Contact

Những Con Đường Mất Tên Ở Huế – Võ Hương Phố

Tôi sinh ra và lớn lên tại Huế. Quê nội tôi ở Kim Long, nơi xảy ra một giai thoại vui để có câu ca dao trong văn học Huế “Kim Long có gái mỹ miều, Trẩm đi Trẩm nhớ, Trẩm về Trẩm thương…”. Quê ngoại tôi là thôn Vĩ Dạ, có “Nắng hàng cau nắng mới lên”, “Lá trúc che ngang mặt chữ điền.” Nhà ba mẹ tôi, tôi cùng anh chị em ở đó, trong Thành Nội Huế. Nơi mà con đường chính chui qua cánh cổng nội thành lớn ở phía Đông Thành Nội, chạy dài qua dãy nhà ngói đỏ nâu êm đềm, kín đáo, lặng lẽ, nhưng chất chứa những đổi thay điêu linh, chứng kiến những lớp sóng hưng phế dập dồn vào mảnh đất giang sơn cẩm tú cố đô.

Khi tự mình quay lui nhìn về một thời xa xưa tại Huế, nhớ đến những ngày giờ cùng năm tháng đi qua theo đời mình, tôi lại miên man với một nỗi niềm riêng hầu như không dứt. Kỷ niệm vẫn luôn là phần thưởng dành tặng cho những ai luôn nhìn về quá khứ. Với tôi, khi nhớ về Huế, nhớ đến những gì được tôi cho là đẹp, là thật Huế không nơi nào sánh bằng, và tôi vẫn muốn nuôi nấng trong tim thì… Huế đang bước từng bước nhẹ trở về trong tôi.

Lần đầu tiên trở lại thăm Huế, tôi cứ nghĩ về một chốn cũ thân ái của tôi – những nơi chốn nhiều màu sắc và thơm ngát những hương vị Huế – sẽ biến mất hay đã phát tán theo mười phương ngũ hướng như những hạt phấn thông vàng trong những chiều gió chướng. Nhưng, thế mà đó, vẫn là một hiện diện, vẫn là một thản nhiên hiện hữu để lạnh lùng thay đổi. Những thay đổi làm lòng tôi phải chùng xuống, chùng lại những cảm giác thật lặng lẽ như những sợi dây đàn cổ từ lâu không được so phím lại.

Thời gian dù đã đi qua, nhưng kỷ niệm vẫn ở lại. Nhớ thương Huế là chuyện về Huế, chuyện về một kinh thành cổ nhiều mưa nắng, lụt lội, hạn hán, học trò, các mệ hoàng phái, kinh sử, ngày đơm tháng kỵ, nớ nớ, răng răng, mô tê chi rứa… và, đáng nhớ nhất là những con đường đã được nhắc tên một cách… rất đặc trưng Huế. Ôi, biết mấy cho vừa để nói ra đây. Thôi thì trước hết là những con đường xưa ở quê nhà mà tôi đã từng đi qua, từng sống cùng. Qua những đổi thay theo từng thời thịnh hay suy, những con đường đó vẫn là những con đường đã in sâu vào ký ức của người Huế riêng tôi và từng người Huế tuỳ theo xúc cảm của mỗi ai. Những con đường hồi ức này đã có từng số phận riêng mang, thấp thoáng vẽ đẹp kỳ bí hay lây lất nhuốm đau vì những con sóng đổi dời mà tôi đang muốn nói cùng bạn đây.

Những con đường có tên chính thức đã được vào sổ sách văn khố, nhưng những cái tên phụ lại đựợc đặt thêm trên cửa miệng của người con riêng của Huế. Vâng, phải là người Huế ở trong vòng thành phố của Huế mới là con Huế. Ra khỏi vòng thành trên dưới khoảng 10km thì không là con Huế, âm hưởng ngôn từ lại là không phải là tiếng Huế ngọt ngào thanh tao và Huế… rặt. Người con Huế phải uống nước sông Hương từ cửa nguồn A Sầu. Giòng nước lớn này chảy xuôi, mạnh, và ngọt mát đổ về thành một nhánh sông lớn uốn khúc, mềm mại chạy về thành phố, chui dưới gậm cầu Tràng Tiền, rồi đổ ra cửa biển Thuận An. Và những cái tên gọi thêm cho những con đường quen thân như là những sản phẩm sinh sôi nảy nở từ những cái giản dị, sâu lắng, bình dân, quý phái, nôm na, tượng hình, và dễ nhớ. Bất cứ ai ở lâu với Huế, cũng biết đến những con đường đầy dấu tích đã ghi sâu trong tim mình khi được hỏi tên, vô hình chung nhiều lúc người ta lại như quên cái tên chính hay ho của nó.

* Đường Đoát. Thời đi học, trung hay đại học, tôi thường đi bộ, dù nhà ở trong Thành Nội, tôi thích đi ngược qua con đường Đoát, bên kia sông, bên lưng Bệnh Viện Huế. Thật sự tên đường là Trưng Trắc nhưng vì hai bên đường trồng toàn những cây Đoát, cao, lá tỏa rộng bóng mát, trái từng chùm như chùm cau nhỏ. Vậy đó, gọi ngắn là đường Đoát cho nó tiện, lại hay. Một cái nhớ rất thi vị từ thời con nít: quanh quẩn trên đoạn đường Đoát lọt thỏm vòng cong, tôi với một số bạn cùng xóm tụ tập, lê la đến lượm những trái đoát khô rụng bên đường đập bể ra để lấy hột bên trong ăn như hạt đậu vị béo ngậy, ngọt ngọt. Thời đại học, lại có quán cà phê Góp Gió ở góc đầu đường Đoát, là nơi hội tụ giới sinh viên, giới văn nghệ sĩ, không khí quán trang nhã có tính văn học. Tôi cũng thường hay lui tới quán cùng một người bạn ở trường Luật để thưởng thức ly trà đá Lipton có hương vị trái cây ướp thêm vào. Nay hỏi một người già, hay người cùng trang lứa với tôi, vẫn nhớ. Nhưng các con, em, hay người từ miền khác vào sinh sống, dạ thưa O, tui không biết đường Đoát là ở mô. Vì, con đường có hai hàng Đoát chạy dài nghiêm trang nhưng thơ mộng ngày xưa nay đã biến hình thành một vườn chơi cho trẻ em với những đu, tuột, xe lửa chạy… Những cây Đoát chỉ còn lại trong những gạn lọc trí nhớ của tôi và cái tên mới của con đường đã không làm tôi quên đi những kỷ niệm xa xưa trên con đường này.

* Đường Phượng Bay. Tên thật là Đoàn Thị Điểm, đi ngang qua cổng thành vào Đại Nội. Hai bên đường thẳng tắp hàng phượng vỉ đỏ rực lửa hạ vào mùa hè. Cơn gió nhẹ thổi qua, hoa phượng đỏ bay như mưa rơi. Và “Mưa Hồng” đã ra đời do cảm tác của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trước 75. Con đường được thêm tên riêng rất hay, nhưng khi được nhắc đến, đặc biệt là trong giới học sinh, sinh viên ở Huế, thì đã là một đề tài… hóm hỉnh. Vì sao?

Đêm xuống, con đường không có đèn đường, luôn tối thui như đêm ba mươi (trừ những đêm trăng )không thấy bàn tay lật ngữa, vì những tàng cây phượng rậm rì, tỏa rộng, che cả đám sao trên trời. Đây là một thế giới lý tưởng cho những cặp tình nhân tình tự trong bóng đêm đồng lỏa. Thì thầm, quấn quýt, say đắm bên những gốc cây, bờ cỏ ướt mịn sương đêm. Sau này, biến chuyển năm 75 đã đem về cho Huế những con người không phải Huế, thì con đường này còn là nơi chốn cho cả hành nghề… nghiệp dư. Tội nghiệp cho những linh hồn cung phi trinh nữ trong cung cấm Đại nội sát vách cổng thành phải che mặt lại. Tôi và một vài cô bạn đã nghịch ngợm đi thăm cái “chợ tình ” trong bóng đêm trên con đường phượng bay này một lần bằng chiếc xe đạp mini và cây đèn pin nho nhỏ. Thầm nghỉ mình vô duyên, lại con nít quá. Nay, con đường đã có hai hàng đèn vàng, hàng cột đèn quý phái như ở Paris. Thành phố Huế nay đã thành nơi chốn cho Tây về tham dự trong ngày lễ hội Văn hoá Festival.. Những quán cà phê tre trúc đẹp lãng mạn, ánh đèn màu nhấp nháy trong đêm, quán nước mía mọc dọc hai bên đường, và nhất là hàng phượng đỏ đã già không còn hoa bay trong gió để thành cơn mưa hồng. Không còn ai nói đến tên đường Phượng bay nữa, chỉ mình tôi. Tôi nhắc lại để cho tôi nhớ về một kỷ niệm vui của thời mới lớn, và cho những ai đã từng có lần bước vui trên xác hoa phượng hồng rực nở suốt con đường mang tên một loài hoa mùa hạ ở Huế.

* Đường Dốc Nam Giao. Thật ra là đường mang tên Lam Sơn. Đường có con dốc cao cũng là con đường chính đi ngang qua ngôi chùa lớn nhất Huế: chùa Từ Đàm. Bên cạnh còn có chùa Thiên Minh nhỏ hơn nhưng sang đẹp và thêm một số ngôi chùa nhỏ. Cuối con đường dốc dài là Đàn Nam Giao, nơi mà hàng năm các vị Vua triều Nguyễn đến làm lễ tế trời đất cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Người dân Huế thích gọi tên con đường này bằng cái di tích lịch sử hơn nên hay nói với người phu xích lô: “cho tui về dốc Nam Giao”, và khi leo dốc thì người phu xe phải xuống xe rồi cong người đẩy xe có khách đang ngồi trên xe. Khách thấy thương cho thêm tiền. Ngày nay, phương tiện đi lại đa số bằng xe gắn máy, hình ảnh rất ấn tượng của người phu xích lô nhoài mình đẩy xe có khách ngồi, trèo dốc Nam Giao dưới cơn mưa dầm xứ Huế như chìm dần vào những giọt nước nhạt nhoà của cơn mưa nhỏ đổ nhẹ xuống vai những tài xế xe thồ, hoặc cơn mưa lớn trút mạnh trên chiếc lưng trần láng bóng của những chiếc taxi.

Đêm xuống, những ánh đèn ẩn ẩn hiện hiện, chập chờn ma quái từ những ngọn đèn dầu xách tay của những người đàn bà với nách thúng hột vịt lộn lùi trấu ấm đi dọc con đường dốc, hay ngồi lấp lững bên vệ đường. Khách đi chơi về khuya, dừng xe, ngồi xổm xuống bên thúng trứng, bảo bà bán trứng soi bên ngọn đèn dầu chọn cho đúng cái trứng tiêu chì. Trong đêm khuya, gió từ sông thổi lên lành lạnh, lá phượng lá me rì rào trong từng tán lá dày rậm đen đặc, bí ẩn. Tôi vài lần đã cùng bạn ngồi bên lề đường, cạnh thúng trứng ấm và cây đèn dầu lung linh ánh sáng vàng nhạt trong bóng đêm khuya đen thẩm, húp chút nước ấm ấm ngọt lịm từ cái trứng, lắng hồn để nghe nhè nhẹ được cái hương vị về đêm của Huế thấm dần vào trái tim người Huế của mình. Nhưng thôi, đêm nay nếu bạn về Huế thăm con đường lên dốc Nam Giao, tiếng nhạc dội vào tai, ánh đèn điện nhấp nháy muôn phía, hai hàng lề đường về đêm bổng thành phiên chợ đêm ẩm thực huyên náo. Ngọn gió từ sông Hương không còn ru xào xạc hàng cây lá bên đường Lê Lợi và không còn thổi mát qua con đường có con dốc cao kiêu hảnh “hoàng triều”… của Huế đô..
Tôi tản bộ trên con đường xưa trong một đêm về lại Huế, dừng chân một chút ở góc đường ngang qua trường Luật, rồi trãi dài hồi ức theo con đường kỷ niệm này. Nay chỉ còn đọng lại trong tôi màu đen của đêm, tiếng rao bán hột vịt lộn lạc lỏng chơi vơi, và một nỗi thất thoát âm thầm về con đường khả ái mang tên một địa danh của thành phố cổ kính. Nhưng tôi vẫn mãi mãi giữ lại trong tôi một con dốc cao nhiều dấu ấn lớn, đẹp nhất trong đời tôi để cứ có cảm giác: “Vượt dốc Nam Giao theo mẹ lên chùa.”
* Đường Hàng Bè. Là tên gọi riêng cho con đường Huỳnh Thúc Kháng. Đặc điểm là con đường này chạy suốt theo bờ sông ngay mé bên trung tâm phố Huế, có nhiều bến đò nhỏ, và bến lớn nhất là Bến Vạn Tượng. Đây cũng là con đường dài một chiều từ phố đổ về vùng phụ cận, muốn trở lên lại để về phố thì xe cộ cũng phải theo con đường một chiều ngược lại có dãy phố sang trọng, sầm uất thời xưa trước 75, và được mang tên của nhà chí sĩ cách mạng thời Pháp thuộc: Phan Bội Châu. Nay tôi chỉ muốn nói đến con đường Hàng Bè, nằm bên một nhánh sông nhỏ của con sông Hương đổ về phía tả ngạn của thành phố Huế. Hai bên con đường là hai thế giới nhỏ hoàn toàn cách biệt nhau về lối sống, sinh hoạt, và con người. Trên đường bộ, dãy lầu cao, cửa tiệm san sát bán đồ vật liệu xây dựng, phòng mạch nha bác sĩ, mấy tiệm kem có máy lạnh sang trọng, và là nơi chốn của giới thương gia giàu có. Dưới sông, với cuộc sống chật hẹp chập chờn trên sông nước ẩn náu dưới những con đò nhỏ như những căn nhà nhà lợp lá vòng cung, nho nhỏ, bập bềnh nỗi tại chổ, san sát nhau như kết lại thành một xóm. Do vậy người Huế thường gọi những xóm đò này là vạn đò.
Con đường hàng Bè trước 75 đã là một nơi chốn tấp nập thuyền, đò, xe vận tãi, xe ba gác, xe xích lô… đủ loại phương tiện chuyên chở trên bộ hoặc dưới thủy. Vô hình chung được xem như là một Bến cảng bỏ túi của thành phố. Ngoài những chuyến đò lớn chở vật liệu xây dựng như cát, sạn, gạch, đá… còn có những đám tre, nứa được kết lại thành từng bè lớn thả trôi trên nước được đem về từ các vùng thôn quê phụ cận để bán. Và danh từ Bè đã vô hình chung được đặc tên cho con đường một chiều ở phố Huế.
Nhưng, người dân Huế khi nói đến tên đường Hàng Bè thì lại muốn nhắc đến một nơi chốn đặc biệt xa xưa trước 75. Chế giểu hay thích thú, công khai hay che giấu, nhận chịu hay từ chối… thì cũng đã một thời hiện diện trên kinh thành cổ kính Huế. Xóm vạn đò đường Hàng Bè đã là một xóm Yên Hoa trên nước.
Người Huế có cái thú thanh lịch là ngủ trên sông. Thường là vào những đêm hè trăng rằm sáng, gió lả lơi ru ngủ, chiếc thuyền có mái che thả trôi lơ lửng giữa giòng trên mặt nước sông Hương óng ả ánh trăng. Cái thú hưởng mát trên sông trong một đêm trăng cho những gia đình phú quý, hay cho những tao nhân mặc khách, văn thi nhân cùng nhau đối ẩm, xướng hoạ… thì quả là một cái thú chơi cao cấp của người Huế xưa. Nhưng, nếu đi vào thế giới của những vạn đò bồng bềnh trên nước, bên một khoảnh bờ sông vắng, hay bên một đoạn mé sông dài chạy dọc theo con đường phố thị sầm uất thì Huế đô lại ngầm công nhận một nơi chốn để bán Hoa cho những khách xa nhà, cho những người lính viễn chinh dừng chân trong một đêm về phép để say tình cùng các mỹ nhân của vạn đò. Và vạn đò Hàng Bè đã đi vào huyền thoại của Huế, như khi ta nghĩ về một xóm Khâm Thiên Hà Nội xưa, hay một Đại Thế Giới ở Sài gòn thời khởi đầu.
Tiếng “Ngủ đò” đã được người Huế nói đến như một trêu chọc đầy ẩn ý, nhưng hình như cũng gây những thích thú, thôi thúc đầy ấn tượng cho các vị nam nhân Huế. Riêng chúng tôi, thời nữ sinh áo dài trắng, tóc thề ngang lưng, chiếc nón bài thơ được mạ cột cho chiếc quai nón bằng nhung đen, đi học bằng chiếc xe đạp mi ni. Mỗi lần đạp xe đạp đi học về, phải đi về con đường một chiều hàng Bè đó, thì cứ cúi đầu đạp nhanh như sợ ma đuổi, mắt nhìn lén lút dưới vành nón xem thử những con đò chở tình mặt mũi như thế nào… Ô, hình như có những chiếc rèm hoa màu mè diêm dúa, loáng thoáng bóng dáng các kiều nữ đò xỏa tóc dài với chiếc áo cánh phin nõn trắng. Ơ! Chi mà lạ rứa! Chàng chiến binh nào đó trên núi rừng chiến tuyến về phép thăm gia đình, ngơ ngác như Mán lạc về kinh, tình cờ đi bộ ngang qua vạn đò, thế là mụ mẹ mìn đò chạy ra níu áo níu tay như nợ đòi để dẫn vào… chiến trường tình ái. Và nhất là chúng tôi cứ sợ mấy mụ chào hàng hoa ngồi bên bờ đá, trên chiếc ghế nhỏ, tay phe phẩy chiếc quạt giấy… rồi vẩy luôn cả bọn nữ sinh trong trắng ngọc ngà như chúng tôi.
Gọi là để làm sạch thành phố hiện nay, thì những vạn đò bên sông về đêm đã biến mất theo giòng đời mới. Còn chăng là những lẫn lút trong bóng đêm của Huế. Vườn hoa, bụi cây, bãi cỏ trong công viên cạnh bờ sông thầm khóc nhớ đến số phận bẽ bàng của những chiếc đò giao tình vội vã trên sông Hương. Và đường Hàng bè còn đó nhưng cái tên dần không còn trong hồi ức của những chàng trai Huế ngày nào. Còn chăng là dãi sương khói trên sóng tóc các cụ .
* Đường Hàng Me. Khi nhắc đến đường Hàng Bè, tôi lại nhớ đến đường Hàng Me. Con đường trồng toàn cây Me. Những cây me già dần trở thành cây cổ thụ, lá me dày cho bóng mát và bóng đêm đen thẳm. Nhà cửa hai bên nho nhỏ, thấp thấp như lẫn vào bóng đen của hàng cây me. Đêm đến những cành me già đầy lá làm tối đen cả con đường nhỏ dẫn tới một khu vực gọi là Xóm Mới gần Sân Vận Động Huế. Thời của ba mẹ tôi, vùng đất xóm mới này có nhiều người đàn bà lấy chồng Tây nên người ta còn gọi họ là Me Tây, và lần hồi cũng trở thành một xóm yên hoa nỗi tiếng với cái tên Hàng Me. Con đường này ngày xưa hình như mang tên Phạm Ngũ Lão. Tôi chỉ nhớ chuyến đò ngang qua sông từ chợ Đông Ba đổ bến Hàng Me . Bến sông êm vắng đầy lau sậy mọc hoang, không có bậc tam cấp, khách đi đò phải xắng ống quần lên mà lội vào nước để trèo lên hoặc xuống khỏi con đò. Sau này, ngôi khách sạn Hương Giang, rồi bên cạnh là Century, cả hai đều có kiến trúc đồ sộ, sang trọng, rực rỡ, tọa lạc dọc bến sông Hương thơ mộng nằm đối diện con đường Hàng Me đã làm thay đổi bộ mặt con đường nhỏ âm u, cô tịch và không còn bến nước hoang vu chờ khách ngày nào.

