Tam Giác Sắt; và Junction City, tháng 2-1967, tại Chiến Khu C ở Tây Ninh), gần một triệu trang tài liệu tịch thu được của địch đã được xử lý tại Trung Tâm. Khoảng 10% của tổng số tài liệu này đã được tóm lược hay chuyển dịch sang tiếng Anh và phân phối đến các cơ quan và đơn vị.

Với những trang thiết bị tối tân nhứt của thập niên 1960, trong đó có cả máy in có thể in đến 6.000 trang một giờ, Trung Tâm đã có thể cung cấp, ngay từ đầu năm 1967, mỗi ngày 1.400 cân anh (pounds) tài liệu đã được tóm lược, chuyển dịch và sao chụp. Tất cả các tài liệu đều được chụp vi phim, làm bảng dẫn (indexed) và đưa vào một hệ thống máy tính (IBM 1401) đặt tại Trung Tâm Tình Báo Hỗn Hợp Việt Nam (CICV).38

Trung Tâm Khai Thác Vũ Khí Hỗn Hợp

Ðối với giới quân sự, thông tin về tất cả các loại quân dụng do địch quân sử dụng được xem là rất quan trọng và cần thiết. Trung Tâm Khai Thác Quân Dụng Hỗn Hợp được thành lập để hai quân đội đồng minh Việt-Mỹ chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về vũ khí của địch.

Trung Tâm được giao cho nhiệm vụ thu thập và khai thác tất cả các loại vũ khí và quân dụng của địch. Công tác khai thác bao gồm các mặt: xem xét (observation), xác định (identification), phân tích (analysis), và đánh giá (evaluation). Mục tiêu của công tác khai thác là tìm hiểu cặn kẽ khả năng và giới hạn của vũ khí – quân dụng, thông báo các thông tin này cho các cơ quan và đơn vị có liên hệ để tìm biện pháp đối phó. 

Trung Tâm được tổ chức với các đơn vị chuyên môn như sau:39

• Ban Hình Ảnh (Graphics Section): thực hiện và cung cấp các ảnh vẽ và hình chụp
• Phòng Thí Nghiệm (Laboratory): thực hiện các phân tích hóa học cần thiết để xác định thành phần của các chất lạ
• Ban Truyền Thông và Ðiện Tử (Communications-Electronics Section): khai thác tất cả các loại quân dụng có liên hệ đến truyền tin, nhiếp ảnh, và điện tử
• Ban Cơ Ðộng (Mobility Section): phân tích và đánh giá tất cả các loại mìn bẫy cũng như các quân dụng và vật liệu về công binh, vận tải, và xây dựng 
• Ban Vũ Khí và Ðạn Dược (Weapons and Munitions Section): xem xét (tháo ra từng mảnh), phân tách và đánh giá tất cả các loại vũ khí và đạn dược tịch thu được của địch
• Ban Y Khoa (Medical Section): đánh giá các loại tiếp liệu, thiết bị, và khả năng về y khoa của địch
• Ban Tiếp Liệu và Thiết Bị Tổng Quát (General Supply and Equipment Section): phân tích và đánh giá các trang phục, vật dụng cá nhân, lương thực, các sản phẩm về dầu khí, và các thiết bị hóa học, vi trùng và quang tuyến của địch. 

Tất cả các loại vũ khí – quân dụng tịch thu được của địch từ các đơn vị chiến đấu đều được chuyển về các cấp lữ đoàn hoặc sư đoàn và từ đó chuyển về cho Trung Tâm để khai thác, ngoại trừ các trường hợp cần khai thác ngay tại chổ thì Trung Tâm sẽ gửi các toán cơ động (“Go” Teams) đến để thực hiện công tác này.

Trung Tâm Tình Báo Hỗn Hợp Việt Nam

Cả 3 Trung Tâm vừa kể trên đều có một mục tiêu chung là tạo ra một cơ sở dữ liệu trung ương (centralized database), tối cần thiết cho hoạt động hữu hiệu của Trung Tâm Tình Báo Hỗn Hợp Việt Nam (CICV).

Tòa nhà dành cho Trung Tâm được khánh thành ngày 17-1-1967 và Trung Tâm được đặt dưới sự chỉ huy của Ðại Tá Frank I. Schaf, Jr. và Thiếu Tá Cao Minh Tiếp, về nhân sự gồm có tất cả 651 nhân viên Mỹ và 164 nhân viên Việt, với sơ đồ tổ chức như sau:40

SoDo_005.jpg

Trung Tâm hoạt động 24 giờ mỗi ngày với các ca nhân viên luân phiên nhau. Mục tiêu của Trung Tâm là tập hợp, biên soạn và cung cấp tin tình báo về mọi lãnh vực (quân số, diện địa, không ảnh, mục tiêu, vv.) cho các Ban 2 (Tình Báo) của tất cả các đơn vị tác chiến Việt-Mỹ từ cấp Quân đoàn xuống đến cấp Tiểu đoàn. 

Với một lực lượng nhân viên đông đảo như vậy, cộng thêm một cơ sở dữ liệu trung ương được tự động hóa (của Bộ Phận Xử Lý Ðiện Tử, sử dụng máy tính tối tân nhứt của thời đó là máy INM 360-30) và chứa đựng các thông tin về mọi lãnh vực đã được thu thập từ những Trung Tâm Hỗn Hợp kể trên và đã được các chuyên viên phân tích và đánh giá, CICV đã có thể hoạt động với hiệu quả cao trong việc cung cấp một cách nhanh chóng và kịp thời tất cả các loại tin tức tình báo cần thiết cho các cơ quan an ninh cũng như các đơn vị tác chiến. 

Hệ Thống Tình Báo Của Phe Cộng Sản

Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, tại Bắc Việt, cơ quan tình báo chiến lược là Cục Tình Báo thuộc Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam. Cục Tình Báo, hay còn gọi là Cục 2, được thành lập ngày 10-6-1957 do việc hợp nhất 2 cơ quan là Nha Liên Lạc (thuộc Phủ Thủ Tướng, Giám Ðốc là ông Trần Hiệu) và Cục Quân Báo (Bộ Quốc Phòng), và vị Cục Trưởng đầu tiên cũng chính là ông Trần Hiệu (năm 1958, ông Trần Hiệu được phong quân hàm Ðại Tá).41,42 Về phía dân sự, sau sự hợp nhất này, Bắc Việt không còn có một cơ quan trung ương về tình báo nữa. Công tác tình báo dân sự được giao cho Bộ Công An với mạng lưới nhân viên dày đặc từ trung ương xuống đến tận các đơn vị cấp nhỏ nhất tại địa phương như Phường, Khóm, Xã, Ấp. Chính nhờ mạng lưới này, Bắc Việt đã ngăn chận được sự xâm nhập của các toán điệp viên của VNCH được gửi ra từ Miền Nam. 

Cục 2 có đầy đủ các Phòng, Ban chuyên môn phụ trách tất cả các lãnh vực chuyên môn về tình báo như thu thập tin (bao gồm cà tình báo nhân sự –HUMINT—và tình báo tín hiệu –SIGINT–, phân tích và đánh giá tin, truyền và thông báo tin, và cả phản gián. 

Cụ thể, Cục 2 gồm có tất cả 6 Khối với trách nhiệm như sau: 43 

• Khối Hành Chánh: lo về nhân viên, lý lịch, thăng thưởng, kỷ luật, vv
• Khối Kỹ Thuật: thu thập tất cả các loại tài liệu của VNCH như giấy căn cước, con dấu, chữ ký để làm căn cước giả, cũng như cung cấp mọi vật liệu và máy móc cần thiết cho các điệp viên xâm nhập vào Miền Nam
• Khối Truyền Tin: điều hành các hệ thống truyền tin giữa Cục 2 với các đơn vị phụ thuộc, với các cơ quan tình báo chiến lược khác, và với các điệp viên do Cục 2 điều động ở Miền Nam
• Khối Huấn Luyện: phụ trách huấn luyện nhân viên trong nước cũng như gửi đi học tại Liên Xô và Trung Quốc từ 6 tháng đến 2 năm
• Khối Bảo Vệ: lo mảng công tác phản gián, theo dõi các đối tượng tình nghi phản động, và ngăn chận người của VNCH xâm nhập và phá hoại
• Khối Thu Thập: được tổ chức thành nhiều Ban; mỗi Ban chịu trách nhiệm thu thập tin tại một quân khu ở Miền Bắc; đặc biệt 3 Ban quan trọng nhứt chịu trách nhiệm tại 3 vùng Chiến trường C (VNCH), B (Lào), và C (Kampuchia); có cả 1 Ban chịu trách nhiệm về Hoa Kỳ

Tại Miền Nam, vì Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (hay Việt Cộng) chỉ là một công cụ của Bắc Việt, mọi việc quan trọng về chính trị và quân sự đều do Trung Ương Cục Miền Nam quyết định. Trung Ương Cục Miền Nam (sau đây sẽ viết tắt là TUC; tài liệu của Mỹ thường gọi là COSVN = Central Office for South Vietnam) là cơ quan do Ðảng Lao Ðộng Việt Nam (tức Ðảng Cộng sản Việt Nam tạm thời đổi tên vào năm 1951) thành lập năm 1961 để thay cho Xứ Ủy Nam Bộ, với nhiệm vụ tiến hành cuộc nổi dậy tại Miền Nam với các Bí Thư liên tiếp sau đây: Nguyễn Văn Linh (1961-1964), Nguyễn Chí Thanh (1964-1967), và Phạm Hùng (1967-1975), tất cả đều là Ủy Viên Bộ Chính Trị của Ðảng Lao Ðộng Việt Nam. 

Về mặt công tác tình báo, TUC, thật ra, chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi lãnh thổ của Vùng III và Vùng IV của VNCH mà thôi (tức là 3 Quân Khu 7, 8, và 9 của Việt Cộng). Công tác tình báo tại các phần lãnh thổ còn lại của VNCH (tức là Vùng I và Vùng II) vẫn thuộc sự điều khiển của Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam (xuyên qua Cục Tình Báo, tức là Cục 2). Do đó, hệ thống tổ chức tình báo của phe Cộng sản có sơ đồ tổ chức như sau: 44

SoDo_006.jpg

Ghi chú: 

• Chiến trường B3 là mật ngữ của phe Cộng sản dùng để chỉ vùng Cao Nguyên Trung Phần của VNCH
• Quân Khu T.Thiên-Huế: gồm các tỉnh Quảng Trị, ThừaThiên và Thành phố Huế
• Quân Khu 5: gồm các tỉnh duyên hải Trung và Nam Trung Phần là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa
• Quân Khu 6: gồm các tỉnh duyên hải Nam Trung Phần là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy và các tỉnh phía Nam Cao Nguyên Trung Phần là Darlac, Quảng Ðức, Tuyên Ðức và Lâm Ðồng
• Quân Khu 7: gồm các tỉnh Miền Ðông Nam Bộ
• Quân Khu 8: gồm các tỉnh Tiền Giang
• Quân Khu 9: gồm các tỉnh Hậu Giang, Miền Tây Nam Bộ 

Với hệ thống tổ chức như trong sơ đồ bên trên, việc cung cấp tin tức tình báo cho các sư đoàn Bắc Việt đã xâm nhập vào Miền Nam và hoạt động trong Vùng I và Vùng II Chiến Thuật của VNCH hoàn toàn do Cục 2 đảm trách.

Trong khu vực trách nhiệm của mình, tức là 2 Vùng III và Vùng IV của VNCH, TUC có một bộ phận chuyên lo công tác an ninh và tình báo gọi là Cục An Ninh gồm có 3 bộ phận với các nhiệm vụ chính như sau: 45

• Ban Nội thám: với bí danh K-35, có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ an ninh cho mật khu; có quyền theo dõi, bắt giam, hỏi cung, điều tra, giam giữ cán bộ chiến sĩ và thường dân; ngăn chận sự xâm nhập của các điệp viên của VNCH
• Ban Ngoại thám: có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo qua hệ thống điệp viên và nội tuyến; cung cấp tất cả những dụng cụ, vũ khí cần thiết cho các điệp viên và nội tuyến
• Ban Bảo vệ: bảo vệ yếu nhân, lãnh tụ của TUC và Mặt Trận; đơn vị được chỉ định làm công tác này là Trung Đoàn Bảo Vệ 180 gồm 2 Tiểu Ðoàn D-1 và D-2; D-1 phụ trách bảo vệ lãnh tụ và cơ sở; D-2 phụ trách bảo vệ ngoại vi.

Ngoài các tổ chức, cơ quan, đơn vị chính thức như vừa trình bày bên trên, phe Cộng sản còn có được tai mắt trong dân chúng qua cái gọi là “hệ thống tình báo nhân dân” ở khắp nơi trong lãnh thổ của VNCH, điều mà VNCH không làm được tại Miền Bắc.

Hoạt Ðộng Xâm Nhập Của Hai Bên

Ngoài các hoạt động công khai của các cơ quan tình báo vừa kể trên, cả VNCH và Bắc Việt đều có thực hiện một số điệp vụ bí mật qua các công tác gửi người, cài người, kể cả trường kỳ mai phục, vào lãnh thổ, cơ quan, tổ chức của cả hai bên. 

VNCH Gửi Kiệt Kích Xâm Nhập Bắc Việt

Trong thời gian 300 ngày chuyển tiếp của việc thi hành Hiệp Ðịnh Genève 1954, một tổ CIA, dưới sự chỉ huy của Ðại Tá Edward Lansdale, đã tuyển mộ (từ các đảng viên của 2 chính đảng có chủ trương chống Cộng sản là Ðại Việt và Quốc Dân Ðảng), huấn luyện và gài đặt lại một số tổ tình báo ở Miền Bắc. Kế hoạch “trường kỳ mai phục” này của CIA tương đối thành công vì lúc đó Bắc Việt chưa kiện toàn bộ máy an ninh của họ. Các tổ tình báo này hoạt động được hơn một thập niên nhưng sau cùng cũng bị lộ, bị bắt giam, và đưa ra tòa xét xử. Vụ án xét xử 10 gián điệp (tất cả đều là đảng viên Quốc Dân Ðảng, với 2 bản án tử hình) tại tòa án Hải Phòng vào tháng 4-1965 đã làm chấn động Miền Bắc, như chúng ta thấy trong hình sau đây: 46Anh_001Tòa Án Hải Phòng Xét Xử Vụ Án Gián Ðiệp Tháng 4-1965 (Xuất xứ của ảnh: Lấy từ sách “Spies and Commandos,” tr. 13)

Trong thập niên 1960, VNCH, với sự yểm trợ tích cực về tài chánh và kỹ thuật của CIA, đã gửi nhiều điệp viên và các toán biệt kích ra Miền Bắc với mục đích thực hiện một số công tác về thu thập tin tức, tuyển mộ điệp viên, và phá hoại. Cơ quan của VNCH hợp tác với CIA trong kế hoạch này là một đơn vị tình báo lúc đầu trực thuộc Phủ Tổng Thống dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Quang Tung (sau thăng lên cấp Ðại Tá, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Ðặc Biệt), với tên gọi thay đổi nhiều lần: Phòng Liên Lạc Phủ Tổng Thống, Phòng 45, Sở Bắc, Sở Khai Thác Ðịa Hình. Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, Sở Khai Thác Ðịa Hình bị giải tán, và ngày 12-2-1965, Nha Kỹ Thuật được thành lập để đảm nhận công tác tình báo này và được đặt trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. 

