Contact

Những bài học thuộc lòng, một thứ văn chương tiểu học của miền Nam trước đây – Trần Văn Chánh

Trần Văn Chánh

Dân miền Nam, ở lứa tuổi xấp xỉ hàng sáu như chúng tôi, cứ mỗi lần bạn bè tụ họp trà dư tửu hậu thì thường trao đổi với nhau về đủ thứ chuyện trên đời. Nếu có ôn lại quãng đời đi học xa xưa, thì lại thường hay nhắc đến thầy, bạn cũ…, với những kỷ niệm khó quên của tuổi học trò. Chúng tôi còn nhắc lại đến cả những bài tập đọc, học thuộc lòng đã được học cách nay chừng bốn-năm mươi năm về trước…

Thậm chí, có người còn thuộc hết cả một bài học thuộc lòng dài, đọc ron rót từ đầu đến cuối, như bài “Tình nhân loại”, được học vào khoảng những năm cuối 50 của thế kỷ trước:

TÌNH NHÂN LOẠI

Sau một trận giao tranh ác liệt,
Giữa sa trường xác chết ngổn ngang.
Có hai chiến sĩ bị thương,
Hai người hai nước hiện đương nghịch thù.
Họ đau đớn khừ khừ rên siết,
Vận sức tàn cố lết gần nhau.
Phều phào gắng nói vài câu,
Lời tuy không hiểu, hiểu nhau nỗi lòng:
Họ hai kẻ không cùng Tổ quốc,
Nhưng đã cùng vì nước hi sinh.
Cả hai ôm ấp mối tình,
Yêu thương đất nước, gia đình, quê hương.
Đêm dần xuống, chiến trường sương phủ,
Một thương binh hơi thở yếu dần.
Trước khi nhắm mắt từ trần,
Xót thương người bạn tấm thân lạnh lùng.
Anh cởi áo đắp trùm lên bạn,
Rồi tắt hơi! thê thảm làm sao!
Cho hay khác nghĩa đồng bào,
Nhưng tình nhân loại còn cao hơn nhiều!

ĐẶNG DUY CHIỂU
(Quốc văn mới)

Nghe xong bài này ai cũng kính nể trí nhớ tốt của người bạn, và đều tấm tắc khen hay. Tuy nhiên, hỏi tác giả của những bài học thuộc lòng cảm động và lý thú như trên thì không ai còn nhớ, chỉ biết lờ mờ nó nằm đâu đó trong những sách Quốc văn mà mình đã từng học qua hồi tiểu học.

Qua câu chuyện trà dư tửu hậu, tôi sực nghĩ những bài học thuộc lòng như thế, nằm rải rác trong các sách Quốc văn tiểu học giai đoạn 60-70 của thế kỷ trước, thuộc thế hệ tiếp sau Quốc văn giáo khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim-Đỗ Thận… biên soạn (dạy trong những năm 40-50 mà gần đây NXB Trẻ và vài nhà xuất bản khác có in lại), dường như là một kho tàng quý báu đang bị bỏ quên, chứ không đơn giản như người ta thường có thể tưởng. Nếu nay thu thập lại, chắc sẽ tìm thấy trong đó nhiều điều vẫn còn hứng thú và bổ ích, nhất là về phương pháp sư phạm, gắn với việc đào tạo con người toàn diện cả về đức lẫn tài.

Nghĩ vậy rồi, tôi nhắn nhe tìm tõi khắp nơi, gọi điện cho những bạn cùng trang lứa hoặc già hơn mà có quan tâm chuyện sách vở, để tìm lại cho được những cuốn Quốc văn tiểu học của một thời, nhưng kết quả gần như là một sự thất vọng. Thử tra tìm trên thư mục (phần lớn đã được số hóa đưa lên mạng internet) của một số thư viện lớn (như Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Tổng hợp TP. HCM, Thư viện Khoa học xã hội TP. HCM, Thư viện Trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TP. HCM, Thư viện Trường đại học Sư phạm TP. HCM…), cũng không thấy. Cuối cùng, nhờ kiên nhẫn lục tìm lai rai trong các hiệu sách cũ ở TP. HCM, trong tay tôi hiện chỉ vỏn vẹn có được chừng 10 quyển lớn nhỏ đủ cỡ, từ lớp Năm (tương đương lớp 1 bây giờ) đến lớp Nhất (tức lớp 5), của một số soạn giả quen thuộc như Hà Mai Anh, Nguyễn Hữu Bảng, Bùi Văn Bảo, Đặng Duy Chiểu, Thềm Văn Đắt, Cao Văn Thái…, nhưng hầu hết đều đã rách bìa, mất từ vài trang đến vài chục trang ở đầu hoặc ở cuối sách. Chỉ còn được 3 quyển nguyên vẹn nhưng chưa được vừa ý lắm, vì lẻ mẻ không đủ bộ. May sao, trong Thư viện Khoa học xã hội TP. HCM (tiền thân là thư viện của Viện Khảo cổ Sài Gòn) hiện vẫn còn lưu trữ tương đối đủ bộ Tiểu Học Nguyệt San (từ năm 1957 đến năm 1963) do Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn chủ biên để cung cấp tài liệu giảng dạy cho giáo viên bậc tiểu học, mà trong đó có sưu tập và chép lại khá đầy đủ những bài Tập đọc, Học thuộc lòng…, tương tự như những bài đã có trong các sách Quốc văn tiểu học của thời đó.

Như chúng ta đều biết, sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời chia đôi ở vĩ tuyến 17, thành hai miền Nam, Bắc. Miền Bắc, qua 2 lần cải cách giáo dục vào các năm 1950 và 1956, đã xây dựng một nền giáo dục kết hợp chuyên môn với chính trị (vừa hồng vừa chuyên), lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng, định hướng giáo dục vào hai mục tiêu: chuẩn bị tiến lên CNXH và xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững mạnh chi viện cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Trong khi đó, miền Nam, trong giai đoạn 1955-1963, chỉ thực hiện cải cách giáo dục theo hướng cải lương chủ nghĩa, bằng cách kế thừa và phát huy những truyền thống, lề lối và nội dung đã có trong chương trình giáo dục Việt Nam cũ ban hành năm 1945 mà ta quen gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (vì do bộ trưởng Bộ Giáo dục & Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn).

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) nhóm họp tại Sài Gòn đã định hướng triết lý giáo dục dựa trên ba nguyên tắc căn bản: nhân bản, dân tộc và khai phóng. Ba nguyên tắc này đã trở thành nền tảng cho triết lý giáo dục, được ghi cụ thể trong tập tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp 1967. Chương trình môn Quốc văn cấp tiểu học vì thế có thể nói vẫn lấy những nội dung giáo dục thiên về đạo đức chứa đựng trong bộ sách Quốc văn giáo khoa thư và Luân lý giáo khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim biên soạn làm cơ sở rồi cải cách, thêm bớt một số nội dung mới cho phù hợp với hoàn cảnh và thời đại lúc đó.

Tinh thần chung của nền học vấn miền Nam lúc bấy giờ là phải học Lễ trước rồi mới học Văn sau, tức coi việc rèn luyện đức-trí là quan trọng như nhau, nhưng Đức phải đi trước một bước, nên trường học nào vào thời đó cũng có câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” treo ở những vị trí quan trọng dễ thấy nhất và trong mỗi phòng học. Tinh thần trọng Lễ nhờ thế không chỉ bàng bạc, quán xuyến trong tâm tưởng, đầu óc của mọi giáo chức từ tiểu học đến đại học, mà còn lan tỏa rộng khắp vào trong mọi giai tầng xã hội, tạo thành một phong khí học tập-ứng xử chú trọng rèn luyện cả đức lẫn tài để chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho thế hệ tương lai trở thành những con người hữu dụng đối với bản thân, gia đình và xã hội.

Cho nên có thể nói, nội dung đạo đức hàm chứa trong các sách Quốc văn tiểu học thời kỳ này ở miền Nam là vẫn duy trì nhưng có phát huy thêm và cải biên từ những bộ sách giáo khoa cũ thế hệ 1940, khá đúng với tinh thần đã được ghi trong câu nói của Khổng Tử mà cụ Trần Trọng Kim đã trích dẫn để in lên đầu quyển Sơ học luân lý (1914, có tài liệu nói 1919), vốn là cơ sở chỉ đạo tư tưởng của nền giáo dục cũ và sách giáo khoa môn Văn thời trước: “Người học trò ở trong nhà thì hiếu với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường kẻ bề trên, làm việc gì thì cẩn thận, nói điều gì thì tín, rộng lòng thương người mà lại thân với kẻ có nhân. Hễ làm được những điều ấy rồi, mà còn thừa sức thì hãy học văn chương xảo kỹ” (Luận ngữ, thiên “Học nhi” đệ nhất) (xem Sơ học luân lý, NXB. Tân Việt, In lần thứ hai, 1950).

So sánh giữa hai miền Nam, Bắc, hiệu quả giáo dục tất nhiên có những mặt khác nhau khá cơ bản. Xét cho công bằng, nền giáo dục miền Bắc nhờ xây dựng tốt tinh thần đấu tranh giai cấp và căm thù đế quốc nên đã huy động được sức mạnh của quần chúng tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, với sự trả giá rất đắt. Do phải tập trung vào những mục tiêu và lý tưởng chính trị to tát, nền giáo dục miền Bắc đã có thời gian dài khá lơ là với việc giáo dục những giá trị văn hóa-đạo đức truyền thống của dân tộc. Miền Nam trái lại, quan điểm giáo dục ít bị chính trị hóa, thiên về cổ điển nếu không muốn nói vẫn còn khá nặng màu sắc phong kiến của giai đoạn những năm 40 trước Cách Mạng Tháng Tám, còn về các khoa học nhân văn (quốc văn, đức đục, công dân giáo dục…) thì căn bản dạy dỗ từ khuôn phép lễ nghĩa xưa phát huy lên, chú trọng rèn luyện nhiều thứ tình cảm đan xen nhau (cá nhân, gia đình, tổ quốc, nhân loại), trông giống như một cây đàn muôn điệu…

Về sách giáo khoa Quốc văn tiểu học của miền Nam thời trước, để phục vụ cho những mục tiêu như đã kể trên, thông thường các giáo chức khi biên soạn thì soạn luôn nguyên cả bộ từ lớp Năm (lớp 1) đến lớp Nhất (lớp 5), và ở trang bìa giả sách thường có đề câu “Soạn theo chương trình hiện hành của Bộ Quốc gia Giáo dục”, hoặc thậm chí còn nêu rõ hơn: “Soạn đúng chương trình tiểu học đã sửa đổi do Nghị định số… ngày … của Bộ Quốc gia Giáo dục”… Sách của họ thường mang những tên khác nhau như Việt văn toàn thư, Quốc văn toàn thư, Quốc văn toàn tập, Tiểu học quốc văn, Quốc văn mới, Quốc văn bộ mới, Quốc văn độc bản, Việt văn khóa bản, Việt văn tân khóa bản, Tân Việt văn, Việt ngữ, Việt ngữ độc bản, Việt ngữ bộ mới… Chuyên xuất bản loại sách này, được biết có một số nhà xuất bản (hoặc nhà in) nổi tiếng như Nam Hưng Ấn Quán, Sống Mới, Nam Sơn, Việt Hương, Cành Hồng…


Ảnh bìa sách Việt ngữ lớp Bốn của Nhóm biên soạn Lửa Việt (NXB Cành Hồng, Sài Gòn, 1974)

Thời đó, khi trích giảng các bài thơ để làm bài học thuộc lòng, các nhà biên soạn sách tiểu học dường như không mấy chú trọng việc ghi tên tác giả, nên họ thường chỉ ghi sơ sài tên người sáng tác, một đôi khi mới ghi thêm xuất xứ cho biết trích dẫn từ sách báo nào. Một số trường hợp chỉ ghi tượng trưng X…, XXX., H.H., không rõ bút hiệu hoặc tên thật là gì. Cũng không phân biệt tác giả những bài thơ là người đang sống và phục vụ trong chế độ nào, mà hễ thấy hay, bổ ích là chọn.

Theo chỗ chúng tôi được biết, ngoài những bài trích dẫn tác phẩm của một số nhà văn-nhà thơ cổ điển hoặc hiện đại đã nổi tiếng (như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Hoàng Chương, Kiên Giang, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân…), một số soạn giả sách giáo khoa đã tự mình sáng tác luôn những bài thơ theo chủ đề giảng dạy để làm bài học thuộc lòng, như trường hợp nhà giáo Bùi Văn Bảo với bút hiệu Bảo Vân, nhà giáo Đặng Duy Chiểu với bút hiệu Chiêu Đăng, thường thấy xuất hiện trong những sách giáo khoa Việt văn tiểu học do các ông biên soạn… Một vài tác giả khác, như Kình Dương, Như Tuyết, Thy Thy, Đề Quyên… dường như cũng gốc thầy cô giáo, chuyên sáng tác thơ cho bài học thuộc lòng. Phần còn lại là thơ của một số người làm thơ nghiệp dư, có bài đăng rải rác đâu đó trên một số báo, tạp chí đương thời, được các nhà biên soạn sách giáo khoa chọn đưa vào sách của mình.

Chỉ cần tôn trọng chương trình và lời hướng dẫn do Bộ Giáo dục vạch ra một cách tổng quát, các tác giả sách giáo khoa được tự do chọn bài để đưa vào sách, và giáo viên đứng lớp cũng có quyền chọn quyển giáo trình nào mình ưa thích để giảng dạy. Nhờ vậy, nội dung sách giáo khoa phong phú, tuy vẫn có những nét chung nhưng mỗi người một vẻ, và trong điều kiện được tự do như thế, các giáo chức soạn sách cũng cố thi đua cạnh tranh nhau một cách tự giác để soạn ra những giáo trình được nhiều người vừa ý, chấp nhận. Phần thưởng xứng đáng của họ là sách được nhiều người tin dùng, chứ không phải những mảnh bằng khen của Nhà nước.

Bộ Giáo dục chỉ khuyến cáo các giáo viên bằng lời chỉ dẫn chung, như về Việt ngữ thì có nêu rõ: “Trong lúc dạy Việt ngữ, giáo chức nên nhớ rằng chương trình ấy không phải đứng tách hẳn chương trình của các môn học khác như đức dục, công dân giáo dục, sử ký, địa lý v.v…. mà phải cố tìm cách cho chương trình các môn học ấy và khoa Việt ngữ có liên lạc với nhau (…). Đặc biệt chú ý về Việt ngữ: nên nhẹ về phần tầm chương trích cú, nghệ thuật vị nghệ thuật, và phải chú ý đề cao vấn đề nghệ thuật vị nhân sinh (phục vụ cho đạo đức con người, cho hạnh phúc gia đình, cho an ninh xã hội, cho độc lập, tự do)”.

Chương trình Việt ngữ tiểu học thời đó, thông thường gồm các phân môn sau:

– Ngữ vựng;

– Tập đọc và Học thuộc lòng;

– Chính tả, Văn phạm (chỉ dạy ở lớp Nhì và lớp Nhất, tức lớp Bốn và lớp Năm), Tập viết;

– Tập làm văn (chỉ không dạy ở lớp Năm tức lớp Một).

Môn Quốc văn rất được coi trọng, chẳng hạn lớp Năm (đến năm 1967 đổi gọi là lớp 1), mỗi tuần học 25 giờ, trong đó đã có tới 9 giờ rưỡi dành cho môn này. Riêng về phân môn Học thuộc lòng, mỗi tuần học sinh từ lớp Năm (sau năm 1967 gọi lớp 1, tương đương lớp 1 bây giờ) đến lớp Nhất (sau năm 1967 gọi lớp 5, tương đương với lớp 5 bây giờ) đều có bài học.

Chủ đề (hay chủ điểm) các bài Học thuộc lòng luôn đi theo chủ đề của các bài Tập đọc. Về tiêu chuẩn lựa chọn thì tuy có sự khác nhau chút ít tùy soạn giả hoặc tùy cấp lớp nhưng đều có thể hiểu đại khái: “Về bài Tập đọc và Học thuộc lòng, bài soạn nào cũng đi sát với chương trình cùng trình độ của học sinh theo những chủ điểm có liên quan tới nhiều môn khác” (Thềm Văn Đắt-Huỳnh Hữu Thanh, Việt ngữ bộ mới lớp Nhứt, “Lời nói đầu”, NXB Nam Sơn, In lần thứ sáu). Hoặc: “Về học thuộc lòng, chúng tôi chú trọng lựa chọn những bài văn vần có tính cách kích thích lòng yêu nước và tinh thần tranh đấu của nhân dân” (Đặng Duy Chiểu và Một nhóm giáo viên, Quốc văn toàn thư lớp Nhì, “Lời nói đầu”, NXB Sống Mới, 1959). Có soạn giả còn nêu rõ hơn: “Về văn vần dùng làm các bài Học thuộc lòng, chúng tôi đã hợp tác cùng một số thi sĩ để soạn riêng những vần thơ trong sáng, dễ hiểu, giàu nhạc điệu cho thích hợp với các em hơn” (Bùi Văn Bảo, Tân Việt văn lớp Năm (lớp Nhứt cũ), “Lời nói đầu”, NXB Sống Mới, 1971)…

Khảo sát một số sách giáo khoa cũ còn tìm được, cũng như bộ Tiểu Học Nguyệt San do Bộ Giáo dục thời đó ấn hành, chúng ta thấy về hình thức, hầu hết chúng đều là những bài thơ lục bát, song thất lục bát hoặc thơ mới (với mỗi câu 8 chữ, 7 chữ, hoặc số chữ trong các câu không đều nhau), ít khi có thơ luật (với niêm luật chặt chẽ kiểu Đường luật), trừ một vài bài trích dẫn từ thơ cổ của người xưa như của Tản Đà, Nguyễn Khuyến…

Dân tộc Việt Nam sính thơ, có truyền thống về khối ca dao khổng lồ và thơ lục bát, nên ngay cả trong lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục cũng có thói quen sử dụng văn vần. Nhờ có vần điệu dễ nhớ dễ thuộc, những bài thơ như thế không chỉ được dùng để kêu gọi, thức tỉnh đồng bào về một việc gì đó mà còn thường được áp dụng trong những bài học về đạo đức, hoặc để phổ biến kiến văn đủ loại. Nếu đem so sánh những bài thơ học thuộc lòng trong các sách Quốc văn tiểu học giai đoạn 1954-1975 với Nhị thập tứ hiếu, Gia huấn ca, Đại Nam quốc sử diễn ca (giữa thế kỷ 19), với những bài thơ răn dạy đạo đức in trong bộ Thông loại khóa trình của nhóm Trương Vĩnh Ký (nửa sau thế kỷ 19), hoặc với những bài ca cổ động phong trào Duy Tân in trong tập Quốc dân tập độc (năm 1907, đầu thế kỷ 20) của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục (xem Thơ văn Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB. Văn Hóa, 1997), chúng ta sẽ thấy rất rõ giữa chúng với nhau là “nhất mạch tương thừa”.