Sau lần trở lại thăm quê gần đây, khi tôi đi vào con đường nhỏ ngày nào, hình như tôi đã lạc vào trận đồ bát quái với những khách sạn cao ngất, chen chúc nhau phô vẽ hiện đại hóa bên cạnh là san sát hàng quán, shop bán đồ lưu niệm dành riêng cho khách ngoại quốc. Du khách quốc tế và quốc nội qua lại nhỡn nhơ trên con đường Hàng Me xưa nay bổng thành con phố lớn thanh lịch, sang trọng ngăn cách với tầng lớp bình dân người Huế. Dù con đường đã có tên mới nhưng biệt danh của nó vẫn là những chữ còn đọng lại hương vị chua cay trên môi các bà cụ Huế xưa khi nhắc nhở về một làn hương phấn trên con đuờng Hàng Me của Huế.

* Đường Chè Chùa. Mùa hè Huế nóng rát da, cây rủ lá, con đường chảy nhựa như bốc khói, ve kêu rộn rã trên các con đường. Các quán chè ngọt ngào đã là nơi cho bầy ong học sinh, sinh viên bu vào. Có một quán chè trước mặt một ngôi chùa nhỏ, trên con đường chạy dọc theo bờ của một nhánh sông Hương vùng Đập đá mang tên Nguyễn Công Trứ đã là nơi tụ điểm mát và ngọt cho giới trẻ Huế vào những ngày hạ nóng khát khô. Và tên con đường dần dần có thêm một tên riêng rất thoát tục nhưng gợi ý là đường Chè Chùa. Nhớ ngày nào bọn nữ sinh chúng tôi khi chưa nghĩ hè, tan lớp, hay thỉnh thoảng cúp cua các giờ học phụ, kéo nhau đến quán Chè Chùa, đụng trận với đám nam sinh cũng đang tìm chút ngọt bồi bổ thêm cho những ngày học thi. Bọn nhỏ thi nhau chén… đủ các loại chè Huế mát lạnh, ngọt dịu dàng hương vị của Huế, lại vừa túi tiền tiêu vặt của học sinh, vừa có dịp cho lũ trẻ đá lông mi làm quen nhau. Con đường Chè Chùa nho nhỏ, loang lở vì mưa nắng và do những trận lụt hàng năm, “Trời hành cơn lụt mỗi năm”, đã là một nơi chốn thân quen, gần gụi, và chúng tôi đã đi qua bằng những chiếc xe đạp học trò trên những tháng ngày hè thanh xuân rộn rã tiếng ve. Những ly chè thơm ngọt và mái chùa cổ nhỏ đã làm nên cái tên riêng cho một con đường của Huế xưa. Không một người dân Huế nào vào thời ấy không biết và không một lần ghé qua.

Về thăm quê, tôi cố tình tìm lại cho mình thêm một con đường có tên trong cuốn sách kỷ niệm của tôi, chợt thấy lòng bâng khuâng nhớ mênh mang. Hình như tôi đã mất nó. Từ lúc nào, quán cà phê, quán ăn mọc lên như trong khu rừng nấm, tiếng xe gắn máy át tiếng ve kêu, quán chè xưa lạc loài trong chập chùng quá khứ. Ngôi chùa nhỏ nay là một ngôi chùa lớn oai nghi, lộng lẩy. Và con đường Chè Chùa vẫn là một con đường, vẫn còn mang một cái tên nguyên thủy sách vở của nó.

* Đường Áo Trắng. Tôi không còn nhớ nỗi tên con đường nhỏ này, dù mình đã từng mỗi ngày thời áo trắng Đồng Khánh, ôm cặp sách vào ngực, đứng dưới tàn cây Long nảo cao của con đường rậm bóng mát này cùng đám đông bạn cùng trường đợi giờ mở cổng vào trường. (Thời trước 75, học sinh trường này chỉ được phép ra vào cổng bên hông, cổng lớn chính giữa chỉ dành cho giáo sư và nhân viên trường, quan khách…)

Con đường này nhỏ, toàn cây cao, không một mái nhà thường dân trú ngụ lại là một con đường biên giới rất nên thơ giữa hai ngôi trường nam và nữ nỗi tiếng Huế. – Đồng Khánh và Quốc Học – Bên hông trường nữ nhìn qua bên hông trường nam, ngăn cách bởi một con đường, những kỳ bí của hai thế giới tuổi ngọc chỉ là những cái vẩy tay, nheo mắt, nháy nhó chọc ghẹo của cái “thứ ba học trò” qua khung cửa sổ lớp học trên hai dãy lầu đối diện nhau. Và khi tiếng chuông reo tan trường, thế giới bên nữ sinh đã mở rộng, không còn kỳ bí khi đàn thiên nga trắng ùa tung ra khỏi chiếc cổng trường giam giữ. Áo dài trắng ùa ra khỏi lớp học. Áo trắng, quần trắng, nón lá trắng ra khỏi cánh cổng trường mở toang. Áo trắng xuống đường dịu dàng tha thướt, trắng tinh khôi như một dòng suối trắng trên đoạn đường biên giới. Khách nam nhân ngẫn ngơ nhìn, mơ màng say say trong “Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong” và tên riêng cho con đường được thành tên Đường Áo Trắng.

Sau 75, ngôi trường nữ đã mất đi tên của vị vua hiền hòa muốn theo tây học và trường được đổi tên thành tên của hai vị nữ vương anh hùng đất nước. Trường không còn là thế giới riêng biệt của những con thiên nga áo trắng. Màu trắng chiếc áo dài lộng gió bay bay qua cầu Trường Tiền, hay tô trắng xóa những con đường học trò ngày xưa nay được thay thế chiếc áo sơ mi ngắn cụt ngũn. Áo nữ sinh bên cạnh áo nam sinh, mộng không bay ra khỏi cửa lớp mà ngồi bên cạnh mình trong tiếng “Vùng lên…” hoặc “Rừng núi dang tay nối…” Trời hỡi! Nam nữ thọ thọ bất tương thân! Áo Trắng ơi! “Ngày ấy đâu rồi, ngày ấy đâu rồi… cho tôi tìm lại”.

Con đường Áo Trắng khi tôi về tôi có đi qua lại. Tiếng guốc khua trên lề đường, giòng suối trắng thơ ngây cuồn cuộn khi tan trường, chiếc nón quai nhung cúi che nụ cười e ấp, nghịch ngợm như còn đâu đây trong đám rong rêu ký ức. Chiếc xe chở tôi đến góc đường như ngập ngừng dừng chân cùng cảm xúc dâng tràn trong tôi. Tôi dặn người tài xế taxi cố đi chầm chậm để may ra tôi còn có nhớ, có tìm thêm được chút nào thêm về con đường đã gắn bó đời nữ sinh áo trắng ngày nào của thế hệ chúng tôi. Hình như tôi có nghe lại được tiếng gió reo qua hàng cây Long nảo cổ thụ, và đã chợt thấy ẩn ẩn hiện hiện một màu áo trắng lướt qua trong sương chiều. Đến nay tôi vẫn không biết đến tên chính của con đường, và cũng không muốn biết thêm tên mới thay của nó.

*** Người Huế bình dân tính vốn chân thành dễ thương, hiền hòa và ngây ngô đầy ấn tượng trong cách đặt tên những con đường, ngay cả tên của những đứa con yêu của mình. Như đẻ con trai thì đặt tên là Trai hoặc là Đực cho tiện kêu, đẻ con gái thì đặt tên là Gái hay Bướm cho khỏi lộn con trai, ghét ông Cai làng đi thâu sưu thuế thì đặt tên Cai để la con cho bỏ ghét, hận mụ chủ nợ đi đòi nợ mình thì thì đặt tên con là Đòi để mắng con trả thù… Bà chị cả của tôi được mệ Nội tôi đặt tên trong giấy khai sinh, cái tên của một loại trái cây: Thơm ngon… như múi Mít. Khi hỏi mệ vì sao đặt tên này cho cháu Nội gái, mệ cứ nói: “Mít thơm hơn và cũng được để lên bàn thờ cúng”. Chị cả tôi đã bao lần ngậm bồ hòn mà khóc vì cái tên mình, lại có họ Võ nên bị bạn bè trêu chọc, nghiệt nhất, chị ấy lại là hoa khôi của một trường trung học tư thục thời đó, đám nam sinh theo chị như cái đuôi. Sau này, khi theo chồng định cư tại Mỹ, để trả thù cái tên mệ Nội đặt, lấy được quốc tịch Mỹ, chị đổi tên ngay và chọn cái tên đẹp của một vị công nương trẻ đẹp nhất của Hoàng Gia Anh.

* Đường Cầu Lòn. Nhắc tới công nương, tôi lại nhớ tên một con đường khác ở Huế mang tên một vị công chúa nước ta ngày xưa. Công chúa Huyền Trân đã bị vua cha gã cho vua Chiêm để đổi lấy sính lễ là 2 Châu Ô và Lý của nước Chiêm thành theo kế hoặch hòa hiếu Việt- Chiêm. Đường Huyền Trân Công Chúa.

Con đường chạy dài từ nhà ga xe lửa Huế lên đến vùng vườn trái cây Long thọ, Nguyệt Biều. Đường này gần nhà ga Huế có đoạn phải đi lòn dưới khúc cầu sắt của tàu lửa đi qua trên cao, thế là người bình dân gọi tên nôm na là đường Cầu Lòn. Cái tên ngắn nhưng đầy tượng hình. Từ tên một công chúa cao sang được vua Chế Mân hết dạ yêu thương, dân Chiêm hết lòng kính mến, chuyển ngang qua tên Lòn, thật ngộ nghĩnh, gợi hình, và bình dân. Đây chỉ là cái tên riêng của một con đường.

Tôi vẫn còn nghe cái tên quen thân ấy khi đi ngang qua ngắm nhìn lại chiếc cầu Lòn cũ kỹ nho nhỏ, bên cạnh là chiếc cầu lớn xinh đẹp vừa mới xây thêm. Chiếc cầu mới toanh bắc ngang qua khúc sông song song với chiếc cầu sắt đen cổ xưa Bạch Hổ cũng đủ làm nên một nét chấm lớn để phai mờ dần ấn tượng về một tên đưòng khi ta về và đi lại trên đoạn đường đã có cái tên riêng ngộ nghĩnh đáng nhớ.