Lúc đầu, kế hoạch này chỉ gửi từng điệp viên đơn độc ra nằm vùng tại Miền Bắc (trong ngữ vựng của CIA gọi là các “singletons”). Ðiệp viên đầu tiên được gửi ra Miền Bắc trong kế hoạch này là Phạm Chuyên, một cựu đảng viên Cộng Sản của tỉnh bộ Quảng Ninh, đã từ bỏ đảng và di cư vào Nam. Chuyên được huấn luyện rất kỹ trong hơn 1 năm và sau đó được bí mật đưa ra ém ở Cẩm Phả, trong vùng Vịnh Hạ Long, vào tháng 4-1961, với bí danh là ARES. Nhưng chỉ được hơn 2 tháng thì ARES đã bị bắt. ARES đã hàng địch, trở thành công cụ của địch, và gửi nhiều điện văn về để lừa CIA. Lúc đó CIA vẫn chưa biết sự phản bội của ARES, vẫn tiếp tục chương trình ”singletons” này. Kết quả là, cũng giống như ARES, các “singletons” kế tiếp, với các bí danh HIRONDELLE, HERO, TRITON, ATHENA, đều “biến mất” hết một cách bí mật. Sang năm 1962, tuy vẫn chưa nghi ngờ ARES, CIA đã bắt đầu không còn tin tưởng vào hiệu quả của chương trình “singletons” nữa và bắt đầu chuyển sang chương trình cho các toán biệt kích, từ 3 đến 8 người, nhảy dù xuống Miền Bắc. Riêng về “singleton” ARES, thì từ 1966 CIA đã bắt đầu nghi ngờ và khi họ bố trí cho ARES “trở ra” (exfiltrate) thì ARES không làm theo chỉ thị; lúc đó CIA mới biết chắc ARES đã trở thành công cụ của tình báo BẮc Việt và chấm dứt liên hệ với ARES. Tuy nhiên tình báo Bắc Việt vẫn tiếp tục sử dụng ARES và ARES vẫn tiếp tục gừi điện về cho mãi đến tận năm 1968.47 

Chương trình đưa biệt kích ra Miền Bắc chính thức bắt đầu bằng NSAM 28 (NSAM = National Security Action Memorandum No. 28, ngày 9-3-1961), theo đó Tổng Thống John F. Kennedy (1961-1963) ra chỉ thị cho CIA phát động chiến tranh du kích tại Miền Bắc. Trong tháng 4-1961 xảy ra vụ đổ bộ tại Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) ở Cuba do CIA tổ chức bị thất bại nặng nề, Tổng Thống Kennedy mất tin tưởng vào khả năng tổ chức những công tác bán quân sự bí mật của CIA. Cuối tháng 6-1961, một loạt NSAM ra đời (NSAM 55, 56 và 57, cùng ngày 28-6-1961) nhằm chuyển giao loại công tác đó qua cho Bộ Quốc Phòng, với CIA trong vai trò yểm trợ mà thôi.

CIA, thật ra, đã chuẩn bị từ trước. Họ đã tuyển người (tất cả đều là người gốc Miền Bắc), huấn luyện (tại căn cứ huấn luyện ở Long Thành, về sau trở thành Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng) và chuẩn bị cho chuyến xuất phát đầu tiên vào ngày 27-5-1961. Toán biệt kích gồm 4 người này được đặt bí danh là CASTOR, với người chỉ huy là Trung sĩ Hà Văn Chấp, cùng 3 toán viên là Ðinh Văn, Quách Thưởng và Phạm Công Thương,48được thả xuống vùng đồi 828, thuộc tỉnh Sơn La. Người phi công lái chiếc máy bay C-47 chở toán CASTOR đó chính là Tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc đó ông còn mang lon Thiếu Tá và là Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn Vận Tải của Không Quân VNCH). Toán CASTOR không tồn tại được lâu, họ bị Công An Vũ Trang của Bắc Việt phát hiện, bao vây và đã phải đầu hàng sau 3 ngày. Cũng như với vụ ARES, Bắc Việt cũng giữ kín vụ bắt được toán CASTOR. CIA hoàn toàn không nghi ngờ gì cả và tiếp tục gửi toán thứ nhì gồm 3 người với bí danh là ECHO vào ngày 2-6-1961. Còn tệ hơn toán CASTOR, cả toán ECHO 3 người này đều bị bắt vào ngay hôm sau. CIA không biết là toán ECHO đã bị địch bắt và 12 ngày sau lại gửi toán thứ ba, bí danh DIDO, gồm 4 người thuộc sắc dân thiểu số Thái Ðen, vào Lai Châu. Lần này, phi công của chiếc máy may C-47 vẫn là Thiếu Tá Nguyễn Cao Kỳ. Toán DIDO cũng không may mắn hơn toán ECHO. Họ bị bắt hết tại biên giới Việt-Lào vào khoảng 10 ngày sau. Khoảng hơn một tháng sau ngày toán CASTOR nhảy xuống Sơn La, ngày 29-6-1961, đài tiếp vận BUGS của CIA ở Phi Luật Tân nhận được điện của CASTOR. Không biết CASTOR đã bị bắt và hàng địch, CIA rất vui mừng và thông báo cho CASTOR biết 4 ngày sau sẽ gửi đồ tiếp tế cho CASTOR. Theo kế hoạch, chuyến bay này sẽ lại do Thiếu Tá Nguyễn Cao Kỳ điều khiển nhưng vào giờ chót đã có sự thay đổi và phi công là Trung Úy Phan Thanh Vân. Chiếc C-47 này đã bị đơn vị phòng không của Bắc Việt bắn hạ khi bay ngang không phận của Hòn Né, gần bờ biển của tỉnh Ninh Bình, và rớt trong một khu đồn điền cách bờ biển khoảng 20 km. Tất cả phi hành đoàn đều bị thương, sau đó có 4 người chết vì vết thương quá năng, 3 người còn sống bị đưa ra tòa xét xử vào tháng 11-1961. Ðể tiếp tục đánh lừa CIA và cơ quan tình báo của VNCH về CASTOR, Bắc Việt đã dàn cảnh cho 3 người này khai trước tòa là phi vụ của họ là để tiếp tế cho 1 toán biệt kích trong vùng tỉnh Hòa Bình (chớ không phải cho toán CASTOR ở Sơn La). Phòng 45 của Trung Tá Lê Quang Tung và CIA tin là toán CASTOR vẫn còn là phe ta, chương trình cài biệt kích này đã thành công nên lại tiếp tục gửi các toán biệt kích ra Bắc. Toán biệt kích kế tiếp mang bí danh là EUROPA và gồm 5 người gốc Mường. Lần này, phi cơ được sử dụng là loại C-54, phi công vẫn là ông Kỳ lúc này đã thăng lên cấp Trung Tá. Chiếc C-54 này bay thẳng từ Sài Gòn (không cần phải ghé để được tiếp nhiên liệu như chiếc C-47 của các lần trước) ra Bắc và thả toán EUROPA xuống vùng Hòa Bình. Ngày hôm sau cả toán EUROPA 5 người Mường này đều bị bắt. Lại dùng phương thức cũ, tình báo Bắc Việt lại để cho người của toán EUROPA gửi điện về. CIA và Phòng 45 lại tin là thêm một phi vụ thành công nữa.49 Việc đưa biệt kích ra Bắc lại được CIA tiếp tục với các toán ATLAS (tháng 3-1962), REMUS (tháng 4-1962), TOURBILLON (tháng 5-1962), và EROS (tháng 6-1962), và, cũng như các toán trước, các toán này đều bị Công An Vũ Trang của Miền Bắc phát hiện, truy lùng và bắt giữ hết. 

Kể từ mùa Hè năm 1962, thực thi các NSAM 55, 56 và 57, Chính phủ Hoa Kỳ giao lại công tác này cho Bộ Quốc Phòng, và CIA chỉ còn giữ vai trò yểm trợ mà thôi. Phái bộ quân sự Mỹ tại VN, MACV (thành lập ngày 8-2-1962 thay thế cho MAAG = Military Assistance Advisory Group) cho thành lập đơn vị SOG (lúc đầu mang tên là Special Operations Group, sau đổi tên lại là Studies and Observations Group). Thành viên của SOG hoàn toàn là người tình nguyện, phần lớn thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt của quân đội Mỹ. Trong thời gian 1962-1963, VNCH trải qua nhiều xáo trộn chính trị nghiêm trọng. Vì những xáo trộn chính trị này của VNCH, nên mãi đến tháng 4-1964, SOG mới triển khai hoạt động với các đơn vị của cơ quan tình báo mới của QLVNCH là Nha Kỹ Thuật thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. 

Vào đầu năm 1963, Sở Khai Thác Ðịa Hình được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt (LLÐB) và vẫn do Ðại Tá Lê Quang Tung chỉ huy. Sau cuộc đảo chánh 1-11-1963, Lực Lượng Ðặc Biệt không còn đảm nhận công tác tình báo nữa. Sở Bắc (Phòng 45 đổi tên) được tách ra khỏi LLÐB, và cải danh thành Sở Khai Thác và trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM). Sau đó Sở Khai Thác được đổi tên một lần nữa thành Sở Kỹ Thuật, và ngày 12-2-1965 được nâng cấp lên thành Nha Kỹ Thuật thuộc BTTM,50 với sơ đồ tổ chức như sau:

(Sơ đồ tổ chức này được trình bày dựa trên thông tin lấy ra từ tài liệu trực tuyến Nha Kỹ Thuật, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại địa chỉ Internet )

SoDo_007.jpg

Các công tác của Nha Kỹ Thuật được phân chia cho các cơn vị trực thuộc như sau:
• Sở Công Tác: đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng; nhiệm vụ của các Ðoàn thuộc Sở này là xâm nhập bằng đường hàng không hay đường bộ vào lòng địch tại Miền Bắc hay các vùng biên giới với Lào và Kampuchia.
• Sở Liên Lạc: đóng tại Sài Gòn; nhiệm vụ của các Chiến Ðoàn (Biệt Kích Lôi Hổ) thuộc Sở này là xâm nhập vào hậu tuyến của địch trong lãnh thổ của VNCH từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam
• Sở Phòng Vệ Duyên Hải: đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng; Lực Lượng Hải Tuần có trách nhiệm tuần tra, bảo vệ bờ biển, chận bắt tàu bè của địch xâm nhập vùng biển của VNCH; Lực Lượng Biệt Hải có nhiệm vụ huấn luyện và đưa người nhái xâm nhập Miền Bắc với phương tiện của Hải Tuần
• Sở Tâm Lý Chiến: đóng tại Sài Gòn; với nhiệm vụ tổ chức và điều hành hai đài phát thanh Tiếng Nói Tự Do và Gươm Thiêng Ái Quốc hướng về Miền Bắc.
• Sở Không Yểm: đóng tại Sài Gòn; có nhiệm vụ phối hợp các phi đoàn của Không Quân VNCH trong việc thả, rút, liên lạc và hướng dẫn các toán kiệt kích xâm nhập Miền Bắc và hậu phương địch. 
• Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng: đóng tại Long Thành; có nhiệm vụ huấn luyện cho các toán biệt kích.
Sự thành lập Nha Kỹ Thuật của BTTM với đầy đủ tất cả các đơn vị và phương tiện cần thiết cho việc xâm nhập Miền Bắc, với sự yểm trợ tích cực của SOG về phía Hoa Kỳ, thật ra không cải thiện được hiệu quả của công tác này.

Ngay từ cuối năm 1963, vào ngày 20 tháng 11, một cuộc họp hết sức quan trọng đã diễn ra tại Honolulu, Hawaii, với các giới chức cao cấp nhứt của chính phủ Mỹ, gồm Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara, Bộ Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk, Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Kennedy McGeorge Bundy, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (CINCPAC = Commander-In-Chief, Pacific) Ðô Ðốc Harry D. Felt, Giám Ðốc CIA John McCone, Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Henry Cabot Lodge và Tư Lệnh MACV Ðại Tướng Paul Harkins. Cuộc họp có mục đích thảo luận về việc chuyển giao công tác xâm nhập người của VNCH ra Miền Bắc từ CIA sang cho MACV-SOG. William Colby, cựu Trưởng Trạm CIA tại Sài Gòn, người từng chủ trương, cổ vũ, và đích thân thực hiện công tác này tại VNCH, lúc đó đã thăng cấp và đảm nhiệm chức vụ Trưởng Phân Bộ Viễn Ðông (Far Eastern Division Chief) của CIA, đã được Giám Ðốc CIA McCone chỉ định thuyết trình về công tác gửi người xâm nhập Miền Bắc. Ông đã tỏ ra rất bi quan khi ông cho biết phần lớn các toán biệt kích gửi ra Miền Bắc đều “đã bị bắt hay đã bị giết chết.” Trong phần kết luận, ông nói trắng ra như sau: “It isn’t working, and it won’t work any better with the military in charge.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Chuyện đó không làm được, và cũng sẽ không làm được gì khá hơn với quân đội lãnh trách nhiệm”).51

Dĩ nhiên, lời cảnh báo này của Colby không được nghe theo và SOG cùng với các đơn vị của Nha Kỹ Thuật thuộc BTTM QLVNCH vẫn tiếp tục việc gửi các toán biệt kích xâm nhập ra Miền Bắc, với kết quả là “đem con bỏ chợ.” Tất cả biệt kích đều bị bắt, bị tra tấn tàn bạo, và bị giam cầm trong các trại lao cải ở Miền Bắc trong hàng chục năm trời. Gia đình của một số biệt kích quân được báo tin là họ đã tử trận, một số được lãnh tiền bồi thường tử tuất. CIA và quân đội Mỹ đã hoàn toàn bỏ rơi họ. Dân quân VNCH hoàn toàn không biết gì hết về số phận của những người lính biệt kích này. Mãi đến sau năm 1975, khi một số sĩ quan QLVNCH đi học tập cải tạo ở Miền Bắc được thả về, kể lại chuyện được gặp các biệt kích quân đó trong các trại cải tạo, dân chúng Miền Nam mới có những thông tin đầu tiên về số phận của các biệt kích quân này. 

Chương trình gửi người xâm nhập Miền Bắc để thực hiện các công tác tình báo của VNCH, trong một thời gian khá dài, với những chi phí rất tốn kém, đã thất bại hoàn toàn. Có 2 lý do chính cho sự thất bại này: 1) VNCH không có được một hạ tầng cơ sở tại Miền Bắc để hỗ trợ cho loại công tác này; và, 2) Hệ thống an ninh của Miền Bắc quá chặt chẽ khiến cho các biệt kích rất dễ bị phát hiện, truy lùng và bắt giữ. 

Miền Bắc Cài Người Hoạt Ðộng Tại Miền Nam

So với VNCH, Miền Bắc có nhiều thuận lợi hơn trong việc cài người ở Miền Nam. Có 2 lý do chính cho việc này: 1) Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, 1945-1954, Việt Minh nắm trọn quyền điều khiển Kháng Chiến; đảng viên Cộng sản có mặt khắp nơi trong Miền Nam; khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết, trong việc tập kết quân đội tại Miền Nam để chuyển ra Bắc, một số khá lớn đảng viên Cộng sản đã nhận được lệnh ở lại Miền Nam; và 2) Phong trào di cư của người Bắc vào Nam trong thời gian 100 ngày sau khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết vào tháng 7-1954 tạo cơ hội quá tốt cho Hà Nội cài người. Ðó là nguồn nhân lực rất quan trọng cho Cộng sản sử dụng trong việc cài người trong dân chúng cũng như bộ máy chính quyền (cả chính trị và quân sự) của VNCH. Phần lớn những người này đã có mặt, sinh sống, và làm việc như mọi người dân khác của Miền Nam, ngay cả trước khi VNCH được thành lập, nên họ đều có một vỏ bọc rất tốt, giúp họ dễ dàng xâm nhập, len lỏi, và “chui sâu, trèo cao” trong guồng máy chánh trị và quân sự của VNCH. Sau đây là một vài nhận vật thật nổi tiếng trong số những người này.

Trong số những người theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp nhưng đã không tập kết ra Bắc mà ở lại Miền Nam nổi tiếng nhất là Phạm Ngọc Thảo.52 Trong thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, ông đã xâm nhập được vào quân đội Miền Nam, được chế độ Ngô Ðình Diệm tin dùng và bổ nhiệm vào chức vụ Tỉnh Trưởng tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) lúc ông đang mang cấp Trung Tá. Sau tháng 11-1963, ông thăng lên cấp Ðại Tá và đã tham gia vào cuộc đảo chánh ngày 19-2-1965 chống Tướng Nguyễn Khánh nhưng thất bại vì sự chống đối của các tướng trẻ. Sau vụ này ông bỏ trốn nhưng bị bắt và bị giết chết. Mãi đến năm 1987, phe Cộng Sản mới công khai xác nhận ông Thảo là người của họ, truy tặng ông cấp bậc Ðại Tá của Quân Ðội Nhân Dân và danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân. 