Thử dẫn vài đoạn thơ như sau trong Quốc dân tập độc, sẽ chứng minh được hầu hết những bài thơ học thuộc lòng sưu tập lại từ các sách Quốc văn tiểu học nói trên là có cùng một “giọng”, chung một phong cách:

Đấng làm trai sinh trong trời đất,
Phải sao cho rõ mặt non sông.
Kìa kìa mấy bậc anh hùng,
Cũng vì thủa trước học không sai đường.
Cuộc hoàn hải liệt cường tranh cạnh,
Mở trí dân giàu mạnh biết bao.
Nước ta học vấn thế nào,
Chẳng lo bỏ dại nhẽ nào được khôn.
Chữ quốc ngữ là hồn trong nước,
Phải đem ra tính trước dân ta,
Sách các nước sách Chi na,
Chữ nào nghĩa ấy dịch ra tỏ tường.

(“Bài hát khuyên học chữ quốc ngữ”, sđd., tr. 110)

Hoặc:

Nước Nam ta từ đời Hồng Lạc,
Mấy nghìn năm khai thác đến nay,
Á châu riêng một cõi này,
Giống vàng ta vẫn xưa nay một loài.

(“Bài hát yêu nước”, sđd., tr. 111)

Hoặc:

Đạo vệ sinh phải nên biết trước,
Nghĩ rượu men là chất độc người.
Xin ai chớ lấy làm chơi,
Rượu ngon cấm tiệt nhớ lời Hạ vương.

(“Bài hát răn người uống rượu”, sđd., tr. 135)

Để phổ biến kiến thức, các nhà nho thuở trước dạy dân, cũng quen dùng cùng một thể loại văn vần, để giúp người học dễ thuộc nằm lòng:

Năm châu quanh mặt địa cầu,
Á châu lớn nhất, Mỹ châu thứ nhì.
Châu Âu, châu Úc, châu Phi,
Mỗi châu mỗi giống sắc chia rành rành.

(“Bài hát kể đường đất nước ta”, sđd., tr. 115)

Về nội dung, những bài học thuộc lòng trong các sách Quốc văn tiểu học không kém phần phong phú, đa dạng. Đương nhiên chúng có tính hiện đại gần gũi với thời nay hơn so với các thế hệ trước, nhưng tựu trung vẫn chú trọng rèn luyện cho học sinh về nhân cách, đạo đức, óc cầu tiến, chí tiến thủ, niềm tin ở sự tiến bộ của khoa học, và nhất là lòng nhân ái, yêu thương-tôn trọng con người…. Đa số bám theo những bài học luân lý, với những nội dung cụ thể được lặp đi lặp lại từ lớp tiểu học nhỏ nhất đến lớn nhất và thường xoay quanh một số chủ đề như:

– Bổn phận đối với bản thân: giữ vệ sinh cá nhân, rèn luyện thân thể, bồi dưỡng chí khí, óc mạo hiểm và những phẩm chất tốt đẹp khác, nhất là tính trung thực, thật thà… Việc rèn luyện phẩm đức phải đi đôi với quyết tâm từ bỏ các thói hư tật xấu…

– Khuyến học. Xác định động cơ học tập đơn giản “Ngày nay học tập ngày mai giúp đời”…

– Lòng hiếu kính trước hết đối với ông bà, cha mẹ rồi đến các bậc tôn trưởng khác: anh chị, bà con cô bác, thầy cô giáo, người già cả…

– Cổ vũ tình yêu quê hương xứ sở, từ đó ra sức góp phần xây dựng Tổ quốc giàu mạnh; đề cao lòng tự hào dân tộc, ca ngợi anh hùng dân tộc, kêu gọi bảo vệ Tổ quốc chống xâm lăng; ca ngợi quê hương giàu đẹp, các thuần phong mỹ tục, và đề cao giá trị tiếng mẹ đẻ…

– Tình dân tộc, nghĩa đồng bào.

– Lòng bác ái thương người yêu vật, tình đồng loại, đặc biệt tình cảm đối với tầng lớp lao động chân tay nghèo khổ và những người có hoàn cảnh khốn khó, cơ nhỡ.

– Ca ngợi giá trị-nét đẹp của lao động và lòng biết ơn những con người lao động, đặc biệt đối với dân quê cày ruộng và tầng lớp thợ thuyền, người buôn bán nhỏ và dân nghèo thành thị, từ em bé đánh giày đến người thợ hớt tóc, bác thợ mộc, thợ rèn …

– Các nghĩa vụ đối với tha nhân và với xã hội. Bổn phận và quyền lợi công dân.

– Ca ngợi nếp sống thanh bần, đạm bạc, tri túc tiện túc; đề cao tinh thần trọng nghĩa khinh tài…

– Kinh nghiệm sống (qua một số bài thơ ngụ ngôn).

– Cổ vũ dùng hàng nội hóa, phát triển nông-công-thương nghiệp.

– Phổ biến tri thức khoa học phổ thông (về vũ trụ-thiên nhiên, máy móc, các phát minh…), đề cao tinh thần khoa học, phê phán óc mê tín dị đoan.

– Ước mơ có được cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc.

(…)

Ngày nay đọc lại những bài học thuộc lòng này, ngoài phần nội dung tư tưởng mang tính giáo dục hàm chứa bên trong ra, chúng còn giúp ta tái hiện được một cách sinh động hình ảnh năm-sáu mươi năm về trước của vùng đất Sài Gòn và một số tỉnh thành từ Cà Mau ra đến các tỉnh Trung bộ, qua đó thấy rõ khung cảnh sinh hoạt muôn màu muôn vẻ của người dân từ nông thôn đến thành thị. Hình ảnh con trâu, cái cày, bác nông phu, anh công nhân, chị bán hàng xén, mái tranh vách đất đơn sơ ở nông thôn và các khu phố chợ tráng lệ ở thành thị… có lẽ được nhắc tới nhiều nhất, và thật cảm động, vì chúng phản ảnh hoàn cảnh sống thật của đa số người dân Việt miền Nam trong bối cảnh chiến tranh và sự nghèo khổ, cùng như cho thấy trình độ phát triển về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội một bộ phận phân ly của đất nước vừa thoát khỏi ách cai trị của chế độ thực dân cũ.

Đây là hình ảnh của người nông phu Việt Nam, thành phần dường như luôn được đề cập và đề cao nhiều nhất, trong hoàn cảnh một đất nước nông dân chiếm phần đa số và vì thế họ cũng có tư cách lẫn tính cách đại diện cho cả dân tộc ở một giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội nhất định:

Đôi cánh tay rắn chắc,
Anh xới lúa vun dâu.
Mồ hôi rơi thấm đất,
Tình anh tràn ruộng sâu.
Tóc anh vương vấn gió chiều,
Hồn anh thấm lúa, lan vào hương quê.
Đôi trâu bạn bè,
Cuốc cày tri kỷ.
Khỏe làm mệt nghỉ,
Đời đẹp như thơ.
Lòng anh hòa với lũy tre,
Hòa trong lòng đất, đem về nguồn vui.

CAO THÀNH NHÂN

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 1-2.1957)

Một cách diễn tả khác, giản dị và thực tế hơn:

Làm ăn từ sáng đến chiều,
Giữa trời bêu nắng như thiêu ngoài đồng.
Ruộng nương chẳng chịu bỏ không,
Hết mùa lúa thóc lại trồng bắp khoai.
Nghiệp nhà gánh vác hai vai,
Chẳng chồn gót sắt, chẳng phai dạ vàng…

NAM HƯƠNG

(Trích Giáo Khoa Tạp Chí)

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 7.1961)

Nghề nông thời bấy giờ luôn được ca tụng không tiếc lời, như một nghề cao quý, nhưng bằng những lời lẽ chân thành, giản dị. Một hình thức khuyến nông qua văn chương với nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện:

Non cao cũng có đường leo,
Đường dẫu khó trèo, cũng có lối đi.
Cao nguyên đất tốt lo gì,
Cày cấy kịp thì, chồng vợ ấm no.
Đất mầu giòng đậu, giòng ngô,
Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn.
Nghề nông ra sức khuếch trương,
Cao nguyên phá rẫy, làm nương ven đồi…
Tưởng rằng đá rắn thì thôi,
Ai ngờ đá rắn nung vôi lại nồng.
Tưởng rằng đất núi gai, chông,
Ai ngờ đất núi cấy trồng nở hoa…

DÂN VIỆT

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 2.1958)

Mùa gặt hái đã được nhà thơ Bàng Bá Lân mô tả bằng một đoạn hoạt cảnh thật sinh động:

Trời tang tảng, sương đao bay lớp lớp,
Cánh đồng quê mờ ngập khói sương mờ.
Từ cổng làng, từng bọn kéo nhau ra,
Tiếng quang hái, đòn cân va lách cách.
Họ vui vẻ đi nhanh trên đường đất,
Rồi tạt ngang, tản mát khắp đồng quê.
Họ dừng chân bên ruộng ướt sương khuya,
Lúa rạp rạp ngã, theo gió thổi…

BÀNG BÁ LÂN

(Tiểu Học Nguyệt San, số 5. 1957)

Còn đây là giá trị của người công nhân, làm việc ngày đêm không nghỉ, được đề cao như một anh hùng, không chỉ để lo cho bản thân, gia đình, mà còn đóng góp vào nghĩa vụ chung phục vụ đồng loại:

Em có biết, học sinh, em có biết,
Các tiện nghi em thụ hưởng hằng ngày,
Là công trình vô số những bàn tay,
Chai dắn lại sau những ngày lam lũ?
Trong cơ xưởng, khắp nơi trên hoàn vũ,
Bánh xe quay, máy móc chuyển rầm rầm.
Bao công nhân, ngày hai buổi, âm thầm,
Lo phận sự chu toàn, không mệt mỏi.
Công nhân hỡi! Người anh hùng không tên tuổi!
Nhờ có anh, còi nhà máy vang rền.
Nhờ có anh, nhân loại mãi vươn lên,
Đến tột đỉnh nền văn minh cơ khí.

NGỌC LUYỆN

(Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)

Hoặc:

Da mồ hôi tưới nắng đào bóng loáng,
Gân ngoằn ngoèo, cùng năm tháng dẻo dai.
Thớ thịt căng, mọi nét máu chạy dài,
Pho hoạt tượng, hình của người lao động.
Còi nhà máy rộn lên, vang sức sống!
Khói tung bay, cuồn cuộn bốc mây xanh.
Tay vung lên, ôm giữ mộng hiền lành,
Tiếng kèn kẹt xoay nhanh vòng xã hội…
Những thanh sắt vang lời ca dữ dội,
Tia lửa bừng, hôi hổi sức công nhân.
Đẹp hiên ngang, một sắc đẹp tuyệt trần!
Tô non nước, thêm muôn phần rực rỡ.
Người lao công, ngươi là người muôn thưở,
Xây hình hài cho bờ cõi quê hương!
Người lao công! kìa tráng lệ huy hoàng!
Thay tạo hóa điểm trang toàn thế giới…

HIỆP NHÂN

(Tia Sáng)

(Hà Mai Anh, Tiểu học Quốc văn, lớp Nhất)

Rồi tới tầng lớp dân nghèo thành thị. Không nghề nghiệp nào bị bỏ sót, bị coi thường, miễn nó lương thiện và phục vụ cho con người bằng lương tâm chức nghiệp, từ anh thợ cắt tóc cho tới bác thợ rèn, đều có nét đẹp riêng của người lao động chân chính:

Trong túp lá bên đường qua xóm chợ,
Tiếng “băng! băng!” từng chập dội vang rền:
Bác thợ rèn làm việc, ở ngay bên,
Nào đe, búa, nào than, nào sắt, bễ.
Một đứa bé, ngồi cao trên chiếc ghế,
Rướn thân gầy thụt bễ chẳng khi lơi.
Lò than hồng, hừng hực đỏ, reo vui,
Mưa bụi lửa từng cơn bay tới tấp.
Cứ mỗi lần vươn vai giơ búa đập,
Là một lần thanh sắt ở trên đe,
Lại oằn đi, dưới sức mạnh tràn trề,
Của bắp thịt người cần lao kiên nhẫn.

NGUYỄN NGỌC

(Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)

Tuy nhiên, cũng còn có những cảnh đời cơ khổ, bất hạnh, lỡ làng… của bác phu xe, em bé đánh giày, và những trẻ mồ côi…, tất cả đều được miêu tả sinh động như một cách khéo để đánh thức lương tâm và kêu gọi sự quan tâm cũng như tinh thần liên đới trách nhiệm của mọi người trong nỗ lực đấu tranh cho công bằng xã hội:

Bác phu xe:

Trời mưa như trút nước,
Đường nhựa bóng như gương.
Gió rung, gào, gió thét,
Nhìn cây cối mà thương.
Giờ chỉ còn mấy bác,
Phu xe cứ chạy đều.
Chân đạp, tay bẻ lái,
Gắng lướt gió ngược chiều.
Dưới trời mưa ướt át,
Dưới gió rét căm căm.
Người phu xe cảm thấy,
Cả thân thể như dần.
Trong cơn mưa gió đó,
Ai ngồi ở trong nhà.
Có để ý nhìn qua,
Những con người lao khổ.

Theo XUÂN CHINH

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 4.1957)

Em bé đánh giày:

Mai vàng đua nhau nở,
Báo hiệu xuân về đây.
Bao nhiêu người vui vẻ,
Buồn riêng em đánh giày.
Em xách chiếc thùng cây,
Mang tấm thân ốm gầy,
Len khắp đường phố chợ,
Tìm đánh một đôi giày.
Em lê tấm thân tàn,
Vào các tiệm cao sang,
Đánh giày ăn qua bữa,
Thân trẻ sớm cơ hàn1.
Xuân này em lang thang,
Đi khắp các phố phường,
Mang quần áo tả tơi,
Rước xuân bằng đau thương.

ĐỘC LINH

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 9.1961)

Và những trẻ mồ côi:

Có những con người đang thời hoa nở,
Sống trong niềm đau khổ: kiếp lầm than.
Cặp chân non ngày tháng những lang thang,
Trên đường phố ngút đầy bao gió bụi.
Tuổi niên thiếu dệt trong ngàn sầu tủi,
Không gia đình, cha mẹ, khát tình yêu.
Ôi long đong, thân trẻ nhỏ sớm chiều,
Ngàn cực nhục cũng chỉ vì cơm áo!
Tuổi niên thiếu lớn dần trong khổ não,
Mặt trẻ trung đầy những nét đau thương.
Sống lầm than, dầu dãi nắng mưa sương,
Thân còm cõi không đủ đầy nhựa sống.
Những trẻ ấy dưới bầu trời cao rộng,
Đưa mắt nhìn thèm khát cảnh yên vui.
Có chăng ai, chỉ một phút ngậm ngùi,
Cho thân phận con người xấu số.

XUÂN CHÍNH

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 3.1959)

Hoặc:

Hai đứa trẻ
Trên vỉa hè,
Dòng đời đã bước lê thê,
Chúng đi, đi mãi biết về nơi đâu?
Chúng đã cùng chung một nỗi sầu,
Khi mùa ly loạn rắc thương đau.
Gặp nhau trong buổi chiều đông giá,
Mỗi dải khăn tang, mỗi mái đầu.
Hôm nay mưa gió lắm,
Chúng sát lại gần nhau,
Hòng san hơi thở ấm,
Cho đỡ lạnh lòng đau.
Dật dờ trong bóng tối,
Hai trẻ dắt nhau đi.
Đêm nay chúng sẽ về đâu nhỉ?
Hay vẫn bơ vơ kiếp lạc loài!

H.H.

(Hà Mai Anh, Tiểu học Quốc văn, lớp Nhất)

Ngoài mấy nội dung liên quan đến việc mô tả các thành phần dân dã trong xã hội, gần một phần ba số bài thơ dùng làm bài học thuộc lòng đã được nhắm vào chủ đề bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những tình cảm lành mạnh đối với đất nước mến yêu. Đó là những bài thơ ca ngợi quê hương xứ sở giàu đẹp, qua hình ảnh của con trâu trên đồng lúa, mái tranh vách đất trong xóm nghèo, rồi những con kênh, giếng nước, lũy tre…, các hoạt động xã hội trong làng xã, gợi nên ước mơ về một cuộc sống an cư lạc nghiệp trong cảnh hòa hợp, thanh bình, hạnh phúc:

Quê em nhà cửa liền nhau,
Mái tranh, mái ngói chen màu xinh xinh.
Quê em có miểu, có đình,
Có con sông nhỏ uốn mình trong tre.
Có đồng có ruộng bao la,
Nông dân làm lụng hát ca bên đồng.
Lúa xanh đang trổ đòng đòng,
Một mùa mơn mởn1 đẹp lòng dân quê.
Nương dâu xanh ngắt bốn bề,
Bắp, mì, khoai, đỗ, lang, mè tốt xanh.
Sớm hồng trời đẹp trong lành,
Sương mai rung động trên cành chim ca.
Vàng son lơ lửng chiều tà,
Đồng quê thơ mộng bao la xanh rờn.

THANH GIANG

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 10.1958)

Quê tôi có một con sông,
Có nương khoai thắm, có đồng lúa xanh.
Bốn mùa gió mát, trăng thanh,
Bốn mùa lúa tốt, dân lành vui tươi.
Đó đây vang tiếng nói cười,
Câu hò, giọng hát của người nông dân.
Ngày đêm chẳng quản tấm thân,
Nắng mưa dầu dãi bao lần nào than.
Mồ hôi đem tưới mùa màng,
Chân tay xới mảnh đất vàng thân yêu.
Quê tôi trong ánh nắng chiều,
Vi vu thoáng tiếng sáo diều nhặt khoan.

HÀN GIANG

(Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)

Tôi đã đi,
Từ Cà Mau ra Bến Hải.
Tôi đã dừng lại,
Khắp các nẻo đường.
Nước xanh màu bát ngát đại dương,
Hay trùng điệp núi rừng cao nguyên đất đỏ.
Tôi đã qua,
Khắp các đô thành nguy nga, to nhỏ,
Bãi biển, đồi thông.
Lúa Hậu Giang bát ngát ngập đồng,
Dừa Bình Định tô xanh miền cát trắng.

THNS.

(Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)

Thành phố Huế cổ kính 50-60 năm về trước đã được mô tả sinh động bằng mấy nét chấm phá tiêu biểu, với chùa Thiên Mụ, với sông Hương và dải núi Ngự Bình, vẽ nên một bức tranh nên thơ, êm đềm tuyệt đẹp:

Dưới cảnh sắc chiều vàng bóng ngả,
Thành Huế như bức họa muôn màu.
Xa xa ngọn chuối, tàu cau,
Ngàn thông vi vút, bóng dâu chập chờn.
Cảnh cung điện vàng son chói lọi,
Dải tường thành vòi vọi quanh co.
Nguy nga tòa sở nhỏ to,
Nếp xưa bộ viện dư đồ còn nguyên.
Thiên Mụ cố lánh niềm trần tục,
Tẩm lăng còn y thức ngựa voi.
Sông Hương đáy hiện khuôn trời,
Ngự Bình lồng bóng giữa vời chon von.

VŨ HUY CHÂN

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 8.1960)

Một trong những nội dung quan trọng xuyên suốt của những bài học thuộc lòng thời kỳ này là bồi dưỡng lòng yêu nước cho thế hệ tiểu học. Yêu nước phải luôn gắn liền với thương dân, còn được thể hiện bằng tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất mỗi khi đất nước bị đe dọa trước hiểm họa xâm lăng từ bên ngoài. Vì thế không ít bài học thuộc lòng đã được dành riêng cho chủ đề lịch sử, nhắc lại những chiến công oanh liệt mà các thế hệ cha ông đã làm nên để bảo vệ Tổ quốc. Một số bài như thế có lời lẽ kích động hùng hồn không khác gì những hồi trống trận giục giã. Bài thơ ngắn sau đây đã tóm thuật được cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Bình Định Vương Lê Lợi, đánh đuổi quân Minh xâm lược:

Bao năm sắm sửa, đợi chờ,
Lam Sơn gióng trống, mở cờ ra binh.
Quyết lòng tận diệt quân Minh,
Giữa hàng tướng tá xưng Bình Định Vương.
Mười năm lận đận bốn phương,
Gian nan rồi mới lên đường vinh quang.
Trận cuối cùng, ải Chi Lăng,
Vương Thông nộp giáo, Liễu Thăng rơi đầu.
Hồ Gươm xanh ngắt một màu,
Tưởng chừng kiếm quý còn đâu chốn này!

BẢO VÂN

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 3.1958)

Trận cuối cùng ở Chi Lăng năm 1427 kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh 10 năm giành độc lập dân tộc, đã được một tác giả khác diễn lại như một khúc hùng ca:

Mưu thần một trận ra oai,
Kinh hồn Tống tướng, khiếp tài Nam binh,
Trời Nam yên hưởng thái bình,
Nghìn thu công đức Đại Hành chớ quên.
Ỷ nước mạnh, hiếp dân hèn,
Bắc Nam còn lại lắm phen tranh hùng.
Chi Lăng sau vẫn một vùng,
Là nơi giặc Liễu bước cùng bỏ thân.
Kìa ai mật nếm, gai nằm,
Một thân gánh vác, mười năm dãi dầu.
Tấm gương ái quốc còn lâu,
Ngàn năm để cháu con sau học đời.
Có thân phải biết giống nòi,
Rồng Tiên quyết chẳng kém người năm châu?

DƯƠNG ĐÌNH TẨY

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 4.1957)

Và hào khí đó đã luôn được lặp đi lặp lại suốt theo tiến trình lịch sử các cuộc đấu tranh giành độc lập, như một cách để un đúc niềm tự hào dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc chống xâm lăng cho thế hệ tương lai đất nước. Chủ đề này đã được thể hiện sinh động trong rất nhiều bài thơ học thuộc lòng khác, nhắc lại những chiến công oanh liệt về sau nữa, như bài “Xuân Kỷ Dậu”:

Băng băng đuốc lửa, rừng gươm giáo,
Khí thế quân Nam nước lũ tràn.
Khuya tối mồng năm, liên tiếp sáng,
Hà Hồi thất thủ, Ngọc Hồi tan.
Đoàn quân giải phóng tràn xô đến,
Ngựa thét lừng mây, súng đổ thành.
Sĩ Nghị, nửa đêm quăng ấn tín,
Mình không gươm, giáp, chạy về Thanh.
Một lũ tàn quân theo chủ tướng,
Tranh nhau, cầu đổ, vỡ cường chinh.
Sông Hồng ngập ngụa thây quân Mãn,
Máu đỏ trôi về tận Bắc Kinh.
Cờ Việt thượng lên tầng soái phủ,
Quang Trung dừng ngựa giữa Thăng Long.
Áo bào khói súng pha đen xạm,
Chiến thắng dân, quân: nức một lòng.

TỪ TRẨM LỆ

(Bùi Văn Bảo, Quốc văn toàn tập, lớp Nhất)

Nhưng trước hết là đời sống, tâm tư, nguyện vọng đẹp đẽ của lứa tuổi học trò khi còn ngồi dưới mái học đường, được lặp đi lặp lại trong suốt đoạn đường tiểu học. Ngoài nội dung khuyến học vốn chiếm một tỉ phần quan trọng, các thứ đức tính, bổn phận mà người học sinh cần có trong tương quan với thầy, bạn cũng luôn luôn được nhắc nhở, như trách nhiệm học tập, lòng biết ơn thầy, thái độ xử sự với bạn bè cùng lớp, cùng trường… Và gần gũi nữa là những kỷ niệm tươi vui, êm đềm của tuổi ấu thơ trong “thời cắp sách”:

Ôi! êm ái là thời đang cắp sách!
Ôi vui tươi là lúc hãy còn thơ!
Đời đẹp đẽ như trong một giấc mơ,
Và thắm đậm như một mùa xuân mới.
Có những lúc hồn nhẹ nhàng phơi phới,
Cũng đôi khi nặng trĩu bởi lo âu.
Nhưng một khi bài đã thuộc lầu lầu,
Lo lắng biến, nhường phần cho vui vẻ.
Rồi những phút đời vô cùng đẹp đẽ,
Hưởng tình trong của bạn hữu thân yêu.
Những truyện vui, rồi những truyện vui theo,
Cứ mau chóng chạy qua cùng ngày tháng.
Những tình cảm nơi học đường xán lạn,
Quên làm sao, tuy dĩ vãng xa xôi?
Vì đó là những kỷ niệm của thời,
Thời cắp sách, thời vô ngần trong sạch.

LÂM NGỌC SĨ

(Hà Mai Anh, Tiểu học Quốc văn, lớp Nhất)

Những cảm xúc tươi vui, hăm hở của “ngày tựu trường”:
Nô nức hôm nay, buổi tựu trường,
Như chim ríu rít sáng tinh sương.
Các em tấp nập ra trường học,
Lê guốc giày vang khắp phố phường.
Nét mặt ngây thơ miệng mỉm cười,
Áo quần mới mẻ dáng vui tươi.
Tay cầm cặp sách đi chân sáo,
Lòng vẫn lâng lâng, mặt sáng ngời.
Giữa đám mây xanh hiện mái trường,
Một hồi trống giục đã ngân vang.
Cổng trường mở rộng như chào đón,
Những đám trò em bước vội vàng.
Bạn cũ gặp nhau lại nghịch tinh,
Vui đùa, cười nói, chuyện tâm tình.
Trời thu mây kéo như thông cảm,
Với nỗi niềm vui của học sinh.

VŨ TIẾN THU

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 9-10.1959)

Cũng như nỗi sung sướng khi buổi học cuối cùng chấm dứt, sắp được bước vào trọn ba tháng nghỉ hè đầy thơ mộng, thời gian để lấy lại sức khỏe và tinh thần chuẩn bị cho năm học mới kế tiếp (chứ không như ngày nay, cứ học suốt!):

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!
Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.
Chờ đêm nay: sáng sớm bước lên tàu,
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.
Trong khoảnh khắc, sách bài là giấy cũ,
Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi, em trông.
Trên đường làng, huyết phượng nở thành bông,
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.
Kiểm soát kỹ, có khi còn thiếu sót,
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.
Tay bắt tay, hồn không chút bùi ngùi,
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.

XUÂN TÂM

(Lời tim non)

(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 5.1958)


Tranh minh họa trong một sách Quốc văn cũ ở miền Nam thời trước

Sự thật, vẫn còn một số nội dung phụ khác có lẽ cũng cần được đánh giá lại cho được khách quan hơn. Nền giáo dục ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 dĩ nhiên cũng có chính trị hóa học đường, nhưng tương đối ít. Đặc biệt, trong thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), thỉnh thoảng vẫn bắt gặp ở phân môn Tập đọc-Học thuộc lòng có xen vào mấy bài ca ngợi chế độ Cộng hòa hoặc ca ngợi lãnh tụ (Ngô Tổng thống), chiếm tỉ lệ chừng 1/20 tổng số bài, nhưng chủ yếu chỉ tập trung ở phần cuối sách của lớp cuối cấp tiểu học (lớp Nhất). Tờ Giáo Dục Nguyệt San (1957-1963) do Nhà nước chủ trương cố đưa vào một số ít bài có nội dung “chống cộng” khá rõ rệt để giới thiệu cho giáo chức sử dụng, nhưng những loại bài như thế lại hầu như không được các nhà biên soạn sách giáo khoa tiểu học đáp ứng để đưa vào sách của mình!

Ngoài ra, do nhận thức-tầm nhìn chung của xã hội lúc bấy giờ còn rất hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường, không tránh được vài sách Quốc văn tiểu học đã “vô tư” đưa vào một số bài học thuộc lòng có nội dung liên quan đến những thú vui (như đá gà, săn bắn…) mà nếu đứng trên quan điểm bảo vệ môi sinh hiện đại thì là không lành mạnh, có thể sẽ mang đến những tác dụng-hiệu quả tiêu cực. Xét riêng về phương diện này, sách giáo khoa môn Văn tiểu học thời kỳ này đã có một bước lùi so với giai đoạn 1940: trong khi ở Quốc văn giáo khoa thư (lớp Sơ đẳng) của nhóm Trần Trọng Kim có bài “Không nên phá tổ chim” quá hay (xem Quốc văn giáo khoa thư, Tuyển tập, NXB. Trẻ, 1995, tr. 41), thì ở một sách Quốc văn Toàn thư lớp Ba nọ, có soạn giả đưa vào chủ đề Săn bắn đến 2 bài tập đọc “Phát súng đầu tiên”, “Một nhà thiện xạ”, 1 bài chính tả “Đuổi chim”, còn 1 bài học thuộc lòng thì là… “Thú đi săn” (ghi tên tác giả Hồng Vân), trong có mấy câu nói theo bây giờ là rất “phản cảm”:

Vui thay cái thú đi săn!
Núi, rừng lặn lội, băng ngàn vui say!
Khi nhắm thỏ, khi rình nai,
Khi theo dấu cọp, khi gài chú beo.

Khi mừng gặp gỡ heo rừng,
Khi vui bắt đặng cặp sừng con gô.
Khi mê theo dõi ông bồ,
Khi chờ tê giác, khi mơ sư vàng.

(Phạm Trường Xuân…, Quốc văn toàn thư, lớp Ba, quyển II, NXB. Việt Hương, Sài Gòn, 1961, tr. 94)

Trong một xã hội mà còn có ông vua nêu gương xấu cho dân như cựu hoàng Bảo Đại thời đó suốt ngày chỉ biết vui chơi săn bắn chẳng lo gì đến việc nước, thì việc dạy cho dân chịu từ bỏ cái “thú đi săn” quả là không dễ dàng chút nào!

Ngoài một số mặt hạn chế tất nhiên do hoàn cảnh lịch sử cụ thể quy định, sẽ không là quá đáng nếu chúng ta coi những bài học thuộc lòng cấp tiểu học thời bấy giờ đã góp phần rất tốt vào việc hình thành một nền văn chương giáo khoa với nội dung rất phong phú đa dạng, lành mạnh và có tác dụng tích cực trong việc rèn luyện đức-trí cho thế hệ trẻ ở lứa tuổi học trò.

Với những giá trị khách quan nêu trên, thiết nghĩ việc sưu tập-giới thiệu lại một số bài học thuộc lòng cũ rải rác ở các sách trước đây là một việc rất đáng nên làm. Mục đích là để vừa bảo tồn một vốn di sản quý giá đã bị lãng quên, vừa cung cấp cho thế hệ học trò ngày nay những bài thơ hay, mà có một thời anh em thuộc thế hệ chúng tôi đã được hưởng dụng và luôn luôn khắc sâu trong tâm khảm những nội dung đầy hứng thú và bổ ích.

Chiến tranh đã chấm dứt gần bốn mươi năm, thời gian có lẽ khá đủ cho sự lắng dịu của mọi con người ở cả hai bên chiến tuyến, và vì thế cũng đủ chỗ cho lòng khoan dung có cơ hội nảy nở để vượt qua những rào cản của ý thức hệ, từ đó chịu nhìn lại mọi vấn đề một cách trầm tĩnh và nghiêm túc hơn, trong đó có vấn đề cần xem xét lại sâu hơn-khách quan hơn khía cạnh thuần túy văn hóa, học thuật của những công trình giáo dục có giá trị nhân bản đích thực mà tất cả đều do những con người Việt Nam thiện chí, yêu nước sáng tạo nên …

Trong tình trạng xuống cấp chung của xã hội về văn hóa-đạo đức như bây giờ, đặc biệt trong giới trẻ học sinh có khá nhiều biểu hiện tiêu cực như chửi thề, đánh đấm hoặc thậm chí đâm giết nhau, không thế thì cũng là những thói thực dụng thô thiển đua đòi chạy theo cuộc sống vật chất xa hoa, coi đồng tiền là tiên là phật…, việc trở lại một cách có nghiên cứu và chọn lọc với những bài học thuộc lòng có nội dung khích lệ cuộc sống lành mạnh có lẽ là một đề tài quan trọng đáng để cho các nhà giáo dục và phụ huynh suy nghĩ. Trong tinh thần tích cực đó, không loại trừ khả năng những bài thơ học thuộc lòng nằm trong đống sách cũ còn có thể cung cấp thêm phương pháp cũng như tài liệu tham khảo cụ thể hữu ích cho việc biên soạn, cải tiến, tái cấu trúc nội dung các sách giáo khoa tiếng Việt bậc tiểu học mà chúng ta đang nỗ lực tiến hành một phần khá rõ, cần được phát huy thêm, theo chiều hướng “chú trọng giáo dục đạo đức và các giá trị truyền thống” khẳng định trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã được Chính phủ phê duyệt hồi giữa tháng 6.2012 vừa rồi.

Trần Văn Chánh 
21.6.2012
Nguồn: Tạp chí Nghiên Cứu & Phát Triển, số 6 (95). 2012/https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/ts/item/208-nh-ng-bai-h-c-thu-c-long-m-t-th-van-chuong-ti-u-h-c-c-a-mi-n-nam-tru-c-day-tr-n-van-chanh

Advertisements

Việt Nam Cộng Hòa và những Mùa Noel cũ – Thanh Dũng

Thanh Dũng

Không khí lễ Christmas đang rộn ràng khắp trời Bắc Mỹ có lẽ cũng gợi đôi chút nhớ nhung cho không ít độc giả người Việt, nhất là quý vị cao niên, về những mùa Noel cũ ở Miền Nam Việt Nam, vào thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, lúc người Việt quốc gia còn nắm quyền điều hành xứ sở.



Mặc dù chinh chiến điêu linh, quê hương ngập tràn khói lửa, mỗi mùa Giáng Sinh về, cách riêng đối với người dân Sài Gòn, đã trở nên một dịp lễ hội đặc biệt. Tại trung tâm thủ đô, người ta tưng bừng bày bán thiệp Chúc Mừng Giáng Sinh và Năm Mới Dương Lịch khắp các vỉa hè, nhiều nhất là trên con đường Lê Lợi, còn gọi là Bonard. Từ thời thập niên 50, 60, những tấm thiệp thiết kế mỹ thuật, đa dạng, thường được in ấn tại ngoại quốc rồi nhập cảnh về, với nhiều màu sắc hình ảnh lung linh đã trở nên rất hấp dẫn đối với giới trẻ Sài Gòn. Đường Lê Lợi, cũng như đường Nguyễn Huệ và đường Tự Do thường không cho xe cộ lưu thông vào buổi chiều trước đêm Giáng Sinh. Cả khu vực như chỉ dành cho những người đi bộ vui chơi đêm Noel. Các quán cà phê đều đông đúc giới trẻ, vừa túm tụm nhâm nhi cà phê, vừa ngồi ngắm thiên hạ ngược xuôi.



Đúng buổi chiều Giáng Sinh 1964, khủng bố VC gài nổ xe bom tại Cư Xá Brinks này (nằm trên đường Hai Bà Trưng Quận 1 Sài Gòn) giết hại 2 binh sĩ Đồng Minh và nhiều thường dân Việt. Ngày nay, nơi này thành Park Hyatt Hotel.


Giáng Sinh 1965, binh sĩ VNCH và đồng minh tặng quà
cho trẻ cô nhi một trại mồ côi của Công Giáo tại Xuân Lộc.

Chủ nhân các quán cà phê cũng thường trang trí với cây thông nho nhỏ đặt trên quầy và mở nhạc Noel. Xen lẫn những giai điệu Giáng Sinh rộn ràng của Âu Mỹ thế nào cũng có lẫn những nhạc phẩm về mùa Noel của các nhạc sĩ Việt. Không ít người Việt lớp cũ có lẽ vẫn còn nhớ những năm xưa Đài Phát Thanh Sài Gòn thường phát lại nhạc phẩm “Mùa Sao Sáng” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua giọng hát Giao Linh: “Một mùa sao sáng / đêm Noel Chúa sinh ra đời / người hẹn cùng tôi / ngày về khi đất nước yên vui…” Lời hát thường vang lên vào dạo đầu tháng 12, nửa như báo trước một mùa lễ lớn sắp về, nửa như nhắc nhớ hoàn cảnh loạn ly của xứ sở.


Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn chiều Noel 1964.


Binh sĩ Đồng Minh phát quà cho trẻ em Việt
trong vùng chiến sự mùa Noel 1965.