* Đường Cồn Hến. Con đường này là một nhánh đường nhỏ đi lạc ra của con đường lớn mang tên Thuận An. Tên này rất đúng nghĩa của nó vì chạy dài từ cái đập chắn nước Đập Đá, ngang qua thôn Vĩ Dạ, thẳng về tận cửa biển nghỉ mát Thuận An. Nay tên đường đã đổi thành tên của một con người. Con đường Thuận An thật dài này có một đoạn đường ngắn ghé vào một cồn đất nhỏ giữa nhánh sông Hương chạy dọc theo làng Vĩ Dạ, đã được dân trong vùng gọi là đường Cồn Hến. Ốc đảo Cồn Hến là địa điểm nỗi tiếng của món Cơm Hến độc đáo với vị ngọt của những con Hến được vớt lên từ dưới lòng sông Hương, những ruộng bắp Cồn trái ngon ngọt, vàng ngậy mà không một nơi nào sánh được vì đã được trồng bên bờ sông của giãi đất cồn ấy.

Con đường đất nhỏ này đi qua chiếc cầu gỗ để vào giãi đất nỗi trên sông. Người dân vùng này hiền hoà, sống thu mình trên cồn Hến như một ốc đảo nhỏ có cây trái mật ngọt, và có tiếng chuông chùa ngân nhẹ khi hoàng hôn về trên sóng nước. Khi được đám sinh viên học sinh Huế khai phá, con đường này dần đần ngập đầy dấu vết của những bước chân học trò cúp cua tìm về những trái bắp luộc chín vàng óng, những ly chè bắp lịm ngọt vị tự nhiên, những tô cơm hến cay xé trong mùi thơm của chút ruốc Huế bay nhẹ nhàng trong những quán lá, quán tranh thô sơ đầy tiếng nói cười nho nhỏ. Thiên nhiên và con người như quyện mình vào nhau cùng sông nước của cồn đất thơ mộng, êm ả này.

Lạ chưa! Tôi lại chỉ nhớ ray rứt về chừng đó. Hay dư âm những lần hẹn hò đầu tiên e ấp dưới vành nón lá học trò tại chốn này đã làm rung lại nhịp tim đập trong tôi? Còn hình bóng đơn sơ của con đường đất nhỏ? Chiếc cầu gỗ lung lay, rầm rập theo những bước chân học trò? Đám ruộng toàn hoa bắp lay? Ôi, nay tôi lại đi qua thăm Cồn Hến trên chiếc cầu xi măng? Những quán hàng thanh lịch đồ sộ có bảng hiệu, rồi con đường lại có thêm cái tên lạ hoắc với tôi. Thôi mất rồi! Tên gì cũng được, miễn sao hãy giữ lại cho tôi những ly chè bắp ngọt ngào hương xưa, đọi cơm Hến cay xé nồng nàn cùng giãi đất cồn nho nhỏ thơ mộng nhiều dấu tích ngày tháng học trò.

* Đường Ngả Giữa. Người Huế gọi nôm na là vậy vì nó ở giữa hai con đường lớn Trần Hưng Đạo và Huỳnh Thúc Kháng, và vì nó ở giữa ngay trung tâm phố thị Huế. Tên thật của con đường là Phan Bội Châu. Nay đã bị đổi tên bằng tên một nhân vật sử sách mới nào đó, cũng họ Phan, mà thú thật đến nay bản thân tôi đã chưa một lần lục tìm trong văn khố đất nước để tìm hiểu. Chắc tại cái tính thủy chung, hoài cổ của tôi.

Con đường chính này dù ngắn nhưng là một hấp dẫn cho khách thương trường của thành phố, đã nổi tiếng là chủ nhân của một dãy phố sầm uất, thanh lịch, sang trọng nhất Huế. Con đường mà hàng ngày tôi đã đi về cùng màu áo học trò ôm cặp sách trước ngực ngẫn ngơ nhìn, rồi thèm thuồng, ao ước. Phải, học trò thì làm răng mà đụng tới những xấp gấm lụa là Hồng Kông bóng bẩy đắt tiền, những đôi giày, hộp son phấn, những chiếc áo thời trang thương hiệu được chưng trong những chiếc tủ kính bóng lộn của dãy phố giàu có này. Ôi, còn nhiều nữa… những tiệm giày với thương hiệu cuả Ý, tiệm mỹ phẩm và áo quần thời trang, tiệm uốn tóc, tiệm chụp hình sang lộng lẩy ảnh người mẩu, tiệm bán TV, máy nhạc, nhà hàng ăn quốc tế cấp cao, nhà sách văn hoá và nhất là có một tiệm ăn rất độc đáo, chiếm ngôi vị độc nhất về món Dê và Bò tái ở Huế.

Trời hởi! Dãy phố và con đường yêu thích của tôi đâu rồi. Bởi vì cái tên đường đã đổi, như thay đổi cả một linh hồn và thân thể. Con đường phố thị này bổng thành một chốn tấp nập, san sát những tiệm… đồ đồng, những vật dụng trang bị cho lễ lược chùa chiền, bàn thờ tại gia, tủ lạnh, máy móc, đồ phụ tùng xe máy và xe đạp… Ôi thôi, một tan tác như hành hình, tra tấn trái tim tôi. Tôi vốn là người của shopping thời trang, nay lại bắt tôi về lại để đi qua cái thế giới mới thờ phượng, chuông mỏ đèn thờ của người dân Huế vốn nổi danh sùng đạo nhất nước của tôi. Một mất mác lớn cho riêng tôi, nhưng thật ra là một trong những cái mất chung cho một thành phố cố đô thanh lịch được mệnh danh là hội đủ Văn, Thể, Mỹ.

* Đường Cột Cờ. Cái tên rõ ràng và tượng hình nhất vì nó là con đường chính của thành phố có kỳ đài phất phới lá cờ của nước suốt ngày tháng năm. Đoạn đường này đã từng là chứng nhân của bao lần thay đổi lịch sử đất nước qua những lần lá cờ quốc gia được thượng lên và hạ xuống. Người dân Huế thường nhắc tới tên đường Cột Cờ hơn là tên chính của nó. Thật ra chỉ là một khúc đường của con đường lớn Trịnh Minh Thế có bến xe xuyên tỉnh cùng tên và nhất là đi qua cửa Ngọ môn để vào cung cấm Đại nội.. Đoạn đường này như một địa phận dành riêng cho những buổi diễn hành trọng thể trong những ngày lễ lớn của quốc gia và những sự kiện trọng đại của triều đình và dân chúng ngày xưa.

Vùng đất của đoạn đường Cột Cờ đối diện hoàng thành, nơi có bến Phu Văn Lâu “Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm…” Vua đã ngự để hóng mát hay câu cá, bàn chuyện cơ mật cùng cận thần để rồi ”Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non”, nay bổng thành một khoảng đất lớn rộng của vườn hoa thành phố. Mùa xuân, Tết Âm lịch về, khoảnh đất kỳ đài quốc cấm ngày xưa lại trở thành một chợ Hoa xuân trùng trùng điệp điệp đủ loại hoa cúc, hoa mai… hoa xuân, đông nghẹt khách mua hoa sắm Tết trong mấy ngày đầu xuân. May thay! Người con dân Huế vẫn còn lại được chút gì quốc hồn trong chốn náo nhiệt hương hoa của cố đô.

* Đường Trại Tình Thương. Tên khai sinh của con đường là Đào Duy Từ, hay còn gọi là đường Hòa Bình. Vùng đất nuôi ngựa ngày xưa của triều đình Huế, sát khuôn viên dãy thành của Đại nội, ngăn cách bởi con đường này. Sau thời kỳ hoàng phế, vùng đất trống trở thành vùng đất hoang ẩm thấp, mùi hôi phảng phất, không người canh tác. Chính quyền đương nhiệm cho xây thành những dãy nhà nhỏ thấp như những dãy trại, lều bằng xi măng cho những người dân nghèo, gia đình cô nhi tử sĩ được làm chủ. Cái tên Trại Tình Thương từ đó ra đời và gắn liền với con đường. May mà con đường trước đây có một ngôi trường trung học cấp hai cũng tên gọi là Đào Duy Từ và sau này trở thành trường trung học cấp hai kỹ thuật của chế độ mới.

Hình như không còn ai nghĩ đến tên con đường đầy tính thương xót của con đường này, vì nó đã được đổi tên mới để quên đi một quá khứ đau buồn. Những dãy nhà tội nghiệp thủ phận nghèo khó, đã im lìm lặng lẽ về đêm trên con đường vốn ẩm thấp lũ lụt ngày xưa chỉ cầu xin một chút tình thương miễn phí. Thì nay, dãy biệt thự cao tầng, hàng quán xôn xao tấp nập về đêm trên con đường Trại Tình Thương nay đã có một tên mới và cư dân sống ở vùng đó lại nhỡn nhơ kiêu hảnh về giá trị của một mặt bằng kinh tế. Thật rõ câu “Vật đổi sao dời”.

*** Có những con đường lớn ở thành phố Huế tuy không bị đổi tên như Mai Thúc Loan, Đinh Tiên Hoàng, Chi Lăng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Duy Tân… nhưng lại có những thay đổi lớn lao tự bản thân nó theo thời thế tạo, theo làn sóng hội nhập, theo những biến chuyển kinh tế dồn dập đến mức độ không thể dừng lại, và con người phải theo vết xe lịch sử lăn bánh. Sự mất hay còn vẫn là nguyên lý của thượng đế. Con đường nhà tôi ở, con đường nhà bạn ở, con đường có ngõ vắng đầy hoa Mai vào Xuân, con đường đầy phượng đỏ rộn tiếng ve mùa hè, con đường đi qua nhà người yêu có cành sầu đông, cây trứng cá đong đưa trong gió đông bên cửa sổ, con đường cùng chúng bạn đi qua để tìm tới… những hàng quán rồi dẩm trên xác lá đầu thu khi sắp trở lại trường. Những con đường chính là những sản phẩm thời cuộc rõ ràng nhất để thấy sự đổi thay. Những mất còn của cuộc đổi dời nhiều lúc làm ta bàng hoàng như tỉnh giấc sau một cơn mơ kỳ lạ. Ai cũng đã thấy lại và đã từng cất tiếng: “Ôi, cái đường này bửa nay lạ ghê, nhìn không ra cái ngõ đi vào nhà mình ngày xưa…” Và, khi nhận ra ta muốn trở về tìm lại cái gì mình đã xa thì hãy biết rằng: Ta đã mất.

Cơ man nào là những con đường trên vạn nẻo đã bị mất tên, thay hình đổi dạng, dù đẹp xấu hay nhiều kỷ niệm để làm ta nhớ. Những gì thân thuộc đầy dấu tích yêu thương hay ghét bỏ của những con đường ta đã đi qua, đã sống cùng nó hoặc mang theo trong trí nhớ còn tùy thuộc vào lòng mình hướng về một nơi chốn gọi là Cố Hương, dù biết rằng: “Quê Hương là ở trong ta”.

Võ Hương Phố

Nguồn: https://www.tvvn.org/nhung-con-duong-mat-ten-o-hue-vo-huong-pho/

Advertisements

CUỘC THOÁT HIỂM LY KỲ CỦA TRUNG ÚY PHI CÔNG NGUYỄN CHÍ LONG

TRƯƠNG MINH HÒA, 21/08/2009

-Xin được ghi lại cuộc thoát hiểm ly kỳ của trung úy hoa tiêu trực thăng Nguyễn Chí Long, người viết bài nầy có cơ hội gặp anh trong trại tù Vườn Đào, trại lao động Mộc Hóa. Câu chuyện về cuộc thoát hiểm nầy được một số bạn bè trong tù biết. Người viết không phục vụ trong Không Quân, nên chỉ ghi theo những gì được nghe, trong tinh thần nhớ một người bạn tù thân thiết, nhằm vinh danh một chiến sĩ can trường, chớ không có ý “tìm chút mặt trời trong ly nước lạnh”-

Người tù tên Nguyễn Chí Long, trông bề ngoài, anh nhu mì, ít nói và hay nở nụ cười khi gặp mặt nhau; nhưng có ai ngờ, anh là một chiến sĩ can trường trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, thuộc binh chủng Không Quân, một thời “lướt gió tung mây” trong những công tác đặc biệt, táo bạo và rất nguy hiểm trên chiến trường Việt Nam trước 1975. Trung Úy phi hoa tiêu trực thăng Nguyễn Chí Long, một sĩ quan trẻ, quê ở tỉnh Vĩnh Long, sau khi gia nhập quân đội, binh chủng không quân, được đưa sang Hoa Kỳ huấn luyện. Khi tốt nghiệp, trở về phục vụ tại phi đoàn 219, một đơn vị mà hầu hết các hoa tiêu kính phục qua những phi vụ rất nguy hiểm, như bài hát “một chuyến bay đêm” của Song Ngọc; địa bàn hoạt động là vùng Trường Sơn, nhiệm vụ là thả các toán biệt kích trên đường mòn Hồ Chí Minh.

Theo lời kể của anh Long, thì các phi cơ trực thăng mướn của công ty Panan, của Hoa Kỳ, sơn toàn màu đen để ngụy trang trong các công tác rất đặc biệt nầy. Có lần, chính anh đáp xuống, cắt một đoạn ống dẫn dầu, có đề nơi sản xuất “made in France” mang về làm bằng chứng; tuy nhiên, điều nầy không ai ngạc nhiên, vì nước Pháp từ chính phủ của tổng thống Charles De Gaule, do Hoa Kỳ từ chối yểm trợ không quân nên bị thua trận Điện Biên Phủ năm 1954, thế là Pháp tức giận, thường hay bí mật giúp cho Cộng Sản Bắc Việt một số mặt hàng cần dùng, như ống dẫn dầu, phim ảnh, được Việt Cộng tiết lộ trong phim GẠO RAN (Grill Rice) sau nầy được trình chiếu tại các đài truyền hình Tây Phương. Mặc dù Hoa Kỳ và các nước đồng minh như Nam Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Thái Lan, Phi Luật Tân… đã đổ tiền, mạng người vào miền Nam để ngăn chận làn sóng đỏ, cũng là bảo vệ an ninh khu vực, giao thương….trong có có quyền lợi của nước Pháp; nhưng vì lòng ích kỷ mà nhiều thời tổng thống Pháp đã đâm sau lưng đồng minh qua việc giúp cho Việt Cộng, dành mọi dễ dàng trong vài lãnh vực ngoại giao. Do đó, sau tết Mậu Thân 1968, hội đàm Paris mở ra, chính phủ Hoa Kỳ và miền Nam đã chọn nơi nầy, bị thất lợi khá nhiều qua phong trào phản chiến khuynh tả, trong đó có cả người Việt thuộc khối Ấn Quang là đại đức Thích Nhất Hạnh, cư sĩ, Võ Văn Ái, gây ồn ào trong các cuộc đàm phán, là hành động “núp bóng từ bi đâm sau lưng chiến sĩ”, rõ ràng như “đèn chánh điện trong chùa Phật trong ngày vía”.