Phạm Ngọc Thảo

Phạm Ngọc Thảo-1965

Trong số những người Cộng sản lợi dụng phong trào di cư năm 1954 để vào Nam hoạt động nổi tiếng nhất phải kể đến Vũ Ngọc Nhạ, đảng viên Cộng sản từ năm 1947. Tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh ngày 30-3-1928 tại Thái Bình, Bắc Việt, xuất thân từ một gia đình theo Công giáo, sinh sống trong vùng Phát Diệm nổi tiếng chống Cộng dưới sự lãnh đạo của Giám Mục Lê Hữu Từ, bản thân có theo học mấy năm ở một chủng viện, và đã theo làn sóng người Công giáo di cư vào Nam sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, và sau đó lại được Linh Mục Hoàng Quỳnh đỡ đầu, Vũ Ngọc Nhạ đã thoát được không bị kết án sau khi bị Ðoàn Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung của Ngô Ðình Cẩn phát hiện và bắt giam tại Huế vào tháng 12-1958. Một thời gian sau, cũng lại với cái vỏ bọc Công giáo đó, cùng với bài viết vào cuối năm 1959 “Bốn nguy cơ đe dọa chế độ” dự đoán sẽ có đảo chánh và sau đó có đảo chánh xảy ra thật sự vào ngày 11-11-1960, Nhạ đã được Ngô Ðình Cẩn tin dùng và sau đó giới thiệu cho hai người anh là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Nhạ được hai anh em họ Ngô giao cho nhiệm vụ liên lạc với khối Công giáo di cư nhưng chưa lập được thành tích gì thì chế độ nhà Ngô sụp đổ. Sau đảo chánh 1-11-1963, Nhạ tiếp tục làm việc với cha Hoàng Quỳnh, và sau đó được cha Hoàng Quỳnh giới thiệu với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Nhạ lại được Tướng Thiệu sử dụng trong việc móc nối với khối Công giáo. Khi Tướng Thiệu trở thành Tổng Thống, Nhạ thường được Tổng Thống Thiệu tham khảo về một số vấn đề chính trị có liên quan đến khối Công giáo. Nhạ được lệnh của Hà Nội tổ chức 1 cụm tình báo chiến lược với bí danh A-22, trong đó có Huỳnh Văn Trọng, lúc đó chính thức là Cố Vấn của Tổng Thống Thiệu. Cụm A-22 gồm một số những người đã từng bị Ðoàn Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung phát hiện và giam giữ tại Huế. Ðây là một sơ hở của Nhạ khiến cho CIA phát hiện được cụm A-22 và lập hồ sơ chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam. Giữa tháng 7-1969, tất cả 42 người hoạt động cho Cụm A-22 đều bị bắt và đưa ra toà xét xử vào tháng 11-1969. Ðây là một vụ án gián điệp rất nghiêm trọng gây chấn động trong chính trường của VNCH vì các bị cáo đều là người có chức vụ khá cao trong chính phủ như sau:

• Vũ Ngọc Nhạ: “cố vấn” bán chính thức của Tổng Thống Thiệu
• Huỳnh Văn Trọng: cố vấn về đối ngoại của Tổng Thống Thiệu
• Vũ Hữu Ruật: Tổng Thư Ký của Ðảng Dân Chủ, Thành bộ Sài Gòn
• Lê Hữu Thúy: Công Cán Ủy Viên Bộ Thông Tin – Chiêu Hồi
• Nguyễn Xuân Hòe, Công Cán Ủy Viên Phủ Tổng Thống
• Hoàng Hồ, Dân Biểu Quốc Hội (đã bỏ trốn; sau đó Quốc Hội đã bỏ phiếu truất quyền) 

1427

Huỳnh Văn Trọng ( giữa ) và Vũ Ngọc Nhạ đùa vui sau khi lãnh án 20 năm

Vũ Ngọc Nhạ bị kết án tù chung thân và đưa ra Côn Ðảo. Năm 1973, sau Hiệp Ðịnh Paris, Nhạ được trao trả cho Cộng sản. Sau năm 1975, Nhạ công tác tại Cục 2 (cơ quan phụ trách tình báo của Việt Nam) với cấp bậc Thượng Tá và sau đó thăng lên Ðại Tá. Năm 1988, Nhạ được thăng cấp Thiếu Tướng. Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh.53

phamxuanan

Nhà báo Phạm Xuân Ẩn

Người điệp viên nổi tiếng nhất của Miền Bắc hoạt động tại Miền Nam là Phạm Xuân Ần. Khác với Phạm Ngọc Thảo và Vũ Ngọc Nhạ, Ần đã tạo được kỳ tích là hoạt động trong suốt mấy chục năm mà hoàn toàn không bị phát hiện hay tạo ra nghi ngờ gì cả trong giới tình báo Hoa Kỳ và VNCH. Ần sinh ngày 12-9-1927 tại Biên Hòa, học tiểu học tại Trường Tiểu học Marc Ferrando ở Sài Gòn, học trung học ở Cần Thơ. Năm 1954 ông bị động viên và làm việc cho quân đội Pháp một thời gian. Ông là điệp viên duy nhứt của Miền Bắc đã từng du học 2 năm (1957-1959) về ngành báo chí tại Ðại Học Cộng Ðồng Orange Coast College, thuộc thành phố Costa Mesa, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Nhờ vào đó, ông là một trong số rất ít người Việt Nam được nhận làm phóng viên cho các hãng truyền thông Anh Mỹ như Reuters, Time, Christian Science Monitor. Nhờ vỏ bọc này, Ần đã có giao thiệp rộng rãi với các nhà báo Mỹ, qua đó tạo được quan hệ rất tốt với nhiều giới chức Mỹ-Việt, và nhờ vậy đã cung cấp được cho Hà Nội nhiều tin tức tình báo chiến lược rất quan trọng. Sau năm 1975, ông được phong Thiếu Tướng, và được ban danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân. Ông mất ngày 20-9-2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh.54 Cuộc đời ông đã được ghi lại trong một cuốn sách thuộc loại bán chạy nhất (Best-seller) tại Hoa Kỳ của tác giả Giáo sư Chính Trị Học Larry Berman thuộc Ðại Học California, Davis với nhan đề là: Perfect spy: the incredible double life of Pham Xuan An, Time Magazine reporter and Vietnamese Communist agent (New York: Smithsonian Books, 2007; 328 tr.). 

Một điều cũng đáng được lưu ý là cả 3 điệp viên nổi tiếng này của Miền Bắc, Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ần, sau khi qua đời, đã được an táng gần nhau trong cùng nghĩa trang Lạc Cảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài 3 điệp viên nổi tiếng trên mà phần đông mọi người đều có nghe nói đến, cũng nên kể đến một điệp viên thứ tư, ít người biết, là điệp viên H3, là một hạ sĩ quan, tên Nguyễn Văn Minh (sinh năm 1933, tại Hưng Yên, vào Nam sinh sống từ lúc còn nhỏ), làm việc ngay trong văn phòng của Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH. Sau năm 1975, H3 được phong quân hàm Ðại Tá, và ban danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân. (Sẽ đề cập đến H3 trong phần bên dưới của bài viết).

Nói chung, nhờ có được nhiều điều kiện thuận lợi hơn, Miền Bắc tương đối thành công hơn Miền Nam trong việc cài người xâm nhập vào hệ thống chính trị và quân sự của đối phương.

Tình Báo Trong Một Số Trận Ðánh Quan Trọng 

Trong suốt thời gian khoảng trên dưới 20 năm chiến tranh đó, hệ thống tình báo của cả 2 phe đã hoạt động rất tích cực và đạt hiệu quả khá cao nhưng vẫn không tránh khỏi có những thất bại rất nghiêm trọng. Phần này của bài viết cố gắng tìm hiểu, phân tích và đánh giá các hoạt động tình báo của cả 2 phe trong 2 trận đánh quan trọng và tiêu biểu của 2 giai đoạn trong Chiến tranh Việt Nam: 1) Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (tháng 2-1968) của giai đoạn có quân Mỹ tham chiến; và 2) Trận Ban Mê Thuột (tháng 3-1975) sau Hòa Ðàm Paris và quân Mỹ đã rút khỏi Miền Nam. 

Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (Tháng 2-1968)

Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân bắt đầu vào ngày 31-1-1968 (mùng 2 Tết Mậu Thân) trên khắp các thành phố của VNCH là một bất ngờ rất lớn trong cuộc chiến tranh vì cả 2 phe lâm chiến đều đã đồng ý hưu chiến 3 ngày trong thời gian Tết. Phần lớn quân nhân, công chức của VNCH đều được nghỉ phép để về quê ăn Tết với gia đình (kể cả Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng về ăn Tết ở quê vợ là Mỹ Tho). Việc không tiên đoán được cuộc tấn công với quy mô lớn như vậy của phe Cộng Sản là một thất bại rất lớn về tình báo của cả VNCH và Hoa Kỳ. Câu hỏi cần phải đặt ra là tại sao VNCH và Hoa Kỳ, với một hệ thống tình báo to lớn, đầy đủ và tinh vi như vậy mà không phát hiện được sự chuẩn bị của phe Cộng sản cho cuộc tổng tấn công này. Ðể có thể trả lời câu hỏi quan trọng này, chúng ta cần phải tìm hiểu những diễn biến trong cuộc chiến từ sau khi Hoa Kỳ đưa quân bộ chiến vào Miền Nam từ tháng 3-1965.

Sau cuộc đổ bộ của 5.000 Thủy Quân Lục Chiến vào Ðà Nẵng ngày 8-3-1965, quân số Mỹ tại Miền Nam đã gia tăng một cách vô cùng nhanh chóng: 55

• Cuối năm 1965: tổng số quân Mỹ là184.300
• Cuối năm 1966: tổng số quân Mỹ là 385.300 
• Cuối năm 1967: tổng số quân Mỹ là 485.600 

Trong mùa khô 1966-1967, trong chiến lược “lùng và diệt địch” (search and destroy) của Tướng Tư Lệnh MACV Westmoreland, quân đội Mỹ đã tổ chức ít nhứt là 5 cuộc hành quân lớn (cấp sư đoàn) tấn công vào các mật khu, căn cứ an toàn, và các trung tâm hậu cần của phe Cộng sản: 56

• Hành quân Attleboro: tại Dầu Tiếng (Tây Ninh), từ ngày 14-9 đến ngày 24-11-1966
• Hành quân Paul Revere IV: tại Thung lũng Plei Trap (phía Tây Pleiku, gần khu vực ba biên giới), từ ngày 20-10 đến ngày 30-12-1966
• Hành quân Thayer II: tại BÌnh Ðịnh, từ ngày 25-10-1966 đến ngày 12-2-1967
• Hành quân Cedar Falls: trong khuTam Giác Sắt (Bến Cát, tỉnh Bình Dương ), từ ngày 8 đến 26-1-1967
• Hành quân Junction City: trong Chiến Khu C (Tây Ninh, nơi đóng tổng hành dinh của TUC), từ ngày 22-2 đến ngày 14-5-1967 (đây là cuộc hành quân trực thăng vận Việt-Mỹ lớn nhứt trong Chiến tranh Việt Nam, với tổng số 25.000 quân tham chiến) 

Các cuộc hành quân này, cùng với rất nhiều những cuộc hành quân khác của QLVNCH và các quân đội đồng minh trong thời gian 1966-1967 đã gây thiệt hại rất nặng nề về quân số (cả Việt cộng và Bắc Việt), tổ chức (mật khu, khu an toàn), và hậu cần (lương thực, vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng) của phe Cộng sản. Tổng hành dinh của TUC (COSVN) trong Chiến Khu C phải dời sang lãnh thổ của Kampuchia. Tinh thần cán bộ, binh sĩ Cộng sản bị dao động, sa sút rất nghiêm trọng; điều này thể hiện rất rõ trong các quyển nhật ký của binh sĩ Bắc Việt tịch thu được trong các cuộc hành quân Việt-Mỹ. Số cán binh Cộng sản về hồi chánh cũng gia tăng lên rất nhiều. 

Về mặt an ninh lãnh thổ của VNCH, chương trình bình định (Pacification) trong các vùng nông thôn cũng đang tạo được nhiều thành quả đáng kể từ giữa năm 1967 với những số thống kê như sau: 

• 67% dân chúng sinh sống trong các vùng do chính phủ VNCH kiểm soát
• 222 quận (trong tổng số 242) được xem là có an ninh
• 8.650 ấp (trong tổng số 12.600) đã được bình định xong

Robert W. Komer (1922-2000), đứng đầu Chương trình CORDS (Civil Operations and Revolutionary Development Support) của MACV phụ trách về bình định (gồm cả Chương trình Phượng Hoàng—Phoenix Program—với mục tiêu là tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Mặt Trận Giải Phóng—VCI = Viet Cong Infrastructure), đã lạc quan báo cáo về tình hình Chiến tranh Việt Nam cho Tổng Thống Johnson vào ngày 28-2-1967 như sau: “…wastefully, expensively, but nonetheless indisputably, we are winning the war in the South.” 57 (xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “…phí phạm, tốn kém nhưng không thể chối cãi được, chúng ta đang thắng cuộc chiến tại Miền Nam”). 

Cũng trong thời gian này, về phương diện chính trị, VNCH đã vượt qua được thời kỳ hỗn loạn và đã thành công tạo được sự ổn định với Hiến Pháp 1967 đưa đến việc thành lập của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa vào cuối năm 1967.58

Tất cả các điều này đã tạo ra cho các cấp lãnh đạo Việt-Mỹ (kể cả các cấp lãnh đạo về tình báo) một tinh thần lạc quan quá trớn đưa đến sai lầm trong nhận định và đánh giá về quyết tâm và khả năng của phe Cộng sản.

Việc tiến hành cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã được lãnh đạo của Ðảng Lao Ðộng Việt Nam quyết định tại Hà Nội trong phiên họp của Bộ Chính Trị vào ngày 7-7-1967,59 và ngày khởi sự cuộc tấn công đã được định là ngày 29-1-1968, tức là ngày Mùng 1 Tết Mậu Thân, sau đó được dời lại một ngày, là ngày 30-1-1968, tức là Mùng 2 Tết Mậu Thân.60 Như vậy, VNCH và Hoa Kỳ đã có một khoảng thời gian gần 7 tháng mà vẫn không tiên đoán được về cuộc tấn công và hoàn toàn bị bất ngờ. Có đúng thật là hệ thống tình báo của VNCH và Mỹ đã hoàn toàn bất lực? Sự thật không phải như vậy. Cả VNCH và Hoa Kỳ đều có nắm được một số tin tình báo về cuộc tấn công này.

Về phía VNCH, Phòng 2 BTTM QLVNCH đã nhận được một số tin tức và tài liệu của phe Cộng sản như sau: 61 

• Tháng 3-1967: một tài liệu tịch thu được của Công Trường 5 (tức là Sư Ðoàn 5 của Việt Cộng) về một kế hoạch tấn công vào Sài Gòn
• Ðầu tháng 10-1967: tài liệu học tập về Nghị Quyết 13 của Trung Ương Ðảng Lao Ðộng Việt Nam, kêu gọi thực hiện một cuộc tổng tấn công để đạt chiến thắng nhanh chóng 
• Cũng trong tháng 10-1967: một tài liệu của Chiến Trường B-3 (mật danh của phe Cộng sản để chỉ vùng Cao Nguyên Trung Phần của VNCH), tịch thu được tại Dakto, đề cập đến những chuẩn bị với quy mô lớn cho Chiến dịch Ðông-Xuân 1968
• Cuối tháng 11-1967: một tài liệu đề ngày 1-9-1967, với tựa đề “Sứ mạng mới, công tác mới,” đề cập đến một cuộc tấn công lớn cùng với một cuộc tổng nổi dậy của dân chúng với tên tắt là “TCK-TKN” (viết tắt cho cụm từ Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa) 
• Một số tài liệu lẻ tẻ đề cập đến cách tác chiến trong thành phố, một hình thức chiến thuật trước kia không bao giờ được đề cập đến trong các tài liệu tịch thu được

Như vậy, rõ ràng là tình báo VNCH có nắm được một số tin về ý đồ của phe Cộng sản cho một cuộc tấn công quy mô lớn vào các thành phố của VNCH. Vậy tại sao các cấp lãnh đạo của hệ thống tình báo VNCH đã không khuyến cáo chính phủ để chuẩn bị đối phó với cuộc tổng tấn công đó khiến cho VNCH hoàn toàn bị bất ngờ. Có hai lý do chính: 1) Cũng cùng tâm trạng lạc quan như các cấp lãnh đạo chính trị và quân sự, giới lãnh đạo tÌnh báo VNCH không tin là phe Cộng sản, trong tình trạng sa sút tinh thần trầm trọng của cán binh và sự thiệt hại nặng nề về vật chất (quân số, tiếp liệu, vv) trong các năm 1966-1967, có thể thực hiện nổi một cuộc tổng tấn công như vậy; nhận định và đánh giá của giới tình báo VNCH là: “Địch có ý đồ nhưng không có khả năng.” Giới tình báo VNCH tin rằng ngay như nếu họ có báo động thì các cấp lãnh đạo quân sự cũng sẽ không tin.62 2) Nhận định và đánh giá vừa kể cũng dựa trên tin tưởng là địch vẫn còn trong Giai đoạn 1 của Chiến lược mà họ đã theo đuổi từ lâu. Chiến lược này đã từng được áp dụng rất thành công trong Kháng chiến chống Pháp (1946-1954), nên lại được áp dụng một lần nữa trong cuộc chiến tranh này và gồm 3 giai đoạn: 1) Giai đoạn 1: Phòng ngự, 2) Giai đoạn 2: Chuẩn bị tổng tấn công, và 3) Giai đoạn 3: Tổng tấn công. Giới tình báo VNCH không tin là phe Cộng sản có khả năng tiến thẳng từ giai đoạn 1 sang ngay Giai đoạn 3

Về phía Hoa Kỳ, cách nhận định và đánh giá tin của giới tình báo có phần hơi khác với phía VNCH. Thời gian 7 tháng (từ ngày 7-7-1967 cho đến 30-1-1968) có thể chia làm 2 giai đoạn:

• Từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 11-1967: giới tình báo Hoa Kỳ, đồng quan điểm với giới tình báo VNCH, tin rằng phe Cộng sản vẫn còn trong Giai đoạn 1, nghĩa là không tin vào khả năng hiện thực của cuộc tổng tấn công
• Từ đầu tháng 12-1967: giới tình báo Hoa Kỳ, dựa trên những tin tức mới, đã tin là kế hoạch tổng tấn công của phe Cộng sản là có thật và họ đã có tiến hành việc chuẩn bị đối phó với cuộc tổng tấn công này

Chúng ta cố gắng tìm hiểu xem mọi việc đã xảy ra như thế nào về phía Hoa Kỳ trong giai đoạn từ đầu tháng 12-1967 trở đi.