Thời đó, tuổi trẻ nam giới không mấy người tránh được đời quân ngũ, làm bổn phận của người thanh niên, bảo vệ đồng bào, bảo vệ miền Nam Tự Do, khi quê hương đang lâm vào cơn nguy biến. Từng năm từng năm qua, hết động viên từng phần, và đến năm 1968 thì toàn phần Tổng Ðộng Viên. Với những chàng thư sinh phải xếp bút nghiên theo việc đao binh, thì cảnh “anh tiền tuyến, em hậu phương” cũng càng lúc càng thêm phổ biến. Có lẽ có phần từ thực tế này mà nảy sinh một dòng nhạc riêng biệt gọi là “Nhạc Giáng Sinh” qua tiếng hát của các ca sĩ thời thượng hồi đó như Thanh Lan, Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Carol Kim… Nhạc Giáng Sinh Việt không rộn ràng như nhạc Noel Âu Mỹ, trái lại còn có thể ảm đạm, thậm chí buồn bã. Giai điệu lẫn ca từ ám ảnh nỗi buồn chiến tranh (những cuộc tình phân ly, những người tình cùng đi lễ nửa đêm, cùng quỳ thề nguyện trong giáo đường, những yêu nhau rồi lại xa nhau, v.v…)


Gót chinh nhân một chiều Noel 1966


Nữ lưu VNCH những ngày Noel cuối năm 1970.
Dòng nhạc Giáng Sinh hay những mùa Noel cũ dễ khơi gợi niềm luyến tiếc một thời Việt Nam Cộng Hoà cách chung và một thời tuổi trẻ rất riêng tư của không ít người Việt. Trong hơn 20 năm, dù gặp hoàn cảnh bất lợi, người Việt quốc gia đã kịp giúp xứ sở của mình thăng hoa: giáo dục khai phóng, xã hội năng động, cầu tiến chưa từng thấy. Bây giờ, gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng tâm lý… hoài cổ có lẽ càng khiến dòng nhạc Giáng Sinh, cũng như những kỷ niệm Giáng Sinh xa xưa của một thời chinh chiến càng thêm tha thiết. Xem lại những hình ảnh Sài Gòn xưa cũng có thể vừa để hoài niệm, vừa để trân quý một thời đại tốt đẹp mà những giá trị của nó chưa hẳn đã mai một qua thời gian.


Tạp chí LIFE ghi lại hình ảnh một người trai Việt
thời loạn bắt tay binh sĩ Đồng Minh.


Một góc Sài Gòn mùa Noel 1972.

Nguồn: http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?215955-Vi%E1%BB%87t-Nam-C%E1%BB%99ng-H%C3%B2a-amp-nh%E1%BB%AFng-M%C3%B9a-Noel-c%C5%A9/https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/s-t-u-v/thanh-dung/viet-nam-cong-hoa-nhung-mua-noel-cu

Làm sao đòi lại Tuổi Thanh xuân?

Họ tất cả những người từng là học sinh và không học sinh trong độ tuổi 18, từ đệ tứ (lớp 9), đệ tam (lớp 10), đệ nhị (lớp 11), đệ nhất (lớp 12). Tất cả đều chuẩn bị sẵn sàng để lên đường nhập ngũ bất cứ lúc nào, nếu rớt tú tài 1 thì vào Hạ Sỹ Quan Đồng Đế, đậu tú tài 1 thì vào Sỹ Quan Thủ Đức, có tú tài 2 thì vào Võ Bị Đà Lạt hay chọn trường Hải Quân và Không Quân, Chiến Tranh Chính Trị v.v…

Kẻ trước người sau hành trang lên đường theo lệnh Động Viên và theo tiếng gọi của non sông.

… Chiến tranh đã qua đi nhưng tất cả đều nuối tiếc cái tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết và hứa hẹn, phải bỏ lại sau lưng người thân để lên đường nhập ngũ, bỏ lại người yêu với những lần hẹn hò tâm sự vơi đầy, nơi ghế đá công viên, bỏ lại phố xá với ánh đèn màu quyến rũ để gò bó trong bộ quân phục tay ôm em 16 (M16) lăn lộn khắp chiến trường trên 4 vùng chiến thuật.

Có tiếc nuối cũng không thể trở lại thời trai trẻ cái tuổi bẻ sừng trâu cũng gãy, cái tuổi chỉ biết nhìn đời bằng cặp mắt đầy hy vọng và mơ ước để rồi vỡ mộng khi những viên đạn AK, những miểng đạn pháo ghim vào cơ thể trở thành tàn phế.

Trả lại tôi tuổi trẻ cái tuổi sung sức đầy nhiệt huyết nay còn đâu, dòng máu nóng còn đang chảy trong tim đã phải ngã ngựa gãy súng vì thời cuộc thay đổi, phải cắn răng chịu đựng những tủi nhục khi bị bên cho là thắng cuộc phân biệt đối xử như kẻ thù, bạc đãi, mỉa mai mà phải cắn răng chịu đựng.

                        ( Cánh Dù lộng gió – Trả lại tôi thời trai trẻ )

Nơi xứ Mỹ lưu ly, trời vào Đông thấm lạnh, đọc lời tiếc nuối tuổi thanh xuân của anh lính dù năm xưa, nay chắc cũng đã leo lên ” thất thập cổ lai hy “, cảm thấy trời thêm giá lạnh.

Chẳng đặng đừng lảm nhảm chút triết lý nhân sinh:

Sách Thuyền Uyển Tập Anh chép rằng một hôm Vô Ngôn Thông bảo Ngưỡng Sơn: “Chú khiêng cái ghế kia qua đây cho tôi một chút”. Khi Ngưỡng Sơn khiêng ghế tới, ông nói: “Chú khiêng giúp trở lạichỗ cũ”. Ngưỡng Sơn khiêng lại chỗ cũ. Ông hỏi Ngưỡng Sơn: “Bên này có gì không?” Sơn nói: “Không có gì”. Ông lại hỏi: “Còn bên kia có gì không?” Sơn nói: “Không có gì”. Ông gọi: “Chú ơi”. Sơn đáp: “Dạ”. Ông bèn nói: “Thôi, chú đi đi”. “

Vậy đó, đời người tất bật mưu cầu, mang thân xác nhọc nhằn chạy Đông, chạy Tây, rốt cuộc khi nhắm mắt xuôi tay vẫn là trắng tay.

Cho nên Lục tổ Huệ Năng mới nói: ” Bổn lai vô nhất vật ” tìm cầu cái giống gì?

Nhưng mà hởi ơi! Nói đó là trong vòng học đạo. Còn như thân sống nơi đời sống trần ai thì làm sao theo kịp!

Cho nên ông lính dù có lý khi than thở, đòi trả lại tuổi thanh xuân.

Nhưng mà sách có chữ: ” Không ai tắm được hai lần trên một dòng sông. ”

Thời gian lại cũng như vậy: Chớp mắt là trôi đi mất tiêu, không bao giờ trở lại.

Cho nên làm sao ông lính dù đòi lại được thời trai trẻ đã qua?

Mà giả như có đòi lại được thì biết đòi ai bây giờ?

Đòi Quốc gia VNCH chăng? Thực thể VNCH thì đã tiêu vong! Còn chăng chỉ là Tinh thần và ngọn cờ Vàng Quốc gia đều là biểu tượng một thời xưa xa vắng.

Chúng ta, Quân Chính Miền Nam thua trận bị tù đày, sống đời phó thường dân Nam Bộ cũng là phải lẽ.

Chỉ thương là thương đồng bào Miền Nam. Khi không, đang sống tự do – no âm, bỗng nhiên ” bị ” giải phóng:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý

Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do

Đó là ách nạn của cả Đất nước và Dân tộc do hồ tinh bác cụ và bọn âm binh cỏ đuôi chó Bắc Kỳ gây ra.

Bây giờ, tuổi thanh xuân của chúng ta, vì hoạn họa cọng sản mà tiêu trầm và không bao giờ tìm lại được.

Hiện tại, việc có thể làm được là: Hết lòng hô hào, cổ võ, vận động một cuộc Cách Mạng Toàn dân đánh đổ tận gốc rễ chế độ toàn trị phi nhân, vong bản việt cọng, giành lại chủ quyền cho toàn dân, quyền sống – quyền làm người cho con cháu, thế hệ mai sau.

Chúc cánh dù lộng gió vẫn mãi căng gió cho tới ngày chế độ buôn dân, bán nước giặc hồ hung ác sụp đổ tan tành.

Nguyễn Nhơn

Vào Đông trên đất Mỹ

5/12/2018

Nguồn: http://quanvan.net/lam-sao-doi-lai-tuoi-thanh-xuan/

Giấc Mơ Phi Công Và Những Chặng Đường Nghiệt Ngã – Yên Sơn

Yên Sơn

Thời ngồi trên ghế nhà trường tôi vẫn luôn “nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều để níu áo Hằng Nga, nằm bên dải Ngân Hà”. Những mẩu chuyện KQ làm tôi say sưa quên cả sách vở. Thấy các ngài phi công bên súng, bên dao xề xệ trong bộ áo liền quần phởn phơ dưới phố cho tôi mộng mị đêm dài. Nhất là bị ông nhà văn phi công Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh qua cuốn “Đời Phi Công” đưa mơ mộng của tôi vượt lên chín từng trời! Có lần bày tỏ với Mẹ tôi về ước muốn này bị Mẹ át giọng “học hành không xong Ba sẽ bắt về đi cày ruộng chứ ở đó mà mơ với mộng”! Mẹ biết tôi rất sợ sống ở ruộng vườn; rất sợ đời sống kham khổ với đất đai, nhất là đất đỏ cao nguyên dẻo quánh, nắng bụi, mưa… trời ơi là một nỗi cực hình! Tôi đã từng nói với Mẹ “bằng mọi cách con sẽ vượt ra khỏi nơi này”!

Giấc Mơ Phi Công Và Những Chặng Đường Nghiệt Ngã - Yên Sơn

Ba Mẹ và các anh em thấy tôi ham học (chẳng qua là trốn việc đồng áng) nên dồn tất cả sự hỗ trợ cho tôi đi học trên thành phố sau khi xong phần Trung học đệ nhất cấp ở quận lỵ. Tôi sung sướng được xa nhà, xa ruộng rẫy, bắt đầu “trắng da dài tóc” từ đó. Đợi khi vừa thấy tên trên bảng kết quả Tú Tài, tôi đã mơ màng làm phi công chiến đấu. Tôi lén cha mẹ nộp đơn xin làm phi công. Trước khi đi, tôi rất tự tin vì nghĩ rằng mình thừa sức nặng, dư chiều cao, mắt sáng như sao, tai thính như dơi, dũng lược con nhà võ… “nhưng ai có ngờ đâu, đời tôi là bể sầu, nay mộng xưa đã hết, ngày vui đã tàn, lòng tôi nát tan”. Trời không chiều lòng người. Nhóm thanh niên nộp đơn khám sức khỏe phi hành của chúng tôi gồm 20 người nhưng không có được một mống bước qua nổi ngưỡng cửa Phi Long, và tôi là người cuối cùng nghe ông nha sĩ ca bản “thôi anh đi về đi, Không Quân đành bái bai cùng anh, duyên không tròn lưu luyến càng thêm đau buồn!” Có lẽ thây nỗi buồn nặng trì nặng trịch trên mặt tôi, ông ta lại hát tiếp, (Thôi tiếc thương mà chi, trông mong gì anh đi về đi, anh đi về đi cho vui lòng mẹ cha”… chỉ vì vài chiếc răng trám! Mộng làm phi công tan tành theo mây gió, thất vọng não nề, tôi tiếp tục vùi đầu vào sách vở theo đuổi ngành y khoa như ước nguyện của Ba Mẹ tôi và gia đình.
Chiến tranh càng lúc càng khốc liệt. Sân trường, sách vở trở thành món nợ nhàm chán, nặng nề. Đã vậy, mỗi lần ra phố nếu không Cảnh sát cũng bị Quân cảnh xét giấy tờ quân dịch lia chia… nhưng không có gì nung nấu bằng ước muốn trở thành phi công. Thấy KQ vẫn dồn dập tuyển mộ, tôi lại thắc thỏm muốn liều mình nộp đơn lần nữa. Dù Ba Mẹ tôi vẫn “răn đe” cố gắng học hành, không được xao lãng. Ba Mẹ tôi thường nói, sở dĩ gia đình dồn hết mọi nỗ lực cho tôi ăn học vì không muốn tôi gia nhập bất cứ loại lính nào, vì đã có hai anh lớn trong lính rồi! Nhưng trận Mậu Thân như một giọt nước làm tràn ly đầy, tôi quyết định thử thời vận lần nữa.
Có lẽ vì nhu cầu bành trướng của KQ quá cao nên “hú thần hồn” tôi qua được chướng ngại vật cuối cùng “ba chiếc răng trám như cũ”! Chỉ có đậu được vào KQ mà chân tôi đã như đi trên mây, lòng bồi hồi sung sướng, chỉ còn một nỗi lo duy nhất là không biết ăn nói với Ba Mẹ tôi cách nào.
Suy tính thiệt hơn, tôi quyết định giấu biến chuyện nhập ngũ, khăn gói đi thẳng vào Quang Trung học làm đời lính. Chính vì thế, suốt ba tháng quân trường tôi ngoan ngoãn làm con bà phước không một lời oán than. Hàng tháng tôi vẫn nhận tiền ở nhà gửi lên và vẫn tìm cách liên lạc đều đặn như không có gì.

Ba tháng quân trường đã biến một gã thư sinh trắng trẻo thành một anh chàng mặt mày tay chân đen nám, mặt mũi đầy mụn với vai u thịt bắp gồ ghề làm Ba Mẹ và các em giật mình thảng thốt khi tôi đút đầu về quê… thú tội trong lần đi phép mãn khóa đầu tiên. Tôi nghĩ “gạo đã nấu thành cơm” nên hy vọng không bị rầy la quá độ, nhưng… Mẹ tôi vì thương con nên chỉ biết thở dài; các em sờ mó tỏ vẻ hãnh diện với làng xóm; còn Ba tôi nhất định không nhìn mặt trong suốt thời gian ngắn ngủi đó. Tôi ngậm ngùi trở lại đơn vị sau khi năn nỉ Mẹ tôi và những người thân khuyên giải Ba tôi.
Vì nhu cầu huấn luyện khẩn cấp của KQ nên số đông khóa của tôi, thay vì được gửi đi Nha Trang để hoàn tất giai đoạn hai huấn luyện quân sự, lại được gửi vào Trường Sinh Ngữ Không Quân để học tiếng Anh sau khi quanh quẩn “đạp cỏ ở khu nhà ma” một thời gian ngắn. Khu nhà ma là một khu nhà khá lớn trong căn cứ TSN bỏ hoang, cỏ cao quá đầu gối. Cấp trên dùng nơi này để quản trị lũ chúng tôi, những thằng người có một phần lính nhiều phần học sinh. Mỗi sáng chúng tôi vào trình diện điểm danh chiều lại cho về. Không mấy chốc, bãi cỏ hoang chung quanh khu nhà đã tưa gốc chết tiệt!
Rồi cũng đến lúc trình diện học sinh ngữ. Tôi nhớ lão Đại Úy “Quý heo” đã cho chúng tôi chào trại sinh ngữ bằng cách chạy mấy vòng sân, ở một buổi trưa nắng gắt, với xách Marin (loại bao tải xanh cứt ngựa của lính phát) trên vai làm bao nhiêu chàng công tử bột té lên té xuống trông thảm hại vô cùng! Rồi chuyện đâu cũng vào đó, chúng tôi được chỉ định chỗ ở và hôm sau nhập khóa học. Tôi không giỏi Anh ngữ như một vài bạn cùng khóa nhưng cũng không gặp nhiều khó khăn vì tiếng Mỹ đã là sinh ngữ phụ thời còn đi học. Thế nhưng, ngày thi mãn khóa tôi bị thiếu đúng một điểm chỉ vì nghe lời đường mật của các “sư phụ ma giáo” học tủ một bài thi được các sư phụ chuyền tay nhau trước ngày thi. Tôi phải mất một chầu café thuốc lá cung phụng cho các sư phụ. Các sư phụ bảo đảm bài thi hôm đó nhất định phải là “con chó nhảy hàng rào”! Ôi “trời bất dung gian”, con chó của tôi nhảy không qua nổi hàng rào 70 điểm! Âm thoại rất khó nghe, mà vừa nghe vừa cố so sánh với bùa nên không bắt kịp bài thi. Tôi vội vàng vất bùa và chú tâm hơn… nhưng vẫn không cứu vãn được tình thế. Tôi ngậm ngùi nhìn bạn bè tốt nghiệp làm thủ tục đi Mỹ.


May mắn thay! Học lại đâu được vài tuần thì nhận được tin sét đánh ngang tai “làm thủ tục xuất trại để đi du học khóa fixed wing (fixed wing là tên gọi chung cho các loại phi cơ khu trục, A37, F5, vận tải tác chiến, vận tải để phân biệt với Helicopter). Như vậy ước mơ để trở thành phi công phản lực tác chiến của tôi có nhiều cơ hội thành tựu. Nếu nỗi vui mừng ngày xem kết quả đậu Tú Tài ra sao thì ngày nhận tin đi Mỹ học fixed wing làm tôi vui mừng hơn gấp bội.
Trường sinh ngữ Lackland AFB ở San Antonio, Texas là trạm dừng đầu tiên cho tất cả khóa sinh phi hành ngoại quốc. Và dĩ nhiên Viêt Nam là một thành phần. Thường khi đã qua được tới Mỹ có nghĩa là vốn liếng Anh ngữ tạm đủ để có thể theo học các khóa huấn luyện. Tuy nhiên, ai cũng phải thi đậu sau ba tháng học tập ở trường sinh ngữ Lackland và làm quen với đời sống Mỹ trước khi nhập trường bay. Chính vì thế, Lackland cũng là chướng ngại vật cho các sư phụ mánh mung ở trường sinh ngữ quân đội bên nhà. Có một số người, sau ba tháng ăn chơi này đã phải khăn gói quả mướp lên đường về nước đi thẳng qua bộ binh.

Xong phần huấn luyện sinh ngữ, khóa chúng tôi được nhập trường bay, loại Cessna T41, ở căn cứ Randolph AFB. Trường bay này tọa lạc ở thành phố ven đô, Universal City, cách 24 dặm về phía đông bắc của San Antonio. Thời gian huấn luyện ở đây dự trù 3 tháng gồm có huấn luyện thể lực, địa huấn (ground school), học bay, học nhảy dù, phòng cao độ. Riêng phần bay bổng, người giỏi nhất mất khoảng 9 giờ bay với Thầy, người yếu nhất cũng phải cần 18 tới 20 giờ huấn luyện trước khi được thả bay một mình trong vòng đai phi đạo. Ở giai đoạn này cũng lắm người bị về nước vì không thể bay một mình trong một thời gian nhất định nào đó. Bị đánh rớt trong giai đoạn này không đến nổi phải bị ra khỏi KQ mà cho cơ hội để phục vụ trong ngành Không Phi Hành hoặc các trách vụ phi hành khác như Điều Hành Viên (Navigator, NOS, IR).