Trong một phi vụ bốc một toán lính biệt kích xuống đường mòn Hồ Chí Minh vào chiều hôm ấy, sau khi công tác hoàn thành. Phi cơ trực thăng của trung úy hoa tiêu Nguyễn Chí Long phát giác ra bên dưới có 2 toán biệt kích, ở hai địa điểm khác nhau, cách nhau không xa, cũng mặc giống nhau và cả hai đều cho mật khẩu y như nhau. Phân vân, không biết toán nào là thật, giả… sau vài vòng lượn quanh hai toán để quan sát; nếu đáp lầm địa điểm có toán của Việt Cộng giả dạng, thì nguy hiểm vô cùng; tuy nhiên, Trung Úy Long không thể nào bỏ các chiến hữu của mình đang chờ được đưa về, nên cố gắng nhận dạng ra quân ta; rồi bỗng anh nhớ đến lúc đổ quân, trong toán biệt kích, có một anh lính rách vai áo, thì đoán là thật, bèn đáp xuống. Trong lúc trực thăng ở độ cao chừng 10 thước, bỗng bên dưới, toán lính giả ( chắc là Việt Cộng) bắn lên, khiến cho hoa tiêu phó, là một thiếu úy, quê cũng ở Vĩnh Long, là con trai của một bác sĩ, đã hy sinh ngay trong phát đạn đầu tiên. Phi cơ bị trúng đạn, không thể bay được và rơi từ độ cáo xuống đất, may mà không bị thương vong. Trung Úy Long cùng với anh xạ thủ nhanh chóng tháo khẩu đại lên, và Việt Cộng nhào tiến đánh, lục soát. Sau khi bắn trả, người xạ thủ chết vì quân Việt Cộng khá đông và trung úy Long cũng bị thương ở chân, nên anh dùng băng cá nhân cầm máu và ém trong rừng. Tình hình nầy rất bi đát, trời sụp tối, nên anh Long trốn trong rừng lá, trong lúc đó, Việt Cộng dùng đèn pin soi, đi tìm, anh cho biết là phải nín thở để chúng không khám phá ra.

Đêm đen, sau một hồi tìm không ra, Việt Cộng bỏ đi, từ đó, anh Long không còn đi được nữa, nên phải bò trong rừng, từ đường mòn Hồ Chí Minh, may ra tìm được cái sống trong cái chết trước mắt. Tại hậu cứ, chiếc phi cơ không trở về, rồi sau đó, báo cáo mất tích, gia đình anh Long lãnh tiền tử, lập bàn thờ, tưởng đâu đã chết mất xác trong rừng. Sau khi thoát khỏi vùng Việt Cộng, trung úy Long chỉ có khả năng bò trong rừng suốt 3 tháng, vết thương có giòi và anh cố gắng sống bằng cách ăn các loại củ hoang, lá cây trong rừng để cầm hơi. Khi bò gần một đồn Biên Phòng của quân lực VNCH, lính thấy động bèn bắn ra, tưởng đâu là đặc công Việt Cộng, anh Long la lớn, thế là họ ngưng bắn, ra xem, thấy mặc bộ đồ bay, nên mang võng ra khiêng vào đồn, đoạn báo cáo về, sau đó, trực thăng đến mang về, may mắn là được đưa ra hạm đội 7, chữa trị nên không cưa chân. Trong thời gian điều trị ở hạm đội, các bác sĩ Mỹ ngạc nhiên khi thử máu, thấy có nhiều chất kháng sinh và anh Long cho biết là tình cờ ăn nhằm các loại củ, lá cây, không ngờ có dược tính, nên vết thương không lan nhanh. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trung úy Nguyễn Chí Long trở về nhà, dọc đường bị bắt, vì anh vẫn mặc quân phục, bị đưa lên trại tù Chi Lăng, rồi Vườn Đào.

Trong tù, trung úy Long là người giữ vững tinh thần, kín đáo, chỉ nói chuyện với những người thân thiết và tôi là một trong số các bạn thân của anh. Sau khi thả tù, mỗi người một nơi, anh Long về quê và sau đó được gia đình bảo lãnh qua Úc theo diện đoàn tụ. Người gặp trung úy Long trong những ngày cuối cùng còn ở Việt Nam là thiếu úy V.N. Thử ( hiện định cư ở Hoa Kỳ), cũng là bạn thân của chúng tôi. Năm 2007, Anh Thử liên lạc được với tôi, nên đã nhờ đăng tin tìm Nguyễn Chí Long trên tuần báo Saigon Times ở Sydney. Xin cám ơn Hữu Nguyên đã lưu lại phần nhắn tin nầy một thời gian. Nhưng chúng tôi vẫn chưa thấy anh Long ở đâu, do đó, nếu anh Nguyễn Chí Long đọc được bài nầy, xin liên lạc ngay cho anh em, qua Tinparis, hoặc có ai biết anh ở đâu, xin giúp dùm.

Trung úy Nguyễn Chí Long là một trong rất nhiều trường hợp can trường trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do, đem thân nơi chiến địa, đương đầu với bao hiểm nguy. Như trường hợp của anh Đổ Văn Phúc, thương phế binh 70 %, máu của anh đã đổ trên chiến trường, góp phần bảo quốc an dân, trong đó có cả gia đình của NANCY BÙI và luật sư Trần Mộng Vinh.

Sau 1975, anh Phúc bị kẻ thù hành hạ 10 năm tù đày, trong khi đó, những người như Nancy Bùi, Trần Mộng Vinh và gia đình vẫn bình an, nương theo làn sóng đi tìm tự do, ra đi sớm nhất. Rồi khi Hoa Kỳ xã vận, Nancy Bùi lại quay về thành lập công ty làm ăn tại Gò Vấp ( Saigon) mà không hề hấn gì, không bị Việt Cộng trù dập, mạng sống nguy hiểm, như cái lý do rời Việt Nam, ai muốn đi định cư phải khai là: “không sống dưới chế độ Cộng Sản, nên phải bỏ nước ra đi tìm tự do”. Ở hải ngoại, lập hội bảo tồn văn hóa và nhất là Trần Mộng Vinh đã ca tụng “quân hại nhân dân”, nhưng tại sao lại không trở về ở Việt Nam luôn?

Chính những kẻ như Nancy Bùi, Trần Mộng Vinh….phải mang ơn những người lính Việt Nam Cộng Hòa như Đổ Văn Phúc, mới là người “có học”, có lương tri, trái lại, khi Đổ Văn Phúc nói lên sự thật, thì Nancy Bùi ỷ có tiền nhiều là nhờ làm ăn ở Việt Nam, mướn luật sư thưa. Đây là thái độ vô ơn bạc nghĩa, dùng tiền để trấn áp những ai nói lên sự thật, là vi phạm nguyên tắc truyền thông dân chủ. Do đó, vụ Nancy Bùi đã bị phản ứng mạnh của người Việt hải ngoại, nhất là các cơ quan truyền thông, nên cái tên Triều Giang từ nay trở thành ý nghĩa: “cọp chết để da, người ta chết để tiếng”. Tiền không thể mua được danh dự, và tiền như một phương tiện nhằm làm cho kẻ lợi dụng nó để làm chuyện bất chính, trấn áp người khác, mưu đồ dùng đồng tiền để “dập tắt công lý” tại các nước dân chủ, ắt không thể thuyết phục được dư luận; cho nên cái bản án xử khiếm diện cũng không phải là điều làm cho người ra ngạc nhiên; nếu Nancy Bùi đòi 10 triệu, tòa án cũng dám gõ búa, vì đâu có người bị kiện ra tòa đối chất….

Hệ thống pháp đình Hoa Kỳ hay các nước dân chủ mang tính cách công bằng, do đó, Đổ Văn Phúc kháng cáo, đưa ra chứng cớ và bị “vu khống, chụp mũ”, thì phía Nancy Bùi không thể yên mà “ăn mừng chiến thắng” như tòa án nhân dân tại Việt Nam, và Đổ Văn Phúc có quyền đòi bồi thường ngược lại do bị thiệt hại vật chất, cũng như tinh thần do Nancy Bùi, cấu kết với luật sư gây ra trong vụ kiện. Nên nhớ là ở các nước dân chủ, cái nơi luật sư làm việc cũng chỉ là ” tiệm luật”, nhưng vì ngành nầy có quan hệ đến tòa án, thế là nhiều người không hiểu luật mà ngán, nên” nâng cấp “thành” văn phong luật sư”; do đó, một số luật sư thiếu lương tâm, cứ lầm tưởng là “ta đây là người đứng trên luật pháp” mà tha hồ lam theo yêu cầu của thân chủ, bất kể đúng sai để lấy tiền. Ở các nước dân chủ, không ai đứng trên luật pháp, tổng thống, thủ tướng, chánh án….nếu vi phạm luật cũng bị chế tài; nên luật sư nào hành nghề không theo luật định, cũng không thể tránh được sự trừng phạt, cũng từ hệ thống luật trong tinh thần công bằng và tôn trọng quyền tự do cá nhân, được bảo vệ bởi luật pháp, nên luật sư không thể dùng luật hù dọa hoặc ăn tiền thân chủ mà ” khủng bố” tinh thần người khác bằng “vũ khí bằng giấy”. Nancy Bùi nên hiểu rõ chuyện nầy, là người làm chủ “tịt” một hội bảo tồn văn hóa, có phó chủ tịt là một luật sư, chẳng lẽ lại không biết nguyên tắc “Cao Bồi” bắn hụt là chết và trong luật là: thưa trật là lãnh đủ án phí và bồi thường đấy./.

Trương Minh Hòa
19.08.2009

Cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 (Phần 4)

Huy hieu BDQ.

Các Trận Ðánh Của Biệt Ðộng Quân Tại Hạ Lào

Tác Giả : Trần Ðỗ Cẩm
(Emai: camtran11@yahoo.com)

(Trích Nguyệt San ÐOÀN KẾT, Austin Texas)

E. Trận đánh tại Căn Cứ Biệt Ðộng Quân Bắc (Ranger North)

https://i2.wp.com/doanket.orgfree.com/dkpict/hlbdq.jpg(Xem Phóng đồ các trận đánh của BÐQ)

Sang ngày 17 tháng 2, tin tình báo cho biết lực lượng tăng viện cấp Sư Ðoàn của Cộng quân từ vùng Phi Quân Sự đã bắt đầu xâm nhập phía Bắc vùng hành quân. Rạng sáng ngày 18 tháng 2, địch gia tăng áp lực vào các đơn vị BÐQ. Các TÐ 21 và 39 BÐQ bị tấn công thăm dò và pháo kích kiên tiếp. Tuy nhiên, được pháo binh và phi cơ yểm trợ rất hiệu quả, các TÐ BÐQ vẫn giữ vững vị trí. Hồi 8 giờ 30 sáng cùng ngày, BCH/LÐ1/BÐQ tại Phú Lộc cũng bị pháo kích 8 đạn súng cối 82 ly khiến 2 chết, 4 bị thương. Tin tình báo do cung từ của tù binh xác nhận Sư Ðoàn 308 Cộng quân với ba Trung Ðoàn 64, 88 và 102d đã tham chiến và hiện tập trung quân tại vùng trách nhiệm của BÐQ.

Khi trời sáng rõ, một trực thăng tải thương loại Huey thuộc Phi Ðoàn 237, Tiểu Ðoàn 16, Lữ Ðoàn 44 Tải Thương của Hoa Kỳ (có tên là DMZ Dust Off. DMZ là tên tắt của De-Military- Zone tức là vùng Phi Quân Sự. Dust Off là tên lóng để gọi chung các trực thăng tải thương Hoa Kỳ) nhận được lệnh tải thương khẩn cấp cho TÐ 39 BÐQ. Nên nhớ đại đa số những trực thăng tham chiến tại Hạ Lào không phải của Không Quân mà thuộc các Sư Ðoàn Bộ Binh Không Kỵ Hoa Kỳ nên được tổ chức thành các Tiểu Ðoàn hoặc Ðại Ðội theo hệ thống Lục Quân.

Chiếc trực thăng tản thương cất cánh tại Khe Sanh, hai phi công là Trung Úy Joseph Gordon Brown và Darrel Monteith, với hai Trung Sĩ y tá tên Fujii và Simpco cùng cơ khí viên Costello. Trên đường bay, phi hành đoàn đã được thông báo là bãi đáp rất “nóng” (hot) vì bị phòng không và súng cối địch vây chặt. Khi còn cách Căn Cứ BÐQ Bắc chừng 3 cây số, phòng không địch đã bắn lên như mưa. Toán trực thăng võ trang hộ tống vội nhào xuống bắn hỏa tiễn và minigun để tiêu diệt các ổ phòng không nhưng không mấy hiệu quả vì những ổ súng này được ngụy trang rất kỹ càng, khéo léo và chôn sâu trong các công sự, hầm hố vững chắc. Sau một hồi bắn phá, hai chiếc Cobra đã hết đạn, vả lại nhiên liệu cũng gần cạn nên phải quay về Khe Sanh tái tiếp tế. Phi công Brown nhận thấy phòng không địch vẫn còn quá mạnh, không thể vào bãi đáp nên đã quyết định hủy bỏ công tác. Nhưng chỉ một lát sau, anh đổi ý, bay vòng trở lại, mặc dầu trực thăng võ trang hộ tống đã bay về Khe Sanh. Gần tới Bãi Ðáp BÐQ Bắc, chiếc trực thăng tản thương bay thật thấp để cố tránh màng lưới phòng không, nhưng những lằn đạn lửa AK và 12.7 ly vẫn chằng chịt đuổi theo.

Từ trên trực thăng, anh y tá Fujii người Hawai trông thấy rõ các binh sĩ BÐQ trong giao thông hào đang chiến đấu dưới làn mưa đạn súng cối của Cộng quân. Trực thăng tản thương nhào vội xuống bãi đáp. Toán tản thương của BÐQ đẩy vội các thương binh lên trực thăng. Nhưng khi vừa rời mặt đất, một quả súng cối nổ ngay bên cạnh máy bay khiến phi công Brown chết ngay tại chỗ, còn phi công phụ Monteith bị thương nặng, hai anh Fujii và Simpco đều bị trúng mảnh đạn súng cối ở lưng, chỉ có anh Costello là vô sự. Chiếc trực thăng rơi xuống đất. Tất cả những người sống sót, kể cả các thương binh BÐQ vội rời trực thăng chạy vào giao thông hào cách trực thăng chừng 10 thước. Sau đó, một trực thăng Huey cấp cứu khác liều lĩnh đáp xuống và cứu được phi hành đoàn Hoa Kỳ, ngoại trừ anh y tá Fujii bị kẹt lại vì chạy ra không kịp. Từ lúc đó, các phi công Hoa Kỳ được lệnh tránh xa khu vực này vì hỏa lực phòng không quá dữ dội. Trong khi đó, Cộng quân cũng pháo kích vào CC BÐQ Nam.

Sang ngày 19/2, áp lực tại căn cứ BÐQ Nam tưởng đối giảm, tuy không bị tấn công nhưng cường độ pháo kích vẫn dữ dội và liên tục. Ngoài ra, phòng không địch và súng cối vẫn khóa kín bãi đáp khiến TÐ 21 BÐQ khiến mọi hoạt động của vị trí này bị ngưng trệ. Khi đã cô lập và phá được thế liên hoàn giữa hai tiểu đoàn BÐQ, Cộng quân tập trung toàn bộ lực lượng Trung Ðoàn 102d, SÐ 308 tấn công TÐ 39 BÐQ đóng xa hơn về phía Bắc. Tuy bị vây hãm và tấn công dữ dội, các binh sĩ Mũ Nâu dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Khang vẫn bình tĩnh chiến đấu, đẩy lui nhiều đợt tấn công biển người của Cộng quân. Các trực thăng thuộc TÐ 158 Trực Thăng (158 CAB – Combat Assault Battalion) Hoa Kỳ do Trung Tá Peachy chỉ huy bay liên tục để tản thương, tiếp tế và yểm trợ hỏa lực cho tiền đồn bị tấn công này. Các pháo đội thuộc TÐ 44 PB đặt tại Phú Lộc về hướng Ðông và CCHL 30 về hướng Nam cũng tác xạ tối đa vào các vị trí Cộng quân. Ðể tránh hỏa lực dữ dội của phi pháo, địch quân đã liều lĩnh áp dụng tối đa chiến thuật “bám sát” (hugging). Nhiều khi chúng nằm sát lớp hàng rào phòng thủ khiến nhiều trực thăng tiếp tế bị trúng đạn địch vì lầm tưởng là binh sĩ VNCH. Vì đôi bên quá gần nhau nên phi cơ thả bom yểm trợ cũng rất khó khăn.