Trước hết, trong tháng 12-1967, tình báo Hoa Kỳ đã ghi nhận một số lượng xe vận tải rất lớn di chuyển dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh: 6.313, so với 3.823 trong tháng 11-1967.63 Cũng trong tháng này, tình báo Hoa Kỳ, cả CIA lẩn J2-MACV, đều ghi nhận việc sử dụng nhiều loại vũ khí mới trong các đơn vị quân Cộng sản, như AK-47, RPG-7 (tức là súng phóng lựu chống xe tăng B-40), súng phóng hỏa. J2-MACV cũng phát hiện một số sư đoàn chủ lực của Bắc Việt, là các Sư Ðoàn 2, Sư Ðoàn 325, và Sư Ðoàn 304 (Sư Ðoàn 304 là sư đoàn đã từng tham gia trận Ðiện Biên Phủ vào năm 1954) tập trung lại chung quanh căn cứ Khe Sanh trong Vùng I. Tất cả những diễn tiến này khiến cho Tướng Westmoreland, Tư Lệnh MACV, tin rằng phe Cộng sản sẽ đánh lớn tại Vùng I và cuộc tấn công này sẽ xảy ra trong tháng 1-1968. Ông cũng nghĩ rằng phe Cộng sản cũng sẽ tấn công khắp lãnh thổ VNCH nhưng đó chỉ là nghi binh, để đánh lừa vì mục tiêu chính của cuộc tổng tấn công này sẽ là tại Vùng I, dọc theo Khu Phi Quân Sự, với trọng điểm là chung quang căn cứ Khe Sanh, và ông cũng không tin là phe Cộng sản sẽ tấn công vào Thủ đô Sài Gòn, và vì vậy ông đã đồng ý giao lại trách nhiệm bảo vệ Sài Gòn từ một đơn vị Hoa Kỳ cho Liên Ðoàn 5 Biệt Ðộng Quân của QLVNVCH tại một buổi lễ vào ngày 20-12-1967. Sau đó, ông đích thân bay ra Vùng I để thị sát và thảo luận với Thiếu Tướng Robert E. Cushman, Jr., Tư Lệnh Lưc Lượng Thủy Bộ số 3 của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (3rd Marine Amphibious Force, 3rd MAF), về việc phòng thủ dọc theo Khu Phi Quân Sự mà nếu cần, ông sẽ cho tăng cường thêm cả Sư Ðoàn 1 Kỵ Binh Không Vận (1st Cavalry Division, phe Cộng sản thường gọi là Sư Ðoàn 1 Anh Cả Ðỏ).64 Sự tin tưởng về trọng điểm của cuộc tổng tấn công sắp đến của phe Cộng sản của Tướng Westmoreland xuất phát từ suy nghĩ của ông về Chiến tranh Việt Nam và dựa trên kết quả của các chiến lược mà ông đã áp dụng: “lùng và diệt địch” (search and destroy), và “hao mòn” (attrition) từ năm 1965. Ṓng tin rằng Bắc Việt quyết lòng đánh bại chiến lược tạo ra phòng tuyến bao che (shield strategy) mà ông đã xây dựng dọc theo biên giới của VNCH và đặc biệt là dọc theo phía Nam Khu Phi Quân Sự (vĩ tuyến 17) để ngăn chận sự xâm nhập của quân Bắc Việt vào Miền Nam. Căn cứ quan trọng của lực lượng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ tại thung lũng Khe Sanh đóng một vai trò khá giống căn cứ Ðiện Biên Phủ của Pháp vào năm 1954. 

Ngày 30-12-1967, Ngoại Trưởng Bắc Việt Nguyễn Duy Trinh tuyên bố tại một buổi tiếp tân của Bộ Ngoại Giao tại Hà Nội là việc ngưng oanh tạc Bắc Việt sẽ đưa đến thương thuyết giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt. Ðây là một thay đổi quan trọng trong lập trường của Bắc Việt về thương thuyết vì trước kia họ chỉ nói là việc Hoa Kỳ ngưng oanh tạc có thể đưa đến việc thương thuyết. Ðiều này càng củng cố thêm sự tin tưởng của Tướng Westmoreland là Bắc Việt (qua sắp xếp của Tướng Võ Nguyên Giáp) đang tìm cách chơi lại ván bài mà họ đã chơi và thắng trong Hội Nghị Genève năm 1954, với Khe Sanh sẽ đóng vai trò Ðiện Biên Phủ trong ván bài lần này. Hai hôm sau, ngày 1-1-1968, Ðài Phát Thanh Hà Nội lập lại lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Trinh, cho thấy đây quả thật đã trở thành lập trường chính thức của Bắc Việt. 

Qua tháng 1-1968, rõ ràng có những hoạt động của quân Bắc Việt nhắm vào Khe Sanh. Vào đêm 2-1-1968, TQLC Mỹ đi tuần tra đã bắn chết một số quân Bắc Việt (trong số này phát hiện có một sĩ quan Trung Ðoàn Trưởng) đang thám thính gần căn cứ hỏa lực tại Khe Sanh. Tướng Cushman tin rằng đó là bằng cớ chứng tỏ quân Bắc Việt sẽ tấn công Khe Sanh. 

Vì định kiến này, các cấp lãnh đạo tình báo và quân sự Hoa Kỳ đã coi nhẹ và bỏ qua rất nhiều tin tức liên quan đến các hoạt động quân sự của phe Cộng sản nhằm chuẩn bị cho cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân trong tháng 1-1968 như các vụ sau đây: 65

• Ngày 3-1-1968, J2-MACV đã có báo cáo về việc khám phá vụ chôn dấu vũ khí của Việt Cộng trong một nghĩa địa trong vùng ngoại ô Sài Gòn.
• Ngày 4-1-1968, QLVNCH khám phá một hầm chôn dấu vũ khí quan trọng tại Ðịnh Tường (Vùng IV), trong số này có cả 55 quả đạn bích kích pháo 55mm là loại vũ khí chưa từng được VC sử dụng trong Vùng IV; sau đó một cán bộ VC chỉ huy một đại đội vận tải bị bắt đã khai báo và hướng dẫn QLVNCH tìm thêm được 41 địa điểm chôn dấu vũ khí nữa trong vùng.
• Cũng trong ngày 4-1-1968, J2-MACV đã có báo cáo về việc một toán đặc công VC toan xâm nhập vào khu vực tổng hành dinh của MCV tại Tân Sơn Nhất bằng cách xin công việc làm tại sân bay.
• Ngày 5-1-1968, J2-MACV cũng có báo cáo về một tài liệu tịch thu được tại Pleiku mang tựa đề “Lệnh Tác Chiến Khẩn Cấp Số 1”; ngoài kế hoạch tấn công Pleiku, tài liệu còn bao gồm cả chỉ thị cho cán bộ trong việc kêu gọi dân chúng nổi dậy.
• Ngày 9-1-1968, tình báo Mỹ cũng tịch thu được một tài liệu trình bày việc tổ chức lại hệ thống chỉ huy của VC. 

Giới tình báo Mỹ chỉ thật sự quan tâm khi được giới tình báo VNCH cho biết họ thật sự rất lo lắng về tin VC đã có kế hoạch khủng bố lớn nhắm vào người Mỹ (cả dân sự lẩn quân sự) sinh sống và làm việc tại Sài Gòn.66 

Cho đến gần cuối tháng 1-1968, Tướng Westmoreland vẫn còn giữ nguyên định kiến của ông về ý đồ của phe Cộng Sản. Trong báo cáo đề ngày 22-1-1968 gửi cho Ðô Ðốc Ulysses S. Grant Sharp, Jr. (Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái BÌnh Dương, CINCPAC = Commander-In-Chief, Pacific, cấp chỉ huy trực tiếp của Tướng Westmoreland) và Ðại Tướng Earle G. Wheeler (Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ = Chairman of the Joint Chiefs of Staff), Tướng Westmoreland báo cáo như sau: “I believe that the enemy will attempt a country-wide show of strength just prior to Tet, with Khe Sanh being the main event. In II Corps, he will probably attack Pleiku and Kontum cities, and I expect attacks on the Special Forces camps at Da Seang, Duc Co, and Dak To. In III and IV Corps, province towns are likely targets for renewed attacks by fire. Terrorism will probably increase in and around Saigon.” 67 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Tôi tin rằng địch quân sẽ cố gắng thực hiện một cuộc biểu dương lực lượng trên toàn quốc trước Tết, với Khe Sanh là biến cố chánh. Tại Vùng II, có thể địch quân sẽ tấn công các thành phố Pleiku và Kontum, và tôi cũng nghĩ là họ sẽ tấn công các trại Lực Lượng Ðặc Biệt tại Dak Seang, Ðức Cơ và Ðắc Tô. Tại Vùng III và IV, các tỉnh lỵ có thể lại là mục tiêu cho các cuộc pháo kích. Hoạt động khủng bố có thể sẽ gia tăng tại Sài Gòn và các vùng phụ cận.”) 

Trong các ngày 23-26 tháng 1-1968, J2-MACV liên tục nhận được tin về các hoạt động khủng bố của địch nhắm vào thành phố của VNCH, đặc biệt là thủ đô Sài Gòn. Sáng ngày 27-1-1968, Tướng Davidson, J2-MACV, báo cáo tình hình cho Tướng Westmoreland, tiên đoán VC sẽ có tấn công lớn trên toàn quốc, và ông đặc biệt nêu tên 2 thành phố Pleiku và Kontum.68 Sáng sớm ngày 30-1-1968, tức Mùng Một Tết Mậu Thân, VC tấn công cùng một lúc 6 thị trấn tại các tỉnh Miền Trung. Ngay buổi sáng hôm đó, lúc 7 giờ, Tướng Davidson lập tức báo cáo cho Tướng Westmoreland về các cuộc tấn công này và tiên đoán VC sẽ tái diễn các cuộc tấn công này trên tất cả các vùng còn lại trên khắp lãnh thổ VNCH vào tối hôm đó. Tướng Westmoreland hoàn toàn đồng ý và lập tức ra lệnh báo động và thông báo cho tư lệnh các đơn vị quân Mỹ về khả năng địch sẽ tấn công lớn vào đêm đó.69

Kết luận: Về phương diện tình báo, đối với cả VNCH và Hoa Kỳ, việc không tiên đoán được cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân của phe Cộng Sản, không thể chối cãi được, là một thất bại hết sức nghiêm trọng. 

Về phía VNCH, rõ ràng là các cơ quan tình báo đã có nắm được một số tin tức khá rõ ràng liên quan đến kế hoạch của cuộc Tổng Tấn Công này nhưng việc phân tích, nhận định, và đánh giá tin của các cấp chỉ huy tình báo đã không chính xác, chủ yếu dựa vào sự lạc quan, tin tưởng là địch tuy có ý đồ nhưng không có khả năng thực hiện một cuộc tấn công với quy mô trên cả nước như thế. Nhờ thất bại này, giới tình báo VNCH đã học được một bài học lớn về quyết tâm của địch và vì vậy đã tiên đoán được rất chính xác đợt tấn công lần thứ hai vào Sài Gòn của VC vào tháng 5-1968. 

Về phía Hoa Kỳ, Hội Ðồng Cố Vấn Tình Báo Hải Ngoại của Tổng Thống (President’s Foreign Intelligence Advisory Board, viết tắt là PFIAB) đã thiết lập một ủy ban cấp cao để điều tra về công tác tình báo trong thời gian trước cuộc tấn công. Báo cáo của ủy ban, gồm 9 trang, với tựa đề là “Intelligence warning of the Tet Offensive in South Vietnam,” được hoàn thành trong tháng 4-1968. Trong phần kết quả điều tra (General Findings), ủy ban đưa ra một số kết luận như sau: “Although warning had thus been provided, the intensity, coordination, and timing of the enemy attack were not fully anticipated. … A second major unexpected element was the number of simultaneous attacks mounted. … Underlying these specific problems was a more basic one: most commanders and intelligence officers, at all levels, did not visualize the enemy as capable of accomplishing his stated goals as they appeared in propaganda and in captured documents. Prevailing estimates of attrition, infiltration, and local recruitment, reports of low morale, and a long series of defeats had degraded our image of the enemy. The general picture presented was an enemy unable to conduct an offensive of such scope and intensity.” 70 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Mặc dù đã có những báo động, cường độ, phối hợp, và thời điểm của cuộc tấn công của địch đã không hoàn toàn được dự đoán trước. … Một yếu tố quan trọng nữa đã không được đoán trước là con số những cuộc tấn công sẽ được thực hiện cùng một lúc. … Bên dưới những vấn đề cụ thể đó là một vấn đề căn bản hơn: phần lớn các cấp chỉ huy và các sĩ quan tình báo, ở tất cả mọi cấp, đã không hình dung ra được là địch quân có khả năng hoàn thành được những mục tiêu đề ra mà chúng đã tuyên truyền hay trong các tài liệu tịch thu được. Những ước lượng về địch quân đang thịnh hành về các mặt hao mòn, xâm nhập, và tuyển mộ tại địa phương, các báo cáo về việc xuống tinh thần, và một chuỗi dài những thất trận của họ đã làm cho chúng ta xem thường địch quân. Hình ảnh tổng quát được trình bày cho chúng ta là một địch quân không có khả năng thực hiện một cuộc tấn công với tầm vóc và cường độ như thế.”). Tướng Davidson, Trưởng J2-MACV trong thời gian Trận Mậu Thân, cho biết ông đồng ý với kết quả điều tra của ủy ban này, nhưng quan điểm của ông có khác biệt về mức độ. Ông cho rằng yếu tố quan trọng nhất trong bất ngờ về chiến thuật không phải là thời điểm của cuộc tấn công, mà là ở điểm địch quân đã tấn công vào quá nhiều thành phố và vào cùng một thời điểm.71 

Về phía phe Cộng sản, họ đã thành công trong việc tạo được bất ngờ nhờ họ đã rất tích cực trong các công tác bảo mật và phản gián (đánh lừa đối phương). Phe Cộng sản hiểu rất rõ là để có thể thành công trong kế hoạch tổng tấn công này họ phải giữ bí mật tuyệt đối về ngày giờ tấn công và địa điểm tấn công. Và họ đã làm được tốt công tác này trong cả hai lãnh vực bảo mật và đánh lừa đối phương. Trong lãnh vực bảo mật, vì tất cả các cấp chỉ huy quân sự của VC và quân Bắc Việt đều là đảng viên cộng sản, việc bảo mật không phải là một vấn đề vì họ đã quá quen thuộc với việc này. Mặc dù vậy, chỉ có cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên mới được học tập đầy đủ về kế hoạch này. Vì thế, nhân viên Việt-Mỹ của Chiến địch Phượng Hoàng ở khắp lãnh thổ của VNCH, nhưng chủ yếu nhắm vào hạ tầng cơ sở của VC, đã không phát hiện được kế hoạch này. Trong lãnh vực đánh lừa đối phương, phe Cộng sản đã thực hiện một số công tác quan trọng: 1) dùng chiêu bài hưu chiến trong thời gian Tết; 2) tấn công một số tiền đồn và căn cứ Việt-Mỹ ở biên giới, và, đặc biệt đe dọa căn cứ Khe Sanh của TQLC Mỹ; và, 3) dùng đòn ngoại giao của Ngoại Trưởng Nguyễn Duy Trinh để cho chính phủ Mỹ nghĩ và tin rằng họ đã không còn chịu đựng nổi việc oanh tạc liên tục của Hoa Kỳ và đã muốn thương thuyết.