Chờ cho đến người cuối cùng hoàn tất giai đoạn bay T41, khóa chúng tôi lên đường qua Keesler AFB ở tiểu bang Mississippi (cách San Antonio 9 giờ lái xe) để học bay loại Khu trục T28. Khi lên đường đi Mỹ, khóa chúng tôi có hơn 40 khóa sinh, bây giờ còn lại 35 người sau hai trạm đầu tiên gồm luôn một vài người từ khóa trước dồn lại.
Chương trình huấn luyện ở đây dự trù là 6 tháng gồm phần địa huấn, academic rất nặng nề (lý thuyết về không gian, kỹ thuật hàng không, và phi cơ, khí hậu…), học bay ngày, bay đêm, bay đường dài (cross country), không hành định vị (navigation), bay phi cụ, bay hợp đoàn… Trong giai đoạn này, khóa sinh được huấn luyện tổng số khoảng 150 đến 200 giờ bay; nhanh nhất để được bay một mình trong vòng phi đạo (touch and go) là 14 giờ huấn luyện với thầy cho tới 24 giờ tối đa. Nếu sau 24 giờ mà vẫn không thể bay được một mình vì bất cứ lý do gì cũng sẽ bị trả về nước. Giai đoạn này cũng là một gạn lọc đáng kể cho rất nhiều anh em.
Sau khi bay solo ở vòng phi đạo (traffic pattern), khóa sinh được tiếp tục bay các phần hành khác gồm phần aerobatic ngoạn mục, solo vùng, rồi solo navigation, cuối cùng là phần bay hợp đoàn… Bay hợp đoàn rất dễ khi bay trước; bay theo là một ám ảnh tưởng không thể vượt qua chặng này… nhưng rồi cũng quen. Thời gian chỉ có 6 tháng mà như đi rất chậm vì ngày dài triền miên với sách vở, lý thuyết rồi ngồi đồng nghe thầy giảng moral về tài bay bổng của mỗi chàng. Có lắm niềm vui, cũng lắm nỗi buồn phiền; lắm điều trái ngang nghe như chuyện đùa… rồi cũng tới ngày mãn khóa. Khóa chúng tôi còn lại 33 người được gắn cánh bay. Ngày được gắn phải nói là một ngày huy hoàng nhất trong cuộc đời bay bổng. Thế là mộng làm cánh chim trời đã thành tựu, chỉ còn nỗi hồi hộp chờ ngày chọn máy bay và đi học tiếp loại phi cơ chuyên biệt.

Không một khóa sinh nào có thể biết trước được mình sẽ được bay loại fixed wing nào cho đến ngày mãn khóa kể cả các Thầy. Cũng có thể cấp trên và các Thầy đã biết trước nhưng khóa sinh hoàn toàn không biết. Nếu được hỏi, thầy và các cấp chỉ huy Việt lẫn Mỹ đều nói tùy vào “tài khóa”, tùy vao khả năng bay bổng của mỗi người”; có nghĩa là tùy vào số tiền viện trợ được chi viện từ quân đội Mỹ và tùy vào nhu cầu huấn luyện của từng thời điểm.
Sau ngày mãn khóa, chúng tôi mới biết tài khóa chúng tôi chỉ toàn các loại vận tải cơ gồm 16 chiếc C123K, 4 chiếc C7 Caribou, một số C47, và một số C119. Một số anh em vui mừng nhưng riêng tôi vô cùng thất vọng, tìm đủ mọi cách xin chờ tài khóa tới hoặc cho về huấn luyện khu trục ở VN. Rất đáng buồn đòi hỏi của tôi không được đáp ứng. Cấp chỉ huy bảo tôi “mầy (you) được ưu tiên chọn trước, cứ chọn bất cứ loại máy bay nào mầy thích trong tài khóa này, thế nào cũng sẽ có cơ hội chuyển ngành về sau”. Mặc dù tôi có ưu tiên số 5 (20 người đổ đầu khóa được ưu tiên thứ tự ưu tiên chọn trước) nhưng tôi buồn bã nói với thầy chọn giùm bất cứ loại nào ông nghĩ là tốt. Thầy tôi cho tôi biết ông ta cũng thất vọng không kém tôi vì ông ta đã là pilot khu trục trước khi nhận về trường huấn luyện. Thầy khuyên tôi nên chọn C123K vì loại vận tải cơ tân tiến nhất trong các loại của tài khóa này. Tôi đặt hoàn toàn tin tưởng nơi ông nên tôi đã gật đầu.

Trạm dừng chân kế tiếp của 16 chàng phi công vận tải C123K là căn cứ Lockbourne AFB, Ohio để huấn luyện chuyên ngành. Máy bay C123K là loại phi cơ to nhất của KQVNCH thời đó. Ngày đầu tiên ngồi trên ghế huấn luyện trong phòng lái tôi thấy mình thật yếu đuối so với sức lực của loại phi cơ này, nó như con voi bất trị so với các loại T41 và T28A/B đã qua… nhất là lúc cất cánh. Dần dà cả tháng sau mới làm quen với nó được. Phi hành đoàn vận tải bay huấn luyện cũng đòi hỏi ít nhất có 4 người: phi công chính (thầy dạy), phi công phụ (khóa sinh), kỹ sư cơ khí, và nhân viên áp tải. Chương trình huấn luyện đề ra là 3 tháng nhưng khoảng hai tháng thì cả phòng huấn luyện C123K bị dời xuống England AFB (còn có tên Maxwell AFB) phía đông của tiểu bang Louisiana. Một tháng sau thì mãn khóa còn nguyên vẹn 16 trự khăn gói quả mướp lên đường hồi hương.

Về nước được cho nghỉ phép vài tuần lễ xong là trình diện phi đoàn liên hệ để tiếp tục huấn luyện check out hành quân. C123K có 2 phi đoàn 421 và 423 và lũ 16 con nai vàng chúng tôi được chia đều cho hai phi đoàn. Sau thành lập thêm phi đoàn 425. Trước tiên tôi về phi đoàn 421 của Thiếu Tá Nguyễn Quế Sơn để huấn luyện check out hành quân, xong cho về phi đoàn tân lập 425 với Thiếu Tá Nguyễn Thế Thân. Vừa bay vừa học bổ túc giai đoạn hai quân sự tại căn cứ TSN trong 3 tháng trường để hợp lệ mang cấp bậc Thiếu úy.
Khoảng hơn một năm sau, để đáp ứng nhu cầu chiến tranh, KQ VNCH được tiếp nhận vận tải cơ khổng lồ C130A, chia ra hai phi đoàn 435 và 437. Tôi được chọn đi phi đoàn 435 của Trung Tá Lâm Văn Phiếu.

Phi cơ C130A là loại phi cơ tối tân hơn C123K rất nhiều, khả năng vận tải rất cao, kỹ thuật tân tiến nên lôi cuốn rất nhiều người muốn được về bay loại phi cơ này. Có nhiều phi công lão luyện ở các loại phi cơ khác được tuyển chọn về từ C47, C119 để học trưởng phi cơ và lũ nhí chúng tôi chờ khóa học làm phi công phụ. Vì số người chờ học quá đông nên lũ cắc ké của chúng tôi dù chưa được ngồi vào ghế lái nhưng vẫn bị chia phiên mang hia, đội mũ đi theo tàu xách thùng bản đồ vài ba lần một tuần. Tình trạng này kéo dài khá lâu làm tôi nản lòng quá sức! Trong khi đó ở vận tải người ta hay đì nhau chí mạng, hoàn toàn không phù hợp với tâm tánh và ý thích của riêng tôi nên tôi gặp không ít những rắc rối vụn vặt đối với cấp trên “bay thì dở nhưng rất thích ra oai”! Tôi cũng muốn lợi dụng hoàn cảnh để được cho qua tác chiến nhưng vẫn không hữu hiệu!
Đã mấy lần tôi xin Không Đoàn trưởng, KĐ phó chuyển qua bay tác chiến nhưng vẫn không được. Khi mức độ nản lòng đã lên cao độ, tôi nhất định xin đổi qua bay loại vận tải tác chiến AC119K, vừa được KQ Hoa Kỳ chuyển giao, dù các cấp chỉ huy đều không muốn. Tôi nói nếu không cho tôi đi tôi sẽ nộp đơn xin ra bộ binh. Sự cương quyết của tôi đã làm phật lòng nhiều người nhưng cuối cùng cũng được thuyên chuyển về phi đoàn Tinh Long 821 (duy nhất) của Trung Tá Hoàng Nuôi. Ở đây vui hơn nhiều, được đi đánh trận hàng đêm. Không ở một chỗ như những loại vận tải khác. Lâu lâu biệt phái Phù Cát, Đà Nẵng. Và tôi xin đi biệt phái dài dài, xin biệt phái thế cho bạn.
Chiến trường Miền Trung lúc bấy giờ rất sôi động nên cũng lắm chàng có gia đình hay “lạnh cẳng”. Ở Saigon hay đi biệt phái tôi cũng xin bay đều đều đến nổi cấp trên hỏi tôi có còn đầy đủ gia đình cha mẹ không, có bạn gái không (?!) Tôi chỉ mỉm cười, đơn giản nói “tôi thích đi bay, thích đi khỏi Saigon náo nhiệt”. Đi biệt phái Đà Nẵng tôi thích hơn nhiều vì ở đây chiến trường nóng bỏng lại có thằng bạn thân gan lì dạy tôi bay trực thăng, chiêu đãi tôi những bữa ăn ngon ngoài phố, cho tôi tháp tùng đi xung trận những ngày tôi được nghỉ bay. Nó thường cười nói như chơi, “nếu có mệnh hệ gì thì hai thằng mình bị dán giấy phạt trên quan tài thay vì ‘truy thăng’… Và tôi cứ thanh thản sống như thế, cứ vô tư như thế ngày qua ngày lại qua ngày cho tới lần sau cùng, trưa ngày 27 tháng 3 năm 1975, tôi theo biệt đội vội vã rời khỏi Đà Nẵng về lại Saigon trong cơn hỗn loạn bỏ rơi Miền Trung.
Về lại Saigon, chiến sự leo thang đáng kể nhưng tôi vẫn sống bình thản, vẫn sinh hoạt như thường ngày, vẫn xin bay đêm dài dài để thấy “giữa lòng trời khuya muôn ánh sao huyền”… cho đến trưa ngày 29 tháng 4, năm 1975, khi tôi nhận ra là tôi phải cấp tốc rời khỏi Saigon sau khi chứng kiến chiếc Tinh Long 7 của Trang Văn Thành bị bắn rơi gần vòng đai phi trường lúc 7g sáng… Bạn bè mạnh ai nấy tự lo thân, kẻ chạy ngược người chạy xuôi tìm phương tiện ra đi và tôi cũng đội mưa pháo tìm kiếm phi cơ hữu dụng trong vô vọng. May mắn thay, đang lơ ngơ, lớ ngớ gần trạm Hàng Không Quân Sự thì thấy Thiếu Tá Phan Vũ Điện và một số anh em trên xe pick up chạy ngang vẫy tay bảo chạy theo tới chiếc C130 cuối cùng ở gần trạm Hàng Không Dân Sự. Sở dĩ chiếc phi cơ này còn nằm ụ ở đây vì một số phi cụ đã bị hư hỏng chưa có dịp thay đổi; thế nhưng đâu còn chọn lựa nào tốt hơn. Tôi ngồi vào ghế copilot phụ anh Điện phần hành của một phi công phụ để cố đưa chiếc máy bay không hoàn hão rời khỏi phi trường lúc 12g30 trưa, trong hỗn tạp, trong hoang tàn mang theo hơn 100 người khách bất đắc dĩ, bay thẳng qua Utapao, Thái Lan để bắt đầu cho những tháng năm dài ly hương.

Từ một gã học trò mặt trắng tay trơn đến một phi công lỡ vận, lỡ thời chỉ có 7 năm dài qua bao nhiêu chặng đường. Mỗi chặng đường chứa đựng biết bao nhiêu hồi ức, bao nhiều kỷ niệm, có buồn có vui, lắm điều nhiều nỗi kể sao cho hết. Chỉ xin tóm lược qua những chặng đường cho một giấc mơ phi công của riêng tôi để chia sẻ với mọi người. Dù không cao sang như “Đường Minh Đế” nhưng tôi cũng đã được “nhàn du khắp tinh cầu”, cũng đã sống một thời hào hùng bên súng bên dao. Nhìn lại đời sống cũ đã một thời “sống giữa lưng trời, đôi khi nghĩ chuyện đời mỉm cười thôi”.

Mùa Hạ 2013

Yên Sơn

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vnaf/item/219-gi-c-mo-phi-cong-va-nh-ng-ch-ng-du-ng-nghi-t-nga-yen-son

Hình bóng quê nhà

saigonxua.org

Đầu vẫn gối lên tháng ngày mỏi mệt
Chân bước đi, đường mấy nẽo vô cùng

Mãi trong tim hình ảnh những dòng sông
Những cụm núi nghiên qua chiều nhạt nắng
Tiếng chuông nhẹ khua trong niềm tĩnh lặng
Đàn chim về nhịp cánh vẽ trên cao
Giải mây trôi lờ lững đến phương nào
Chút ráng đỏ trải dài trên mặt nước

Cánh đồng lúa sẫm màu xanh phía trước
Mấy con đò lặng lẽ mái chèo xuôi
Bên kia sông theo dấu vẽ chân trời
Làng xóm cũ mờ mờ sương đã xuống
Những dáng người in trên màu xanh ruộng
Bóng hoàng hôn từ mặt đất tràn lên
Gió đâu về thoang thoảng chút hương đêm
Hương của lúa, mùi cỏ cây thôn dã

Đã mười năm sao nơi này vẫn lạ
Không nhìn đâu có dấu vết quê hương
Vẫn nao nao trằn trọc những đêm trường
Thao thức nhớ những mặn nồng cay đắng

Trong tiềm thức mịt mù và thầm lặng
Bóng quê nghèo vẫn mãi mãi in sâu

Tác giả : Mạc Phương Đình

————————————–
Nhà thơ Chế Lan Viên viết về Sài Gòn trong nhưng năm thập niên 40, ông có nhắc đến những bài ca vọng cổ văng vẳng khắp phố, nghe rất lạ đối với dân miền Trung như ông, và đó là nét đặc biệt nhất mà tác giả ghi nhận, có lẽ thời cách đây mấy chục năm và trước đó, đa số dân cư Sài Gòn nói giọng gần giống dân miền Tây Nam Ky`. Có hai chữ của người con gái Sài Gòn nói làm tôi nhớ nhất là “chời ơi” (trời ơi) và “phải hôn” (phải không), nghe rất ngộ, dễ thương. Cái chữ “ hôn” lại càng hấp dẫn được thốt ra từ miệng người đẹp,khi nền tân nhạc du nhập và phát triển vào Việt Nam, sau thời kỳ đất nước chia cắt năm 1954 thành hai miền Nam – Bắc thì Sài Gòn trở thành nơi quy tụ của biết bao nhân tài từ nhiều nơi. Sài Gòn là niềm cảm hứng cho biết bao nhạc sĩ viết nên các ca khúc về Sài Gòn. Sau này tôi chỉ nghe lại các ca khúc này qua băng, đĩa nhưng tôi rất ấn tượng với các ca khúc.

Đầu tiên phải nói tới bản Sài Gòn Đẹp Lắm Sài Gòn Ơi của nhạc sĩ Y Vân, gọi tắt là Sài Gòn có câu kết: “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi”. Điệu Chacha nhún nhẩy, âm thể trưởng vui tươi, âm điệu dễ nghe dễ hát dễ nhớ làm trở thành bài hát biểu tượng của thành phố. Nó đã ăn sâu vào tiềm thức của bao thế hệ người Sài Gòn. Ngày nay tôi rất thích khiêu vũ Chachacha với bài này.

Nhạc sĩ Anh Bằng cũng có bài Sài Gòn Thứ Bảy diễn tả nỗi buồn của một người lính trẻ về thăm kinh đô nhưng sao “Sài Gòn thứ bảy mà nghe cô đơn”, rất nhiều ca khúc tuy không có tựa đề Sài Gòn nhưng người nghe cảm thấy chất thành phố này bàng bạc trong đó. Chẳng hạn như bản Nhớ Thành Đô của Hoàng Thi Thơ : “ Tôi xa đô thành một đêm không trăng sao. Thành đô còn nhớ mãi, nhớ mãi, chiều mưa trên công viên, giờ chia ly sân ga và khi gặp nhau trên lề đường hẹn hò”, một bản mà thập niên 60 rất phổ biến là Bước Chân Chiều Chủ Nhật của Đỗ Kim Bảng với câu hát: “tôi thích lang thang trong chiều chủ nhật, mây tím giăng ngang trên trời Sài Gòn”. Riêng cái âm điệu của câu đầu: si đố si si sol mi sì sì để lại ấn tượng mà sau này bài hát Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn cũng có câu mở đầu giống 90% và lấy câu này làm nét nhạc chủ yếu của ca khúc, tại sao bước chân chiều chủ nhật lại được ưa thích? Chợt nghĩ là thời đó ở Việt Nam làm việc 6 ngày chỉ nghĩ ngày chủ nhật, có chỗ nghỉ chiều thứ bảy. Vì thế ngày chủ nhật bà con đi dạo phố Sài Gòn ăn kem, uống cà phê, mua sắm và ngắm phố phường. Không khí rất thanh bình, không có đông đúc chen chúc hỗn lọan, bụi đường khói xe dày đặc như thành phố bây giờ.

Sài Gòn cũng là nơi tập trung các đại học nổi tiếng của miền Nam từ xưa cho đến nay và bài hát Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy đã đưa những nét của khung trời đại học với trường Luật thơ mộng : “ Trả lại em yêu khung trời đại học , con đường Duy Tân cây dài bóng mát”.

Nhưng cũng có những bài hát tả những cảnh phố phường Sài Gòn hoa lệ hay những xóm lao động nghèo khổ như bản Xóm Đêm của Phạm Đình Chương, bản Kiếp Nghèo của Lam Phương sáng tác trong một đêm mưa bước về ngang con hẻm nhỏ nghe tiếng ru con. Hay bản Nữa Đêm Ngòai Phố của Trúc Phương, khi cất tiếng hát lên là biết tác giả tả cảnh lang thang ở Sài Gòn lúc về khuya. Sau này những người đi hát dạo, khảy cây đàn guitar thùng, ngân nga những bài hát điệu Bolero tương tự như bản Phố Đêm của Tâm Anh, là cả một bầu trời Sài Gòn hiện ra.

Sài Gòn là chủ đề lớn, là nguồn cảm hứng phong phú cho nhiều bài hát. Cái tên Sài Gòn, đã gắn liền với cái tên Việt Nam – Hòn Ngọc Viễn Đông.

Xin hết.