Trận đánh tại căn cứ BÐQ Bắc kéo dài suốt ngày 19 tháng. TÐ39 BÐQ báo cáo địch tấn công mạnh nhất vào sườn phía Ðông bằng súng không giật trực xạ và súng cối 82 ly đặt rất gần căn cứ nên bắn rất chính xác. Nhưng sau nhiều đợt tấn công tiền pháo hậu xung của địch, TÐ 39 BÐQ vẫn giữ vững vị trí. Cung từ của tù binh xác nhận đơn vị Cộng quân tấn công là Trung Ðoàn 102d, được trang bị toàn vũ khí và quân trang mới. Trung Ðoàn này có nhiệm vụ thanh toán căn cứ BÐQ Bắc bằng mọi giá để dọn đường cho lực lượng tăng viện của chúng có thể tiến sâu hơn vào vùng hành quân. Tuy bị bao vây và tấn công liên tục nhưng dưới sự chỉ huy bình tĩnh và gan dạ của Thiếu tá TÐT Vũ Ðình Khang, các chiến sĩ TÐ 39 BÐQ vẫn bình tĩnh chiến đấu, đánh bật những đợt tấn công biển người. Cộng quân tuy bị thiệt hại nặng nhưng vẫn bám sát trận địa và liên tiếp mở nhiều đợt tấn công vì chúng được bổ xung quân số và tăng viện rất nhanh chóng. Nhưng đến chiều Cộng quân đành phải rút lui để chỉnh đốn hàng ngũ vì bị chết quá nhiều. Xác và vũ khí đủ loại của Cộng quân bỏ lại ngổn ngang trên các sườn đồi.

Trận đánh ngày 19 tháng 2 là một chiến thắng lớn của TÐ 39 BÐQ nhưng những con cọp rừng gan dạ cũng đã bị yếu sức vì nhiều binh sĩ bị chết và bị thương không được di tản đã nhiều ngày, lại không được tăng viện hay giải tỏa áp lực. Nguy hiểm hơn nữa, đạn dược cũng gần cạn vì không được tiếp tế. Ðến đêm, Công quân sau khi bổ xung lực lượng lại tiếp tục tấn công. Cũng vào lúc đó, các căn cứ BÐQ Nam và Phú Lộc bị pháo kích và đánh cầm chân nên không thể tăng viện hay yểm trợ hữu hiệu cho TÐ bạn đang bị áp lực nặng nề. Trên bốn sườn đồi bao quanh căn cứ BÐQ Bắc, địch quân đồng loạt tấn công biển người vào các tuyến phòng thủ của BÐQ. Tại hầm chỉ huy, Thiếu Tá Vũ Ðình Khang, vị TÐT can trường vẫn bình tĩnh điều động đơn vị phòng thủ và phản công. Ông dùng anh y tá người Mỹ Fujii như một chuyên viên truyền tin bất đắc dĩ để đảm trách việc liên lạc với các phi cơ Hoa Kỳ. Anh Fujii hoạt động rất đắc lực chuyển lời yêu cầu của Thiếu tá Khang lên các trực thăng võ trang và các phản lực cơ của Không Quân Hoa Kỳ những tọa độ mục tiêu chính xác để xin oanh tạc. Nhiều lúc, Cộng quân vì quá đông nên môt số đã lọt được vào phòng tuyến của BÐQ, chiếm được một khúc giao thông hào. Các chiến sĩ Mũ Nâu can trường đã phải cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn để đẩy lui chúng.

Ðến đây, tạm thời mở một dấu ngoặc để nói thêm về anh y tá Fujii. Lúc đó, các phóng viên báo chí, truyền thanh và truyền hình đa số thuộc loại phản chiến của Hoa Kỳ luôn tìm đủ mọi dịp loan tin giật gân nhằm mục đích triệt hạ uy tín QLVNCH. Vì đạo luật Cooper – Church ngăn cấm không cho quân bộ chiến Hoa Kỳ có mặt trên phần đất Lào nên gặp dịp anh y tá Fujii bị bắn rơi, chạy không kịp nên bắt buộc phải chiến đấu bên cạnh TÐ 39 BÐQ, họ liền nắm lấy cơ hội. Họ ca tụng Fujii như một vị anh hùng trong trận đánh tại căn cứ BÐQ Bắc, coi như một mình anh y tá này đã cứu nguyên một Tiểu Ðoàn BÐQ tinh nhuệ. Có người lại còn “phong” cho anh ta chức vị “cố vấn” bất đắc dĩ của TÐ 39 BÐQ! Ðây là một sự thổi phồng lố bịch và quá đáng!

Chúng ta hãy tưởng tượng trong lúc dầu sôi lửa bỏng, mạng sống như chỉ mành treo chuông, một anh y tá chuyên cầm kim chích bị kẹt lại dưới đất vì không chạy kịp, dù là người Mỹ đi nữa đã “cố vấn” được những gì cho một một TÐT BÐQ dạn dầy kinh nghiệm chiến trường như Thiếu tá Khang? Ðồng ý là anh Fujii đã trợ giúp TÐ 39 BÐQ rất đắc lực trong lãnh vực liên lạc truyền tin, nhưng các chiến sĩ BÐQ còn đóng góp đắc lực hơn nhiều trên phương diện thực sự chiến đấu. Thật ra, vai trò của anh y tá này đơn thuần chỉ là một âm thoại viên, nhận những quyết định, dữ kiện cùng lời yêu cầu oanh tạc yểm trợ từ Thiếu tá Khang rồi chuyển lại cho các phi công Hoa Kỳ vì lý do anh nói tiếng Anh dĩ nhiên thành thạo và dễ hiểu hơn. Rất có thể việc “liên lạc” thông thường này được người Mỹ coi là vai trò quan trọng của cố vấn chăng? Cũng anh Fujii này, sau đó có dịp nhẩy lên được một trực thăng rời khỏi CC BÐQ Bắc, nhưng không may trực thăng này cũng bị trúng đạn, nhưng đáp được xuống CC BÐQ Nam nên lại bị kẹt tại đây. Chuyện chỉ có vậy, thế mà báo chí Hoa Kỳ lại có dịp thổi phồng, nói là anh y tá này tình nguyện ở lại với TÐ 21 BÐQ để giúp đơn vị này phòng thủ căn cứ! Trở lại trận đánh tại CC BÐQ Bắc. Tuy bị Cộng quân bao vây chặt chẽ và tấn công suốt đêm nhưng TÐ 39 BÐQ dù đã bị thiệt hại khá nặng và đạn dược cũng gần cạn nhưng vẫn còn giữ vững vị trí chiến đấu. Thiếu Tá Khang luôn đôn đốc các chiến sĩ của mình đề phòng cẩn mật và tiết kiệm đạn dược vì ông biết trong hoàn cảnh nguy nan này, trực thăng tiếp tế hay tải thương không còn cách nào đáp xuống được nữa. Về trận đánh tại căn cứ BÐQ Bắc trong đêm 19 tháng 2 này, chính anh “cố vấn” Fujii đã kể lại cho các phóng viên Hoa Kỳ nghe như sau:

“Trận đánh vô cùng khốc liệt. cả ngọn đồi như bốc lửa vì hỏa lực bom đạn đôi bên. Tuy có một vài sĩ quan BÐQ hoảng hốt gỡ bỏ phù hiệu và thiêu hủy thẻ quân nhân, nhưng vị TÐT vẫn bình tĩnh và gan dạ chỉ huy cuộc phòng thủ và phản công. Có lúc địch quân đông như kiến tràn vào, tôi đã phải dùng súng M-16 bắn hết băng đạn này đến băng đạn khác vào những đợt xung phong biển người. Ðịch chết như rạ nhưng vẫn liều lĩnh xông vào. Có lúc toán tiền phong cảm tử của địch đã lọt được vào trong vị trí phòng thủ, nhưng bị các chiến sĩ BÐQ can trường dùng lưỡi lê và lựu đạn cận chiến đánh bật ra trong vòng 10 phút. Sáng hôm sau, chúng tôi bắn hết đạn, tôi thấy các chiến sĩ Mũ Nâu phải đi lật từng xác đồng bạn cũng như xác địch để kiếm thêm đạn dược và vũ khí còn xử dụng được. Những người còn chiến đấu được thiết lập một tuyến phòng thủ quanh hầm chỉ huy để sẵn sàng tử chiến”.

Sang ngày 20 tháng 2, ngay từ lúc hừng đông, khi lớp sương mù chưa tan hết trên rừng núi Hạ Lào, từng đợt phi cơ đủ loại đã ào tới trợ chiến. Bắt đầu từ lúc 7 giờ 30 sáng cho tới 2 giờ 30 chiều, tổng cộng có 32 phi vụ oanh tạc yểm trợ cho hai căn cứ BÐQ đang bị vây hãm khiến hàng trăm Cộng quân bị tan xác. Mặc dầu bị thiệt hại rất nặng vì hỏa lực phi pháo, Cộng quân vẫn không rời bỏ trận địa và được yểm trợ đắc lực bằng một rừng phòng không đủ loại tạo thành màng lưới lửa dầy đặc khiến trực thăng tiếp tế và tản thương không thể nào vượt qua nổi. Nhiều phi công trực thăng Hoa Kỳ cố lao qua bức tường lửa phòng không nhưng chỉ có hai trực thăng may mắn đáp xuống được trong khoảnh khắc. Khi cất cánh, cả hai phi cơ này đều bị trúng đạn phòng không, một chiếc phải đáp khẩn cấp xuống căn cứ BÐQ Nam, chiếc kia may mắn bay được tới CCHL 30 xa hơn về phía Nam.

Ðến trưa , các máy bay quan sát báo cáo Cộng quân lại pháo kích dữ dội và có chừng 400 đến 500 tên đang vây kín vị trí của TÐ 39 BÐQ. Những trận mưa pháo liên tiếp của địch khiến ngọn đồi nhỏ như vỡ tan thành từng mảnh vụn. Những lớp bụi đất đá Hạ Lào màu vàng nhạt liên tục tung lên sau mỗi đợt pháo kích, che phủ cả các chiến sĩ Mũ Nâu anh dũng vẫn gìm sùng chờ địch dưới giao thông hào. Không được tăng viện, không được tiếp tế, không được tản thương, số tổn thất mỗi lúc một cao và đạn dược đã hết sau nhiều ngày tử chiến, số mạng của các chiến dĩ TÐ 39 BÐQ như chỉ mành treo chuông. Mọi yểm trợ sinh tử cứu nguy chỉ còn trông mong vào các phi cơ Hoa Kỳ và pháo binh từ các vị trí bạn bắn tới.

Ðúng lúc đó, một toán trực thăng từ Khe Sanh bay đến để tiếp tế khẩn cấp cho TÐ 39 BÐQ bằng mọi giá. Các trực thăng võ trang hộ tống thay phiên nhau nã hỏa tiễn và đại liên như mưa lên đầu địch cho tới khi hết đạn, trong khi các trực thăng tiếp tế lượn vòng trên cao để chờ cơ hội, nhưng vẫn không thể nào đáp xuống được. Dưới đất, ngọn đồi nhỏ đôi bên dành giự đã mấy ngày đêm hầu như trơ trụi, tan nát vì bom đạn. Mặc dù trực thăng võ trang oanh kích dữ dội, Cộng quân chấp nhận thiệt hại, tràn tới gần vị trí phòng thủ cuối cùng là hầm chỉ huy của Thiếu tá Khang.

Chung quanh đó, các chiến sĩ BÐQ cận chiến với địch quân, dành nhau từng khúc giao thông hào hay hố cá nhân giữa hàng trăm xác chết. Mãnh hổ nan địch quần hồ, Thiếu tá Khang nhận thấy tình thế đã không còn cách cứu vãn và vị trí sắp bị địch tràn ngập nhưng ông vẫn muốn ở lại chiến đấu vì không đành lòng bỏ lại các chiến hữu bị thương. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, trước số lượng địch quân quá đông và các chiến sĩ BÐQ đã bắn hết đạn, Thiếu tá Khang đành cho lệnh rời bỏ căn cứ.

Trong lúc anh Fujii chuyển lời của Thiếu tá Khang thông báo cho các phi cơ Hoa Kỳ biết Căn Cứ BÐQ Bắc không còn cố thủ được nữa, các chiến sĩ BÐQ lại đi thu lượm vũ khí và đạn dược của ta cũng như địch để tổ chức một cuộc rút kui có trật tự dưới sự chỉ huy của vị TÐT can trường. Vào giây phút nguy kịch đó, một trực thăng Huey lao xuống bãi đáp, xô vội ra mấy thùng đạn. Anh y tá Fujii cố chạy ra trực thăng dù đạn AK của Công quân bắn theo dữ dội khiến bụi đất tung tóe khắp nơi. Anh này phóng được lên trực thăng, nhưng khi vừa bay kên, trực thăng bị bốc cháy vì trúng đạn phòng không. May mắn, hai phi công Lloyd và Nelson đáp khẩn cấp được xuống căn cứ BÐQ Nam cách đó chừng 4 cây số.

Ðến chiều ngày 20 tháng 2, từ trên phi cơ nhìn xuống, các công sự và sườn đòi quanh căn cứ BÐQ Bắc phủ ngập xác Cộng quân. Tiểu Ðoàn 39 BÐQ kiệt lực, hết đạn vì những trận cường tập liên tiếp hết ngày này sang ngày khác của Cộng quân vối quân số đông hơn gấp 10 lần. Cuối cùng, các chiến sĩ Mũ Nâu phải mở một con đường máu xuyên qua vòng vây của Cộng quân. Dưới quyền điều động của Thiếu tá Khang, các sĩ quan và binh sĩ còn mạnh khỏe đi đầu, thương binh được dìu theo sau. Bộ Tư Lệnh Hành Quân tại Khe Sanh và LÐ 1BÐQ tại Phú Lộc mất liên lạc vô tuyến với TÐ 39 BÐQ lúc 5 giờ 10 chiều ngày 20 tháng 2. Mãi tới khuya mới nhận được tin thành phần còn lại của TÐ 39 BÐQ, gồm gần 200 quân nhân trong số đó có 107 người còn khả năng chiến đấu và 92 người bị thương, đã di chuyển đến được căn cứ BÐQ Nam cùng với vũ khí. Theo các tài liệu báo cáo của Hoa Kỳ, trong tổng số trên 400 quân nhân, thiệt hại của TÐ 39 BÐQ được ghi nhận là 178 người chết hay mất tích, 148 bị thương. Thiệt hại về phía Cộng quân gồm 639 chết và gần 500 vũ khí bị phá hủy hay tịch thâu.

Sau khi TÐ 39 BÐQ rút đi, dưới hỏa lực khủng khiếp của phi pháo dội thẳng vào vị trí, Căn Cứ BÐQ Bắc trở thành một bãi tha ma lớn chôn vùi hàng trăm Cộng quân “sinh Bắc tử Nam”. Trên đỉnh đồi, gần hầm chỉ huy của Thiếu Tá Khang, cảnh tượng còn hãi hùng hơn. Từng đống xác Cộng quân tan nát không còn nhận ra hình thù vì bom đạn của phi cơ Hoa Kỳ vá pháo binh VNCH. Mùi thuốc súng, mùi bom đạn, mùi thịt người chết chết cháy khét lẹt vì bom napaln … khiến bầu không khí trở nên rùng rợn, nghẹt thở. Tuy máy bay chỉ đếm được 639 xác Cộng quân, nhưng còn hàng trăm xác khác bị vùi sâu trong hầm hố hay tan nát cùng đất đá Hạ Lào không thể đếm được.

Trên đường di tản đến căn căn cứ BÐQ Nam, binh sĩ TÐ 39 BÐQ phải đạp qua hàng trăm xác địch nằm ngổn ngang quanh căn cứ và lội qua những con “suối máu” tràn ngập kbắp chân đồi. Thiếu tá Khang cũng cho biết khi rời bỏ căn cứ, chính mắt ông đã nhìn thấy hàng đống xác Cộng quân chết thành từng chùm ba, bốn chục tên. Về hỏa lực phòng không của Cộng quân tại vùng căn cứ BÐQ Bắc, trong một dịp tiếp xúc mới đây, Thiếu Tá Khang cho biết ông không rõ chi tiết về các ổ phòng không của Cộng quân bố trí dọc theo đường bay tới căn cứ. Nhưng các trực thăng đã bị bắn lên dữ dội từ xa. Riêng quanh vị trí BÐQ Bắc, địch đặt rất nhiều súng cối đã điều chỉnh sẵn nên pháo kích rất chính xác, gây thiệt hại nặng cho những trực thăng vừa đáp xuống.

Về việc yểm trợ của phi cơ Hoa Kỳ, nhất là trực thăng, Thiếu Tá Khang nói dường như các phi cơ chỉ bắn phá với mục đích yểm trợ ưu tiên cho trực thăng đáp xuống để bốc anh y tá Fujii ra. Còn phần yểm trợ cho TÐ 39 BÐQ phòng thủ căn cứ chỉ là thứ yếu. Riêng phi công trực thăng tản thương Hoa Kỳ Joel Dozhier (DMZ Dust Off) kể lại về phi vụ của anh như sau:

“Chiều tối hôm đó, toán tản thương chúng tôi được lệnh phải chuẩn bị gấp 5 trực thăng để tản thương chừng 100 người tại căn cứ BÐQ Bắc. Thuyết trình viên cho biết có rất nhiều vị trí phòng không địch trong vùng nên Bộ Tư Lệnh Hành Quân đã dự trù một hàng rào đạn pháo binh hình móng ngựa để bảo vệ các trực thăng bay bên trong. Lúc đó, chúng tôi đã bay tản thương suốt ngày nên ai nấy đều mệt mỏi, do đó có phi công đề nghị hãy hoãn phi vụ đến sáng mai. Bộ Tư Lệnh trả lời rằng tình hình rất nghiêm trọng, rất có thể sẽ chẳng còn ngày mai cho căn cứ BÐQ Bắc! Vì vậy, toán trực thăng phải lên đường gấp. Chúng tôi đã thiết lập đội hình và kế hoạch lần lượt bay vào bên trong hàng rào hỏa lực. Khi tất cả đã vào trong hình móng ngựa tưởng tượng, lúc đó pháo binh sẽ chuyển xạ tiến lần về căn cứ BÐQ Bắc. Nhưng khi sắp sửa thi hành, không may một trực thăng trong toán là Dust Off 30 bị tai nạn trong lúc đổ xăng nên chúng tôi lại phải dành một chiếc khác trong toán để đưa những phi công bị thương về Quảng Trị. Vì chỉ còn lại có 3 chiếc, Bộ Tư Lệnh phải kiếm thêm một chiếc nữa để thay thế. Khi trực thăng này tới thì đã quá trễ. Chúng tôi hay tin căn cứ BÐQ Bắc đã di tản nên công tác được hủy bỏ”.

Sau đây là lời tường thuật của một số nhân chứng Hoa Kỳ và Việt Nam có mặt tại căn cứ BÐQ Bắc khi vị trí này bị thất thủ.

Trung Tá Robert F. Molinelli, Chỉ Huy Trưởng Phi Ðoàn 2, Lữ Ðoàn 17 Không Kỵ Hoa Kỳ là người có mặt trên không phận căn cứ BÐQ Bắc trong lúc trận đánh diễn ra ác liệt nhất, đã mô tả:

“Quân số địch đông hơn TÐ 39 BÐQ ít nhất 8 lần. Trong 3 ngày liền, hỏa lực phòng không địch cực kỳ dữ dội khiến trực thăng của chúng tôi không thể nào đáp xuống để tiếp tế hay tản thương. Khi đã bắn hết đạn, các chiến sĩ BÐQ phải lật từng xác địch quân để tìm kiếm vũ khí và đạn dược của chúng để tiềp tục chiến đấu. Lúc phải rời bỏ vị trí, TÐ 39 BÐQ đánh xuyên qua lực lượng bao vây của cả một Trung Ðoàn địch, dùng chính vũ khí của Cộng quân để đánh lại chúng”.

Ðại Úy Không quân William Cathay, một phi công phản lực cơ Phanton F-4 thuộc Phi Ðoàn Khu Trục 40, nói: “Căn cứ BÐQ Bắc trông giống như một bãi chiến trường hồi đệ nhị thế chiến. Chúng tôi đã thả bom napalm thật gần, chỉ cách quân bạn chừng 100 thước. Chúng tôi còn trông thấy rất rõ ràng địch quân đang ẩn nấp dưới giao thông hào”.

Trong tác phẩm “Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lửc 30” của Ðại Úy Pháo Binh Trương Duy Hy, Pháo Ðội Trưởng Pháo Ðội C/44 Pháo Binh, có kể lại việc Hạ Sĩ Phan văn Ðăng thuộc Ðại Ðội 1, TÐ 39 BÐQ, khoảng trên 20 tuổi, người Huế, đã thuật lại những giờ phút oai hùng nhất của TÐ 39 BÐQ như sau: “Sau ngày toàn thắng 19 tháng 2, TÐ 39 BÐQ chiến thắng lớn, tịch thu trên 500 vũ khí đủ loại, phá nát các kho chứa hàng ven đường mòn Hồ Chí Minh, giết trọn một Tiểu Ðoàn Cộng quân, xác nằm la liệt trên trận địa. Sau đó, chúng phản công mãnh liệt, đại đội của anh bắn đến viên đạn cuối cùng mới rút đi theo lệnh của Thiếu tá Khang, TÐT”. Anh Ðăng còn cho biết Cộng quân đã thí mạng khủng khiếp chưa từng thấy so với mấy chục trận đụng độ ác liệt anh từng tham dự trong chiến trường quốc nội. Ðại Ðội của anh đã phải cận chiến vô cùng dữ dội với địch quân để giữ vững vị trí. Sau cùng, Ðại Ðội của anh phải phân tán mỏng để khỏi bị biển người của Cộng quân tiêu diệt.

Nhìn chung, nếu so sánh thiệt hại về nhân mạng cũng như vũ khí, TÐ 39 BÐQ đã thắng lớn với tỉ số nhân mạng 1 đổi 10. Nhưng về mặt chiến thuật, việc căn cứ BÐQ Bắc bị thất thủ được coi như một bước lùi quan trọng trong kế hoạch tấn công của cuộc hành quân Lam Sơn 719. Chẳng những TÐ 39 BÐQ đã không còn khả năng tác chiến, mà màng lưới phòng thủ mặt Bắc của QLVNCH cũng đã bị thủng một lỗ lớn khiến Cộng quân dễ dàng theo đó tràn sâu xuống vùng hành quân Nam gần đường số 9.

(Còn tiếp)

Nguồn: http://doanket.orgfree.com/

Phòng trà Tự Do với ban nhạc “The Dreamers”

TRƯỜNG SA VÙNG BIỂN NHỚ – TRỊNH HOÀI PHƯƠNG

TRỊNH HOÀI PHƯƠNG

https://i0.wp.com/www.navsource.org/archives/09/43/09433205.jpg
Để nhớ về Hạm trưởng, Hạm phó, quý chiến hữu thủy thủ đoàn Tuần dương hạm Trần Nhật Duật HQ 3 (WHEC).

Mỗi lần đi tầu du lịch (Cruise), tôi có cái thú buổi sáng ngồi uống cà phê, ngắm trời nước mênh mông. Nhìn những bọt nước trắng xóa để lại sau con tầu. Tôi chợt nhớ về những chiến hữu với bao kỷ niệm vui buồn, những nhọc nhằn của đời lính biển, những ngày xa gia đình. Bù lại, chúng tôi được chúng tôi tìm được niềm vui đơn sơ qua những chuyến hải hành quần đảo Trường Sa.
Sau biến cố Hoàng Sa rơi vào tay Trung cộng tháng 01 – 1974, vùng biển Trường Sa trở nên sôi động. Trước nguy cơ xâm lăng của kẻ thù, Việt Nam Cộng Hòa điều động thêm quân đội trấn giữ các đảo. Nhiều chiến hạm như Hải vận hạm (LSM), Dương vận hạm (LST), Tuần dương hạm (WHEC)… chở Địa phưong quân Phước Tuy (Bà Rịa), đặc biệt Tiểu đoàn Trinh sát Mãnh Sư 371, ra bảo vệ đảo và dựng bia chủ quyền quốc gia. Chiến hạm chúng tôi –Trần Nhật Duật HQ3- thuộc loại tầu chiến, không chở tiếp liệu và binh sĩ nhiều như như các tầu Hải và Dương vận hạm. Tuy nhiên, sự hiện diện của các chiến hạm có hỏa lực mạnh như Khu trục hạm, Tuần dương hạm chứng tỏ quyết tâm bảo vệ biển đảo của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa.

Ngoài những nguy hiểm bão tố hàng năm, hải hành trong vùng biển Trường Sa đòi hỏi sự thận trọng, vì có nhiều bãi đá ngầm, san hô. Rải rác trong vùng, đôi khi chúng tôi còn bắt gặp những xác tầu chìm.
Chiến hạm chúng tôi thường công tác đến các đảo: Song Tử Tây, Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, An Bang, Sinh Tồn (Gạc Ma)… Đảo Nam Yết nằm giữa các đảo nhỏ, nên ở đây đặt hậu cứ gồm Trung tâm truyền tin và trạm y tế. Riêng Bộ chỉ huy tiền phương đặt ở Song Tử Tây. Từ đảo này, bằng mắt thường có thể nhìn thấy đảo Song Tử Đông của Phi Luật Tân và đảo Itu-Aba (Ba Bình), do Đài Loan chiếm giữ. Đảo Ba Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa và có nước ngọt (fresh-water).

Song Tử Tây có gì lạ?

Theo khảo cứu địa chất, đảo này giầu tài nguyên khoáng sản. Đảo trơ trọi, chỉ có cây dừa không đủ bóng mát che cái lều lớn binh sĩ đồn trú tại đây. Anh em trông khỏe mạnh, đa số để tóc dài, nước da đen sậm vì nắng cháy. Nếu không nghe họ nói tiếng Việt, bạn có thể tưởng họ là thổ dân trên đảo. Vì tầu lớn mà đảo không có cầu tầu nên anh em lái ca nô ra nhận tiếp liệu hay thay thế binh sĩ mãn hạn công tác. Câu hỏi quen thuộc của anh em là có mang thuốc lá, cà phê? Đặc biệt rượu “Ông già chống gậy” để chúng tôi nhậu lai rai các món hải sản anh em trên đảo tự nấu.

Chim biển

Đảo có hàng ngàn chim biển về làm tổ, đẻ trứng. Bạn có bao giờ ăn thịt chim biển? Mùi vị hơi tanh khi chưa quen. Nếu có thêm gia vị thì không đến nỗi nào! Anh em trên đảo bắt chim, rùa biển phơi khô. Mùa giông bão, tầu tiếp liệu không đến kịp, anh em có thức ăn dự trữ.

Trứng chim

Trên đảo có vô số trứng. Tha hồ nhặt. Đàn chim la hét, bay vần vũ trên đầu mình tỏ vẻ “phẫn nộ” với kẻ ăn cắp trứng. Có con nhào xuống mổ đầu mình. Không đau. Nhưng nhớ đội mũ, đeo kính cho an toàn. Đi biển lâu ngày, thiếu đồ ăn tươi. Buổi sáng uống ly sữa đặc Ông thọ, bỏ thêm vài trứng chim (thay cho trứng gà). Cơ thể như thêm sức.
Quà của lính biển mang về cho người thân hoặc người yêu, không huyền thoại như mang “hoa biển” về tặng em. Thực tế chỉ có hải sản: Thịt chim biển phơi khô ư? Tanh quá nuốt hổng vô! Thịt rùa biển ư? Ăn vô ngứa thấy bà tổ! Tóm lại chỉ có trứng chim được ưa chuộng nhất.

Ốc tai tượng

Tôi có vài lần theo các chiến sĩ người nhái lặn bắt tôm hùm, ghẹ, ốc ở các đảo Cam Ranh, Bình Ba, Nha Trang. Tôi chưa bao giờ thấy ốc tai tượng to đến hai ba gang tay như ở đây. Có lần đi bơi ở Song Tử Tây, khi đứng dưới nước, tôi cảm thấy có vật gì động đậy dưới chân. Theo phản xạ, tôi giật chân lên và lặn xem con gì? Quá đỗi ngạc nhiên, tôi thấy vô số ốc tai tượng. Tôi định bắt vài con về xào hay nấu cháo. Tôi nhặt nhánh cây khô đặt vào miệng ốc, chờ khép lại và kéo ra khỏi cát. Trái như tôi nghĩ, thân ốc nằm trong đá san hô. Dùng hết sức, tôi không thể nào rút cành cây ra khỏi miệng ốc, đừng nói đến đem ốc lên bờ. Chợt nghĩ nếu chẳng may, tay hoặc chân bị ốc kẹp, thì chỉ có nước đi chầu Long vương Hải thần. Lạnh cẳng, tôi bỏ lên bờ, không dám nghĩ đến… nồi cháo ốc.

Rùa biển

Có nhiều loại như: ba ba, đồi mồi… trên đảo mọi người gọi là vít. Họ đi bắt về ban đêm, nhất là mùa đẻ trứng. Tha hồ đào cát lượm trứng. Trứng có vỏ mềm, luộc ăn rất ngon. Thịt vít có người ăn không bị phản ứng. Có người ăn bị ngứa, không ngủ được. Dù sao món hải sản này cũng góp phần thực phẩm cho binh sĩ trấn đảo.

Cá chuồn

Trên biển, thỉnh thoảng thấy vài con cá chuồn bay trên mặt nước như “thủy phi cơ”. Trông rất ngoạn mục. Đôi lúc từng đàn cá mập, nhiều nhất là cá heo, bơi đuổi theo tầu. Một niềm vui bất chợt, vì giữa đại dương bao la không phải chỉ mình ta dong ruổi…
Có lần chiến hạm neo tại đảo Nam Yết, gặp mùa cá chuồn. Ban đêm, xung quanh chiến hạm thường thắp điện sáng trưng. Cá chuồn theo ánh sáng bay lên boong, đụng thành tầu sắt, nằm lăn dẫy đành đạch. Chúng tôi lâu lâu đi quanh tầu, lượm cá vô nấu cháo khuya. Cháo cá chuồn vào mùa có trứng thật tuyệt vời. Ăn tô cháo cá, cam đoan tối ngủ không… mộng mị.