Trận Ban Mê Thuột (Tháng 3-1975)

Trận Ban Mê Thuột diễn ra chỉ trong khoảng 1 tuần lễ ngắn ngủi (từ ngày 10-3 đến ngày 18-3-1975) nhưng có tầm vóc hết sức quan trọng trong cuộc chiến kéo dài gần 20 năm. Nó mở màn cho Chiến dịch Tây Nguyên của phe Cộng sản trực tiếp đưa đến quyết định tai hại của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệt thoái khỏi Vùng II và gián tiếp tạo ra sự sụp đổ của VNCH vào cuối tháng 4-1975.

Sau khi mất tỉnh Phước Long (vào đầu tháng 1-1975, mà chính quyền VNCH quyết định bỏ luôn, không tìm cách đánh chiếm lại như đối với tỉnh Quảng Trị trong Mùa Hè 1972), các nhà lãnh đạo quân sự của VNCH đều nghĩ và tin rằng phe Cộng sản sẽ tấn công mạnh ở Vùng II, tại Cao Nguyên Trung Phần. 

Thật ra, ngay từ trước khi xảy ra trận Phước Long, vào 2 ngày 9-10 tháng 12-1974, trong cuộc họp của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, diễn ra tại Dinh Ðộc Lập dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, để thảo luận về kế hoạch phòng thủ cho năm 1975, Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH đã tiên đoán là Cộng sản sẽ không tiến hành một cuộc tổng tấn công như họ đã làm trong mùa Hè năm 1972, mà chỉ thực hiện những cuộc tấn công có quy mô lớn, khởi sự tại Vùng II và thời điểm sẽ là trong tháng 3-1975. Tại Vùng II, ông dự đoán là họ sẽ tập trung các cố gắng ở phía Bắc của vùng chiến thuật này, cụ thể là Kontum và phía Bắc của Bình Ðịnh.72 Chính vì vậy, dự kiến Cộng quân sẽ cắt đứt các quốc lộ chính từ duyên hải lên cao nguyên, từ cuối tháng 1-1975, BTTM đã cho chuyển lên Pleiku và Kontum một số lượng rất lớn về lương thực và đạn dược đủ để cho lực lượng phòng thủ Pleiku và Kontum (ước lượng khoảng 20.000 quân) sử dụng trong 60 ngày mà không cần tiếp tế.73 

Bản đồ dưới đây cho thấy rõ sự tập trung phòng thủ dày đặc của QLVNCH ở phía Bắc của Vùng II (Pleiku và Kontum) vào đầu tháng 3-1975 như sau:

Anh_002.jpg

Bản Ðồ Bố Trí CÁc Lực Lựợng Phòng Thủ Tại Vùng II 
Vào Ðầu Tháng 3-1975 (Trích từ trang 149 của sách Black April)

• 3 Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân (BÐQ) bảo vệ Kontum và 1 Liên Ðoàn BÐQ bảo vệ Quốc Lộ 14 (nối liền Kontum và Pleiku; chạy thẳng xuống phía Nam, đến Ban Mê Thuột)
• 2 Trung Ðoàn 44 và 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh bảo vệ Pleiku
• 4 Trung Ðoàn 40, 41, 42 và 47 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh bảo vệ phía Bắc Bình Ðịnh và các đèo Mang Giang và An Khê trên Quốc Lộ 19 (nối liền Qui Nhơn–tỉnh lỵ của Bình Ðịnhh–với Kontum) 

Ðể bảo vệ Ban Mê Thuột chỉ có Liên Ðoàn 21 BÐQ đóng ở Buôn Hồ (một thị trấn nằm cách Ban Mê Thuột khoảng 40 km về hướng Ðông Bắc), các đơn vị cơ hữu của tỉnh Darlac, và Trung Ðoàn 53 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Theo Ðại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Darlac, trên thực tế, Trung Ðoàn 53, đóng tại Phi trường Phụng Dực (cách Ban Mê Thuột khoảng 8 km về hướng Ðông), vào lúc đó chỉ gồm có bộ chỉ huy Trung Ðoàn và 1 Tiểu Ðoàn mà thôi.74 

Khi trận tấn công Ban Mê Thuột nổ ra vào ngày 10-3-1975, lực lượng hai bên được bố trí như trong bản đồ sau đây:

Anh_003

Bản Ðồ Trận Ban Mê Thuột (Trích từ trang 157 của sách Black April)

Nhìn vào bản đồ bên trên, chúng ta thấy rõ là địch quân đã tấn công vào Ban Mê Thuột từ 5 phía với các lực lượng như sau:

• Từ hướng Tây Bắc: với Trung Ðoàn 148, thuộc Sư Ðoàn 316
• Từ hướng Ðông Bắc: với Trung Ðoàn 95B, thuộc Sư Ðoàn 325
• Từ hướng Ðông Nam: với Trung Ðoàn 149, thuộc Sư Ðoàn 316
• Từ hướng Tây: với Tiểu Ðoàn 4, thuộc Trung Ðoàn 24, Sư Ðoàn F10
• Từ hướng Nam: với Trung Ðoàn 174, thuộc Sư Ðoàn 316 

Như vậy, lực lượng chính tấn công Ban Mê Thuột là Sư Ðoàn 316, với 3 Trung Ðoàn cơ hữu là 148, 149, và 174, tăng cường thêm với 1 trung đoàn của Sư Ðoàn 325 và 1 tiểu đoàn của Sư Ðoàn F10, và, dĩ nhiên, với các đơn vị pháo binh, chiến xa, và đặc công. Sư Ðoàn 316 trước đây chỉ hoạt động tại Lào và từ năm 1974 đã được lệnh quay trở về Bắc Việt. Sư hiện diện của sư đoàn này tại Miền Nam sẽ là một bất ngờ cho giới tình báo VNCH. 

Sau đây chúng ta cố gắng tìm hiểu sự sắp xếp và chuẩn bị cho cuộc tấn công của phe Cộng sản và những hoạt động tình báo của hai bên trước khi cuộc tấn công nổ ra.

Việc phe Cộng sản quyết định tấn công Ban Mê Thuột thay vì Pleiku một phần lớn là do họ đã nắm được tin tức về buổi họp của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia của VNCH vào 2 ngày 9-10 tháng 12-1974. Toàn bộ kế hoạch phòng thủ cho năm 1975 của Ðại Tướng Cao Văn Viên trình bày tại buổi họp đã được một điệp viên thuộc loại “trường kỳ mai phục,” làm việc ngay trong văn phòng của Tướng Viên tại BTTM QLVNCH, báo cáo đầy đủ về Hà Nội.75,76

Trong khi đó, nội bộ ban tham mưu của Quân Ðoàn II lại không đồng ý với nhau về mục tiêu tấn công của phe Cộng sản tại Vùng II: Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II tin rằng họ sẽ tấn công Pleiku, trong khi đó thì Ðại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 (phụ trách về tình báo) của Quân Ðoàn II thì lại tin là Cộng quân sẽ tấn công Ban Mê Thuột. Việc Tướng Phú không tin vào nhận định của Ðại Tá Tiếu có thể có một số lý do như sau: 1) Tướng Phú tin tưởng và dựa vào kế hoạch phòng thủ năm 1975 của BTTM như đã trình bày trên; 2) Sự tin tưởng này của Tướng Phú được tăng cường thêm sau buổi họp ngày 18-2-1975 tại Sài Gòn để duyệt lại kế hoạch phòng thủ 1975 này và chính Tổng Thống Thiệu lưu ý ông việc Cộng quân có thể sẽ đánh Pleiku; chính vì vậy ông đã một lần nữa, tại buổi họp ngày hôm sau, 19-2-1975, tại Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn ở Pleiku, bác bỏ báo cáo của Ðại Tá Tiếu về khả năng tấn công Ban Mê Thuột dựa trên những tin tình báo mới; và 3) Khi nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn II, Tướng Phú không chọn được những sĩ quan thân tín của mình mà phải chấp nhận những sĩ quan đang phục vụ trong bộ tham mưu của Quân Ðoàn (trong đó có Ðại Tá Tiếu).

Về phía Cộng quân, dựa vào kế hoạch phòng thủ năm 1975 của VNCH mà họ đã nắm được cộng thêm việc bố trí lực lượng phòng thủ dày đặc của Quân Ðoàn II ở phía Bắc của Vùng II, họ thấy rõ là Tướng Phú tin rằng họ sẽ tấn công Pleiku. Do đó họ đã tập trung cố gắng làm mọi động tác giả để đánh lừa Tướng Phú, làm cho ông tin rằng ông đã tính toán đúng là họ sẽ đánh Pleiku chứ không phải Ban Mê Thuột.
Nhìn chung, phe Cộng sản đã lại áp dụng phương thức mà họ đã từng sử dụng trong lúc chuẩn bị trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân để đạt được mục tiêu này. Phương thức đó gồm 2 phần: 1) Bảo mật tối đa về mục tiêu thật của trận tấn công là Ban Mê Thuột; và, 2) Thực hiện môt số động tác giả để đánh lừa đối phương khiến cho đối phương tin là mục tiêu thật của trận tấn công sẽ là Pleiku-Kontum.

Bảo mật:

Về phương diện bảo mật, rút kinh nghiệm từ trận Mậu Thân, mục tiêu Ban Mê Thuột của trận tấn công được giữ kín tối đa. Các tư lệnh tại mặt trận chỉ được biết vào cuối tháng 1-1975, và tư lệnh các đơn vị sẽ tham gia tấn công chỉ được thông báo từ đầu tháng 2-1975. Hà Nội cũng quyết định giữ nguyên các đơn vị đang có mặt ở phía Bắc của Vùng II (Pleiku-Kontum) là các Sư Ðoàn 2, Sư Ðoàn 3, Sư Ðoàn F10 và 2 Trung Ðoàn độc lập 25 và 95A, và ra lệnh cho các đơn vị đó tăng cường các hoạt động đe dọa vùng này. Trong khi đó, các đơn vị sẽ tham gia tấn công Ban Mê Thuột đều là các đơn vị trừ bị đang đóng quân tại Lào hay tại Bắc Việt được bí mật di chuyển vào các vị trí chung quanh Ban Mê Thuột để chuẩn bị tấn công. Sư Ðoàn 316, đơn vị chủ lực của trận tấn công vào Ban Mê Thuột, trước kia chỉ hoạt động tại Lào, sau đó được điều dộng trở về Miền Bắc, đã nhận được lệnh di chuyển vào Nam vào ngày 15-1-1975, nhưng để lại bộ phận truyền tin tại Miền Bắc để tiếp tục gửi đi các báo cáo nhằm đánh lừa các đơn vị SIGINT của QLVNCH.77 

Ðánh lừa:

Ðầu tháng 2-1975, một đơn vị của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh QLVNCH bắt được 1 binh sĩ Bắc Việt tại một địa điểm ở phía Tây tỉnh Bình Ðịnh gần đèo An Khê. Qua thẩm vấn được biết binh sĩ này đã tháp tùng viên tư lệnh của Sư Ðoàn 3 Bắc Việt đi thám sát đèo An Khê. Trong mình binh sĩ này có giữ một bản đồ ghi rõ các địa điểm mà Sư Ðoàn 3 dự định sẽ đóng chốt để cắt đứt Quốc Lộ 19 là con đường huyết mạch nối liền Qui Nhơn (tỉnh lỵ của tỉnh Bình Ðịnh) với Pleiku. Cùng lúc đó, Phòng 2 của Quân Ðoàn II cũng bắt được tin Sư Ðoàn 968 Bắc Việt đang đóng tại Lào đã di chuyển sang lãnh thổ VNCH. Tướng Phú tin rằng Cộng quân đang chuẩn bị tấn công Pleiku, và ông đã ra lệnh cho Trung Ðoàn 47 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh đến trấn giữ đèo An Khê.78 Lý do Trung Ðoàn 47 được giao cho nhiệm vụ này vì vị sĩ quan Trung Ðoàn Trưởng, Trung Tá Lê Cầu, là người rất quen thuộc địa hình vùng đèo An Khê vì ông đã từng chiến đấu tại đây trong trận Tổng Tấn Công Mùa Hè 1972. Trong suốt tháng 2-1975, các đơn vị Cộng quân hiện diện trong vùng liên tục pháo kích Kontum và Pleiku cũng như đánh phá các chốt bảo vệ đèo An Khê trên Quốc Lộ 19 của Trung Ðoàn 47.79 Các đơn vi này do 2 Sư Ðoàn F10 và 320 để lại để thực hiện kế hoạch nghi binh, còn toàn bộ 2 sư đoàn này đã di chuyển xuống phía Nam để chuẩn bị tấn công Ban Mê Thuột. Tất cả những hoạt động này của địch làm cho Tướng Phú càng thêm tin là Pleiku sẽ là mục tiêu chính của cuộc tấn công sắp tới của Cộng quân. 

Giữa tháng 2-1975, trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Nguyễn Tú của báo Chính Luận, Tướng Phú đã nói ra tất cả những gì ông suy nghĩ và phân tích về cuộc tấn công sắp tới của địch. Ṓng tin rằng địch sẽ sử dụng một lực lượng cấp sư đoàn để cắt đứt Quốc Lộ 19 trước khi tấn công Pleiku.80

Ngày 18-2-1975, Tướng Phú về Sài Gòn dự phiên họp với các tướng tư lệnh quân đoàn do Tổng Thống Thiệu triệu tập để duyệt lại kế hoạch phòng thủ cho năm 1975. Tại phiên họp này, chính Tổng Thống Thiệu tái xác định khả năng địch có thể tấn công Pleiku ở Vùng II. Ðiều này càng làm cho Tướng Phú thêm tin tưởng là ông đã nghĩ đúng về mục tiêu tấn công sắp tới của địch quân.81 Do đó, ông đã một lần nữa bác bỏ nhận định của Ðại Tá Tiếu về khả năng địch sẽ tấn công Ban Mê Thuột tại phiên họp của ban tham mưu Quân Ðoàn II ở Pleiku vào ngày hôm sau, 19-2-1975.

Ðầu tháng 3-1975, trước một số tin tình báo về các hoạt động của địch chung quanh Ban Mê Thuột làm Tướng Phú có phần nao núng. Ngày 4-3-1975, ông ra lệnh cho Trung Ðoàn 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh di chuyển về Ban Mê Thuột. Việc di chuyển này sắp bắt đầu thì vào lúc 2 giờ trưa cùng ngày, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II tại Pleiku bị địch quân pháo kích, Tướng Phú ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân này.82 Cùng ngày địch quân tấn công dữ dội vào các đơn vị của Trung Ðoàn 47 và cắt đứt Quốc Lộ 19 tại hai nơi. Tướng Phú tin chắc là địch quân đã bắt đầu chiến dịch tấn công vào Pleiku. 