Nguồn: https://saigonxua.org/tam-su/hinh-bong-que-nha.html

Người lính cầm cờ đã chết nhưng linh hồn lá cờ sống mãi – Lê Hải Lăng

Miền nam thất thủ thua cuộc chiến là chuyện không ai chối cãi.Tuy nhiên phe gây chiến xâm lăng tuyên truyền chụp mũ “tay sai” “bán nước”cần để cho người dân hai phía so sánh khi đã sống dưới hai thể chế dân chủ tự do và độc tài toàn trị cộng sản. Nền Đệ nhất và Đệ nhị cộng hòa trong tình trạng dân chủ phôi thai cho dù không được hoàn hảo vì phải trực tiếp chịu ảnh hưởng chiến tranh ,nhưng cũng xứng đáng để các nước láng giềng thời buổi đó tôn trọng và thèm khát được sánh lưng với Sài Gòn biểu tượng Hòn ngọc viễn đông. Dưới chính thể Việt Nam Cọng Hòa người dân được cầm lá phiếu đi bầu. Trái lại đảng CSVN theo chính sách đảng cử dân bầu thông qua sự lựa chọn từ tổ chức cánh tay nối dài cho đảng là MTTQ.VNCH có luật người cày có ruộng ,luật lệ tôn trọng quyền tư hữu đất đai.Đảng CSVN cướp đất ruộng của dân từ Tiền giang, Đồng Nai tới Văn Giang, Dương Nội…VNCH bảo vệ biển cả cho ngư dân thông thương đánh cá trong hải phận của mình.Đảng CSVN làm ngơ cho Trung Cộng đánh đập bắn giết tịch thu ngư cụ của người làm biển. Người lính VNCH đã bảo vệ Hoàng Sa đến hơi thở cuối. Đảng CSVN nhận lệnh không được chống trả để làm bia cho quân xâm lăng TC chiếm Gạc Ma. VNCH có bản Hiến pháp mọi người dân được tự do đi lại, tự do sinh hoạt, tự do tôn giáo, tín ngưởng, tự do hội họp lâp hội, lập đảng, tự do báo chí.Nhân quyền được tôn trọng theo hiến định. Đảng CSVN dùng hộ khẩu để trói chân dân, không được tự do phát biểu ý kiến trái ý đảng, đình chùa nhà thờ công an tuyên giáo xâm nhập lũng đoạn phá hoại niềm tin thiêng liêng.Đảng CSVN dùng Điều 4 HP để độc tài độc đảng cai trị, dùng báo chí là công cụ tuyên truyền cho đường lối đảng, không cho báo tư nhân hoạt động dưới bất kỳ hình thức nào. VNCH có tam quyền phân lập dân chủ pháp trị , mọi người dân chịu trách nhiệm trước pháp luật công bằng. Đảng CSVN dùng nhà tù và công an trị . Nhà tù VNCH nhốt người phạm pháp.Nhà tù đảng CSVN giam người yêu nước chống quân xâm lăng Trung Cộng. Người lính VNCH cầm súng bảo vệ nền tự do dân chủ, giữ gìn tài sản đem lại hạnh phúc cho toàn dân. Đảng CSVN đem chủ nghĩa ngoại lai độc tài độc ác tròng lên đầu dân ,mang tài sản nhân dân cũng như tài nguyên quốc gia làm của riêng chia nhau tham nhũng , mạnh ai nấy đục khoét như chuột rúc hủ gạo. VNCH có nền giáo dục nhân bản khai phóng , gìn giữ văn hóa tinh hoa dân tộc, phát huy sáng tạo , chấp nhận in ấn và quảng bá tài năng văn chương văn học , nâng cao dân trí và không phân biệt tác giả là người miền bắc hay nam, sống miền CS hay quốc gia. Tôn trọng chỗ đứng trong văn học sử của Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính… qua các quyển sách nằm trên giá của các nhà bán sách. VNCH lấy đạo đc châm ngôn “Tiên học lễ hậu học văn” không có đem căm thù súng đạn bắn giết vào sách giáo khoa.Đảng CSVN dùng chính sách dạy dỗ nhồi sọ chủ thuyết ngoại lai , mang dao búa căm hờn lùng vào thơ văn sách vở học đường để đầu độc tư tưởng tuổi trẻ cho mục đích đảng trị lâu dài. VNCH lấy cái thiện cải hóa cái ác trong đường lối dạy dỗ.Đảng CSVN lấy cái phát minh làm chất nổ gói trong bánh, vổ ngực tự hào rồi quảng bá sâu rộng cho người khác học cách giết tập thể đám đông.VNCH lên án phản kháng làm chết oan dân lành bằng cách gài mìn xe đò , bắn đạn pháo vào trường học. Đảng CSVN tuyên dương công trạng những người tham dự đặt chất nổ trong nhà hàng, cài bom trong sân vận động. VNCH cho trường học công hay tự chọn đồng phục cho học trò để có nề nếp quy cũ và biểu trưng sắc thái như nữ sinh Đồng Khánh, Huế có chiếc áo dài trắng tinh như sương buổi sáng. Đảng CSVN đảng hóa học đường qua các đội khăn quàng đỏ, đoàn thanh niên CS áo xanh.

Dân tộc là vạn đại đảng phái chính trị nhất thời .Tương lai và sự tồn vong dân tộc nằm trên đôi tay bước chân ,nhịp tim và khối óc tuổi trẻ.Cho họ được tự do chọn lựa giữa cái Thiện và cái Ác.Cho họ đựơc trọn quyền chấp nhận hay bác bỏ giữa Dân chủ và Độc tài.Chính nghĩa và không chính nghĩa đã rõ ràng tỏ tường.Tay sai hay bán nước đã diễn ra cảnh tượng trước công luận.

Mọi người dân tự chọn chỗ đứng dưới lá cờ để hành xử quyền làm người của mình mà Hiến chương LHQ đã chỉ ra.

Gần 42 năm trôi qua.Những người Việt tỵ nạn tha hương ít nhiều đã được thở không khí tự do dưới bóng cờ VNCH.Bây giờ họ trọn quyền ngồi yên hưởng thụ bên thành quả mà con cháu họ mang lại trên đất khách quê người.Nhưng họ không dừng lại tại đó ,vì mang máu mũ dân tộc Việt họ nhìn về quê hương đau đớn cho bà con mình rên xiết quằn quại đau thương dưới bàn tay đảng CSVN cai trị hà khắc hơn cả thực dân .Hơn ai hết lương tâm họ đã thúc đẩy yểm trợ tinh thần và vật chất sát cánh cùng người dân oan mất đất, chung tay cùng ngư dân mất biể , cùng nhau đòi nhân quyền tự do bị đảng cướp đi.

Họ là những người Việt lưu vong sống rời rạc khắp thế giới.Họ đến với nhau dưới lá cờ tượng trưng cho linh hồn dân chủ tự do. Hơn ai hết họ biết chỉ có những người làm tay sai cò mồi CS mới thách thức họ sao không về nước mà chống.Thật ra họ chẳng sợ và cũng chẳng còn gì để mất trong tay CS nữa .Mục đích của họ là đứng dưới lá cờ vàng mang đặc trưng linh hồn của chính nghĩa để cảm hóa CS bạo tàn.Cuối cùng là giúp tay phá vỡ cái hệ thống đảng độc tài 71 năm vẫn ngồi lì để bán nước như con đĩ già cuối đời.

To Quoc dai duong, giu yen long bien Me .jpg

Người lính cầm cờ để bảo vệ nền dân chủ tự do đã chết. Nhưng linh hồn lá cờ phấp phới bay mãi trong lòng người yêu tự do. Những nhà dấn thân tranh đấu và những cá nhân hội đoàn yểm trợ tinh thần nhận diện nhau tìm mẫu số chung để đương đầu với hệ thống đảng trị, không gì hơn là nghe lời khuyên của Winston Churchill:”You will never reach your destination if you stop and throw stones at every dog that barks” (Anh sẽ chẳng bao giờ đi tới đích nếu anh dừng lại và ném đá tất cả các con chó sủa ).

Lê Hải Lăng

nguồn: http://quanvan.net/le-hai-lang-nguoi-linh-cam-co-da-chet-nhung-linh-hon-la-co-song-mai/

ĐOẠN, VỀ SÔNG VỌC LỬA

PHẠM HỒNG ÂN

Bước xuống phi cơ, tôi vội vã thuê xe về xóm Chùa, thăm Ba, Dì và các em. Đức và Hiền còn nhỏ, chỉ ngơ ngác nhìn tôi như người xa lạ. Ba tôi đi làm, chưa về. Còn Dì, tất bật, chạy tới chạy lui, thăm hỏi đủ điều. Cuối cùng, dì cắp nón ra chợ, mua thức ăn cho buổi cơm chiều. Tôi muốn lên gác, thắp cho ông bà một nén hương tưởng niệm. Lâu rồi, tôi không có dịp tham dự ngày giỗ trong gia đình. Lâu rồi, tôi như đứa con hoang đàng, mãi lang bạt đầu núi cuối sông. Tôi tiến tới bàn thờ, vừa đưa tay cầm bó nhang, bỗng một xấp phong bì rơi xuống, nằm sóng soải dưới chân. Dòng chữ quen thuộc trên bì thư đập vào mắt tôi. Trời ơi! thư của Út. Mấy chục lá thư của em gởi cho tôi, lâu rồi, tôi chưa bao giờ nhận được. Tại sao thư lại nằm đây, nơi góc bàn thờ ông bà, trên căn gác ba tôi? Tôi run rẩy lật từng trang. Lá thư cuối cùng, cách nay đã hai năm, Út đau khổ viết “…Em gởi cho anh rất nhiều, rất nhiều thư. Nhưng vẫn chưa bao giờ nhận được hồi âm, dù chỉ là đôi dòng ngắn ngủi. Em biết, hình bóng em bây giờ đã phai nhạt trong anh, đã vĩnh viễn phai nhạt trong anh. Vậy thì, bức thư này là bức thư cuối cùng em viết cho anh. Nếu không thương nhau nữa, thì hãy coi đây như những kỷ niệm, cho tình yêu chúng mình…” Tôi úp mặt vào hai lòng tay, ngậm ngùi. Cố nén buồn đau cho chìm xuống đáy tim, nhưng sao nước mắt của tôi vẫn lặng lẽ lăn dài.

Chiều xuống dần. Dì tôi còn ở trong bếp, cố làm món ăn cuối cùng. Tôi cầm xấp thư, vẫy trước mặt dì.

– Thư của bạn con. Sao dì cất, không đưa cho con?

Dì buông đũa, chăm chú vào các lá thư.

– Ô, thư này lâu rồi. Lúc con còn đi học. Ba giấu, sợ con bận tâm đến yêu đương sớm, chẳng học hành được.

Tôi lặng thinh, không nói được nên lời. Hình như cha mẹ nào cũng muốn con thành tài, trước khi có một mái ấm riêng tư. Tôi đành ậm ực tôn trọng ý nghĩ trong sáng đó. Chỉ còn cách trở về Cà Mau, gặp Út. Thành thật kể cho nàng nghe tất cả sự tình.

Buổi sáng, phi cơ cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhứt, vài giờ sau, nó đã có mặt ở phi trường Cà Mau. Quê hương tôi vẫn không thay đổi. Vẫn nghèo nàn, mộc mạc và cúi mặt âm thầm. Tôi vội vã về nhà. Má tôi cũng còn bán cà phê và bánh mì xíu mại cho trại lính ở đây. Gặp nhau, chưa đủ thỏa lòng, má vội bỏ buôn bán, đi thẳng ra chợ, tìm món ngon vật lạ để đãi đứa con yêu. Má về, tôi xin phép ra phố thăm bạn. Tôi hăm hở đến nhà Út. Địa chỉ như khắc trong trí, như tạc trong tâm, dễ chi phai được. Dưới dốc cầu quây, có lối rẽ chạy thẳng. Ngôi nhà nằm bên trái. Mái hiên với chiếc ghế dài bằng gỗ. Nơi, tôi và Út đã từng hôn nhau dưới ánh trăng đêm.

Cửa nhà Út đóng im lìm. Đám bông mười giờ phía trước quéo khô. Tôi gõ cửa. Gõ cửa. Gõ cửa liên tục. Cánh cửa vẫn bất động. Chẳng nghe ai trả lời. Tôi nôn nóng ngồi xuống chiếc ghế ngày xưa, chờ đợi. Như đã từng chờ Út trở về, dưới dốc cầu này, trên con đường này. Buổi chiều đã tàn. Ngoài kia, phố xá đã thắp đèn. Những ngọn đèn mù mờ, lạc lõng giữa hoàng hôn mới chớm. Tôi tuyệt vọng, cố gắng đứng lên, gõ cửa lần cuối. Lần này, tôi gõ lớn, rồi đập mạnh. Tiếng động rầm rập vang lên, vang lên khắp xóm. Cánh cửa nhà Út vẫn im lìm, nhưng cánh cửa nhà kế bên chợt bật tung. Một mái tóc đàn bà hiện ra, giọng chua lét. Không còn ai trong nhà. Người ta đi Biên Hòa hết rồi.

Đi Biên Hòa? Tại sao lại đi Biên Hòa? Năm nay, Út đang học thi tú tài II kia mà? Tôi vội vàng tìm đến bạn Út, những cô gái ngày xưa biết rõ chuyện tình của chúng tôi. Tôi gặp Huyền giữa phố, người bạn học thân thiết, thường về chung với Út, sau buổi tan trường. Thấy tôi, Huyền dừng lại, lạnh nhạt, trách móc. Ra đi mấy năm trời, không thèm viết cho người ta một chữ. Bây giờ, về đây, bày đặt kiếm tìm để làm gì? Tôi tiếp tục năn nỉ Huyền. Hãy cho tôi địa chỉ, tôi sẽ đến bên Út, tạ lỗi cùng nàng. Huyền bắt đầu quay lưng, sau khi hét lớn. Tôi chỉ biết Út ở Biên Hòa, và chỉ biết bấy nhiêu đó thôi!
Tôi quảy ba lô lên vai, chờ anh Nghĩa chở qua Nhà Bè. Hải vận hạm 401 đang neo ở đó. Tôi phải quá giang tàu về Năm căn, trình diện đơn vị là Giang đoàn 47 ngăn chận, hiện đang hoạt động vùng này. Đêm qua, tôi say khướt. Chỉ có vài chai la-de, lai rai với sò huyết ở chợ Phú Nhuận mà tôi đã thấy trời đất quay cuồng. Anh Nghĩa tiễn em ra chiến trường bằng những câu nói hào hùng, bằng chí khí qua thơ của các tráng sĩ thời xưa. Tôi hiểu, tôi đi lính là để bảo vệ tự do, gìn giữ đất nước, trước sự xâm lăng điên cuồng của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng anh Nghĩa đâu hiểu được tâm tư tôi bây giờ. Chua xót lắm! Út đã thật sự bay khỏi đời tôi. Bay mất, như một cánh chim.

HQ.401.jpg

Hải vận hạm 401 đang lướt sóng trên mặt đại dương mênh mông. Biển êm đềm. Chỉ có những gợn sóng nhè nhẹ, vỗ lụp bụp dưới mạn tàu. Phía xa, mũi Cà Mau nhô ra nước. Cửa Bồ Đề thấy mồn một. Con tàu tiến về Năm Căn. Tôi đứng bên hông tàu, ngó cảnh vật bao la. U Minh ngút ngàn. Rừng nối rừng dày đặc. Mùi bông tràm, bông đước hăng hắc trong gió, nhưng không thể xua tan mùi tử thần đang rình rập đâu đây. Một ông trung úy xuất hiện, lôi tôi vào khoang tàu.

– Vô đây, vô đây đi cha nội! Đứng ngoài đó, nguy hiểm lắm!

Tôi dùng dằng. Tỏ ý bất mãn.

– Sao? Sao nguy hiểm?
– Tụi nó bắn bất tử. Đây là vùng U Minh. Địa ngục đấy, tân binh!

Ông trung úy gọi tôi là tân binh. Lính mới. Đúng quá! Lính mới chẳng biết cái chi chi. Lính mới như thằng điếc. Mà điếc thì không bao giờ sợ súng.

Chưa kịp phản ứng với ông trung úy, tôi đã thấy từng bầy chim xao xác trong rừng. Chúng hoảng loạn bốc lên cao, đua nhau kêu thét vang rân. Tiếp theo là một tràng súng còng-còng nổi lên, cùng với những trái B.40 phụp ra. Nó rớt lõm bõm bên hông, đằng sau và phía trươc tàu. Nó rơi lung tung, nhưng chưa có trái nào trúng đích. Lúc này,  Hải vận hạm bắt đầu tăng tốc, chạy nhanh, thoát vùng đạn pháo. Lúc này, tôi mới nhìn thấy một toán giang đỉnh của mình, quay đầu, ủi thẳng vào bờ, bắn tan nát đám rừng. Nơi, có những trái B.40 vừa khai hỏa.

Căn cứ hải quân Hàm Rồng như một tiền đồn, trấn giữ phần đất Năm Căn. Trước căn cứ, là con sông Cái Lớn. Bên kia là rừng U Minh. Sông chảy tới đâu, rừng bạt ngàn tới đó. Cái Lớn còn gọi là Cửa Lớn, vì nó nối biển Đông và biển Tây bởi hai cửa : Bồ Đề và Mũi Ông Trang. Đây là bãi chiến trường gay go và đẫm máu nhất. Giặc bắc phương đã lợi dụng địa thế kinh rạch chằng chịt nơi này, nên thường chở vũ khí từ miền bắc đến, chi viện cho chiến trường miền nam. Và dân chúng ở đây rất phức tạp. Người lính không thể biết: ai theo quốc gia, ai theo việt cộng? Căn cứ còn có một phi trường nhỏ, dành cho trực thăng chiến đấu. Bọc vòng ngoài, có các tiểu đoàn: biệt động quân, địa phương quân và một vài đơn vị của sư đoàn 21 bộ binh.

Không biết tôi có là vị khách đặc biệt của địch quân không? Mà vừa bước chân vào chiến trường, họ đã chào đón tôi bẳng tràng đạn ác liệt, và những trái B.40 dữ dằn. Chưa đã, đêm đó, họ chơi thêm một trận pháo kích tưng bừng. Pháo nổ như pháo tết. Đạn rớt khắp nơi. Tiếng động rung rinh cả căn cứ, khiến trực thăng phải bốc cao, đoàn tàu phải rồ máy, phản kích, dọc theo dòng Cái Lớn. Như các đồng đội khác, tôi cũng khoác nhanh chiếc áo giáp vừa lãnh, chạy theo sĩ quan trưởng toán xuống giang đỉnh. Trời tối như mực. Chỉ có những vòng lửa vàng rực, khạc ra từ các họng súng đen ngòm.

Buổi sáng trở lại. Sông Cái Lớn vẫn mơ màng sương khói. Căn cứ vẫn rực vàng dưới ánh nắng ban mai. Trực thăng phi trường vẫn phì phạch bay lên, tuần tiễu trên bầu trời. Tất cả đều hoạt động bình thường. Hình như chuyện pháo kích đêm qua chỉ là chuyện nhỏ thường tình, giống như chuyện những chú lùn gảy ngứa một ông khổng lồ. Tôi lủi thủi xuống câu lạc bộ kiếm ly cà phê, bỗng gặp Hùng từ bến tàu đi lên. Hùng là  bạn đồng khóa với tôi. Hắn về đây hồi nào, sao tôi không biết?