Đối diện với cá mập

Chiến hạm neo tại đảo Sơn Ca, gần một vùng vịnh hình tròn, xung quanh nhấp nhô san hô, chính giữa là một vùng nước trong xanh. Trông thật thanh bình. Sau cơn mưa tối hôm qua, sáng nay bầu trời trong vắt, nắng đẹp. Tầu đi công tác lâu ngày, thiếu đồ ăn tươi. Anh em đề nghị hạm trưởng Nguyễn Kim Triệu cho thả ca nô đi bắt cá. Hạm trưởng thông cảm, vui vẻ chấp thuận. Xuồng nhỏ hạ xuống, từ từ chạy vào vùng vịnh trong xanh phẳng lặng như gương. Hai quả lựu đạn chống người nhái (MK.3) ném xuống biển. Sau tiếng nổ, vài con cá chết từ từ nổi lên mặt nước.
Anh em nhanh nhẹn lặn xuống bắt những con cá còn chìm phía dưới. Đột nhiên từ dưới nước anh em bắn mình lên hốt hoảng la to: cá mập! cá mập! Thì ra mấy con cá mập đánh hơi máu cá chết, phóng vào tranh ăn. Cá mập vùng này da rằn ri, trông rất dữ tợn. Muốn vớt vài con cá nổi trên mặt nước nhưng không có vợt lưới. Định dùng tay vớt cá nhưng thấy vài vi cá mập nổi lên mặt nước, lượn vòng vòng ung dung đớp cá của mình. Chúng tôi hậm hực trở về tay không.

Tắm mưa

Những chuyến công tác xa bờ lâu ngày, việc sử dụng nước ngọt rất giới hạn. Đi biển không nói đến tắm mưa thật là thiếu. Cấu trúc của tầu tuần dương hạm, cho chúng tôi hứng được nhiều nước mưa trên các sàn tầu đổ xuống. Những cơn mưa ngoài đại dương thật thú vị. Mưa đem đến sự tươi mát, tắm rửa, giặt quần áo dơ bẩn theo những chuyến hải hành. Nước ngọt chứa trong hầm tầu vào những ngày sắp cạn, mà vẫn còn phải “vượt bao hải lý, chưa nghe vừa ý, lắc lư con tầu đi”… Làm cho nước có màu vẩn đục vì chất sét thân tàu, chúng tôi vẫn phải dùng và gọi đùa là vitamin iron. Giữ một thùng nước mưa để sau khi tắm nước biển, tưới khắp thân thể bằng hai, ba cốc nước mưa cho sạch chất mặn, hạnh phúc không gì bằng! Lạy trời mưa xuống, có nước tôi uống, có nước nấu mì (gói)…

Quần đảo Trường Sa ngày nay trở thành pháo đài, phi trường quân sự của các quốc gia chiếm đóng. Đặc biệt Trung cộng. Sự nạo vét đất cát, san hô để xây dựng đảo nhân tạo đã phá hủy nguồn hải sản, tài nguyên Biển Đông. Vẻ đẹp thiên nhiên của Trường Sa, thú vui bình dị của người Lính Biển ngày xưa có lẽ bây giờ chỉ là những kỷ niệm…

TRỊNH HOÀI PHƯƠNG

Nguồn: https://chienhuuvnch.com/2018/01/17/truong-sa-vung-bien-nho/

BÚT KÝ CHIẾN TRƯỜNG: KHOẢNG TỐI NHÌN LÊN – VINH NHỤC HÀNH QUÂN (phần 1)

https://bienxua.files.wordpress.com/2018/09/1434c-lt01.jpg?w=433&h=669

Ðào Ðức Bảo

Sau Mậu thân đợt 2, từ tháng 7 năm 68 Tiểu đoàn 9 mở đầu bước thăng trầm bằng cuộc hành quân vùng ven đô. Ðại đội 93 đóng dọc theo bờ sông An Sơn. Ðại đội phân tán mỏng, Trung đội phân tán mỏng và hằng đêm khi bóng tối về từng tổ tam tam 3 người ẩn nấp suốt đêm để phục kích hoặc chặn bắt du kích. Một buổi sáng Trung úy Phước dẫn hai Trung đội 1 và 2 vượt sông An Sơn bằng xuồng máy đổ quân ngay bên kia bờ. Nhìn quanh chỉ toàn cỏ đước xen lẫn lác đác những dẻo đất nhỏ trên mênh mông rừng cỏ ngập nước. Tôi dẫn Trung đội 1 mò mẫm theo dấu chân du kích tìm tòi lục soát, bỗng có tiếng Binh I Phú đi đầu phát hiện:

– Chúng nó mới ỉa ở đây kìa, cứt còn mới toang nè.

Tôi bước lên theo tay Phú chỉ, trên mỏm đất khô, quả nhiên đúng như điều Phú nói nhưng sao tầm quan sát thật rộng chẳng phát hiện điều gì, tôi chợt nghĩ ra:

– Tất cả tụi bay gắn lưỡi lê đầu súng dàn hàng ngang lục soát xâm vào chỗ khả nghi, có thể chúng nó có hầm.

Cả Trung đội bì bõm trên đồng cỏ ngập nước. Bỗng nhác thấy 1 bóng đen vụt chạy xa rồi thêm 2 bóng nữa, khinh binh tác xạ, mục tiêu di động chỉ nhanh hơn bia nên gục cả xuống, 3 tên du kích hằng đêm về quấy rối đã đền tội. Trung úy Phước cho lệnh lôi xác kèm 3 cây AK47 về bên kia bờ, 3 xác chết chỉ mặc độc xà lỏn đen nằm trên xuồng xanh tái không một người dám nhận diện, quá trưa anh Phước cho lệnh đào lỗ chôn cất cẩn thận.

Chiều hôm sau, Thiếu tá Bảo Tiểu đoàn phó ghé Ðại đội dặn dò:

– Không ai nhận thân nhân thây kệ nó, hẵng cứ biết đây là vùng xôi đậu. Mới thịt được 3 thằng chưa hết đâu, nếu hết thì sao nó còn rót 122 ly vào thành phố đêm qua. Mẹ, dân thành phố ngủ kỹ bây giờ được bữa hoảng. Phước, ngày mai mày cho các Trung đội bung rộng thêm cho tao theo tọa độ này, phải tìm nguồn đạn chúng nó chôn dấu ở đâu mà sẵn thế.

Anh Phước dạ nhận lệnh.

Quá nửa đêm tôi mới rời lều anh Phước trở về Trung đội. Men theo những bờ mẫu tôi bước thấp bước cao đi trong đêm dầy đặc lẫn tiếng ễnh ương côn trùng râm ran trên những cánh đồng chia ô nhỏ méo mó ngập nước vì chưa đến ngày cắm mạ. Hồi chiều lúc nhá nhem tối, thằng Toàn hiệu thính viên của anh Phước gọi máy mời tôi lên gặp Phước Thịnh. Như thông lệ, tôi cầm theo bản đồ đến Ban chỉ huy Ðại đội nhận lệnh, vừa thấy mặt tôi anh ngoắc tay cười:

– Có lệnh gì mới đâu anh Bảo, ngày mai cứ thế mà làm. Bị có chai rượu tôi gọi anh lên lai rai chơi đỡ buồn.

Nếu chỉ có chai rượu thì tôi đâu trở về lúc đã quá nửa đêm, chỉ vì cùng anh Phước theo dõi máy giữa ban 3 Tiểu đoàn và Trung úy Hiến Ðại đội trưởng 92 mới về nhậm chức vừa được trực thăng vận vào vùng xa hồi chiều đang chạm địch. Có nổ súng, có địch đã chết 2 đứa, phía ta có bị thương nhẹ và hiện giờ Ðại đội anh đang ở cách đây hơn 5 cây số. Thế là anh Hiến đã được trở ra nắm Ðại đội lần thứ 2 sau lần đầu tiên 2 ngày ngắn ngủi dạo Mậu Thân. Lòng mong đợi của anh cuối cùng đã toại nguyện, coi chừng từ đây chỉ có lính mệt nghỉ vì anh phải cố làm chuyện để đời.

Sáng hôm sau, lúc mặt trời lên cao, Trung đội 1 của tôi dàn rộng lục soát theo tọa độ hết cánh đồng này sang cánh đồng khác. Ðang đi dưới nắng chói chang lập lờ dưới chân ánh nước bỗng tôi thấy một vật hình trụ màu đen ló nghiêng trên mặt nước ruộng, quay lại nhìn Chung vác máy phía sau:

– Chung à, mày dòm coi, có cục gì đen như cái tô nổi trên mặt nước vậy.

Thằng Chung ngó theo ngón tay tôi chỉ:

– Cái gì lạ quá em không rõ.

Tôi gọi toán khinh binh quay lại, cho dừng bố trí. Theo lệnh, Hạ sĩ Nguyên nhảy xuống ruộng nơi nước lút đầu, chỗ thì ngang ngực ngang bụng, một thoáng nó lôi ì ạch lên bờ trong tiếng reo của đồng đội:

– Thiếu úy, chắc 122 ly quá.

Tôi nói nhanh:

– Khui ra coi.

Trái hỏa tiễn 122 ly mới toanh nằm trong hộp giấy dầu đen hình trụ đang sáng trưng giữa ban ngày. Quả đạn chỉ cần gác chéo 2 ống tre thụt vào thành phố hằng đêm là dân Sài Gòn khỏi ngủ như Thiếu tá Bảo mới nói hôm qua. Tôi bấm máy gọi Phước Thịnh, giọng anh Phước reo trong máy: Cho mò tiếp đi, tôi tới anh ngay.

Trung đội cởi áo quần mò sâu khắp thuở ruộng, từng ống hình trụ đựng hỏa tiễn 122 ly, từng cây AK47 trong bao giấy sáp xen lẫn những cây thượng liên quấn chặt giấy dầu và kèm vô số thùng đạn lần lượt chất đống trên bờ dễ đến 2 GMC mới khuân hết.

Trung úy Phước có mặt ngay khi anh em còn đang ngụp lặn, rồi Tiểu đoàn phó Bảo, rồi Tiểu đoàn trưởng Nhã và Ðại tá Nguyễn khoa Nam Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn III cùng cố vấn cũng có mặt vây quanh núi vũ khí vừa moi lên bờ. Quả là may, nếu vô ý không quan sát thấy cái đầu nhô lên mặt nước của hộp đạn 122 ly thì giờ này Trung đội tôi chắc phải còn đang lục soát ở mãi mục tiêu xa và nhất định cũng từ hầm vũ khí này, hằng đêm tiếng hỏa tiễn 122 sẽ tiếp tục rơi vào thành phố. Quả nhiên sau đó, người dân thành phố không phải hoảng hốt choàng tỉnh trong đêm.

Tôi đứng nghiêm trả lời Ðại tá Nam Lữ đoàn trưởng:

– Trình Ðại tá, chiều qua Thiếu tá Bảo Tiểu đoàn phó nghi ngờ quanh đây có vũ khí và đạn dược địch chôn dấu. Ðã ra lệnh cho Ðại đội 93 lục soát hôm nay và may mắn Trung đội 1 của tôi lục soát đúng tọa độ này.

Ông gật gù bằng lòng:

– Sáng mai Thiếu úy lên Bộ chỉ huy Lữ đoàn gắn huy chương cùng một số quân nhân có công.

Thiếu tá Bảo mỉm cười với Trung úy Phước cũng đang há miệng cười.

Tiểu đoàn sau đó được lệnh về nghỉ chỉnh trang tại hậu cứ sửa soạn cho cuộc hành quân mới. Tại hậu cứ một đêm đến phiên trực, tôi ngủ tại phòng trực Tiểu đoàn nằm ngay cổng chính, sáng sớm sẽ cùng với 1 Tiểu đội quân phục chỉnh tề cộng người lính kèn đón Tiểu đoàn trưởng Nguyễn thế Nhã vào doanh trại. Nghe người lính gác cổng ngoái đầu báo tin: Thiếu tá tới, cùng lúc chiếc xe jeep đã đến sát cổng. Tôi hô nghiêm, súng chào bắt khi đầu mũi xe vừa lăn bánh qua cổng và cùng lúc người lính kèn kề môi vào chiếc kèn đồng sáng bóng thổi khúc quân hiệu đón chào. Thiếu tá Nhã đưa tay chào lại cùng chiếc xe tiến thẳng đến cột cờ và lúc đó mới làm lễ chào cờ buổi sáng.

Một hôm tôi tò mò hỏi Thiếu tá Bảo Tiểu đoàn phó:

– Sao sáng nào Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng cũng từ nhà vào doanh trại mà phải dàn chào với kèn uy nghi quá vậy Thiếu tá.

Anh Bảo cười cười:

– Tây mà lỵ, mỗi binh chủng có một truyền thống riêng.

Tôi còn ngớ ngẩn:

– Nhưng đâu phải lễ lạc gì mà hàng sáng ông ấy đều vào doanh trại mà Thiếu tá.

– Thì tao giải thích rồi, tại mày còn chưa biết lúc trước Ðại đội trưởng vào doanh trại Ðại đội còn phải thổi kèn đón huống hồ Tiểu đoàn trưởng, nhưng vụ đó đã bỏ rồi.

Tôi tin chuyện đó có thật vì Thiếu tá Bảo đâu nỡ nói dối tôi làm gì. Ghê thật, chả trách đó cũng là một điều cho đơn vị có kỷ luật cao cũng phải.

Ðầu năm 69, Tiểu đoàn rời hậu cứ bằng GMC trực chỉ Tây ninh, từ đó trực thăng vận vào vùng. Suốt nửa năm đầu lùng sục mật khu địch mở đầu từ Ven Ven với những rừng cao su thăm thẳm, rồi Long Giàng, rồi Bời Lời, rồi Bến Gò Nổi. Tiểu đoàn gặt hái được nhiều chiến tích, nhưng bù lại thiệt hại cũng đáng kể. Có những trận đánh suốt ngày suốt đêm mãi hôm sau mới giải tỏa được để thu dọn chiến trường. Xác những người lính lúc thu nhặt đã bị kiến bu kín trên những vết máu chảy khô đen, chân tay mặt mày đã bị đục khoét lỗ chỗ nên phải phủi phải giũ thật sạch mới gói poncho được. Những người lính tử thương thân xác cũng không yên với lũ kiến rừng.

Một lần giải tỏa áp lực địch vây hãm trại Biệt kích Bến Sỏi, Tiểu đoàn trực thăng vận xuống giữa trưa. Trung úy Phước dẫn 3 Trung đội xuyên 3 mũi hướng trái trại Bến Sỏi giao chiến suốt từ trưa đến gần nửa đêm, hỏa châu soi sáng cả vùng xen lẫn bên dưới từng đụn lửa cháy của cây rừng hắt sáng. Giải tỏa đến sát chân trại, địch đã thưa tiếng súng áp đảo, nhưng những tràng thượng liên và AK vẫn còn chống trả khiến Ðại đội chưa dọn sạch hoàn toàn phần trách nhiệm. Trung úy Phước sốt ruột gọi tôi và Chuẩn úy Quý Trung đội trưởng Trung đội 2 đến bên ra lệnh:

– Hai anh dẫn con cái tiến chiếm từng hầm bằng lựu đạn và phải nhanh chóng diệt nốt những đứa còn kháng cự. Phải làm thật nhanh để còn nghỉ, Trung đội 1 của anh Bảo bên trái, 2 của Quý bên phải.