Việc chuyển quân của Sư Ðoàn 316 từ Bắc vào Nam cũng như của Sư Ðoàn 968 từ Lào sang Việt Nam, mặc dù được ngụy trang rất kỹ như đã trình bày bên trên, sau cùng vẫn bị SIGINT của QLVNCH phát hiện. Sau khi phân tích tín hiệu, và đánh giá, Phòng 7 BTTM QLVNCH nhận định là Cộng quân sẽ tấn công Ban Mê Thuột. Ngày 7-3-1975, 3 ngày trước khi trận Ban Mê Thuột nổ ra, Chuẩn Tướng Phạm Hữu Nhơn, Trưởng Phòng 7, BTTM QLVNCH, cùng với Tom Glenn là Trưởng đơn vị của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (National Security Agency – NSA) của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã bay lên Pleiku để đích thân báo cho Thiếu Tướng Phú về nhận định của Phòng 7 là Cộng quân sẽ tấn công Ban Mê Thuột (cuộc họp này có mặt cả Ðại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 của Quân Ðoàn 2) nhưng Tướng Phú vẫn không tin.83 Ngay cả vào lúc 10 giờ sáng ngày 9-3-1975, sau khi Thuần Mẫn, thuộc tỉnh Phú Bổn, đã mất, và Ðức Lập, thuộc tỉnh Quảng Ðức cũng đã bị chiếm, ông bay xuống Ban Mê Thuột để họp với các đơn vị trưởng tại đây để duyệt xét tình hình, Tướng Phú vẫn còn tiếp tục nghĩ và tin là tất cả chỉ là nghi binh. Ông vẫn chờ cuộc tấn công vào Pleiku, một cuộc tấn công chẳng bao giờ xảy ra. Sáng sớm ngày hôm sau, 10-3-1975, trận tấn công vào Ban Mê Thuột nổ ra và chỉ trong 2 ngày toàn bộ thị xã này đã lọt vào tay Cộng quân.

Kết luận: QLVNCH thua trận Ban Mê Thuột không phải vì tình báo yếu kém mà rõ ràng là do Tướng Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II bị định kiến quá nặng nề, Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, với trách nhiệm phải bảo vệ một lãnh thổ quá rộng lớn như thế (gồm tất cả 12 tỉnh, 7 tỉnh cao nguyên là Kontum, Pleiku, Phú Bổn, Darlac, Quảng Ðức, Lâm Ðồng, Tuyên Ðức và 5 tỉnh duyên hải là Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận), thì Quân Ðoàn II, chỉ với 2 sư đoàn bộ binh (22 và 23) cùng một số liên đoàn BÐQ, cũng khó mà đương đầu nổi với một lực lương địch quân đông gấp 3,4 lần với các Sư Ðoàn 2, 3, F10, 968, 316, 320, và 325, và 1 số trung đoàn độc lập. Một bằng chứng rõ ràng là việc phản công tái chiếm Ban Mê Thuột đã không thể thực hiện được. Và đó là một trong những lý do đưa đến quyết định triệt thoái Quân Ðoàn II rất tai hại của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại phiên họp định mệnh ngày 14-3-1975 tại Cam Ranh.

Thay Lời Kết

Không thể phủ nhận được vai trò hết sức quan trọng của tình báo trong Chiến Tranh Việt Nam, cũng như trong bất cứ cuộc chiến tranh nào. Và vì thế, dĩ nhiên, các quân đội của các phe lâm chiến đều phải tổ chức một hệ thống tình báo thật đầy đủ và tinh vi để có thể nắm được ý đồ và mục tiêu của đối phương cũng như che dấu và đánh lừa đối phương về ý đồ, mục tiêu của mình. Trong Chiến Tranh Việt Nam, VNCH và Ðồng Minh Hoa Kỳ đã tổ chức được một hệ thống tình báo rất hữu hiệu. Rất tiếc, trong một số trận đánh quan trọng, các cấp chỉ huy tình báo và quân sự của VNCH và Hoa Kỳ, vì định kiến quá nặng nề, đã không tin tưởng vào chính hệ thống tình báo của mình, và vì thế đã thất bại, không nắm được ý đồ và mục đích của địch quân.


GHI CHÚ:

1. Phan Công Tâm, “Testimony of a Senior Officer, South Vietnamese Central Intelligence Organization,” in Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975) / K.W. Taylor, editor. Ithaca, N.Y.: Cornell Southeast Asia Program Publications, 2014. (Studies on Southeast Asia Series; no. 65). Tr. 16.
2. Ðoàn Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90o%C3%A0n_C%C3%B4ng_t%C3%A1c_%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t_Mi%E1%BB%81n_Trung
3. Ngành Cảnh Sát Ðặc Biệt VNCH, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://kbchaingoai.wordpress.com/2011/05/26/nganh-c%E1%BA%A3nh-sat-d%E1%BA%B7c-bi%E1%BB%87t-vnch/
4. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. California: Hương Quê, 2011. Tr. 500.
5. Ngành Cảnh Sát Ðặc Biệt VNCH, tài liệu trực tuyến và toàn văn đã dẫn bên trên.
6. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, sđd, tr. 628.
7. Hoàng Ngọc Lung, Intelligence. Washington, D.C.: U.S. Army Center of Military History, 1982. (Indochina Monographs). Tr. 57.
8. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 53. Tác giả ghi như sau: “In order to control the ranks of the administration, particularly in the wake of the Huynh Van Trong espionage case in 1971, a new security organization was established which became known as the Directorate General for Administrative Security.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ðể kiểm soát hàng ngũ hành chánh, đặc biệt là sau vụ án gián điệp Huỳnh Văn Trọng năm 1971, một cơ quan an ninh mới được thành lập có tên là Tổng Nha An Ninh Hành Chánh”). 
9. Thông tin ghi nhận qua cuộc điện đàm với cựu Thiếu Tá Võ Thành Ðức, nguyên Chánh Sở Huấn Luyện của Tổng Nha An Ninh Hành Chánh, vào ngày 8-Sept-2016. 
10. Central Intelligence Office, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Central_Intelligence_Office
11. Phan Công Tâm, sđd, tr. 16.
12. Phan Công Tâm, sđd, tr. 17.
13. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, sđd, tr. 254.
14. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 46. Sơ đồ tổ chức của CIO ở tr. 46 được chuyển ngữ sang tiếng Việt.
15. Phan Công Tâm, sđd, tr. 20.
16. Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://vnchtoday.blogspot.ca/2016/01/phu-ac-uy-trung-uong-tinh-bao-viet-nam.html
17. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 47.
18. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 48. Tác giả ghi rõ như sau: “… the CIO effectively turned into the intelligence agency of the President’s Office, …” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “… PÐU thật sự trở thành cơ quan tình báo của Phủ TỔng Thống,…”. 
19. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, sđd, tr. 522.
20. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 65. Sơ đồ tổ chức của Phòng 2 BTTM ở tr. 65 được chuyển ngữ sang tiếng Việt.
21. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy, sđd, tr. 521.
22. Vài nét đại cương tiểu sử Ðơn Vị 101 với phương châm sống để bụng chết mang theo, trong Ðặc san Hoa Tình Thương: tiếng nói của Ðơn Vị 101 / Unit 101 (1999-2000), tr. 3-5.
23. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://tongthammuu.blogspot.ca/
24. Đơn Vị 101: Thề chết cho quê hương – Anh vẫn sống, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.viendongdaily.com/don-vi-101-the-chet-cho-que-huong-anh-van-song-jsJOKaZw.html
25. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 69.
26. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 58-60. Sơ đồ tổ chức của Phòng 7, BTTM, ở tr. 58 được chuyển ngữ và điều chỉnh sang tiếng Việt.
27. Lâm Vĩnh Thế, Tài liệu mật của CIA về Việt Nam Cộng Hòa, trong Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa (Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2008), tr. 252-277.
28. Phoenix Program, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Phoenix_Program
29. Chiến dịch Phụng Hoàng, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Ph%E1%BB%A5ng_Ho%C3%A0ng
30. Cosmas, Graham A., United States Army in Vietnam: MACV, the Joint Command in the years of escalation, 1962-1967. Washington, D.C.: U.S. Army Center of Military History, 2006, tr. 48. 
31. Cosmas, Graham A., sđd, tr. 128. 
32. Cosmas, Graham A., sđd, tr. 285.
33. McChristian, Joseph A., The Role of military intelligence, 1965-1967. Washington, D.C.: Dept. of the Army, 1994. (Vietnam studies). Tr. 15. Sơ đồ tổ chức của J2-MACV ở tr. 15 được chuyển ngữ sang tiếng Việt.
34. McChristian, Joseph A., sđd, tr. 19.
35. Thông tin nhận được từ điện thư ngày 25-9-2016 của Ðại Tá Trần Ngọc Thống, và điện đàm ngày 27-9-2016 với Thiếu Tá Hồ Ðắc Huân. Hai vị là đồng tác giả của sách “Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.”
36. McChristian, Joseph A., sđd, tr. 26.
37. Những Người Trở Về Với Đại Gia Đình Dân Tộc, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://batkhuat.net/tl-nn-trove-daigiadinh-dantoc.htm
38. McChristian, Joseph A., sđd, tr. 34-40.
39. McChristian, Joseph A., sđd, tr. 40-44.
40. McChristian, Joseph A., sđd, tr. 48. Sơ đồ tổ chức của CICV ở tr. 48 được chuyển ngữ sang tiếng Việt.
41. Tổng cục Tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.wikiwand.com/vi/T%E1%BB%95ng_c%E1%BB%A5c_T%C3%ACnh_b%C3%A1o_Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam
42. Chuyện về Tổng Cục 2 – Kỳ IV: Cục trưởng Cục Tình báo đầu tiên, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://soha.vn/quan-su/chuyen-ve-tong-cuc-2-ky-iv-cuc-truong-cuc-tinh-bao-dau-tien-20151020165047274.htm
43. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 196-197.
44. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 200. Sơ đồ tổ chức hệ thống tình báo cua phe Cộng sản ở tr. 200 được chuyển ngữ sang tiếng Việt.
45. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 201-202.
46. Conboy, Kenneth và Dale Andradé, Spies and commandos: how America lost the secret war in North Vietnam. Lawrence, Kansas: University Press of Kansas, 2000. Tr. 1-15.
47. Schultz, Richard H., The secret war against Hanoi: the untold story of spies, saboteurs, and covert warriors in North Vietnam. New York : HarperCollins, 2000. Tr. 87.
48. Tư liệu về hoạt động của các toán biệt kích quân đội Sài Gòn được đưa ra Miền Bắc, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://phamthang-hue.weebly.com/–2182012/t-liu-v-hot-ng-ca-cc-ton-bit-kch-qun-i-si-gn-c-a-ra-min-bc
49. Conboy, Kenneth và Dale Andradé, sđd, tr. 36-45.
50. Lữ Triệu Khanh, Lịch sử Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, QLVNCH, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://lichsunhakythuat.blogspot.ca/
51. Kenneth và Dale Andradé, sđd, tr. 83.
52. Lâm Vĩnh Thế, Tài liệu mật của C.I.A. về Ðại Tá Phạm Ngọc Thảo, trong Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa (Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2008), tr. 12-26.
53. Vũ Ngọc Nhạ, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Ng%E1%BB%8Dc_Nh%E1%BA%A1
54. Phạm Xuân Ần, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Xu%C3%A2n_%E1%BA%A8n
55. Vietnam War: allied troop levels 1960-73, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.americanwarlibrary.com/vietnam/vwatl.htm
56. Wirtz, James J., The Tet Offensive: intelligence failure in war. Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1991. (Cornell studies in security affairs). Tr. 42.
57. Wirtz, James J., sđd, tr. 44.
58. Lâm Vĩnh Thế, Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967: những năm xáo trộn. Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2010. Chương Mười: Tiến đến nền đệ nhị cộng hòa, tr. 167-205.
59. Wirtz, James J., sđd, tr. 140.
60. Davidson, Phillip B., Vietnam at war: the history, 1946-1975. London, U.K.: Sidgwick & Jackson Limited Publishers, 1988. Tr. 474. Trung Tướng Phillip B. Davidson chính là người đứng đầu J2-MACV (lúc ông còn mang cấp bậc Thiếu Tướng) trong thời gian trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân.
61. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 146-148.
62. Hoàng Ngọc Lung, sđd, tr. 150. Nguyên văn Anh ngữ như sau: “However, our military leaders would not have believed such a probability if they had been warned.” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Tuy nhiên, nếu chúng ta có báo động về khả năng đó, các lãnh tụ quân sự của chúng ta cũng sẽ không tin.”)
63. Wirtz, James J., sđd, tr. 181.
64. Wirtz, James J., sđd, tr. 186.
65. Wirtz, James J., sđd, tr. 191-193.
66. Wirtz, James J., sđd, tr. 183. Tác giả ghi như sau: “ In a letter written on 19 December, MACV analyst James Meacham described the reaction of the U.S. Command and ARVN officers to the VC campaign: “The word is out that the VC are going to make an all out terrorist effort against Saigon Americans from now on throught Tet. Our ARVN counterparts at CICV are really concerned – the first time in living memory that they have been. This is a bad sign because they know the VC infinitely better than we.” ” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Trong một bức thư đề ngày 19 Tháng 12, nhân viên phân tích tình báo của MACV James Meacham mô tả như sau phản ứng của Bộ Tư Lệnh Mỹ và các sĩ quan QLVNCH: “Tin cho biết là VC sẽ có cố gắng tấn công khủng bố rộng lớn đối với người Mỹ ở Sài Gòn từ đây đến qua Tết. Các đồng nhiệm của chúng ta tại CICV [chú thích cuả tác giả bài viết: CICV = Combined Intelligence Center, Vietnam, tức là Trung Tậm Tình Báo Hỗn Hợp Việt Nam] thật sự rất quan tâm – lần đầu tiên họ quan tâm mà tôi còn nhớ được. Ðây là một dấu hiệu không tốt bởi vì họ biết rõ VC hơn mình nhiều.”) 
67. Wirtz, James J., sđd, tr. 212.
68. Wirtz, James J., sđd, tr. 216.
69. Davidson, Phillip B., sđd, tr. 474. 
70. Intelligence warning of the Tet Offensive in South Vietnam, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.cia.gov/library/readingroom/docs/DOC_0000097712.pdf . Tr. 3-5.
71. Davidson, Phillip B., sđd, tr. 479. 
72. Veith, George J., Black April: the fall of South Vietnam, 1973-1975. New York: Encounter Books, 2012. Tr. 116-117.
73. Veith, George J., sđd, tr. 118.
74. Nguyễn Trọng Luật, Nhìn lại trận đánh Ban Mê Thuột 1975, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://googletienlang2014.blogspot.ca/2015/03/ai-ta-nguy-nguyen-trong-luat-nhin-lai.html
75. Veith, George J., sđd, tr. 124-125.
76. Giải mật về điệp viên H3: người khiến CIA kinh ngạc, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/giai-mat-ve-diep-vien-h3-nguoi-khien-cia-kinh-ngac-854914.tpo
77. Veith, George J., sđd, tr. 131.
78. VEith, George J., sđd, tr. 136-137.
79. Chiến dịch Tây Nguyên, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn#Nghi_binh
80. Nguyễn Tú, “Trận đấu trí tại Tây Nguyên,” Chính Luận, số, ra ngày 18-2-1975, tr. 1, 3, 6.
81. Veith, George J., sđd, tr. 143.
82. Nguyễn Trọng Luật, tài liệu trực tuyến đã dẫn.
83. Veith, George J., sđd, tr. 148, 150

Nguồn: http://vnchtoday.blogspot.com/2022/09/tinh-bao-trong-chien-tranh-viet-nam-lam.html

Lăng mộ cụ Trương Vĩnh Ký lặng lẽ giữa ồn ào phố thị – Tidoo Nguyễn

  • Tidoo Nguyễn
    22 tháng 9, 2022

Lăng và nhà tưởng niệm cụ Trương Vĩnh Ký tại số 520 đường Trần Hưng Đạo – góc Trần Bình Trọng (trước năm 1955 là Paulus Của và từ 1955 đến nay cũng mang tên này)

Tại góc đường Trần Hưng Đạo – Trần Bình Trọng quận 5 luôn ồn ào tấp nập, khu lăng mộ và nhà tưởng niệm của cụ Trương Vĩnh Ký nằm lặng lẽ như chìm vào một cõi khác.

Lăng nhìn từ cổng tam quan

Hiếm người biết đây từng là nơi cư ngụ và chôn cất một danh nhân nổi tiếng nhất đất Việt hồi cuối thế kỷ 19, đồng thời là người sáng lập ra tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên mang tên Gia Định báo.

Đến thăm lăng mộ và nhà tưởng niệm của cụ Trương Vĩnh Ký hay còn gọi là Petrus Ký (1837-1898) hồi năm 2015 và Tháng Chín 2022, tôi thấy khung cảnh vẫn không có gì thay đổi, ngoại trừ có thêm bức tượng bán thân của cụ đặt trong lăng mộ. Người ra vào thường xuyên vào khu vực lăng mộ này chỉ có mục đích… uống cà phê hoặc ăn ốc, nhậu nhẹt. Hiếm người tìm đến viếng cụ như một danh nhân văn hóa nước Việt.