– Ê! Đi đâu đây, thằng quỉ?

Hùng ôm tôi, hét lớn.

– Trời đất! Không hẹn mà gặp nơi địa ngục này. Đi. Đi xuống câu lạc bộ, cà phê.

Câu lạc bộ là một căn nhà mái tole, dài thòng như chuồng ngựa. Những cái bàn lè tè, gập ghềnh trên nền đất ẩm thấp. Vậy mà lính đông nghẹt, vây quanh. Khói thuốc mịt mùng như khói nhang của mấy chùa Tàu thành phố.

– Này, ngồi xuống đây. May quá, còn một cái bàn ở trong kẹt.

Hùng chọn đơn vị và về đây trước tôi một tuần. Trước chỉ một tuần mà xem hắn phong sương quá! Đôi mắt dường mệt mỏi. Hậu quả của những đêm thức trắng.

– Ở đây chỉ có cà phê đen và mì ăn liền. Chịu khó nuốt vô cho đầy bụng. Hãy quên những bữa ăn Mỹ đi nhá!

Tôi thở dài, nhớ đến khẩu phần đồ hộp ở Slough. Những miếng thịt hộp ở đó còn hương vị hơn mì ăn liền nhiều. Vậy mà có lúc tôi chê trách, tôi hậm hực với khẩu phần đặc biệt này. Tôi chợt thương người lính Việt Nam Cộng Hòa. Họ vào lính với đồng lương quá ít, với lương thực quá thiếu, nhưng cũng quyết cầm súng, đứng lên, anh dũng bảo vệ tự do cho miền nam.

– Mày có biết thằng Tấn không? Nó cũng ở đây.
– Tấn già? Có vợ và con nheo nhóc trước khi vô lính, phải hông?
– Ừ. Đơn vị nó là hải đội 5 duyên phòng. Lát về, tau dẫn mày gặp nó.

Tấn đứng trước cửa PCF, chờ lệnh khởi hành. Máy tàu đang nổ, mũi hướng về Vàm Lũng. Chỗ, kết thúc của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Chúng tôi mừng  nhau, trong tiếng vang lụp bụp của máy tàu. Tự dưng, không hẹn, chúng tôi ngó cặp lon trên vai. Đù má, mới đây cái quai chảo còn vàng hực. Bây giờ, chưa chi, nó đã phai màu, giống hệt như cái quai dính lọ, đen xì. Tấn cười hì hì. Hắn đưa tay về chúng tôi,vẫy vẫy.

– Thôi, tau vọt. Tuần sau, gặp lại. Tụi mình sương sương vài xị!

Tuần sau, chúng tôi sương sương vài xị tại chợ Hàm Rồng, nơi quán cô Chọn. Nhưng không có mặt Tấn. Và vĩnh viễn không thấy mặt Tấn. Chiếc PCF hôm đó đã chở hắn đi mất biệt. Địch quân đã hèn nhát núp lùm trốn bụi, ôm B.40 bắn lén Tấn. Máu thịt Tấn đã hòa với dòng Vàm Lũng, trộn với đất nước Năm Căn, viết thành trang lịch sử bi hùng. Cuộc rượu chưa tàn. Hùng chưa say. Tôi chưa quỵ. Nhưng, vài xị sương sương đã làm tôi nóng máy. Cái chết lãng nhách của đồng đội đã làm tôi điên cuồng. Tôi ngó cô Chọn đăm đăm. Một cô gái nhà quê hiền lành? Hay một giao liên việt cộng, sẵn sàng lấy máu chúng tôi, bất cứ lúc nào? Những dấu hỏi liên tiếp nhảy múa trong đầu tôi. Tại sao nguyên cái ấp Hàm Rồng này, tìm không ra một người đàn ông? Ở đây chỉ có đàn bà và con nít. Và chiến tranh. Cái chiến tranh kỳ cục. Kẻ ẩn người hiện. Địch quân như một bóng ma. Chuyên môn khuấy rối, rồi trốn chạy. Tôi bắt đầu hừng hực, dằn mạnh chai rượu xuống bàn, lớn tiếng.

– Cô Chọn.
– Dạ, thiếu úy gọi em.
– Cho thêm xị nữa. Mà này, tôi có câu hỏi. Cô phải trả lời thành thật, không được nói láo, nghe chưa?
– Dạ, thiếu úy hỏi gì?
– Tại sao cái ấp Hàm Rồng này không có đàn ông, mà lại có con nít?

Cô Chọn đỏ mặt, bẽn lẽn nói.

– Cái đó…chuyện của người ta. Em đâu có biết?

Tôi nốc nguyên một ngụm rượu vào họng, rồi chỉ ngón tay vào đám rừng bên kia sông.

– Đàn ông vô bưng hết phải không? Lâu lâu họ lội về thăm vợ? Chớ không lẽ con nít từ trên trời rớt xuống?

Cô Chọn không trả lời được câu hỏi vừa đùa vừa thật của tôi. Những người đàn bà Năm Căn không trả lời nổi câu hỏi của tôi. Vì U Minh như vậy đó. Vì chiến trường như thế đó. Và vì lửa đạn đã biến cuộc đời học trò nhu mì của tôi thành một người lính tính toán, có quyền hoài nghi tất cả. Về đây, tôi không còn thời gian để làm thơ, mơ mộng. Không nơi nào an toàn để nghỉ ngơi, nhớ lại cái quá khứ vô tư của mình. Kể cả cầm viết, viết đôi dòng cho Kaylee. Kể cả một thoáng bâng khuâng, chạnh lòng với hình bóng Út.

Lần lữa mãi, giang đoàn 47 ngăn chận cũng được lệnh trở về Mỹ Tho dưỡng quân, tiếp tục cuộc ngăn chận mới. Trước khi rời U Minh, giang đoàn chúng tôi phối hợp với tiểu đoàn Biệt Động Quân, khám phá được hầm vũ khí của địch ở đoạn kinh Cái Nháp. Hầm vũ khí rất lớn. Hai giang đoàn luân phiên nhau đưa vũ khí về căn cứ, ròng rã một ngày dài, vẫn chưa xong. Cuộc hành quân này, tôi lại mất thêm một thằng bạn, thiếu úy Tuấn, đại đội phó Biệt Động Quân.

Sáng sớm, tôi và Hùng gặp nhau cuối cầu tàu, giữa tiếng phình phịch huyên náo của các chiến đỉnh. Chúng tôi chia tay mà nước mắt rưng rưng. Tôi chúc Hùng ở lại bình an. Bắt chước tiền nhân, tôi vái đất đai thổ trạch nơi đây che chở hắn. Hùng cũng mong tôi thuận buồm xuôi gió, lộ trình an toàn, về căn cứ Đồng Tâm vui vẻ.

Đúng như lời cầu mong của Hùng, giang đoàn chúng tôi về Mỹ Tho an toàn, không tốn một viên đạn. Lúc tới Năm Căn, tôi được địch quân chào đón tưng bừng. Ngày rời Năm Căn, sao chúng nó lại buồn bã im re, không kèn trống ồ ạt tiễn đưa? Có lẽ, địch đã bị ê càng, từ cuộc hành quân của những ngày trước?

Trên dòng Tiền Giang êm đềm, trước khi vào thành phố Mỹ Tho xinh đẹp, chúng tôi đã thấy con kinh Xoài Hột cất đầu, chỉa thẳng ra sông. Căn cứ Đồng Tâm nằm phía trong con kinh này. Là một cái hồ rộng, được nạo vét sâu để làm bến cảng, cầu tàu, và các ụ sửa chửa cho những chiến đỉnh hư hỏng. Giang đoàn chúng tôi cặp bến, trước bộ chỉ huy giang đoàn 21 xung phong. Phía sau bộ chỉ huy bạn, còn vài ba căn nhà tiền chế bỏ trống. Hôm nay, tạm dành cho giang đoàn 47 ngăn chận.

Ở rừng lâu quá, thèm được về Sài Gòn, chỉ để nghe bước chân của mình nện dài trên hè phố. Những bước chân thoải mái, tự do nơi vạt đất yên bình. Những bước chân cơ cực, nhưng đầy kỷ niệm của thời sinh viên buồn bã. Bây giờ về đây, Sài Gòn trong gang tấc, chẳng lẽ ngồi bó gối chôn chân, tưởng nhớ mông lung? Tôi lật đật vọt ra bến xe, sau khi nói với chỉ huy trưởng vài ba điều.

Ba tôi vẫn vậy. Vẫn còng lưng mỗi ngày bên chiếc máy đánh chữ, gõ lộc cộc. Dì tôi vẫn chăm sóc thức ăn hàng bữa cho gia đình. Anh Nghĩa đã về Long An, đóng đồn ở Tân Trụ. Muốn thăm anh, rất khó. Phải chờ toán lính địa phương quân mở đường, vào sáng hôm sau. Tôi đành từ giã chị Nghĩa. Luôn tiện, ghé thăm Lan một chút. Tôi vẫn nhớ người hàng xóm nghĩa tình, cô gái đã cho tôi ngủ nhờ hàng hiên, năm xưa. Chiều đó, tôi dẫn Lan đi lòng vòng Phú Nhuận. Tôi muốn có  những bước chân đồng hành, cho đời khô khan này, thêm hương vị lãng mạn.

CHIEN DINH THUY BO .jpg

Giang đoàn chúng tôi, sĩ quan trẻ rất đông. Mỗi người có mỗi cá tính riêng, rất đặc biệt. Nhưng tôi chỉ chơi thân với Duyến. Có lẽ, hắn biết làm thơ và hay ngao du với tôi trên khắp nẻo đường. Tôi mất Út. Còn Kaylee thì xa xôi. Biết chừng nào nàng mới qua đây, giúp tôi bảo vệ đất nước thân yêu? Duyến cũng vậy. Theo lời hắn kể, có những mối tình đã ra đi biền biệt. Đời lính, truân chuyên với lửa đạn, chúng tôi rất cần bóng dáng giai nhân an ủi tinh thần. Về đây, Đồng Tâm có nhiều bóng dáng giai nhân, tha hồ chọn lựa. Các bóng dáng làm cho Mỹ, cho văn phòng quân đội…thì không được rồi. Vào đó, tranh giành với mấy ông quan lớn, chắc chắn sẽ ôm con tim đẫm máu chạy về. Chỉ còn mấy bóng dáng ở khu thương mãi, ở những tiệm may, quán ăn, quán cà phê…họa may mới kiếm được một người tình hộ thân. Duyến dẫn tôi đi khắp các quán cà phê. Nhạc Trịnh Công Sơn vang dội. Tiếng hát Khánh Ly xoáy vòng, đưa tâm hồn người lính lao đao, chìm ngập nỗi buồn trong khói thuốc và men rượu. Nhưng tiếng hát đó lại làm tôi cảm thấy cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ. Và trong nỗi lẻ loi tận cùng, tôi bỗng cảm thấy có ánh mắt của một giai nhân, bên kia góc quán, đang ngó về tôi, như muốn thầm thì, chia sớt những điều chi?

Mỗi ngày, tôi dành một ít thời giờ, có khi buổi sáng, có khi buổi tối, đến quán Xuân Mai thăm ánh mắt lạ thường này. Đôi khi, tôi ngồi tới khuya, tới không còn một người khách nào trong quán. Bà chủ phải tắt nhạc, như đuổi khéo tôi ra khỏi quán. Tôi vẫn ngồi lì với chai bia và điếu thuốc trong tay, cho đến khi giai nhân tới gần, rót nhẹ vào tai.

– Anh về đi, khuya rồi. Mai, hãy đến nữa. Em buồn ngủ lắm!

Lúc đó, tôi mới chịu rời quán, nhưng hồn như vẫn còn lâng lâng ở lại, quấn quít theo bóng dáng giai nhân.

Ngày qua ngày, cuối cùng, tôi và Tuyết cũng quen nhau. Rồi có những lần, chúng tôi hẹn nhau ra thành phố Mỹ Tho. Ra đó, tự do hơn, không còn ai dòm ngó, hoặc ganh tỵ với tình yêu của mình. Buổi sáng, tôi dẫn Tuyết đi lòng vòng thành phố. Mỹ Tho đẹp và yên lành. Những hàng me cao vút, lung linh bóng hai đứa. Lá me bay trong gió, rớt xuống mái tóc dài của em, lấm tấm như những đóa hoa nhỏ, trong truyện cổ tích thần tiên. Buổi trưa, chúng tôi vào một quán ăn gần vườn hoa Lạc Hồng, chọn cái bàn ngó ra sông Tiền, để nhìn sóng gió lênh đênh ngoài kia, một cách lãng mạn. Canh chua cá bông lau là món canh Tuyết thích nhất. Tôi cũng vậy. Tháng năm ở Năm Căn ăn uống cực khổ. Suốt ngày sống trong hồi hộp, trong không khí lửa đạn bao quanh. Bây giờ, ngồi thảnh thơi giữa một phố thị yên bình, với cô gái đẹp, ăn bữa cơm ngon lành như thế này, làm sao mà không sung sướng, không hạnh phúc cho được?

Thời gian vàng son bên Tuyết, không lâu, chúng tôi phải chia tay nhau. Đêm đó, ông chỉ huy trưởng cầm lệnh công tác, nhá nhá trước mặt tôi và Duyến.

– Hai ông được biệt phái về căn cứ hỏa lực Phước Long. Chuẩn bị, ngày mai lên đường. Ở đây, có xe đưa các ông tới phà Hàm Luông. Từ phà về căn cứ, tụi tuần thám lo tiếp. Về đấy, hai ông tha hồ thơ với thẩn.

Tôi bàng hoàng, trước cái lệnh công tác bất ngờ này. Bây giờ, khuya rồi. Quán Xuân Mai đã đóng cửa. Tôi không thể từ giã Tuyết được. Tôi cũng không có gì để chuẩn bị trước. Chỉ có vài bộ quân phục, vài bộ thường phục. Và một cái túi quân trang, sẵn sàng quảy lên vai, bất cứ lúc nào.

Trước khi rời Đồng Tâm, tôi bảo tài xế chạy vòng ra quán Xuân Mai, cho tôi gặp Tuyết một chút. Trời Đồng Tâm đang lún phún mưa. Những hạt mưa như bụi, bay trong gió, mát lạnh. Tôi ôm Tuyết trong vòng tay, như che mưa cho em, và che một nụ hôn thật dài. Tôi hứa sẽ trở lại một ngày gần đây. Tuyết nhè nhẹ gật đầu, với đôi mắt đỏ hoe, đầy nước mắt.

Căn cứ hỏa lực Phước Long nằm ven bờ sông Hàm Luông, cách tỉnh Bến Tre khoảng hơn mười cây số. Đối diện với bờ bên kia là Cồn Ốc thênh thang, cây lá xum xuê. Căn cứ này là bản doanh của trung đoàn 10, sư đoàn 7. Tôi và Duyến về đây làm trong phòng hành quân của hải quân, vì hải quân và bộ binh thường phối hợp tác chiến với nhau. Vừa đút đầu vào phòng trực, chưa kịp đặt ba-lô xuống, địch quân lại chào đón bằng một trận pháo kích kéo dài. Khác với Năm Căn, nó “chơi” luôn ban ngày, giữa thanh thiên bạch nhật. Nó pháo từng hồi. Hết hồi này, nghỉ ngơi một chút, rồi mới làm hồi tiếp. Cứ thế, kéo dài cả ngày. Mỗi hồi pháo, nó thay đổi tọa độ bắn, khiến pháo binh bên ta, mệt nhoài với những vị trí phản pháo.

Làm việc ở đây thoải mái. Chúng tôi chỉ thay phiên nhau trực “ca”. Ngoài giờ trực, tôi có dư thời gian nhàn rỗi. Muốn khỏa lấp khoảng trống này, chỉ biết ngồi làm thơ hoặc nghĩ về Tuyết, hay quá giang qua Cồn Ốc, hít thở không khí cây xanh. Cồn Ốc, bề ngoài có vẻ yên lành, nhưng bên trong là trái bom rất nhạy, có thể nổ tung bất cứ lúc nào. Dân quê, ở đâu, cũng vậy. Không có yếu tố cân đo nào để đo lường sự lương thiện nơi họ. Có thể, ban ngày, họ là những nông dân hiền lành. Đến đêm, họ biến thành ác quỷ, hùng hổ xách mã tấu chặt đầu mấy ông viên chức trong làng. Vì thế, khi trời bắt đầu chạng vạng, mấy ông viên chức các ấp, vội vã khăn gói lên xã, ngủ nhờ. Tuy vậy, Cồn Ốc cũng chẳng thiếu những gia đình gương mẫu, những cô giáo lịch thiệp, những học trò lễ phép với người lính Cộng Hòa. Tôi và Duyến ngao du khắp làng, đi đến đâu, cũng được các em bé khoanh tay chào hỏi. Chúng tôi ghé chợ làng. Những quán cóc dọc ngang. Những cái sạp đầy rau quả. Những đám đông bu quanh một đoàn hát cải lương. Đào, kép mỗi người mỗi góc. Họ có vẻ buồn bã, chán nản một điều gì? Tôi chợt nhớ má tôi. Ngày xưa, má cũng là một tay ghiền cải lương. Bất cứ gánh nào đến Cà Mau, má cũng đều có trong tay tấm vé thượng hạng. Riêng tôi, tôi rất thích và cảm thông với đào kép gánh hát. Họ có vẻ phong trần, cực khổ, chỉ mong đem tiếng hát của mình phục vụ cho niềm vui quần chúng.

– Mời hai ông thiếu úy vô đây, lai rai, nghỉ chân một lát.

Tiếng gọi phát ra từ quán cóc. Một người đàn ông trung niên, lạ hoắc, ngoắc ngoắc chúng tôi. Duyến e dè đẩy tôi vô quán.

– Chào thiếu úy. Tôi là Viễn Khách, bầu gánh đoàn Sông Xanh. Kính mừng hai vị.

Vừa nói xong, ông trút nguyên ly rượu vào miệng, rồi rót lại đầy ly, đưa cho tôi.

– Từ từ ông bầu. Chúng ta ngồi xuống, chuyện trò giây lát.

Duyến ngăn lại, cầm vội ly rượu, đặt nhẹ xuống bàn. Tôi móc gói capstan ra khỏi túi áo, lịch sự mời Viễn Khách. Những sợi khói ngoằn ngoèo bay lên, cùng với tiếng rít thuốc của người bạn mới.

– Gánh hát ông sao có vẻ buồn quá! Tôi thấy đào kép mỗi người mỗi góc. Hình như họ đang suy tư việc gì?
– Ừ, tụi tui sắp “dẹp tiệm”. Hát, không đủ sở hụi.

Tôi nhấc ly rượu, nốc cạn.

– Nguyên cái Cồn Ốc này, không ai ủng hộ gánh hát ông sao?
– Có chứ! Nhưng chỉ lúc đầu. Lúc sau, trời cứ mưa dầm. Có khi, đang hát, pháo kích tùm lum. Riết rồi, ế nhệ. Chúng tôi đành húp cháo rùa. Mấy tháng nay, cả đoàn, toàn ăn cháo cầm hơi.

Ông bầu lại rót rượu, trao cho Duyến.

– Mấy ông đừng nghĩ gánh Sông Xanh này là gánh bù tèo nha! Nó là hậu thân của đoàn Hoa Sen đấy! Kép Bảy Cao về hưu, giao gánh lại cho tui.

Tôi ngó ra gánh hát. Lèo tèo vài trang phục đang phơi nắng trên hàng rào. Lác đác các đạo cụ, các phông cảnh đã bạc màu theo thời gian, nằm ngổn ngang trên sàn diễn.

– Gánh Hoa Sen ngày xưa rất nổi tiếng. Bầu Bảy Cao đã có sáng kiến đem điện ảnh đầu tiên vào sân khấu. Bây giờ, giao lại cho ông, sao tệ thế này?

Anh kép ngồi bàn kế bên, thốt lên.

– Hát được bao nhiêu tiền, ổng cứ nhậu riết. Gánh nào mà lên cho nổi? Tệ là cái chắc.

Ông bầu vỗ vai tôi, mếu máo.

– Buồn thời cuộc thiếu úy ơi! Ở thành phố, chúng tôi hát không lợi với các gánh đại bang. Về thôn quê thì gặp chiến tranh, lâu lâu trút xuống đầu. Dân không dám giải trí. Nên buồn quá, đành mượn rượu tiêu sầu.

Duyến đưa ly qua tôi, sau khi đẩy nguyên ngụm rượu vào họng, rồi hắn đứng lên, dốc túi ra, đặt hết số tiền lên bàn. Tôi cũng bắt chước, làm y chang như Duyến.

– Đây, số tiền này chúng tôi tặng, giúp gánh hát ông. Với điều kiện, hôm nay ông sẽ đờn ca tài tử với chúng tôi cho vui. Chịu hông?

Chúng tôi tụ tập trên sân hát. Đào kép quây quần nhau, thành một vòng tròn. Viễn Khách ngồi trên ghế con, ôm cây guitar, bấm phím rao dây. Bóng dáng trầm tư của cô đào chánh Mộng Thu đập vào mắt tôi, mắt Duyến một mối thương cảm sâu đậm. Nàng duyên dáng nhất đoàn. Nhưng có lẽ phong sương cuộc đời đã vùi dập nàng đến tận cùng đau khổ, nên đôi mắt lá răm kia, lúc nào cũng ươn ướt lệ sầu. Dây rao vừa dứt, tiếng hát Mộng Thu cất lên cao vút, trong trẻo vang lên giữa đất trời Cồn Ốc, làm trái tim tôi rộn rã từng hồi. Tiếng hát tiếp tục thênh thang. Nó lướt nhanh trên những hàng cây, rồi chìm ngập trong sóng nước Hàm Luông, làm lận đận, lao đao từng cánh chim giang hồ. Ngón đàn Viễn Khách cũng tuyệt luân. Lúc bay bổng, lúc trầm sâu. Lúc ấm áp, lúc giá băng. Lúc chia ly, lúc sum họp.

Tiếng đàn tài tình của ông bầu và giọng hát thần sầu của đào chánh Mộng Thu, rốt cuộc, cũng quá vãng. Cồn Ốc bạc đãi họ. Chiến tranh hất tung họ khỏi sân khấu. Và đồng tiền của những tên lính trận như tôi và Duyến, nào phải là đồng tiền của đại gia, tha hồ rộng rãi. Ngày rã gánh, Mộng Thu nhìn tôi đắm đuối. Tôi nhất định, cắn môi quay sang chỗ khác. Bởi tôi biết, nếu không cứng rắn, chắc chắn tôi sẽ quỵ ngã, trước đôi mắt lá răm lãng mạn này.

Gánh hát Sông Xanh tan rã, buồn quá, tôi không muốn ghé qua Cồn Ốc nữa.  Ngày qua ngày, tôi và Duyến cứ loanh quanh trong câu lạc bộ căn cứ. Mượn cà phê và khói thuốc, khỏa lấp khoảng trống tâm hồn. Hoặc hai đứa rút vào phòng làm thơ, nghe chữ nghĩa thăng hoa đến thượng tầng ngôn ngữ. Hay tôi thẫn thờ trên các lối đi, phóng tầm mắt qua các vòng kẽm gai lạnh lùng, chỉ để đưa tâm sự về Tuyết, chỉ để nhớ từng góc phố, in dấu chân tình yêu. Rồi một ngày, Tuyết lặn lội đến thăm tôi. Nơi vùng hỏa tuyến hắt hiu này, hiếm có một tình nhân đến thăm một tình nhân? Tình yêu đã bắt cô gái nhu mì trở nên gan dạ? Tình yêu bất chấp chuyện tử sinh, vượt mọi rào cản cuộc đời? Chuyến đò khách vừa tách bến, tôi đã thấy chiếc áo bà ba của Tuyết phất phới trên cầu tàu. Cảm động quá, tôi chạy một mạch ra bờ sông, nhào tới ôm Tuyết, trong vòng tay vô tận thương yêu.

– Trời ơi! Sao em gan quá vậy? Dám mò vào đây để thăm anh?
– Lâu quá, anh không về. Em đi thăm anh chớ sao? Nói chuyện với anh một chút, em sẽ trở lại Mỹ Tho.

Tôi ngó ra Hàm Luông. Con nước êm đềm. Một dòng sông dáng vẻ hiền lành, nhưng thực chất, chứa đầy đe dọa. Những dề lục bình trôi nhẹ nhàng, biết đâu bên trong đang tàng trữ một quả mìn, sẵn sàng nổ tung khi chạm đúng mục tiêu. Chiến tranh không từ bỏ bất cứ điều gì. Kể cả tình yêu. Kể cả ân huệ.

– Làm sao có đò để em về? Chiều rồi, em không thấy sao?

Tuyết nắm chặt tay tôi.

– Thì em ở đây với anh, mai về.
– Trời ơi! Không được đâu. Tụi nó pháo kích vô, chết cả đám. Ở đây không có hầm trú ẩn, em à!

Tuyết ôm chầm tôi, âu yếm.

– Thì…tụi mình chết chung.

Tôi đưa hai tay lên trời, đầu hàng. Tình yêu đã làm em khờ khạo quá. Bất chấp  mạng sống. Bất chấp lẽ sinh tồn của một đời người. Nhưng, tôi là lính chiến. Tôi không thể xuôi tay, chấp nhận điều vô lý đó. Tôi đi lính là muốn bảo vệ em, bảo vệ đồng bào, bảo vệ tự do cho đất nước này.

– Đi. Anh đưa em về Mỹ Tho.

Tuyết tròn xoe đôi mắt, ngạc nhiên.

– Hả? Anh đưa em về? Bây giờ?

Trong tích tắc, tôi đã cởi quân phục, thay vào đó là bộ thường phục bèo nhèo. Tôi lên cò khẩu colt 45, rồi giắt nó trong lưng quần. Đợi hoàng hôn xuống dần, tôi dẫn Tuyết ra bờ sông, ngoắc một ghe thương hồ đang chạy tới, quá giang về bến phà Hàm Luông. Trước khi lên ghe, tôi nhã nhặn nói với người chủ.

– Vợ chồng chúng tôi muốn về Bến Tre gấp. Gia đình đang có chuyện buồn. Xin anh vui lòng thông cảm và giúp đỡ. Rất cám ơn anh.

Tôi trở về căn cứ hỏa lực Phước Long an toàn, sau vài ngày bên Tuyết ở Mỹ Tho. Duyến thay tôi trực phiên bơ phờ, nên nét mặt héo khô như một lá cải thiếu nước. Nhưng khi bạn cất lời, tôi mới biết Duyến buồn vì hai sĩ quan trong giang đoàn vừa mới ra đi.

– Thằng Viễn bị B40 ở kinh Giao Hòa. Xui xẻo, đạn trúng ngay Viễn, làm bạn mình bị văng xuống nước và mất tích. Chiến đỉnh ủi vào bờ, phát hiện hố bắn B40 của tụi nó nằm sát bờ kinh. Thế là, một trái lựu đạn quăng xuống, chôn xác quân thù.

Hình ảnh Viễn bỗng hiện ra trong tâm trí tôi. Người bạn với dáng dấp thư sinh. Mái tóc luôn bềnh bồng trước gió. Mới hôm nào đây, bạn tôi đã ẵm trọn trái tim của cô hàng sách Bến Tre. Có ngờ đâu, hôm nay, thân xác đã chìm xuống lòng nước, chưa biết trôi giạt phương nào?

– Còn thằng Tuấn mập? Hắn thế nào?
– Tuấn mập thì bị nó đánh mìn ở kinh Chợ Gạo. Chiếc Tango chìm lỉm. Tuấn theo tàu đi luôn.

Tôi đứng chết trân, ngó Duyến. Tôi muốn hét lên thật lớn, muốn kiếm rượu uống để quên đời, để nhớ tới những thằng bạn đã hy sinh. Đồng đội tôi lần lượt ngã xuống. Những vành khăn tang lần lượt quấn lên đầu dân tộc tôi. Chiến tranh bùng nổ khắp nơi. Địch quân có mặt mọi chỗ. Chúng hèn hạ bắn lén hoặc điên cuồng tấn công theo kiểu biển người. Chúng lao vào mục tiêu như những con thiêu thân khờ dại. Lớp trước gục xuống, lớp sau tiến lên, nối đuôi tiến lên. Chúng cố tình xâm lược miền nam. Nhất quyết bóp chết nền dân chủ miền nam.

Vài ngày sau, tôi và Duyến trở lại Đồng Tâm, thay thế Viễn và Tuấn mập. Tuy về bến cũ, gần Tuyết, nhưng vẫn thấy cách xa vời vợi. Tôi dẫn tàu đi kích và hành quân liên miên, không có thời gian ra quán cà phê, nhìn khói thuốc vờn bay quanh nhan sắc người tình. Địa bàn hoạt động là những dòng sông, con kinh tỉnh Bến Tre. Nơi, ngày trước, Viễn đã từng dẫm chân qua. Bây giờ, tới lượt tôi. Có nhiều lần, tôi ghé hàng sách chợ tỉnh, định nói cho cô gái biết, Viễn đã hy sinh. Nhưng cớ sao, tôi vẫn mãi e dè. Thôi, hãy để dòng đời trôi qua một cách êm đềm. Hãy để cô gái sống an lành, trong những giấc mơ đẹp.

Trở lại Kinh Giao Hòa mịt mù khói lửa. Nơi, Viễn đã nằm xuống, đã hòa thân xác vào nước, đất, đã noi gương tiền nhân giữ bờ cõi cho đến giây phút cuối cùng. Trở lại kinh Giao Hòa phối hợp hành quân với sư đoàn 7. Buổi sáng, chiến đỉnh chúng tôi đã có mặt ở An Hóa với nhiệm sở tác chiến 100/100, với nhiệm vụ chận đường rút lui của địch, thoát từ các con rạch nhỏ thông ra kinh Giao Hòa. Lệnh cấp trên ban ra, tập trung hỏa lực tối đa tiêu diệt địch tại chỗ, không có điều kiện để bắt từng tên. Sư đoàn 7 sẽ giăng hàng ngang tấn công vào mục tiêu, lùa giặc từ phía đông xuống. Buổi trưa, chúng tôi chong súng chờ trong im lặng. Và ở phía đông, súng đang nổ long trời, lửa đạn đang ngùn ngụt. Chẳng bao lâu, xuồng, ghe trong rạch bắt đầu túa ra. Tôi thấy lố nhố người trên đó. Tất cả đều lọt vào tầm hoạt động hiệu quả của các xạ thủ trên tàu. Chỉ cần lệnh của tôi phát ra, hàng trăm loạt đạn sẽ cất lên, tàn sát mục tiêu. Nhưng không, tôi chụp vội ống dòm, quan sát thật kỹ. Trời ơi! toàn là đàn bà, cụ già, con nít nheo nhóc trên xuồng. Họ là địch đây sao? Hay họ là thân nhân của địch? Hay họ là dân, tản cư vì chiến cuộc đang bùng nổ? Những câu hỏi liên tiếp đập vào đầu tôi. Rồi, mỗi câu hỏi, tự nó, đều không có câu trả lời. Lúng túng, tôi bóc ống điện đàm, gọi về bộ chỉ huy.

– A lô! Làm ơn trình bày với mặt Tango. Chuột đã xuất hiện đúng nơi, đúng lúc. Nhưng ngó kỹ, chỉ toàn chuột cái, chuột mới đẻ và chuột già. Tui nghi là phe ta, không dám oanh kích.

Tiếng ồ ồ phát ra từ phòng hành quân.

– Chuột đó, chơi xả láng đi Alpha.

Tôi bực dọc.

– A lô! Làm ơn hỏi lại Tango cho chắc ăn. Tôi chờ.

Vài phút sau, tiếng chỉ huy trưởng hét vang.

– Tại sao phải thắc mắc? Thấy chuột thì phải lẹ nhổ lông đi chứ! Trước khi đi, ông có đọc lệnh hành quân không?
– Dạ thưa, có. Nhưng, họ đông quá. Tôi nghi là dân tản cư. Họ không phải chuột.
– Ở trong vùng oanh kích tự do, sống trong mật khu vi-xi. Không là chuột, chớ là cái gì?

Tôi băn khoăn vài giây. Hình ảnh những em bé nheo nhóc vì binh lửa, bám cứng vào thị giác tôi.

– Họ chỉ toàn trẻ em, đàn bà với cụ già. Tango ơi!

Tiếng hét oang oang, bỗng dịu lại.

– Hả? Trẻ em, đàn bà với cụ già? Chờ chút, tôi sẽ hỏi ý kiến mặt trời.

Sau một lúc, tiếng nói lại oang oang.

– Tôi sẽ gọi một sĩ quan khác ra thay ông. Về đây, trình diện Tư Lệnh nhé!

Sau trận đó, tôi bị “tống” vô Mộc Hóa, theo một phân nhánh tác chiến của giang đoàn ngăn chận. Tôi lại xa Tuyết. Xa quán Xuân Mai có nhiều kỷ niệm. Xa Đồng Tâm thân yêu, mỗi sáng mỗi chiều, ngồi gõ nhịp bên cốc cà phê đong đầy dòng nhạc Trịnh Công Sơn. Xa tất cả để về Mộc Hóa. Một tỉnh lỵ tân lập, hoang sơ, nhỏ bé như cái mu rùa. Trèo lên tuột xuống, chỉ lòng vòng vài con đường đầy bụi và ổ gà, là hết. Phố xá nghèo nàn. Chợ búa chật chội. Mùa nước nổi, người ta phải chống xuồng ra quán, uống cà phê. Sông Vàm Cỏ Tây sát chợ. Lúc nào cũng trong xanh, có thể thấy cả đàn cá lội lờ đờ. Nhưng nước quanh năm nhiễm phèn, vị chua như nước chanh. Chiến tranh đe dọa nơi đây. Biến mảnh đất quê mùa thành mảnh đất đầy hố bom, lỗ đạn.

Chúng tôi tá túc trong một trại của giang thuyền. Túm năm tụm ba như gánh cải lương. Buổi tối, chở địa phương quân đi kích ở những nơi hiểm yếu. Hoặc áng ngữ  dọc theo bờ, canh chừng, không cho kẻ thù băng sông. Đôi khi, tôi cũng về Tuyên Nhơn, phối hợp với giang đoàn tuần thám, tham dự các cuộc hành quân lớn cùng bộ binh.Trong khi tôi về Mộc Hóa như một tên lính bị đày, thì Duyến ở lại Đồng Tâm, leo lên chức nội vụ. Mừng cho Duyến, nhưng lại tủi cho thân phận mình. Ở đây, quá quạnh hiu. Không Duyến, không Tuyết, tôi cảm thấy cô đơn ngút ngàn. Lúc nhàn rỗi, chỉ biết mượn rượu giải sầu. Túi thơ, hầu như đã bị binh lửa trút sạch. Thê lương và chết chóc như một ngọn lửa tàn khốc, thiêu rụi ngôn từ. Tôi tự đóng thập giá cho mình, giải tội cho bầy thơ đang mang bản án bởi chiến tranh xâm lược.

Rồi cũng có một hôm, Tuyết mò đến thăm tôi. Tuyết thăm tôi vào buổi trưa mưa lầy lội. Chiếc xe đò từ Mỹ Tho đến Mộc Hóa khó khăn. Khi vượt qua tiểu lộ gập ghềnh đá cục và lải rải mìn bẩy hai bên vệ đường. Tuyết gặp tôi bình an, là một phước hạnh cho tình yêu chúng tôi. Buổi chiều xuống nhanh. Mưa vẫn lất phất trên con phố đìu hiu này. Mưa vùi bụi đỏ xuống đất, bện chặt chúng vào nhau, tạo thành lớp bùn nhão như keo. Dù mưa gió não nề, tôi không thể để Tuyết trong cái trại giang thuyền hỗn tạp này được, tôi phải ra phố mướn khách sạn cho nàng, trước khi lên tàu đi kích đêm nay. Tôi che dù dẫn Tuyết ra mưa, đạp trên lớp bùn nhão, đi tới.

Mộc Hóa chỉ có một khách sạn duy nhất. Lính tráng ở đây gọi là khách sạn ổ chuột. Vì nó là một ngôi nhà cũ kỹ, tồi tàn, thường bị mấy ông lính bộ binh say rượu đến đây quậy phá, tìm điếm. Chẳng trách được. Vì họ từ chiến trường, từ cõi chết trở về. Chỉ muốn mua vui ở thành phố vài giờ phù du, để rồi trở lại cái nghiệp binh lửa khốn khổ của họ. Đêm đó, người chủ khách sạn phải đưa Tuyết trốn trong ngôi chùa bên cạnh, tránh sự quấy rối của mấy ông thần lưu linh, bất chợt, xuất hiện.

Một thời gian sau, động lòng trước tình yêu chân thật của Tuyết, tôi đưa nàng về Cà Mau ra mắt má tôi. Thế là, hai đứa thành vợ chồng, trước khi tôi nhận giấy thuyên chuyển về hải đội 4 duyên phòng.

PHẠM HỒNG ÂN

http://navygermany.gerussa.com/