Nhận lệnh xong hai Trung đội dàn hàng ngang và từng tràng M16, từng quả lựu đạn nhắm ngay miệng hầm nổ vang trong đêm kéo theo những tiếng rú thảm thiết. Những người lính Dù đang sắp dọn sạch sẽ bãi chiến trận bỗng dưới ánh hỏa châu và ánh lửa, 1 bóng người cao to chạy vụt về hướng chúng tôi miệng thét lớn: Tôi xin hàng, tôi xin đầu hàng. Bóng đen chạy quá nhanh xông thẳng đến trên tay còn cầm cây AK47 báng gấp và một loạt súng M16 nổ dòn khiến tên địch ngã đổ xuống. Trung sĩ I Tám Trung đội phó trong căng thẳng chiến trận suốt từ buổi trưa đổ quân đã không giữ được bình tĩnh và đã nổ súng. Trung úy Phước văng tục:

– Ð.m. nó đầu hàng sao mày còn bắn.

Tám ấp úng:

– Dạ, tại tôi thấy nó không đưa súng lên đầu.

Anh Phước càm ràm:

– Tổ cha, chỉ giỏi bắn bậy, mày ra lục soát coi nó có tài liệu gì không. Phải chi để nó sống khai thác có hơn không?

Thằng giặc chỉ có một mảnh giấy chức vụ Thượng sĩ Trung đội trưởng và tên là Nguyễn Xuân.

Chiến lợi phẩm lần này chắc phải bộn, Ðại đội vừa định thu gom bỗng có lệnh rút ngay để đi tiếp cứu Tiểu đoàn 8 Dù vừa bị địch độn thổ phục kích khi vừa nhảy trực thăng vận xuống bãi lau sậy. Ðại đội 93 theo lệnh anh Phước lại tức khắc ba-lô lên vai cùng Tiểu đoàn di chuyển. Lội bộ suốt đêm không quản ngại địch 2 bên bờ rừng phục kích, vượt sông vượt suối mãi đến khi trời vừa hừng sáng mới tới nơi. Tiểu đoàn 8 Dù đã rút và cả Việt cộng cũng đã rút sạch. Trong khu lau sậy còn rải rác mũ sắt thủng lỗ, những thùng đại liên M60 vương vãi cùng vài cây súng đã gẫy, đã bể vì trúng đạn xen lẫn những chiếc mũ cối và vũ khí địch hư hỏng vương vãi.

Suốt một ngày một đêm, Tiểu đoàn 9 Nhảy dù đã làm 2 công việc giải tỏa áp lực địch vây hãm trại Biệt kích Bến Sỏi và đi tiếp viện Tiểu đoàn 8 Dù trong lúc các Ðại đội đều thiệt hại quân số, để bù lại chẳng kịp thu gom chiến lợi phẩm nào đáng kể lúc địch quân nằm chết la liệt và vũ khí vương đầy trên tuyến. Quân bạn đến chỉ việc lượm lên như lượm củi, Tiểu đoàn 9 chẳng được cái giải gì đúng là số con rệp.

Nghỉ một ngày trong rừng, toàn Tiểu đoàn được trực thăng vận đến sát rồi lội bộ vào vùng đất Long Hoa. Ðây là lần thứ nhì Tiểu đoàn 9 đến vùng đất này để giải tỏa áp lực địch đang vây hãm. Ðại đội 93 và hầu như các cánh quân khác đều chạm địch lai rai suốt buổi chiều cho mãi tới khi trời vừa sập tối mới quét sạch địch chạy sâu vào khu đồng ruộng nhưng 7 giờ 30 tối chính Ðại đội 93 bị địch dùng hỏa lực mạnh đan lưới chặn đứng ngay bìa tre làng. Sau một thời gian cò cưa Trung úy Phước nóng ruột ra lệnh:

– 2, 3 yểm trợ để thằng 1 dàn hàng ngang băng qua bãi ruộng chiếm ngay mục tiêu trước mặt. Trung úy Phước gọi tôi:

– Ðích thân 1 trước khi bắt đầu anh nhớ báo tôi biết nghe.

Trung đội 1 của tôi đã dàn hàng ngang ngay dưới bờ mương ngập nước. Tôi quan sát dưới ánh hỏa châu lập lờ khoảng cách phải chạy thục mạng hơn 100m hoàn toàn trống để đến mục tiêu phải chiếm, trong lúc hỏa lực địch vẫn nổ ran kèm những ánh đạn lửa vẽ vằn vện trong đêm. Tôi lập cập châm điếu thuốc quân tiếp vụ nhăn nheo nghĩ bụng:

– Chúng nó bắn thượng liên như mưa rào không biết ai trong số non 20 người của Trung đội 1 vào nổi đến mục tiêu. Biết trước sẽ như vậy, sẽ rất nhiều thành bia thịt sống nhưng lệnh anh Phước đã ra thì phải thi hành.

Mới rít được vài hơi thuốc đã tắt ngỏm vì ướt, tôi tiếc rẻ búng mẩu thuốc còn lại lên trên bờ ruộng cùng miệng truyền lệnh:

– Tất cả bò lên bờ nằm sẵn sàng, khi nào nghe hô xung phong thì chạy thục mạng nghe. Chúng ta có thằng 2 thằng 3 tác xạ yểm trợ trên đầu.

Mọi người cúi khom sát bờ ruộng dường như ai cũng một chân co một chân duỗi để lấy trớn để sẵn sàng phóng thục mạng đến phía trước mặt. Vừa định báo lên Trung úy Phước chúng tôi đã sẵn sàng thì cùng lúc trong máy nghe giọng anh nhão nhoẹt:

– Ðích thân 1 đây Phước Thịnh, hủy bỏ lệnh. Anh cho con cái bố trí tại chỗ giao Trung đội cho thằng Tám rồi tới chỗ tôi ngay, tôi bị rồi.

Không biết nên mừng hay nên buồn, sắp xếp xong tôi quay lui về hướng sau nơi có căn nhà tranh Ban chỉ huy Ðại đội đang ở đó. Anh Phước bị một viên thượng liên phang trúng bắp chân máu đang tuôn ướt đẫm vải băng. Vừa thấy tôi anh bậm môi nín đau:

– Anh Bảo trông coi Ðại đội nghe, tôi sẽ cố trở ra sớm.

Tôi mới gật đầu chưa kịp đáp thì Thiếu tá Bảo đang chống tay xem bản đồ trên chiếc bàn gỗ có ánh đèn dầu vặn nhỏ quay đầu lại:

– Bảo, mày cho các Trung đội bắt tay phòng thủ các bờ đai sát bờ ruộng đợi sáng mai làm tiếp.

Tôi quay ra cùng lúc chiếc cáng khiêng anh Phước vừa khuất sau bóng đêm hướng sau. Và quả nhiên anh đã ra sớm như anh nói vì chỉ nửa tháng sau anh đã cầm lại Ðại đội trong vóc dáng gầy yếu với gương mặt xanh mướt.

Sau một ngày nghỉ ngơi nhân thể đợi tiếp tế. Hôm sau cả Tiểu đoàn lại trực thăng vận đến một vùng đồi núi trong địa danh Tây Ninh. Ðêm đầu tiên Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 9 đóng ngay đỉnh đồi, vây quanh là các Ðại đội tác chiến. Qua một đêm hoàn toàn yên tĩnh, sáng sớm hôm sau, Trung úy Phước nhận lệnh đi lục soát về hướng tây bắc, mục tiêu đầu tiên phải đến là một quả đồi rậm rạp sát nách Tiểu đoàn đóng quân đêm qua. Thấy nhiệm vụ ngon ăn và lệnh sáng đi chiều về nên anh Phước cho lệnh tất cả để ba-lô lại cho nhẹ.

Nguồn: http://khoangtoinhinlen.blogspot.com/2015/09/khoang-toi-nhin-len-chuong-iv-p1.html?view=magazine

Short of War

NGUYỄN ĐẠT THỊNH

Xin bạn đọc vui lòng chấp nhận ba chữ ‘short of war’ là tựa của bài báo này, vì tôi chỉ có thể dịch nó thành bốn chữ ‘thiếu điều chiến tranh’, nghe lỉnh kỉnh, không ổn lắm để làm tựa cho một bài báo trình bày tình trạng căng thẳng giữa quân đội Mỹ và lực lượng Trung Cộng chiếm đóng Biển Đông.

Căng thẳng vì Mỹ vẫn cứ coi không phận Biển Đông là không phận quốc tế -máy bay của bất cứ nước nào cũng có quyền sử dụng, trong lúc Trung Cộng khẳng định mặt biển, lòng biển, đáy biển và cả không phận Biển Đông đều là của thừa tự ông cố nội họ để lại, và con cháu cụ Lê Chiêu Thống quỳ gối dâng cho họ.
Một tờ báo Mỹ gửi phóng viên tháp tùng phi hành đoàn chiếc thám thính cơ P-8A Poseidon bay trên không phận Biển Đông quay phim, chụp hình và quan sát những sân bay, những cơ sở quân sự của Trung Cộng bố trí trên những hòn đảo lớn trong hai dẫy quần đảo trên Biển Đông.


Thám thính cơ P-8A Poseidon được trang bị đầy đủ những dụ cụng tối tân nhất để ghi âm, quay phim, chụp hình Biển Đông.


Thám thính cơ P-8A Poseidon

Chiếc thám thính cơ đang bay trên không phận hòn đảo nhỏ Đá Vành Khăn (Mischief Reef) thì một tiếng phản kháng vang lên trên máy truyền tin, “Cảnh cáo phi cơ Mỹ: quý vị đang vi phạm không phận Trung Quốc, vi phạm chủ quyền và an ninh của chúng tôi. Yêu cầu quí vị cấp tốc ra khỏi không phận của chúng tôi.”

Lời cảnh cáo được nhắc lại nhiều lần, nhưng người cảnh cáo cứ tiếp tục cảnh cáo, chiếc P-8A Poseidon đang bay trên không cứ rề rề tiếp tục bay, trong lòng máy bay, Trung Úy Dyanna Coughlin vẫn tiếp tục điều chỉnh máy quay phim ghi nhận cảnh sinh hoạt trên Đá Vành Khăn.

Chiếc thám thính cơ xê dịch chậm chạp, nhưng vẫn đủ nhanh để rời đảo Đá Vành Khăn đổi cảnh cho máy quay phim ghi nhận những kiến trúc cao 5 tầng chứa đựng đài radar, và chỗ cư ngụ của lực lượng trú phòng trên đảo Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef).

Trung Cộng thổi cát từ lòng biển lên, xóa hình chữ thập của hòn đảo đó và biến nó thành hình vuông.
Trung Úy Coughlin điều chỉnh ống kính máy quay phim hướng về những kiến trúc lớn trên đảo; cô quan tâm đến đường bay dài 3 cây số, và chiếc khu trục đang được bảo trì gần dẫy nhà đậu máy bay.
Hai hãng hàng không dân sự China Southern Airlines và Hainan Airlines có những chuyến bay chở du khách và nhân viên dân sự phục vụ trên đảo ra vào lục địa Trung Quốc.
Cách sân bay khoảng một mile là kiến trúc chính trên đảo.


Đảo Chữ Thập không còn hình dáng chữ thập nữa, mà trở thành một hải đảo đủ lớn để có sân bay và một quân cảng

Trung Cộng còn có một sân bay thứ nhì tại đảo Phú Lâm dài 3,000 thước, nhưng họ vẫn ca thán là bị những nước khác -cũng tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông- lấn lướt. Năm 2014, Trung Cộng lại chiếm thêm 7 đảo nữa để thiết lập 3 đường bay khác.

Trung Úy Coughlin lắc đầu nói, “Không tưởng tượng được,” cô đánh giá nỗ lực khổng lồ của sức người bị động viên để biến vùng biển cả thanh bình thành một giải trường thành có khả năng quân sự ngăn chặn một cuộc tấn công vào những quốc gia trên ven bờ Biển Đông, đang âm thầm bị bóp nghẹn dưới sức bành trướng ‘gồm thâu lục quốc’ truyền thống quân sự của Trung Quốc.

Giới lãnh đạo quân sự Mỹ tỏ ra quan ngại về nỗ lực của Trung Cộng quân sự hóa Biển Đông; đô đốc Philip S. Davidson tư lệnh quân khu Thái Bình – Ấn Độ Dương trình bày trước Quốc Hội là, “Trung Cộng có khả năng kiểm soát Biển Đông trong mọi tình huống trừ chiến tranh (short of war).” Mà Biển Đông lại là hải lộ cần thiết cho một phần ba hàng hóa trao đổi trên thế giới.

Nhiều chính khách đã tỏ ra lo ngại là thái độ lấn lướt của Trung Cộng trên Biển Đông sẽ lan rộng đến những khu vực khác của thế giới, ngày nào khả năng quân sự của họ trở thành mạnh hơn.
Chủ tịch Tập Cận Bình đã được quốc hội Trung Quốc cho phép ngồi lâu hơn hai nhiệm kỳ để đưa Trung Cộng vào vị trí trung tâm của sân khấu thế giới rồi trụ lại ‘vững vàng và vĩ đại trong vai trò bá chủ Đông Phương.”
Trong cuộc hội đàm tháng Sáu vừa rồi, ông Tập đã bảo thẳng Tướng Jim Mattis là Trung Cộng không thể để mất một inch nào trong lãnh thổ, lãnh hải Biển Đông của họ, bất chấp bản án của Tòa Quốc Tế, bất chấp mọi can thiệp đến từ bên ngoài.

Tập Cận Bình đã không thách thức Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ như vậy nếu 44 năm trước -ngày 19 tháng Giêng, 1974 – Đại Sứ Mỹ Graham Martin không điện thoại từ Sài Gòn ra Đà Nẵng, yêu cầu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hủy bỏ lệnh huy động Không Quân VN tiếp chiến Hải Quân đang giao tranh với hải quân Trung Cộng trong hải phận Hoàng Sa.


Bản đồ hải chiến Hoàng Sa

Cuộc hải chiến gay cấn gây tổn thất ngang ngửa cho cả đôi bên, và chỉ cần 10 chiếc khu trục cơ cất cánh ra tiếp chiến, mỗi chiếc đánh hai quả bom nhỏ xuống các chiến hạm địch là đủ đánh chìm cả bốn chiến hạm Trung Cộng.

Hậu quả là Trung Cộng sẽ ồ ạt trả đũa, và chiến tranh VN sẽ mất tính nội chiến và Biển Đông trở thành một vấn đề quốc tế.

Nhưng Đại Sứ Mỹ, với tư cách đồng minh của VNCH đã trói tay quân lực VNCH, giúp Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, thì hậu quả hôm nay là sự thán phục của cô Trung Úy Coughlin trước sức xây dựng Vạn Lý Trường Thành dọc theo Biển Đông của Trung Cộng.

Trước cô Coughlin, Đại Tướng Mattis cũng đã nghe ông Tập tuyên bố Biển Đông là của Trung Cộng, bất chấp quan điểm trái ngược của thế giới.

SHORT OF WAR – ngoại trừ chiến tranh, Mỹ không còn cách nào giải quyết bài toán Biển Đông nữa- Đô Đốc Davidson cũng khẳng định như vậy.

Nguồn: http://www.viendongdaily.com/short-of-war-WKCpTVNA.html