Nhà tưởng niệm được trùng tu vào ngày 6 Tháng Mười Hai 1937 trên nền ngôi nhà gỗ cũ của cụ Trương Vĩnh Ký
Phía sau lăng và nhà tưởng niệm là nghĩa trang với những tấm bia mang họ Trương và một vài họ khác (là dâu/rể của nhà họ Trương)
Nhà mồ của gia đình Trương Vĩnh Việt, không rõ là con hay cháu của cụ Trương Vĩnh Ký. Khung cảnh hoang tàn không được chăm sóc

Lăng mộ và nhà tưởng niệm cụ Trương Vĩnh Ký đến nay vẫn chưa được chính quyền công nhận là di tích lịch sử và văn hóa. Từ năm 1975, nhà tưởng niệm đã có hai gia đình ở, không rõ là ai, báo Việt Nam viết là hậu duệ của cụ, nhưng báo nước ngoài khẳng định không phải. Trong khuôn viên, bên trái là quán ốc phục vụ từ chiều đến 23 giờ đêm và bên phải là bãi giữ xe.

Cụ Trương Vĩnh Ký là một học giả, nhà ngôn ngữ học, nhà báo và nhà văn nửa sau thế kỷ 19. Cụ say mê văn học chữ Quốc ngữ và được coi là một trong những người đặt nền móng cho nền văn học mới với chữ Quốc ngữ. Cụ là người khởi xướng dùng chữ Latin cho tiếng Việt và là người tiên phong trong việc viết chữ Quốc ngữ. Cụ đã để lại cho đời sau di sản hơn 100 tác phẩm văn học, lịch sử và địa lý, cũng như các từ điển và tác phẩm dịch khác nhau, tuy nhiên đến nay không được xuất bản và quảng bá rộng rãi.

Sau khi qua đời, cụ Trương Vĩnh Ký được chôn cất trong khu vườn có ngôi nhà của cụ sinh sống được xây dựng bằng gỗ trên cùng mảnh đất vào năm 1861 ở Chợ Quán. Hồi những năm 1935-1937, để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cụ, Hội Trí Tri đã xây lăng mộ theo phong cách cổ điển phương Tây. Đồng thời, trùng tu ngôi nhà cũ để làm nhà tưởng niệm. Tuy nhiên, cổng vào là cổng tam quan theo kiến trúc của các ngôi chùa cổ Việt Nam.

Lăng mộ cụ Trương Vĩnh Ký, diện tích khoảng 50 m2, là một công trình kiến ​​trúc đa giác đơn giản, với ngói vảy cá được lợp trên mái. Những đường viền nối các mái đều đắp nổi hình rồng, đỉnh mái có hình Thánh giá. Các cạnh được nối với nhau bằng đường viền trang trí đắp nổi hình rồng theo kiểu long hồi, với đuôi rồng hướng lên nóc mái, thân rồng uốn theo đường viền và đầu rồng bên dưới ngước lên. Đỉnh mái được đặt cây Thánh giá. Lăng mộ có ba cửa ở ba phía Bắc, Tây và Nam. Phía trên mỗi cửa đều có Thánh giá và các dòng chữ Latin được trích từ Kinh thánh phổ thông (kinh thánh Vulgate).

Những ngôi mộ khác mang họ Trương nằm trong sự lạnh lẽo hoang vắng
Bên trong lăng mộ có bàn thờ xây sát tường. Đối diện bàn thờ là mộ cụ Trương Vĩnh Ký, có tấm bia bằng phẳng với mặt sàn ghi tên cụ, mang hình cây Thánh giá phía trên. Hình này được chụp vào năm 2015. Khi ấy chưa xuất hiện bức tượng bán thân của cụ Trương Vĩnh Ký
Hình chụp Tháng Chín 2022, giữa bàn thờ và mộ cụ Trương Vĩnh Ký có bức tượng bán thân của cụ
Tượng chân dung cụ Trương Vĩnh Ký – người luôn xuất hiện trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng của Việt Nam và từ chối nhập quốc tịch Pháp
Bên trong lăng dưới góc nhìn rộng. Nền lăng được lát gạch và có ba phần mộ – ở giữa là mộ cụ Trương Vĩnh Ký, bên trái là phần mộ của bà Maria Trương Vĩnh Ký, và bên phải là phần mộ con trai cả của cụ là Jean-Baptiste Trương Vĩnh Thế

Cửa lăng hướng ra đường Trần Hưng Đạo có dòng chữ “Miseremini mei saltem vos, amici mei” – theo Kinh Cựu ước về ông Gióp (Job) chương 19 đoạn 21, có thể hiểu là “Xin thương xót tôi, hỡi các anh là những người bè bạn”. Cửa lăng hướng ra đường Trần Bình Trọng có dòng chữ “Fons vitae eruditio possidentis” – theo lời của Vua Salomon chương 16 đoạn 22, có thể hiểu là “Người có tri thức, tức có được nguồn sự sống”. Cửa lăng thứ ba có dòng chữ “Omnis qui vivit et credit in me non morietur in aeternum” – trích từ Tin mừng theo thánh Johannis (Phúc âm Gioan) chương 11 đoạn 25, có thể hiểu là “Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống”.

Trong cả hai lần đến đây – cách nhau bảy năm, tôi không thể vào trong lăng mộ vì cả ba cửa đều có cửa sắt khóa kín. Tường bên trong lăng được sơn bằng màu xanh lam nhạt, trên trần là họa tiết rồng vàng xanh nổi bật trên nền trần màu trắng. Nền lăng được lát gạch và cũng là nơi của ba ngôi mộ – ở giữa là phần mộ cụ Trương Vĩnh Ký; bên trái là phần mộ bà Maria Trương Vĩnh Ký, nhũ danh Vương Thị Thọ (mất ngày 17 Tháng Bảy 1907); và bên phải là phần mộ con trai cả của cụ là Jean-Baptiste Trương Vĩnh Thế (mất ngày 26 Tháng Mười 1916). Một góc tường ở bức tường phía Đông phía sau lăng mộ là bàn thờ màu trắng và vàng trang nhã.

Hoa văn trên trần lăng, chính giữa vẽ hình một con lân mã chở hà đồ đang vờn trong vòng tròn mây gió. Hình ảnh tám con rồng trên nóc và con lân mã chở hà đồ trên trần trong nhà mồ như muốn nói lên chủ trương lưu giữ nền tảng phương Đông của nhà bác học họ Trương. Trần lăng hiện có dấu hiệu thấm nước
Chóp lăng dưới góc nhìn trực diện từ cổng tam quan đi vào. Dòng chữ Latin “Miseremini Mei Saltem VC S Amici Mei” (có lỗi chính tả trên bản khắc chữ, đúng ra là vos mà không phải là VC S) có thể hiểu là “Xin thương xót tôi, hỡi các anh là những người bè bạn”
Mặt lăng cụ Trương Vĩnh Ký đối diện với đường Trần Bình Trọng. Từ cửa này người quan sát có thể thấy trực diện bàn thờ tổ tiên và bia cụ Trương Vĩnh Ký. Dòng chữ Latin “Fons Vitae Ervditio Possidentis” (có lỗi chính tả trên bản khắc chữ, đúng ra là Eruditio) có thể hiểu là “Người có được tri thức, tức có được nguồn sự sống”
Cửa lăng mộ thứ ba của cụ Trương Vĩnh Ký đối diện với nghĩa trang của họ Trương. Dòng chữ Latin “Cmnis Qvi Vivit Et Credit In Me Non Morietvr in Aeternvm” có thể hiểu là “Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống”

Điều kỳ lạ là mặc dù chính quyền để lăng mộ của cụ Trương Vĩnh Ký bị hoang phế (trở thành nơi kinh doanh của một nhóm người không rõ là ai); sách viết về cụ của học giả Nguyễn Đình Đầu mang tên “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ” bị thu hồi sau khi cấp giấy phép xuất bản cho Nhã Nam hồi Tháng Một 2017, nhưng chính quyền TP.HCM lại cho phép một ngôi trường tư thục mang tên Trương Vĩnh Ký (THPT tư thục Trương Vĩnh Ký, số 110 đường Bành Văn Trân, phường 7 quận Tân Bình; và số 21 đường Trịnh Đình Trọng, phường 5, quận 11), và có một con đường mang tên Trương Vĩnh Ký ở phường Tân Thành, quận Tân Phú. Lăng và nhà tưởng niệm cụ Trương Vĩnh Ký tọa lạc tại số 520 Trần Hưng Đạo (trước năm 1955 là đại lộ Galliéni và từ 1955 đến nay vẫn là đường Trần Hưng Đạo) thuộc quận 5, Sài Gòn.

___________

Bài và ảnh: Tidoo Nguyễn

Nguồn: https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/sai-gon-muon-neo/lang-mo-cu-truong-vinh-ky-lang-le-giua-on-ao-pho-thi/

Vũng Tàu 31 tháng 3 năm 1975 – MX Bằng Phong Phạm Vũ Bằng

MX Bằng Phong Phạm Vũ Bằng

Chiếc HQ 802 nhổ neo lúc 6 giờ chiều 30 háng 3 năm 1975, nhưng vì sóng và gió ngược nên mãi đến 8 giờ tối mới rời Quân Cảng Cam Ranh để xuôi Nam về Vũng Tàu, trên tàu chở khoảng 4000 tàn binh của Sư Đoàn Thuỷ quân lục chiến (TT2TQLC,trang 551), như vậy chỉ có 1/3 quân số của Sư Đoàn thoát được về Cam Ranh, gần 8000 Thuỷ quân lục chiến còn lại thì hoặc chết hay mất tích tại Thuận An và Đà Nẵng. đa số các Thuỷ quân lục chiến tinh thần đổ nát và được mặc quần áo mới rộng thùng thình vì khi bơi ra chiến hạm từ căn cứ Non Nước Đà Nẵng sáng ngày 29 Tháng 3 năm 1975, các anh đã phải bỏ lại vũ khí và quân phục trên bờ.

Tôi được biết chỉ có Lữ Đoàn 468 Thuỷ Quân Lục Chiến của Đại Tá Ngô Văn Định lui binh tại bãi biển Nam Ô, may mắn được tàu Hải Quân vào sát bờ đón nên quân số và vũ khí cá nhân còn đầy đủ, cuộc lui binh của Lữ Đoàn 258 và 369 Thuỷ quân lục chiến tại căn cứ Non Nước đã xẩy ra trong hỗn loạn và đẫm máu, chỉ có những Thuỷ quân lục chiến may mắn và biết bơi mới lên được tàu, những người còn lại thi…(TT2TQLC, trang 578-579).
Ngoài ra tôi được biết Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến đã có cái vinh dự bảo vệ cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng tá túc trong đêm ngày 28 tháng 3 năm 1975 tại căn cứ Non Nước để rồi sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975 hộ tống ông lên chiến hạm sớm nhất, trước khi đi, lại còn được nghe ông đã nói một câu đáng được ghi vào quân sử: “Coi như đây là một cuộc tự thoát” (Đại tá Trí, TT2TQLC, trang 548).

Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến với quân số gần 12.000, là một sư đoàn tổng trừ bị của quân lực VNCH, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, đây là một trong những sư đoàn thiện chiến nhất mà sở trường là di động đánh những trận địa chiến lớn tấn công những đại đơn vị địch.
Sau chiến thắng Quảng Trị năm 1972, sư đoàn này bị Quân Đoàn I xin giữ lại để làm lính Địa Phương Quân giữ đất cho Quân Khu I.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần đòi Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến về, để làm những nhiệm vụ khác quan trọng hơn mà lần cuối cùng là ngày 22 tháng 3 năm 1975, (Tại sao tôi bỏ QK1, NQT) nhưng Quân Đoàn I đã không trả, để rồi ngày 29 tháng 3 năm 1975 Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến không được đánh với địch một trận nào mà bị tan hàng chỉ vì một cái lệnh lui binh hoảng loạn và không chuẩn bị tính toán.

HQ 802 về đến Vũng Tàu lúc 4 giờ 20 chiều 31 tháng 3 năm 1975, mãi đến 9 giờ tối tôi mới đặt chân lên cầu tàu với tâm trạng nhục nhã chán chường của một bại binh, nhìn trong đám đông tôi thấy anh ruột tôi, Bác Sĩ Phạm Lê Thăng lúc đó đang làm Trưởng Ty Y Tế tỉnh Phước Tuy, anh tôi đang tất tả ngược xuôi tìm tôi trên cầu tàu, gặp tôi anh mững rỡ hơn bắt được vàng, anh nhìn tôi từ đầu đến chân để biết tôi không bị thương rồi hỏi.

– Cậu đã ăn gì chưa, anh có mua khúc bánh mì cho cậu, cả nhà đều lo cho cậu.

Tuy không có một hột cơm nào trong bụng từ ngày 28 tháng 3 năm 1975 nhưng tôi vẫn nói để anh tôi yên lòng.

– Em còn no lắm, anh cứ đưa ổ bánh cho em để ngày mai ăn sáng.

Hai anh em hàn huyên một lúc rồi anh tôi phải về để báo tin mừng cho gia đình, trong ánh đèn vàng hiu hắt trên cầu tàu, tôi đứng đó, nhìn theo bóng anh tôi khuất trong màn đêm mà lòng đau đớn, tôi đã chẳng làm nên cơm cháo gì để bảo vệ đất nước, bây giơ lại làm cho cả gia đình lo lắng…

Orange County-California, 2010. Một buổi sáng mùa Thu có nắng vàng rực rỡ, ba anh Thuỷ Quân Lục Chiến già ngồi nhâm nhi nước trà tại Factory Cafe là tôi, Trần Như Hùng và Cao Xuân Huy, trên bàn thấy một tờ báo cũ đăng bài “Tại Sao Tôi Bỏ QKI” mà tác giả là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, chúng tôi chia nhau đọc, Tướng Trưởng phủ nhận tất cả tội lỗi của các tướng lãnh Quân Đoàn I bị kỷ luật và đổ tội làm mất Quân Khu I cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Đọc xong tôi thắc mắc hỏi hai đồng đội:

– Quân Đoàn I có quân số tương đương với địch, không đánh một trận nào cấp trung đoàn mà lại tan hàng chỉ trong có năm ngày, vậy mà không ai có lỗi ?

Cao Xuân Huy cười rồi nói:

– Chỉ có mấy thằng lính là có tội thôi!

Đây cũng là câu cuối cùng Cao Xuân Huy nói với tôi vì chỉ mấy tuần sau anh đã lên tàu suốt để trở về bãi biển Thuận An tìm lại khẩu súng đã bị gẫy tháng Ba năm 1975…..

MX Bằng Phong Phạm Vũ Bằng.

Nguồn: http://vietdethuong.com/viewtopic.php?f=133&t=115331&start=100

Chuyện Taiwan: Châu Chấu và Voi ? Lực lượng quân sự: Không quân Taiwan – Trần Lý

                                                                    Trần Lý

Châu chấu và voi là hình ảnh để so sánh các con số trên giấy về lực lượng Không quân giữa Trung Cộng và Taiwan :

– Số máy bay các loại của đôi bên (theo GlobalFirepower 2022)

                                                              Trung Cộng                    Taiwan

                    (Xếp hạng trên thế giới, trong ngoặc đơn)

   – Tổng số máy bay các loại :                   3,285 (hạng 3)           741  (hạng 9)

   – Máy bay chiến đấu (fighter)                  1200 (hạng 2)            288 (hạng 8)

   – Máy bay tấn công (attack)                    371 ( h.3)                   không có

   – Máy bay vận tải (transport)                   286 ( h.3)                   19 (h.31)

   – Trực thăng                                            912 ( h.3)                    208 (h. 19)

   – Trực thăng tấn công                             281 ( h. 3)                   91 (h.7)

Qua các con số thì quả thật KQ Taiwan thua xa KQ Trung cộng !

     Theo Intelligence Resource Program :

KQ Taiwan có khoảng 70 ngàn người cùng trên 700 phi cơ xếp vào loại chiến đấu (tính gồm cả các phi cơ huấn luyện có thể cải biến thành chiến đấu  khi cần. Hiện tại KQ Taiwan vẫn đang sử dụng khoảng 180 phi cơ chiến đấu loại cũ F-5E/F và khoảng trên 100 phi cơ chiến đấu tự chế tạo (Indigenous Defense Fighters = IDFs). Các IDF sau thời gian ban đầu (từ 1980) gặp một số trục trặc đã được sửa đổi và cải biến các thiết bị điện tử để hiện trở thành một loại phi cơ chiến đấu tối tân, không thua kém và có đủ khả năng đối đầu với các phi cơ của Trung cộng chế tạo  (?) Tính cho đến đầu năm 2000, khoảng 130 chiếc IDFs đã được hoàn tất  và trang bị các phi đạn cũng ‘made in Taiwan’ BVT Tien Chien II (Sky Sword-II AR ( loại không chiến)

   Taiwan cũng mua 150 phi cơ F-16s của Hoa Kỳ : 120 chiếc, một chỗ ngồi, kiểu “A” và  30 chiếc , 2 chỗ ngồi, kiểu “B”. Số phi cơ này đã được giao trong thời gian 1997-99 (4 chiếc bị mất do tai nạn). Các F-16 này được trang bị với các hỏa tiễn AIM-7M Sparrow và AIM-9S Sidewinder.

   Taiwan nhận được 60 phi cơ Mirage 2000-5s do Pháp chế tạo từ tháng 4-1997- 1998, Các phi cơ này được trang bị các hỏa tiễn Magic II hồng ngoại và được yểm trợ bởi 4 giàn radar MICA, nên các Mirage được xem là các phi cơ chiến đấu phòng vệ không phận vào lợi hại nhất trên thế giới

  KQ chiến thuật Taiwan dự trù sử dụng các IDFs trong nhiệm vụ ‘nghênh cản ” ở cao độ thấp và yểm trợ tấn công cho bộ binh; Các F-16 dành cho cao độ trung bình, và khu vực ngoài khơi (off-shore). Các Mirage bảo vệ không phận trên cao..

   Các F-5 cũng được cải biến với các thiết bị tối tân hơn..

  Hệ thống phòng không của Taiwan được đánh giá là rất tân tiến và hữu hiệu.. phối hợp cùng các phi đạn phòng không SAM đặt dưới đất và các phi cơ chiến đấu ‘thế hệ thứ Tư’

* Tổ chức của Taiwan Air Force :

Các đơn vị chiến đấu của Taiwan được chia thành :

– 6 phi đoàn phi cơ chiến đấu ‘chiến thuật’

– 1 phi đoàn vận tải và chống tàu ngầm

– 1 phi đoàn kiểm soát chiến thuật (tactical control)

– 1 phi đoàn liên lạc và kiểm soát không lưu

– 1 phi đoàn dự báo thời tiết

– 1 Bộ Chỉ huy Phòng không và Pháo binh gồm 5 Lữ đoàn, 16 Tiểu đoàn Pháo binh phòng không.

  • Các phi cơ trang bị cho KQ Taiwan

   Các phi cơ chiến đấu ‘cũ’ như F-5s , hiện vẫn được tạm sử dụng, trong giai đoạn đang được dần dần thay thế.

 Bảng kiểm kê 2021 ghi Taiwan còn 27 chiếc F-5E và RF-5E, 35 chiếc F-5F

                  RF-5E là phi cơ trinh sát

   Từ 2021, KQ Taiwan đã dự trù thay thế 35 chiếc F-5F dùng huấn luyện tại Căn cứ Shi Hang  (TaiTung) vào 2023 bằng các AIDC-T-5 tự chế tạo.

  • Các phi cơ do Taiwan tự chế tạo

   Trước 1984, Taiwan hoàn toàn phụ thuộc vào việc cung cấp phi cơ (các loại) từ Hoa Kỳ. Hoa Kỳ cũng nhận việc huấn luyện cho các phi công Đài Loan KQ và HQ Taiwan tại Căn cứ Luke (Arizona)..

   Taiwan đã phải đặt ra một chương trình tự chế tạo các phi cơ chiến đấu tự vệ (Indigenous Defense Fighter), khi Hoa Kỳ, do thay đổi chính sách của Chiến lược Toàn cầu, từ chối cung cấp các F-20 và F-16 theo yêu cầu của Taiwan.

    Năm 1989, mẫu phi cơ ‘nội hóa’ F-CK-1 Ching-kuo  (Kinh Quốc) bay thử nghiệm thành công, và chiếc này thật sự hoạt động vào 1994..

   Nhưng vào năm 1992, KQ Taiwan qua sự ‘đồng ý’ (!) của Hoa Kỳ, nhận được các Mirage 2000-5 (56 chiếc) từ Pháp và F-16A và B từ Mỹnên chương trình phát triển F-CK-1  bị chậm lại.

Mirage 2000-5 của KQ Taiwan

Cũng do Mỹ từ chối cung cấp các bom ‘tinh khôn’, nên Taiwan đã tự chế các loại bom ‘riêng’ để phòng chống trường hợp bị Trung Cộng tấn công từ nội địa.

   Taiwan cũng đang có kế hoạch thay thế các phi cơ huấn luyện đang còn sử dụng gồm các AT-3 và F-5 LIFT , gồm 66 phi cơ. Năm 2008, KQ Taiwan thông báo mở ‘thầu  cung cấp’ từ các công ty quốc tế sản xuất phi cơ huấn luyện. Công ty Lockheed Martin (Mỹ) đề nghị loại T-50 và Công ty Alenia Aermacchi (Ý) đưa ra chiếc M-346. Phi cơ được chọn dự trù sẽ do Taiwan sản xuất nhượng quyền, phí tổn lên đến 2.2 tỷ USD. Nhưng sau khi TT Thái Anh Văn đắc cử, bà đã quyết định giành quyền tự chế tạo phi cơ theo thiết kế hoàn toàn của Taiwan. Số phi cơ dự trù là 66 chiếc.

     Từ tháng 4 2021, Bộ Quốc Phòng Taiwan đã quyết định sẽ tự thiết kế và chế tạo các phi cơ chiến đấu  ‘thế hệ thứ 4’ và kế hoạch sẽ bắt đầu đi vào thực hiện từ 2024..

   TT Taiwan Thái Anh Văn trong phòng lái chiếc AIDC- T5

  • Các phi cơ Taiwan do.. Mỹ cung cấp ?

  Một trong những phi cơ chiến đấu tối tân đầu tiên của Taiwan  là các Northrop F-5 mua của Mỹ. (KQ Trung Hoa Dân quốc trước đó bay các loại như F-86.. ) Năm 1974, Taiwan mua tổng cộng 308 chiếc F-5s, do thiếu phụ tùng Taiwan buộc phải tháo gỡ cơ phận còn dùng được từ các chiếc hư hỏng không hoạt động để lắp vào các phi cơ khả dụng

    Công Ty Công Nghiệp Hàng Không của Taiwan= AIDC (thành lập từ 1969) đã tìm cách chế tạo các cơ phận tại chỗ.. Tính đến 1973, AIDC đã ‘chế và tái chế’, theo nhượng quyền, được 242 chiếc F-5E và 66 chiếc F-5F..

   Năm 1992, Taiwan mua 150 chiếc F-16 A/B của Mỹ, và đặt mua 60 chiếc Mirage 2000-5 của Pháp (trong đó 48 chiếc phi cơ nghênh càn, một chỗ ngồi 2000-5E1 và 12 chiếc huấn luyện 2000-5D1, các thiết bị tiếp xăng khi bay và yểm trợ tấn công các mục tiêu dưới đất đều bị tháo bỏ!)

     ( Mỹ ‘miễn cưỡng. bán cho Taiwan ; các F-16 Bloc 20, một biến đổi pha trộn : dùng Bloc 150CU làm căn bản, dùng cánh của Bloc 40 và đuôi của Bloc 50 cùng các thiết bị điện tử cùng loại với các F-16s mà các Quốc gia Âu châu đang dùng . 150 chiếc F16s loại này được giao cho Taiwan trong khoảng thời gian 1997-2001.)

   Từ những năm 2010s, Mỹ cung cấp cho Taiwan một số phi cơ trực thăng, phi cơ vận tải C-27J, C-130s (20 chiếc);  phi cơ tuần tra E-2T Hawkeye (6 chiếc), P-3 Orion (12 chiếc)

     Đa số các phi cơ cánh quạt của KQ Taiwan được đặt dưới sự điều động của Phi đoàn Hỗn hợp  Số 6 , đặt tại Căn cứ PlngTung.

    Những phi cơ cũ nhất là 19 chiếc vận tải C-130H và 1 chiếc C-130HE , cảnh báo điện tử; tất cả đều đã hoạt động  trên 35 năm. Tuy đã được cải biến nhiều đợt từ ngày nhận các phi này nhưng khả năng chiến đấu có thể bị suy yếu do thiếu các radar cảnh báo, hệ thống báo động chống các phi đạn phòng không của quân địch. KQ Taiwan đã có những kế hoạch cập nhật hóa các thiết bị điện tử cho toàn thể phi đội C-130 này.

   Phi đội 12 chiếc P-3C Orion  canh chừng mặt biển, của Taiwan (do HQ Hoa Kỳ chuyển nhượng) được xem như đã có thể hoạt động hành quân từ tháng 12-2017 để thay thế cho các Grumman S-2T lỗi thời, không thể theo dõi được hoạt động của các chiến hạm Trung cộng.

   Sáu phi cơ Northrop Grumman E-2K Hawkeye giữ nhiệm vụ cảnh báo tầm xa trên không (early warning), để bổ túc cho các giàn radar cảnh báo ven biển, trong trường hợp các giàn nảy bị tấn công và vô hiệu hóa. Các E-2K tiếp tục được cải thiện bằng các thiết bị điện tử mới và tối tân hơn của Hoa Kỳ. Chương trình dự trù kéo dài đến 2024.

  Tháng 11-2011, Hoa Kỳ đồng ý cung cấp cho Taiwan các F-16V (bloc 70) để thay thế các F-5 , đến thời kỳ phế thải..Chương trình Phoenix Rising upgraded này trị giá 5.3 tỷ USD dự trù trang bị cho các F-16 V nhiều loại radar tìm mục tiêu mới (APG-83 fire control radar ,cùng các hỏa tiễn không chiến AIM-9X Sidewinder tối tân hơn. Chiếc F-16V đầu tiên được giao cho KQ Taiwan vào tháng 10-2018, sau đó 37 chiếc giao vào tháng 12-2020. Các F-16 A và B sau hơn 20 năm hoạt động bị thiệt mất 9 chiếc, số 141 còn lại sẽ được thay thế dần bằng F-16V, hạn cuối vào 2024.

    (Năm 2006, Taiwan đã xin mua các kiểu F-16C và F-16D , tối tân hơn nhưng bị Hoa Kỳ từ chối. Khoảng cách giữa khả năng kỹ thuật của KQ Taiwan càng bị lùi sau KQ Trung cộng,  đã trang bị các Shenyang J-11s và J-16s, chế tạo theo phi cơ Nga Sukhoi Su-27s và Su-30s)

  • Phi cơ chiến đấu ‘made in Taiwan’

   Hai loại phi cơ chiến đấu ‘nội hóa’ của Taiwan được xếp vào hạng’ tối tân’ không kém các phi cơ do Trung Cộng, Nam Hàn và Nhật chế tạo :

  • Nam Hàn có phi cơ chiến đấu KAI KF-X và huấn luyện T-50..
  • Nhật có phi cơ huấn luyện Kawasaki T-4..phi cơ chiến đấu Mitsubishi F-2
  • AIDC F-CK-1

   Trong Thập niên 1970s, Taiwan đã gặp rất nhiều trở ngại từ phía ‘đồng minh‘ Hoa Kỳ trong kế hoạch hiện đại hóa KQ của mình ! Hoa Kỳ, để làm hài lòng Trung Cộng  ‘thay đổi thái độ’ với ‘bạn cũ’ Taiwan. Từ chối bán cho Taiwan , loại F-20 (chỉ là F-5E tối tân hóa), gây khó khăn cho việc cung cấp F-16A..

   Đến Tháng 5-1982, Chính phủ Taiwan đã phải quyết định tự chế tạo các phi cơ chiến đấu cho nhu cầu phòng vệ sống còn của Đảo quốc, đang bị ‘đồng minh’ bỏ rơi..

Bốn phi cơ ‘mẫu’ được chế tạo thử , chiếc đầu tiên xuất xưởng ngày 10 tháng 12, 1988 và sáu tháng sau, bay chuyến ‘khai.. trương’.

  Phi cơ được đặt tên Ching-kuo=‘Kinh Quốc’, ghi nhớ tên vị TT thứ 2 của Trung Hoa Dân quốc : Tưởng Kinh Quốc, con TT đầu tiên Tưởng Giới Thạch, là một phi cơ ‘lai tạo’ giữa F-16 và F/A-18. Kế hoạch ban đầu dự trù chế tạo 250 chiếc, sau đó giảm còn 130 vào năm 1992 khi Hoa Kỳ đồng ý bán các F-16A và B cho Taiwan

   Các FC-K1A và 1B được giao cho KQ Taiwan vào thời gian giữa 1992 và 1999.

Với sự yểm trợ kỹ thuật từ Công ty Lockheed (2004-2007) các CK-1A và 1B được trang bị các hệ thống điện tử ‘thông thường, truyền thống’. Sau đó Taiwan có các Chương trình ‘cập nhật hóa’ kỹ thuật : “Hsiang-Zhan”, các FC-K1s được cải tiến trong 2 nhóm : 71 chiếc (2009-2013) và 56 chiếc tiếp theo sau (2014-17). Các phi cơ mẫu được lấy ra khỏi kho tồn trữ và giao cho KQ Taiwan, để tổng số FC-K1s  lên đến 129 chiếc.

   Ngoài các AIM-9P Sidewinder (Mỹ), các FC-K1s Taiwan được trang bị các phi đạn không chiến tự chế tạo, mang dưới cánh 4 hỏa tiễn không chiến, tầm ngắn, điều khiển  bằng hồng ngoại Tien-Chien 1 và mang dưới bụng 2 hỏa tiễn do radar điều khiển Tien-Chien 2, tầm xa..Các FC-K1C và 1D còn được cải biến để phóng được các phi đạn Wan-chien có khả năng tấn công các mục tiên trên biển  và các căn cứ KQ và HQ Trung cộng trên đất liền , tầm cách xa 125km..

  • Phi cơ huấn luyện T-5

   Các phi công của KQ Taiwan, được huấn luyện căn bản tại Trường KQ đặt tại Căn cứ Kangshan trên các phi cơ huấn luyện ‘nội hóa’ AIDC AT-3, trước khi được chuyển về Taitung để được huấn luyện tiếp về khu tru6c trên các F-5F.

   KQ Taiwan cũng đã có kế hoạch thay thế các phi cơ huấn luyện cũ đã hết hạn sử dụng. Năm 2014, chương trình đấu thầu tìm loại phi cơ thích hợp, không có kết quả và từ 2016, các chương trình thiết kế các phi cơ huấn luyện nội địa được tiến hành..Bắt đầu vào năm 2017, do Cộng tác giữa KQ Taiwan,  Ban Nghiên cứu và Thiết kế của Bộ Quốc Phòng Taiwan cùng Viện Khoa Học và Kỹ thuật Quốc gia Chung Shan đã đặt kế hoạch sản xuất 66 phi cơ trong khoảng thời gian 2021 đến 2026, chi phí dự trù lên đến 2.3 tỷ USD.

   Chiếc phi cơ mẫu đã được TT Thái Anh Văn..’vén màn bí mật’ vào 24 tháng 9, 2020 tại Taichung và đặt tên là Yòngyìng = Dũng Ưng= ‘Brave Eagle”, hay dễ nhớ hơn là T-5. Phi cơ này dựa theo căn bản thiết kế từ F-CK-1 loại hai chỗ ngồi.

   T-3 là phi cơ huấn luyện có khung sườn dùng nguyên liệu ‘tổng hợp=composite’, giúp giảm trọng lượng, tiết kiệm nhiên liệu; thiết kế cũng thay đổi hình dạng cánh (của F-CK-1) để phi cơ bay chậm và ‘đầm’ hơn khi bay ở cao độ thấp, tháo bỏ súng (có thể lắp lại khi cần; thay đổi động cơ..Năm 2017 Công ty HoneyWell cung cấp các cơ phận cho 132 động cơ ITEC F124  sẽ lắp trên các T-5

 Chiếc T-5 đầu tiên, bay khởi đầu = ‘maiden flight’ ngày 22 -6-2019 và từ đó được tiếp tục cải thiện cho hoàn hảo hơn. Chiếc thứ nhì xuất xưởng ngày 25-12-2020 và dây chuyền sản xuất sẽ bắt đầu từ tháng 3-2023.

Chiếc T-5.. mẫu số 1

 Và.. bay biểu diễn..

                                                Trần Lý 9/2022

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển.