Contact

Những kí ức về thời chiến của cha

By Giselle Au-Nhien Nguyen
Source: SBS Life

Writer Gise
“Khi nghe kể lại những câu chuyện đó, tôi thực sự cảm thấy tồi tệ và kinh khủng bởi mức độ nặng nề của chúng. Thế nhưng một phần nào đó tôi lại dần thấu hiểu và cảm thông sâu sắc hơn cũng như biết ơn chính người đàn ông mà tôi từng nghĩ mình hiểu rất rõ, có lẽ tôi chỉ thực sự hiểu một phần rất nhỏ mà thôi.”

Có những sự thật mà tôi luôn được nghe:

Cha mẹ tôi là những người tị nạn đến đất Úc bằng thuyền.

Cha tôi là bác sĩ quân y.

Họ đã tìm đến đất nước tự do này để gầy dựng lại cuộc sống với hai bàn tay trắng, họ đã làm lụng vô cùng vất vả để tạo dựng tương lai cho chị em chúng tôi.

Khi còn nhỏ, tôi cảm thấy khó có thể chấp nhận được những sự thật trên khi đem so sánh với cuộc sống yên bình và thoải mái hiện tại. Khi lớn lên, chúng tôi chẳng thiếu thốn gì và cũng chẳng mong muốn gì thêm: chúng tôi sống trong một căn hộ khá to có hồ bơi, chúng tôi tổ chức không ít buổi tiệc sinh nhật, và nuôi cả một chú chó. Tôi cảm thấy mình chẳng có chút khác biệt nào so với bạn bè cùng trường.

Tôi chỉ hiểu biết về cha mẹ mình ở mức độ cơ bản vì họ hiện diện ngay trước mắt, thế nên dù có biết được những sự thật trên, tôi vẫn có cảm giác đó là những câu chuyện của người dưng nào đó chứ chẳng phải cha mẹ mình.

Họ từng kể cho chúng tôi nghe về quá khứ của họ, thế nhưng đó chỉ là những mảnh kí ức đứt quãng.

Chúng tôi đã nghe câu chuyện về chú chó đã chết trong chiến tranh, về mối quan hệ giữa anh chị em ruột của mẹ tôi khi còn ở Sài Gòn, về những cuộc tấn công trên biển bởi các ngư dân xa lạ khi họ vượt biên bằng thuyền ròng rã 10 ngày trời. Chúng tôi nghe kể về những ngày đầu tiên khi họ đặt chân lên đất Úc, những cú sốc văn hoá buổi ban đầu. Họ kể về những ước mơ, những khao khát về việc được một lần thấy lại căn nhà cũ ở quê hương, nhưng có lẽ sẽ chẳng bao giờ làm được.

Mỗi một lúc tôi lớn dần lên, tôi cảm nhận được sự cồn cào trong chính mình khi muốn tìm hiểu toàn bộ sự thật.

Tôi thích nghe những câu chuyện đó cho dù nó đã ảm màu thời gian. Tôi hạnh phúc khi mình biết vừa đủ để biết ơn sự hi sinh của cha mẹ dành cho chúng tôi. Tôi tự hào vì mình biết nhiều hơn so với những đứa trẻ cùng là thế hệ thứ hai như tôi, và tự hào rằng gia đình tôi vẫn giữ được truyền thống của người Việt, tôi những tưởng mình biết thế đã là đủ.

Tien Manh Nguyen around 1974.

Tien Manh Nguyen around 1974.

 

Mỗi một lúc tôi lớn dần lên, tôi cảm nhận được sự cồn cào trong chính mình khi muốn tìm hiểu toàn bộ sự thật. Hồi mười mấy tuổi, tôi từng có ước muốn sẽ viết một cuốn sách về cha mẹ tôi, và trong suốt năm qua, tôi đã liên tục phỏng vấn họ để tìm hiểu những điều đã xảy ra – về thời thơ ấu của họ, về cuộc chiến mà một người là thường dân, một người là lính, các trại tập trung, vượt biển bằng thuyền, ánh sáng ở cuối con đường thiêng liêng, đánh dấu một sự khoải đầu mới – và tôi bắt đầu liên kết các mẩu chuyện lại với nhau.

Đó là quá trình của nỗ lực để đối mặt với quá khứ, cũng như là quá trình chữa lành những vết thương. Cha tôi đã tiết lộ những kí ức thời chiến mà ngay cả chính mẹ tôi, ông cũng chưa từng kể cho bà nghe, thế nên tôi không phải là người duy nhất lần đầu tiên được biết những câu chuyện này. ‘Chẳng có ai hỏi cả, nên cha chẳng kể ra’, ông nói.

Những câu chuyện đó khiến tôi buồn nôn và cảm thấy vô cùng kinh khủng bởi mức độ dã man của chúng, thế nhưng cũng thông qua chính những câu chuyện đó mà tôi đã hiểu hơn cũng cảm thấy biết ơn vô cùng, chính người đàn ông tôi những tưởng đã biết rõ bấy lâu nay, có lẽ tôi chỉ biết một phần rất nhỏ mà thôi.

Ông là một người thẳng thắn và kiệm lời, ông ít khi biểu lộ cảm xúc của mình trừ khi tất cả những cảm xúc đó có dịp bộc phát. Nhưng ông nói ông sẽ kể tôi nghe mọi điều, chỉ khi tôi hỏi ông.

Cuộc sống hiện tại của tôi gắn liền với tất cả những trải nghiệm và nghịch cảnh của cha mẹ tôi trong thời chiến

Đôi khi khoảng cách giữa các cuộc phỏng vấn có thể mất lên đến vài tháng, vậy mà tôi vẫn thấy mình điên cuồng trong tất cả những cảm xúc, tôi cảm thấy quá tàn nhẫn khi để ông bà phải nhắc lại những điều này, nhưng nếu không nhắc lại thì nó cũng tàn nhẫn tương tự mà thôi, và thời gian chúng tôi có khá hạn chế.

Tôi muốn biết tất cả những điều về cha mẹ mình. Tôi muốn tìm thấy những thứ mà ông bà cất giấu, những sự thật tồi tệ hay những kí ức đẹp đã luôn hiện diện trong chính sự sống của chúng tôi, nhưng chẳng bao giờ chúng tôi nhận ra. Sẽ chẳng còn có ý nghĩa gì nếu tôi phải tiếp tục sống cuộc đời mình mà chẳng hề biết điều gì đã làm nên chính nó – giống như cái cách mà chúng ta thường cho rằng mọi thứ hiển nhiên nó phải như vậy.

Lắng nghe những câu chuyện đã cũ đó và kể chúng lại bằng chính ngôn từ của tôi cũng là một cách để tôi hiểu và trân trọng cha mẹ mình. Tôi nhắm mắt và mườn tượng lại từng cảnh một tại mảnh đất mà tôi chưa bao giờ đặt chân đến nhưng luôn nung nấu một lần được tận mắt thấy. Tôi tự hỏi liệu tôi có được biết những câu chuyện này nếu tôi không thực sự tiến hành dự án sách của mình, hay tất cả những quá khứ đó sẽ đi theo cha mẹ tôi xuống suối vàng khi họ trăm tuổi.

Vẫn còn quá nhiều điều tôi vẫn chưa chạm đến được, nó làm tôi vừa cảm thấy sợ hãi nhưng cùng lúc lại phấn khích để tìm hiểu. Cuộc sống hiện tại của tôi gắn liền với tất cả những trải nghiệm và nghịch cảnh của cha mẹ tôi trong thời chiến, và tôi nhận thấy trách nhiệm phải tìm hiểu và tập hợp những câu chuyện trong lịch sử, vừa mang tính cá nhân vừa mang tính chính trị.

Có những điều, những phần mà chi tiết của chúng quá mật thiết nên tôi xin phép sẽ giữ cho riêng chúng tôi, và những phần còn lại tôi mong muốn có thể kể ra để những ai quan tâm sẽ biết được.

Trong câu chuyện của gia đình tôi, chứa đựng cả những sự thật của những di dân trên toàn thế giới, trong quá khứ và cả hiện tại. Bảo tồn câu chuyện này là cách mà tôi trả nợ cho chính sự tồn tại của mình.

Đó là cách mà tôi nói cảm ơn.

Bài viết của Giselle Nguyễn trên SBS Life.

https://www.sbs.com.au/yourlanguage/vietnamese/vi/article/2018/07/20/nhung-ki-uc-ve-thoi-chien-cua-cha?language=vi

Advertisements

Bình Thủy 1969

Trần Mộng Tú
Buổi tối của một ngày đầu tháng 8 năm 1969, khi tôi đang ngồi xem những tấm ảnh mầu đám cưới gửi từ Mỹ về, xắp xếp để làm một cuốn album, thì nghe tiếng chuông cửa. Tôi ra mở cửa, hết sức ngạc nhiên khi thấy Carl và anh Huân là hai người ở Sở trước mặt. Anh Huân làm phòng tối, phụ trách về rửa phim, in hình và Carl vừa là phóng viên vừa là nhiếp ảnh viên. Cả hai người này chẳng bao giờ đến nhà tôi vào giờ này, càng chắc chắn là không phải gọi tôi đi làm. Tôi lúc đó làm thư ký cho hãng Thông Tấn The Associated Press, công việc của tôi là lo tất cả những việc linh tinh cho hãng: Từ phát lương cho nhân viên, giữ sổ chi thu, mua bán hình ảnh, thư ký cho ông chánh văn phòng, đi nghe họp báo bỏ túi, v.v. Những việc này không bao giờ phải làm cuối tuần, cũng như không bao giờ làm ca đêm.Cả hai người bước vào buồng khách, cả hai nhìn tôi, rồi cả hai nhìn nhau, không ai muốn là mình nói trước. Tôi linh tính có điều không tốt, nhưng không hiểu chuyện gì. Cuối cùng Carl nói:“Sở nhận được điện thoại từ Rạch Giá gọi về chiều nay, nói là Cung, chồng của cô đã tử trận.”

Tôi đứng ngẩn người, nhìn lại cả hai, không nói được tiếng nào, Carl nói tiếp:

“Suốt từ chiều, chúng tôi liên lạc được với Rạch Giá (Kiên Giang), xác định tin rõ ràng, có gọi điện thoại nói chuyện với bà giám thị của đại học xá Trần Quý Cáp, mẹ Cung, cụ cũng nhận được tin rồi.”

Tôi ngồi xuống hai gót chân mình, không nghe được gì tiếp, ngoài tiếng xôn xao của cha, mẹ và gia đình.

Chúng tôi mới cưới nhau sau lễ Phục Sinh vào tháng Tư, Cung tử trận 30 tháng 7, năm 1969. Cung không phải là quân nhân chính gốc, anh tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, ban Pháp Văn và đã đi dậy được 1 năm, anh bị gọi trong chương trình Tổng Động Viên. Khi nhận giấy báo phải nhập ngũ, anh đến xin cha mẹ tôi cho làm hôn thú, vì sợ sau này sẽ khó khăn khi ở quân đội. Trên giấy tờ, tôi có chồng từ tháng 6-1968. Lúc làm đám hỏi chú rể tương lai không có mặt (đang đóng ở chi-khu Trà Bồng) chỉ có mẹ chồng mang trầu cau sang. Nghĩ cũng tủi thân, nhưng thời chiến mà, làm sao được.

Sau đám cưới, Cung về đơn vị, tôi vẫn ở nhà với cha mẹ, đợi Cung được biệt phái về dậy học lại, (Bộ Giáo Dục hứa sẽ cho các giáo chức được về vào tháng 10/1969) rồi sẽ ra ở riêng.

Chiếc máy bay vận tải Mỹ đáp xuống phi trường Bình Thủy, Cần Thơ. Người phi công phụ quay xuống nói với anh trai của Cung và tôi, đang ngồi cạnh chiếc quan tài.

“Chúng tôi rất tiếc là phải thả hai người và quan tài xuống đây, vì đây là máy bay quân đội Mỹ chở dầu, chúng tôi chỉ đi tới Cần Thơ chứ không về đến Sàigòn.”

Đuôi máy bay mở ra, một chiếc forklift tiến đến trục quan tài ra khỏi máy bay để giữa lòng phi đạo. Anh chồng tôi dặn:

“Em đứng đây, anh vào gặp ông xếp của phi trường này may ra được giúp đỡ.”

Buổi trưa tháng Tám, mặt trời tóe những chùm nắng rát bỏng, chói chang trên sân bay, cái sân bay rộng lớn chổng chơ một chiếc áo quan có phủ sộc sệch lá quốc kỳ, mấy giọt nến đóng thành mảng khô cứng trắng đục trên màu vàng của lá cờ, một vài chiếc lá quăn queo sót lại của vòng hoa chiều qua còn dính ở đó. Tôi tự thấy mình bé nhỏ, mỏng manh trong chiếc áo dài màu xanh nhạt, áo nhầu nát, tóc bơ phờ, mặt ngơ ngác đứng nhìn chung quanh mình. Cái sân bay trông sao mông mênh thế mà cái áo quan thì bé tí, tôi đứng bên cạnh trông lại càng bé hơn. Sân bay không một bóng người, vài ba chiếc máy bay quân sự đậu rải rác bên cạnh những phuy dầu chưa kịp xếp vào kho. Hình như đã có mùi hôi bốc ra từ áo quan, tôi đứng lui ra một tí nữa, xoa tay lên ngực, thấy mình nghẹn thở, ngực nặng và đau buốt, đau thấu xuống tận bụng, tôi muốn ngất đi.

Hai ngày, một đêm ở Kiên Giang đã làm tôi đuối sức. Tôi có làm gì đâu. Tôi chỉ không ăn, không ngủ, không khóc, không cả vệ sinh. Chắc trong người tôi không còn nước. Bà mẹ chồng một bên, ông anh chồng một bên, họ đổ sữa ông Thọ cho tôi. Bà mẹ chồng tôi thật giỏi, bà có kinh nghiệm với chiến tranh, kinh nghiệm với chết chóc, nên đi đón xác con mà bà còn nhớ đem theo hộp sữa ông Thọ cho cô con dâu tiểu thư, cô con dâu còn mới như vuông lụa chưa thêu.

“Con uống đi. Con mà gục xuống đây nữa thì mẹ biết nói làm sao với cha mẹ con.”

Tôi không uống được, cái mùi tử khí trưa nay của mấy chục cái xác xếp chất lớp trước cửa nhà xác vẫn ràn rụa trong thân thể tôi. Nó phủ chụp từ đỉnh đầu xuống hai bàn chân, khi tôi len lỏi bước qua những xác lính bên ngoài để vào bên trong chỗ người ta để xác sĩ quan. Tôi đã phải bước qua từng cái túi có bọc thây người ở trong, có cái thòi hai bàn chân còn nguyên đôi giày saut ra một đầu, có cái thì lòi ra ở đầu kia một đỉnh tóc bết đất, có cái thòi nguyên một khuôn mặt tái mét vàng khè có mấy con ruồi đậu trên đôi mắt chưa khép kín hẳn. Tôi đi theo bàn tay dắt của người anh chồng, xúc động và kinh hoàng đã làm tôi không còn cảm giác nữa. Không biết tôi có dẫm phải ai không. Tôi cố gắng không dẫm lên những người đàn ông nằm đây. Vào được đến bên trong thì tôi có nhìn thấy gì đâu. Tôi chỉ nghe tiếng bật khóc của mẹ chồng, tiếng anh chồng bảo “Đúng là Cung rồi.”

Tôi thấy hình như tôi được bế lên, được đặt ngồi xuống một cái bậc thềm, gió ở sông thổi vào mặt tôi, giúp tôi tỉnh lại, tôi mở mắt ra, nhìn xuống. Tôi thấy một giòng nước đục chẩy lờ đờ bên dưới. Thì ra nhà xác của bệnh viện Kiên Giang nằm sát cạnh bờ sông. Tôi không dám nhìn vào những người đàn bà đang đi lật từng cái poncho quấn thây người để tìm chồng, tìm con họ trước cửa nhà xác. Tôi thấy tôi còn may mắn hơn họ.

Người ta đem xác Cung về trại gia binh tiểu khu để làm lễ. Tôi được bầy đứng cạnh áo quan cho ông Phó Tỉnh Trưởng đọc diễn văn, trong khi ông đọc thì tôi đứng nhìn mấy cây nến chẩy, nhìn vòng hoa đã bắt đầu héo, có cả chén cơm đã khô và quả trứng luộc có mấy con ruồi bay lên bay xuống, tàn nhang rơi phủ đầy trên đó. Ông Phó Tỉnh đọc diễn văn xong, hấp tấp ra về. Chắc ông hơi thất vọng vì không thấy tôi khóc để có dịp nói lời an ủi. Mấy người vợ lính trong trại gia binh, chạy sang thăm hỏi, mấy đứa nhỏ con lính chạy loanh quanh áo quan với mấy con chó gầy trơ xương, trụi cả lông, cái áo chúng mặc ngắn cũn, bụng ỏng ra ngoài, mũi thò lò cũng chẳng chùi. Chúng tròn mắt nhìn mấy người Sài Gòn, mặt mũi có vẻ khang khác với nhưng người trong trại lính này. Có người cũng từ xa đến chưa tìm ra xác chồng, xác con đến hỏi han bà mẹ chồng tôi với con mắt nặng trĩu và gương mặt thất thần.

Tôi đứng đó lơ mơ nghe lao xao những tiếng nói chồng lên nhau, mỗi người kể một cách, giống như ở nhà tôi mỗi khi đi xem một cuốn phim về, chị em tôi vẫn thường tranh nhau nói như thế. Hình như họ nói về trận đánh ngay ở xã Vĩnh Thanh Vân. Xã này, tôi không biết ở đâu nhưng chắc là rất gần. Họ nói đánh ba bốn hôm rồi, và vẫn còn đánh nên xác không kéo ra hết được, phải ngồi chờ thôi. Cứ ngồi chờ thế nào cũng gặp, họ bảo nhau.

“Không thấy người thì thấy xác. Thế nào cũng gặp mà!”

Người anh chồng thì thỉnh thoảng lại biến mất, không biết đi đâu, chắc là đi tìm cách đưa mọi người về nhà. Tôi thấy trong những người đi nhận xác chỉ có 3 người trong gia đình này ít khóc nhất. Bà mẹ chồng tôi thì vừa mếu máo vừa lo xin nước sôi pha sữa cho con dâu uống. Con bé này vốn đã gầy, hai hôm rồi nó chẳng ăn, chẳng nói gì làm bà phát hoảng, giá nó cứ khóc sướt mướt như mấy người vợ lính đang khóc ngoài kia thì bà lại đỡ lo. Không biết còn kẹt ở đây đến bao giờ? Bằng vốn liếng tiếng Pháp bà nói chuyện với một ông sĩ quan Mỹ cho bà quá giang máy bay quân sự về Sàigòn, rồi bà sẽ thuê máy bay dân sự xuống đây đón mấy đứa con. Bà giỏi lắm. Mấy chục năm trước, còn trẻ măng mà bà đã một mình thuê đò ở Nam Định đi tìm chồng. Chồng bà đang đêm được Việt Minh đập cửa mời đi, rồi cả tháng không thấy về. Ông được mời vì lúc đó ông có một ngôi trường nhỏ dậy học tiếng Pháp ở Nam Định. Bà đi đò, đi bộ cả bao nhiêu cây số, đến tận chỗ không ai dám bén mảng đến hỏi tin tức chồng. Họ bảo về đi, bắn chết rồi. Bà lại thuê đò về, tính ngày đi của chồng dùng làm ngày giỗ vì bà không biết ông bị xử bắn vào hôm nào. Mấy hôm sau bà bỏ nhà ở Nam Định, dắt ba thằng bé, đứa lớn nhất chưa quá 10 tuổi tìm đường ra Hà Nội. Đi làm, nuôi con ăn học. Rồi lại dắt con di cư vào Nam. Ai làm được gì thì bà cũng làm được như vậy. Bà cũng khóc chứ. Nhưng nước mắt thì vốn chóng khô vì nó không chảy hết ra một lúc, nó chảy rỉ rả ít một. Chảy suốt một đời. Cô con dâu bà mới cưới được có ba tháng, còn trẻ lắm, lại chưa có con, đi đón xác chồng lại có mẹ chồng, anh chồng bên cạnh. So với bà cô còn may mắn chán.

Mà đúng thật, bà mẹ chồng tháo vát của tôi số khổ hơn con dâu. Bà xin lên được máy bay về trước các con một hôm thì cũng bị thả xuống phi trường Bình Thủy đêm hôm đó, máy bay không về đến Sài Gòn. Một cơn mưa tháng Tám bất chợt ập xuống làm bà ướt sũng, thất thểu tìm một nhà thờ vào xin ngủ qua đêm, bà không cần khóc nữa, trời đất khóc hộ bà rồi. Sáng hôm sau bà đi xe đò về Sàigòn. Trong khi đó thì các con của bà: Con sống, con chết cũng bị thả xuống chỗ mẹ ngày hôm qua, nhưng không phải buổi tối mưa sũng nước mà một buổi trưa đầy nắng.

Cuối cùng thì cũng đưa được quan tài về Sài Gòn. Khi xuống đến phi trường Tân Sơn Nhất thì cả người và cảnh trông thật bắt mắt. Nếu có cần quay một cảnh phim cho chiến tranh thì hay quá. Cái quan tài cũng không cần phải trang trí cho ra vẻ tang thương hơn nữa. Lá cờ phủ trên nó nhầu nát, xộc xệch, cô đơn, đã đủ vẻ tang thương. Hai nhân vật thất thểu xác sơ đứng cạnh không cần phải hóa trang hay diễn xuất, họ đi đứng như người mất hồn, ngơ ngác, thất lạc, rơi ra từng mảnh như những người lính vừa bại trận trở về. Cứ dựng máy quay phim lên, quay họ như thế vào phim cũng tuyệt lắm rồi.

Sau này tôi nghĩ lại vẫn tự hỏi. Tại sao lúc đó mà mình tỉnh khô như vậy, sao mình không phát rồ, phát điên, không đập đầu vào tường?

Cả trăm câu hỏi cứ chạy lung tung trong đầu tôi bao nhiêu năm trời.

Một chiếc xe nhà binh đón chở áo quan từ phi trường đến nhà xác bệnh viện Grall. Đã bảo bà mẹ chồng tôi là người tháo vát mà! Bà còn xin được miếng đất chôn Cung trong Mạc Đĩnh Chi để bà thăm viếng cho tiện, chứ lên tận Nghĩa Trang Quân Đội thì làm sao bà có thể đi thăm thường xuyên được.

Họ cho Cung đi qua nhà, dừng lại cho Cung nhìn chỗ mình đã sống, đã lớn lên một lần chót. Chẳng biết ai là người nghĩ ra cái tục không được chết ở nhà thì phải ghé qua nhà trước khi ra đi hẳn mà hay thế! Tôi thấy những người lân cận và một vài người họ hàng đã đứng chờ sẵn trước cửa nhà. Ho nhìn tôi, nhìn quan tài như xem phim chiếu chậm, họ quen quá rồi cái cảnh này những năm gần đây. Tôi còn trẻ quá, họ nghĩ. Thế nào rồi cũng quên đi, cũng lại lấy chồng, chỉ tội cho bà mẹ anh ta.

Họ nghĩ cũng chẳng sai mấy. Khi tôi bị đẩy ra khỏi nước, gia đình chồng cũng bỏ đi, chỉ có Cung là người ở lại. Cung cũng chẳng khác gì những người còn sống, cũng bị đuổi nhà, bị chiếm đoạt tài sản. Người anh họ ở lại tìm cho anh một nơi cư ngụ mới trong nhà thờ Tân Định.

Tôi trôi mãi rồi cũng phải giạt vào một chỗ. Bảy năm sau tôi lấy chồng, sanh con, tôi sống bình thường như tất cả mọi người đàn bà khác trên một đất nước không có chiến tranh. Tôi cũng vui, cũng buồn với những thăng trầm của đời sống. Ở đời sống hàng ngày, tôi quên dần cái bất hạnh của tôi mấy mươi năm về trước. Nhưng tôi nhớ rất rõ ràng là cái bất hạnh đó nó có hiện diện trong kiếp người của mình. Thỉnh thoảng Cung vẫn về trong giấc mơ, dù suốt ngày hôm trước tôi không hề nghĩ đến. Cung về như còn sống hay về như đã chết thì khi tỉnh dậy, nước mắt tôi vẫn lặng lẽ trào ra trên gối. Tôi cố gắng không làm giao động người nằm bên cạnh đang ngon giấc. Buổi sáng, thức dậy, tôi thay áo gối, rồi lại thản nhiên bước vào đời sống trước mặt: Giặt giũ cho chồng, cơm bánh cho con.

Thời gian cứ thản nhiên trôi, buồn và vui đầy ắp hai tay. Ngày trắng tóc rồi cũng đến.

*

Lần đầu tiên về thăm lại Việt Nam năm 1998, sau 23 năm, tôi đi tìm Cung ở nhà thờ Tân Định.

Tôi đi len lỏi giữa những dẫy kệ, đọc từng cái tên, đi đến vần “T” là họ của Cung. Tôi nhìn thấy một cái hộc nhỏ, không có hình chỉ có ghi Họ, tên, ngày sinh, ngày mất. Tôi đứng lặng người, run rẩy chạm những ngón tay mình lên mặt chữ. Cái cảm giác chạm tay vào đầu áo quan của năm 1969 bỗng hiện ra dưới những ngón tay tôi. Một tiếng nấc đưa lên thanh quản, vỡ òa ra, tôi khóc như chưa bao giờ được khóc. Nước mắt của bao nhiêu năm tụ lại một ngày, nước mắt của những ngày đi đón xác ở Kiên Giang khô lại bây giờ nứt ra như một mạch ngầm của suối bật lên trên mặt đất nứt nẻ. Tôi khuỵu chân ngồi xuống giữa lối đi của hai hàng kệ, khóc như chưa bao giờ được khóc.

Chung quanh tôi vắng lặng. Tôi trầm mình vào nước mắt, vào bất hạnh, vào nỗi cô độc của mình. Cái hộc nhỏ đựng tro than bên trên đầu tôi vẫn thản nhiên, im lìm nhìn như trước khi tôi đến.

Trần Mộng Tú

Bình Thuỷ, 30-07-1969
Tân Định, tháng 11-1998

Cô gái quá giang trong đêm mồng một tết

Phạm Tín An Ninh  

https://i1.wp.com/phamtinanninh.com/wp-content/uploads/2012/07/toc-bay-238x300.jpg

Chiếc thuyền nhỏ mang theo hơn năm mươi người, một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của Nauy trên đường từ Nhật sang Singapore cứu vớt. Hai ngày sống trên tàu chúng tôi có cảm giác như đang ở trên một thiên đàng. Tất cả đều được tận tình hỏi han chăm sóc. Chúng tôi cảm thấy vừa mừng vừa xót xa khi nhận ra thế gian này vẫn còn có đầy ấp tình người. Họ là những kẻ xa lạ, không cùng màu da, màu tóc, không cùng ngôn ngữ, mà lòng thông cảm yêu thương họ đã dành cho chúng tôi lớn lao biết đến dường nào. Trong lúc những “người anh em” cùng một nhà thì lại hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng để phải đành lòng bỏ nước mà đi. Với ân tình đó chúng tôi chọn Vương quốc Nauy là quê hương thứ hai để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.

Sau gần một năm ở trại tị nạn, gia đình chúng tôi được đi định cư. Khi bầu đoàn thê tử như một bầy nai vàng ngơ ngác bước xuống phi trường Oslo, được nhiều người đón tiếp, trong đó lại có cả mấy ông nhà báo và đài truyền hình nhà nước phỏng vấn, quay phim. Gốc nhà quê, nên tôi cũng chẳng biết họ quay phim để làm cái gì. Trước khi về nhà, chúng tôi còn được mời vào một nhà hàng Tàu, và tha hồ gọi bất cứ thức ăn nào mình thích.

Đến khi bước vào ngôi nhà, được bà trưởng phòng xã hội trao cho một chùm chìa khóa, dẫn đi một vòng xem phòng ốc đã được trang trí xong nội thất, cái bếp và cả cái tủ lạnh có sẵn đầy đủ thức ăn nước uống, một cái TV màu. Mọi thứ đều mới tinh. Sáu đứa con và hai đứa cháu họ của tôi thì ngồi mân mê mấy cái bàn học, và mấy cái ba lô có đầy đủ sách vở trong đó. Trước khi ra về bà giới thiệu chúng tôi một cô nhân viên của bà, và một cô giáo ở lại hướng dẫn chúng tôi xử dụng mọi thứ tiện nghi trong nhà, và mỗi ngày sẽ đến đưa gia đình chúng tôi đi mua sắm, khám bệnh, làm răng, còn cô giáo thì đặc trách lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ. Khi tất cả ra về, tôi nằm dài dưới sàn nhà và chợt khám phá ra rằng mình quả là may mắn được đến định cư ở một nước Bắc Âu xa lạ nhưng thơ mộng và có quá rộng tấm lòng này, mà lúc xuống biển ra đi chắc chẳng có ai bao giờ nghĩ tới.

Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Nauy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Nauy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu châu, và đã can đảm dắt theo sáu đứa con và hai đứa cháu nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ, ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.

Cũng vì cái chương trình phóng sự bất ngờ này, mà sau đó, mỗi ngày gia đình chúng tôi phải tiếp nhiều người khách không mời, và nhận đủ thứ quà. Trong số đó, đặc biệt có một người đàn bà Việt Nam, mà lúc bà mới bước vào nhà, chúng tôi cứ tưởng là người Nhật, hay là người Tàu gì đó, khi nhìn thấy cái vẻ quí phái đặc biệt của bà. Tôi nghĩ có lẽ không có người Việt Nam nào sống ở cái xứ Bắc Âu xa lạ này từ lâu để có được nét đẹp của một người con gái đông phương pha lẫn âu tây ở cái tuổi còn trẻ như bà. Sau đó tôi bất ngờ thú vị khi bà tự giới thiệu tên là Huyền-Trân Thomassen, hiện là giảng sư môn nhân chủng xã hội học tại trường đại học Oslo, chồng bà là người Nauy, hiện đang làm đại sứ tại Mexico. Bà không muốn bỏ nghề bà yêu thích, hơn nữa bà vẫn còn tiếp tục nghiên cứu về ngành này, nên không theo chồng mà ở lại Nauy với hai đứa con. Lúc nhỏ bà theo cha sang sống ở Thụy Sĩ, khi cha bà là đại sứ của VNCH tại đó. Người chồng của bà, cũng thuộc một gia đình có truyền thống ngoại giao. Cha của ông cũng một thời là đại sứ của Nauy tại Thụy Sĩ. Hai người con của hai ông đại sứ quen nhau từ khi học chung một trường trung học và làm đám cưới sau khi tốt nghiệp đại học tại thủ đô Bern, một năm trước khi miền Nam Việt Nam thất thủ.

Tôi rất ngưỡng mộ người đàn bà trẻ này. Rời Việt nam từ lúc 12 tuổi, nhưng bà nói tiếng Việt rất lưu loát, hiểu biết rất nhiều về văn học Việt nam, từ truyện Kiều của Nguyễn Du, đến bài thơ Hai Sắc Hoa TyGôn của TTKH. Điều đặc biệt hơn hết là bà rất quí mến và giúp đỡ tận tình người đồng hương. Gia đình tôi cũng mang nặng khá nhiều ơn nghĩa của bà.

Những ngày sống hạnh phúc ở quê người, nhìn con cái ngày một lớn lên và đang có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt, lúc nào tôi cũng chạnh lòng nhớ lại cái thời mình khốn khó và những bạn bè xưa. Tôi thấy mình nợ nần nhiều người mà không biết làm sao trả được. Trong số này, người mà tôi thường nghĩ tới nhiều nhất và ân hận chẳng giúp được điều gì là Nguyễn Thượng Tâm, người đồng đội và cũng là đứa em kết nghĩa của tôi.

* * *

Tâm ra trường sau tết Mậu Thân. Về trình diện đơn vị tôi khi vừa tròn 18 tuổi. Mặc dù còn rất trẻ, nhưng được đào tạo từ lúc còn nhỏ tại trường Thiếu Sinh Quân nổi tiếng ở Vũng Tàu nên Tâm là một hạ sĩ quan gương mẫu trong kỷ luật và gan dạ trong chiến trường. Tâm hiền lành và rất ít nói. Nhưng không phải vì vậy mà tôi trở thành thân thiết với Tâm và hai thằng kết nghĩa anh em, nếu không có buổi sáng mồng một Tết năm 1969, khi đơn vị chúng tôi tạm dừng quân trong một ngôi làng hoang đổ nát nằm sâu giữa những động cát nơi giáp ranh hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy lúc trước.

Dù đang hành quân, nhưng biết hôm đó là mồng một Tết, tôi thức dậy thật sớm, thay bộ đồ trận mới, đi một vòng chúc tết anh em. Ngày đầu năm, nằm giữa một khu hoang tàn không một bóng người, chắc ai cũng chạnh lòng nhớ tới gia đình. Chiếc radio từ một căn lều poncho nào đó đang phát ra tiếng hát nỉ non của ca sĩ Duy Khánh, trong bản nhạc Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân, làm lòng tôi càng thêm lắng xuống. Đến cuối ngôi làng, tôi bỗng giật mình khi nghe tiếng sụt sùi. Lại gần tôi mới nhận ra Tâm. Anh ta đang quì lạy trước một cái bàn thờ được kê bằng cánh cửa sổ của căn nhà nào sập xuống. Trên bàn thờ dã chiến, tôi thấy có mấy cái hoa rừng cấm trong cái bi đông nước, hai bát cơm bằng gạo sấy và một lon guigoz có lẽ chứa nước trà hay canh nấu bằng lá giang hay lá tàu bay gì đó. Tâm khấn vái một lúc, quay lại bất ngờ nhận ra tôi. Tâm đưa tay chào và cũng như mọi khi, không nói một lời nào. Có lẽ Tâm biết là tôi đã đứng im lặng ở đây từ lâu lắm. Tôi bước tới nắm chặt tay Tâm, kéo anh đứng lên. Tâm vội rút tay ra lau nước mắt. Tôi đến trước bàn thờ vái một vái, rồi vỗ vai Tâm:

– Em cúng bố mẹ à. Sao đầu năm mà buồn quá vậy em.

– Không, bố em còn ở ngoài Bắc, em không biết là còn sống hay đã chết. Mẹ em thì đã qua đời lúc em còn bé lắm. Nhà em ở tận Ý Yên, nhưng bố em đi làm xa, nên phải gởi hai anh em em xuống nhà ông chú ở Hà Nội học, rồi theo gia đình chú ấy xuống tàu há mồm vào Nam luôn.

– Còn anh của em bây giờ ở đâu? Tôi hỏi

– Anh ấy chết rồi. Anh là sĩ quan thủy quân lục chiến, tử trận đúng ngày mồng một tết Mậu Thân ở ngay Sài gòn. Hôm nay là giổ đầu của anh ấy.

– Anh em tên gì?

– Nguyễn thượng Minh, khi chết anh vừa mới lên trung úy.

Tôi giật mình. Cái tên Nguyễn thượng Minh làm tôi nhớ ngay đến một thằng bạn cùng tên hồi còn tiểu học. Tôi hỏi Tâm:

– Vậy có phải em là cháu của thầy giáo Nguyễn Thượng Cầu?

– Dạ phải, nhưng chú Cầu đã chết lâu rồi. Tâm trả lời rồi nhìn tôi ngạc nhiên.

Năm 1954, tôi đang học lớp nhì trường huyện Vạn Ninh. Nhập học được vài tháng, thì thầy hiệu trưởng Nguyễn công Tố dắt ba đứa học trò lạ vào lớp giới thiệu với cô giáo Kiệt rồi dặn dò đám học trò chúng tôi:

– Hôm nay trường nhận thêm những em học trò mới, trong đó có ba em vào lớp này. Tất cả các em phải biết yêu thương và giúp đỡ những người bạn này, vì họ đã vừa phải bỏ quê hương, gia đình ngoài miền Bắc, di cư vào đây. Đó cũng là lời kêu gọi của Ngô Thủ Tướng.

Hai thằng con trai và một đứa con gái cúi đầu chào cô giáo rồi quay xuống chào chúng tôi bằng thứ tiếng lạ hoắc khó nghe. Thằng lớn con nhất được cô Kiệt chỉ cho ngồi dãy bàn cuối lớp, ngay phía sau tôi.

Đến giờ ra chơi, bọn tôi bu quanh “phỏng vấn” nó đủ điều. Tên nó là Nguyễn Thượng Minh. Nó và thằng em nhỏ hơn bốn tuổi, nhà ở quê, mẹ chết sớm, ông bố đi làm xa, nên phải gởi anh em nó xuống Hà Nội ở nhà ông chú để học hành, hơn nữa ông lại là thầy giáo. Khi có lệnh di cư, ông chú không liên lạc được bố nó, nên dắt hai anh em nó xuống tàu há mồm vào Nam luôn, rồi được chính quyền phân phối đến định cư ở quê tôi, Vạn Giã, cùng với hơn mười gia đình khác. Nó bảo vài hôm nữa ông chú nó cũng sẽ được sắp xếp cho vào dạy lớp ba trường này, thay cho một ông thầy thuyên chuyển đi nơi khác.

Nó lầm lì ít nói, chắc ngại cái tiếng Bắc Kỳ xa lạ của nó. Nhưng không phải vì điều đó mà làm cho tôi ghét nó, và đã có nhiều lần đánh lộn với nó nữa. Lý do chính là nó đánh bi rất giỏi, giành mất giải quán quân của tôi trong lớp. Nó đánh bi khác với chúng tôi. Chúng tôi để viên bi lên đầu ngón tay giữa rồi bắn đi, còn nó đặt viên bi trong lòng bàn tay và bắn đi bằng ngón tay cái. Vậy mà nó ăn tôi sạch túi. Bọn tôi bảo là nó ăn gian, không được chơi kiểu bắc kỳ của nó mà phải chơi theo kiểu trung kỳ của bọn tôi. Nhập gia phải tùy tục. Nó cô đơn một mình nên chịu thua, phải trả lại cho tôi tất cả viên bi nó thắng ngày hôm đó. Vậy mà hai hôm sau nó chơi trở lại, dĩ nhiên với cái kiểu hoàn toàn mới lạ với nó, nhưng nó vẫn thắng tôi oanh liệt. Cuộc đấu bi này bây giờ không phải chỉ giữa cá nhân hai thằng: tôi với nó, mà giữa hai miền nam-bắc, cho nên học trò trai gái cả trường bu quanh làm khán giả. Tôi thua trắng tay, mất luôn chức vô địch từ lớp năm đến bây giờ. Dĩ nhiên là tôi ức lắm. Điều ghê gớm hơn nữa, là chỉ có cuối tháng đầu tiên nó đứng hạng ba trong lớp, lên nhận bảng danh dự sau tôi, nhưng kể từ tháng thứ nhì trở đi nó đều chiếm hạng nhất. Tôi đâm ra hận nó, có nó là tôi mất tất cả. Mấy lần tôi nhại tiếng Bắc chọc quê nó, nó cũng chỉ cười, tôi nghe lời xúi của lũ bạn, bảo nó rờ sau “đít” coi có còn tòn ten cọng rau muống nào không, nó chỉ im lặng. Có lần bọn tôi xô nó ngã, nó chỉ cười, đứng dậy rồi phủi bụi trên áo quần. Tôi thua nó, nhưng cố làm ra vẻ tự mãn: “nó vẫn chỉ là một anh hùng cô đơn, không có ai chơi với nó”.

Đùng một cái nó nghỉ học. Chẳng có ai biết lý do. Nhưng rồi vài ngày sau nó tới trường, nhưng không phải để học mà để bán bánh mì và cà rem. Cô giáo và bạn bè hỏi, nó khóc và bảo là bà thím, sau khi cãi vã với chú nó một trận, không nuôi hai anh em nó nữa, nó phải tự “khắc phục” để còn nuôi một thằng em nhỏ. Hôm đó bọn tôi nhiều thằng cũng khóc theo với nó. Chờ cho tất cả vào lớp, tôi ở nán lại chỉ để ôm nó và nói một lời xin lỗi về những điều đã qua. Nó nhìn tôi thân thiện, và bảo là nó chưa hề để tâm tới điều ấy. Tôi “tâm phục khẩu phục” nó. Nó còn nhỏ mà thông minh và thánh thiện hơn tôi nhiều.

Tôi bèn làm ngay một cuộc “quảng cáo” cho bánh mì và cà rem của nó, vì vậy hôm nào nó mang mọi thứ tới trường là bán sạch ngay trong giờ ra chơi buổi sáng. Sau đó tôi còn kêu gọi một cuộc lạc quyên giúp nó: gạo, tiền xu, tiền cắc, áo quần, có thằng còn mang tới cho nó cả buồng chuối và một trái mít nữa.

Rồi nó cũng được chính quyền giúp đỡ, tôi nghĩ như thế, nên vài tuần sau nó trở lại lớp học, và chỉ bán bánh mì trong giờ ra chơi. Nó vẫn học giỏi, vẫn đứng đầu lớp, nhưng lần này nó không còn là anh hùng cô đơn nữa mà nó có đông đảo bạn bè, mà thằng thân nhất chính là tôi.

Ông chú nó, thầy giáo Nguyễn thượng Cầu, cũng đã vào trường dạy lớp ba, nhưng bây giờ anh em nó không còn ở chung với ông chú nữa, mà chỉ đến thăm ông vào những cuối tuần. Có khi nó dắt tôi đi theo. Vì vậy tôi mới bíết ông thầy, chú nó sợ bà vợ Bắc kỳ còn hơn sư tử, nên chẳng dám bênh vực nhiều anh em nó, mặc dù ông rất đau lòng xót xa khi bọn nó phải dọn ra ở ké nhà một gia đình người di cư khác.

Tôi mất mẹ, cha tôi cũng đi làm xa, nên tôi thông cảm hoàn cảnh của Minh, nên thường đưa anh em nó về nhà ông bà nội tôi và chơi với đám anh em họ hàng của tôi.

Khi xong tiểu học, tôi vào Nha Trang học trung học, cũng là lúc phải chia tay nó. Bởi Minh cũng vừa theo một số người di cư vào tận khu định cư Phước Tỉnh nào đó ở trong nam, người ta bảo trong ấy làm ăn khấm khá hơn ở quê tôi nhiều lắm. Từ đó, tôi không gặp lại nó, mặc dù trong ký ức tuổi ấu thơ của tôi, lúc nào hình ảnh nó cũng in lên đậm nét.

Không ngờ hôm nay, giữa chiến trường xa xôi này tôi lại bất ngờ gặp lại thằng em duy nhất của Minh, và lòng tôi lắng xuồng khi biết nó cũng từng là lính đánh giặc và đã hy sinh đúng ngày này năm trước: ngày mồng một Tết. Cái ngày mà lời chúc Tết của ông Hồ Chí Minh trên đài phát thanh Hà Nội chính là cái mật lệnh “Tổng Công Kích Tết Mậu Thân” để giết hại bao nhiêu người vô tội, đặc biệt hàng vạn người ở Huế bị chôn sống. Cũng là cái ngày người ta nhận diện được bọn trí thức, sinh viên phản trắc, đã giết hại bao nhiêu thầy, bạn của chính mình.

Sau đó, tôi rút Tâm về làm việc bên cạnh tôi, phụ tránh toán quân báo gồm toàn những người lính trẻ. Chúng tôi yêu thương nhau như anh em. Rồi vào một đêm trăng sáng, dưới sự chứng giám của đất trời, tôi đã nhận Tâm là đứa em kết nghĩa, sau lần Tâm liều mình cứu tôi thoát chết trong một cuộc phục kích ở Thiện Giáo. Đổi lấy sự an toàn cho tôi, Tâm phải mất hai ngón tay của bàn tay trái và nằm bệnh viện hơn một tháng để được giải phẩu lấy một mãnh đạn nằm trong sâu trong thanh quản. Sau khi xuất viện, Tâm phát âm tương đối khó khăn. Được hội đồng giám định y khoa xếp vào loại không còn khả năng chiến đấu, Tâm có thể chọn về một đơn vị hành chánh hay tiếp vận nào mà Tâm thích, nhưng Tâm một mực chối từ và nằng nặc đòi trở lại đơn vị cũ. Tâm xác nhận là mình vẫn còn khả năng chiến đấu, hai ngón tay của bàn tay trái và giọng nói khó khăn một chút không gây trở ngại nhiều cho một người lính chiến trường. Cuối cùng Tâm được toại nguyện.

Tôi vừa vui mừng vừa cảm động khi Tâm trở về trình diện. Tâm bảo sống chết gì em cũng muốn ở bên anh. Vì gia đình em có còn ai nữa đâu. Đơn vị này là gia đình của em. Tôi sắp xếp cho Tâm một công việc tạm thời ở hậu cứ để tiếp tục chửa bệnh. Chỉ sau vài tháng giọng nói của Tâm gần trở lại bình thường. Tâm nghe lời tôi xin vào khóa Sĩ Quan Đặc Biệt ở Thủ Đức. Tâm được ưu tiên thu nhận vì gốc TSQ.

Ra trường đúng vào mùa hè đỏ lửa 1972, Tâm lại xin trở về đơn vị cũ, lúc này đang ngày đêm nằm trong lửa đạn ở mặt trận Kontum. Năm tháng sau, tôi bị thương, được tản thương về Quân y viện Pleiku nằm điều trị gần một tháng. Xuất viện, được điều về Phòng Hành Quân. Cả tháng tôi không gặp lại Tâm, nhưng ngày nào chúng tôi cũng liên lạc trên hệ thống vô tuyến.

Cuối năm 1973, chiến trường lắng dịu. Tâm xin phép về Sài gòn cưới vợ. Vợ Tâm là cô bạn nhỏ ngày xưa trong cùng một viện mồ côi. Bây giờ là cô giáo. Hai người gặp lại và tình yêu nẩy nở trong thời gian Tâm học ở trường Thủ Đức. Cả vợ chồng tôi đều có mặt trong ngày cưới, và làm chủ hôn bên họ nhà trai. Đám cưới xong, tôi vận động xin cho vợ Tâm được chuyển lên dạy tại một trường tiểu học nằm trong thành phố Pleiku, để vợ chồng được gần gũi nhau hơn.

Đầu tháng 3/1975 Ban Mê Thuột thất thủ, bản doanh Bộ Tư lệnh SĐ 23 BB bị tràn ngập sau một phi vụ bắn nhầm. Ông Tư Lệnh Phó cùng ông tỉnh trưởng Đắc Lắc bị bắt. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 44 được trực thăng vận nhảy xuống đầu tiên ở Phước An, quận duy nhất còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm vừa ngăn chặn địch quân tràn xuống Khánh Dương theo Quốc lộ 21, vừa tái chiếm thị xã Ban Mê Thuột khi tình hình cho phép. Tâm có mặt trong toán quân đầu tiên này. Tôi không gặp được Tâm nhưng có liên lạc nói chuyện vài lần trong máy vô tuyến. Tâm rất đau lòng khi phải bỏ vợ và đứa con gái ba tuổi trên Pleiku, trước khi gởi gấm cho anh trung sĩ tiếp liệu đại đội cố dắt theo cùng đoàn quân triệt thoái về tỉnh lộ 7, bây giờ không biết ra sao. Tâm khẩn khoản nhờ tôi tìm mọi cách liên lạc và giúp vợ con mình. Tôi lấy cái tình anh em kết nghĩa mà thề với Tâm là tôi sẽ cố gắng hết sức mình. Không ngờ, đó là một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đã làm mất biết bao nhiêu sinh mạng, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam. Ra tận Tuy Hòa, đứng đón dòng người tả tơi, nét mặt còn đậm nỗi kinh hoàng, họ vừa trải qua và chứng kiến biết bao nhiêu cái chết thê thảm để được đến bên này bờ con sông Ba nhuộm máu, tôi nghĩ là tôi chẳng còn có cơ hội nào gặp lại vợ con Tâm. Trở lại Khánh Dương, đúng lúc Phước An thất thủ và đơn vị của Tâm đã phải tan hàng, tôi gặp lại vị chỉ huy của Tâm ở Dục Mỹ, ông xác nhận là trung úy Nguyễn Thượng Tâm đã nằm lại trên đỉnh đồi Chu Cúc, khi chiến đấu tới viên đạn cuối cùng rồi tự sát trước một biển người của địch quân tràn lên chiếm giữ.

* * *

Hơn sáu tháng định cư ở Nauy, cả nhà tôi lúc nào cũng miệt mài để sớm hội nhập vào quê hương mới. Thời gian qua nhanh quá. Mới đây mà chúng tôi cũng đã tập tành tổ chức ngày lễ Giáng Sinh và ăn cái tết Tây đầu tiên theo truyền thống của Nauy. Sau đó bận bịu đi học đi làm, và cũng chẳng có cuốn lịch Âm lịch nào để biết ngày nào là Tết Ta, Nguyên Đán. Một buổi tối vợ chồng tôi đang ngồi cãi nhau về thời điểm giao thừa để thắp một nén hương tưởng nhớ ông bà, thì điện thoại reo. Bà Huyền-Trân Thomassen gọi, mời cả nhà chúng tôi tối mai lên ăn tết với gia đình, chồng bà từ Mexixo cũng mới trở về. Bà cho biết bây giờ đã là sáng mồng một Tết bên Việt Nam. Thì ra, chúng tôi tệ quá, mới rời khỏi Việt Nam hai năm mà không còn nhớ ngày tết và tổ chức mừng Tết như bà. Tôi cám ơn và nhận lời bà xong, vội vàng thắp mấy nén hương tạ tội ông bà. May mắn ngày mai là thứ bảy.

Bà biết gia đình chúng tôi có tới mười người mà chỉ có một cái xe Ford vừa nhỏ vừa cũ, nên bà đặt một chiếc taxi tám chỗ ngồi lại đón chúng tôi. Bà xã tôi chỉ huy bầy con gái trên chiếc taxi, còn tôi lái xe chở đám con trai chạy theo sau. Trời thật lạnh, tuyết rơi trắng cả bầu trời. Chúng tôi phải chạy gần một tiếng đồng hồ mới tới nhà bà. Bà ở trong một ngôi biệt thự khá xinh, cách trường đại học Oslo, nơi bà dạy, chừng năm phút lái xe. Trong phòng khách bà trang trí giống như tết ở Việt Nam, đặc biệt có cả một cành mai thật to (một loài hoa Bắc Âu nở hoa vào mùa đông, nhìn giống như hoa mai) trong một cái bình sứ lớn, nằm ở giữa nhà. Chồng bà rất phúc hậu, và nói được một ít tiếng Việt. Khi giới thiệu ông với chúng tôi bà đùa:

– Hoàng đế Chế Mân của tôi đây.

– Không, tôi là Trần Khắc Chung. Ông vừa đưa tay bắt tay tôi vừa đùa.

Ông ta khá am tường về lịch sử Việt nam. Ông cũng biết khá nhiều và có những nhận định khá công bình về cuộc chiến Việt nam. Ông cho biết là lúc cuộc chiến Việt Nam đang ác liệt, khi ấy ông là trưởng ban ngoại giao của Quốc Hội Nauy, đã phản đối kịch liệt những nhóm tả khuynh và đặc biệt là những nhận định và việc làm của ông Olaf Palma, thủ tướng Thụy Điển, người đã hô hào ủng hộ Bắc Việt và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận cho binh lính Mỹ đào ngũ đến dung thân ở nước ông. Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhìn hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, ông vừa kịp phản tỉnh thì cũng bị ám sát chết.

Bữa ăn còn có cả dưa hành, thịt kho và bánh chưng. Tôi phục bà và thấy xốn xang nhớ những ngày tết lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà.

Ăn uống xong, bà còn lì xì bì thơ màu đỏ cho mấy đứa con và mấy đứa cháu của tôi. Tôi đành phải ngượng ngùng xin lỗi vì không chuẩn bị kịp quà cáp cho hai đứa con của bà. Nhưng bà rất khéo léo, khi bảo sự có mặt của gia đình chúng tôi trong thời khắc đặc biệt này đã là một món quà vô giá, rất có ý nghĩa cho mẹ con bà.

Tôi thay mặt gia đình cám ơn, chúc tết ông bà và gia đình. Tôi cũng nói lên lòng ngưỡng mộ của chúng tôi đối với một người đã xa quê hương lâu ngày và lập gia đình với một người ngoại quốc mà vẫn còn giữ được truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam, trong lúc một số người mới chân ướt chân ráo sang đây đã vội tập tành thành người bản xứ, muốn quên hết nguồn cội của mình.

Chia tay bà lúc gần mười hai giờ đêm. Đường sá vắng tanh. Tuyết vẫn rơi kín bầu trời. Không quen lái xe trên tuyết, tôi chạy thật chậm. Khi đến trước khu đại học Blindern, tôi thấy có một người đứng dưới tàng cây thông, đưa tay đón. Tôi dừng xe lại. Một cô gái chạy tới xin quá giang về nhà, vì cô dự tiệc tối ra, đã gọi taxi khá lâu mà không thấy tới. Tôi bảo đứa con trai lớn của tôi ra ngồi ở băng sau, nhường ghế trước cho cô gái. Khi cô lễ phép chào tôi, và bắt tay mấy cậu con và cháu của tôi ngồi ở băng sau, tự giới thiệu tên Anita rồi ngồi lên ghế, tôi mới nhận ra cô gái gốc Á đông, nhưng phát âm tiếng Nauy và điệu bộ hoàn toàn như người bản xứ. Tôi ngạc nhiên khi thấy cô đang run vì lạnh. Cô chỉ mặc một cái áo khoác mỏng. Tôi dừng xe, cởi cái áo choàng bằng lông cừu choàng qua vai cô. Gương mặt cô bé xinh xắn dễ thương, nhưng phảng phất buồn. Tôi hỏi cô bé đến từ nước nào. Cô cho biết cô được cha mẹ nuôi người Nauy nhận mang về đây lúc chưa tròn ba tuổi, nên cô chẳng biết gì. Sau này lớn lên, cô mới được cha mẹ nuôi kể lại là cô được Cơ quan Bảo Trợ Nhi Đồng LHQ nhận từ một viện mồ côi ở Việt Nam vào năm 1975. Ông bà xin nhận cô làm con nuôi từ Cơ quan này. Cô bé rất mong muốn được trở lại Việt nam một lần, để biết nơi mình sinh ra và nhờ người tìm lại tông tích, mồ mả của cha mẹ ruột. Cô sẽ xây mộ cho ông bà. Cha mẹ nuôi có hứa sẽ đưa cô về sau khi cô học xong trung học, và khi nào việc xin visa vào Việt Nam dễ dàng hơn. Nhà cô không xa nơi tôi ở, có lẽ không quá hai mươi phút lái xe. Khi qua hết mấy khu rừng thông thanh vắng, cô chỉ ngôi nhà lớn nằm lưng chừng trên một ngọn đồi, bảo tôi dừng lại phía dưới. Cô sẽ đi lên bằng con đường tắc. Cô cám ơn tôi, cởi trả lại tôi cái áo choàng. Cô hỏi xin tôi một mảnh giấy, viết địa chỉ xong rồi đưa lại cho tôi. Cô mời tôi đến Lễ Phục Sinh ghé lại nhà cô chơi. Vì chỉ còn một ngày nữa cô phải đi London tiếp tục theo học một năm chương trình trao đổi học sinh. Cha mẹ nuôi của cô rất thích nói chuyện với người Việt Nam, nhất là những người đã từng tham gia cuộc chiến. Tôi hứa với cô là thế nào tôi cũng đến thăm cô cùng ông bà cha mẹ nuôi tốt bụng.

Về nhà, khi kể lại chuyện cô bé quá giang cho vợ và mấy cô con gái nghe, tôi mới nhận ra một điều: sao tôi lại có duyên với những người mồ côi đến thế. Suốt cả đêm hôm ấy tôi nằm trằn trọc nghĩ đến thân phận mình và nhớ thật nhiều đến Nguyễn Thượng Tâm, người mà tôi đã từng nhận làm đứa em kết nghĩa, nhưng mãi đến bây giờ vẫn chưa làm tròn được lời thệ ước của mình.

* * *

Ðến Lễ Phục Sinh, nhớ lời hẹn, tôi rủ bà xã và hai cô con gái lớn đến thăm cô Anita. Bây giờ là đầu tháng tư mà tuyết vẫn còn rơi trắng cả bầu trời. Nhờ ban ngày nên tôi thấy rõ nhà cô hơn. Ngôi nhà có dáng của một lâu đài, cổ kính, sang trọng. Chung quanh là một hàng thông. Chủ ngôi nhà chắc đã trọng tuổi và giàu có. Ngần ngừ một lúc, tôi bấm chuông. Đúng như tôi nghĩ, người mở cửa là một bà già khoảng trên bảy mươi, nhưng còn khỏe mạnh và nói năng vui vẻ lịch thiệp. Bà ngạc nhiên nhìn tôi, và hỏi tôi đến có việc gì bất ngờ mà bà không đuợc báo trước. Tôi xin lỗi, giới thiệu tên mình và cho bà biết là tôi có hẹn với cô Anita, con gái của bà, đến thăm cô ấy và vợ chồng bà. Có lẽ cô Anita quên, không kể chuyện lại với bà. Bà tròn mắt ngạc nhiên:

– Anita nào ? vì đứa con gái duy nhất của chúng tôi đã chết rồi mà.

Bây giờ đến lượt tôi ngơ ngác. Tôi kể cho bà nghe chuyện tôi gặp cô Anita trước cổng trường đại học hồi tháng hai, và cho cô quá giang về đây lúc nửa đêm. Bà mời tôi vào nhà, chỉ cho tôi tấm ảnh treo trên vách.

– Đây chính là cô Anita mà tôi đã gặp, trước khi cô trở lại London để tiếp tục học. Tôi nói to như để xác nhận với bà.

Bà nhìn tôi sụt sùi hai dòng nước mắt.

– Ðúng rồi, sau lần về thăm nhà và cũng để khám bệnh ấy, thay vì trở lại trường, con tôi phải vào bệnh viện, do một mảnh đạn nằm sâu trong tim từ lúc cháu ba tuổi, và cháu qua đời sau đó một tuần. Trước đây, bác sĩ có khám và chụp hình, nhưng bảo mảnh đạn nằm ở một vị trí khá an toàn, và rất nguy hiểm nếu phải giải phẩu. Không ngờ cháu lại chết vì chính mảnh đạn từ thời chiến tranh này.

Bà ra nhà sau lên tiếng gọi ông chồng, kể cho ông nghe câu chuyện tự nãy giờ. Ông đến chào tôi, và bảo tôi chờ ông bà mặc áo lạnh rồi sẽ dẫn tôi ra nghĩa trang, nằm không xa ở phía sau nhà, thăm ngôi mộ cô con gái.

Ngôi mộ phủ đầy tuyết trắng. Bà đưa tay phủi lớp tuyết trên tấm bia, hàng chử khắc sâu trên bia: ANITA NGUYEN HILDE. Nhìn tấm ảnh trên mộ bia, tôi có cảm giác dường như cô cũng đang nhìn tôi mỉm cười. Tôi đứng trước mộ, chấp hai tay khấn nguyện một đôi điều. Ông bà chủ nhà sụt sùi, bảo với tôi đó là cô con gái duy nhất mà ông bà hết lòng thương quí. Từ khi cô ta qua đời, ông bà chẳng còn thiết tha bất cứ thứ gì trên cõi đời này nữa. Đưa tôi trở lại nhà, ông châm củi thêm vào lò sưởi, rót mời tôi một tách cà phê nóng. Ông bảo nếu cô không chết thì mùa hè này ông bà sẽ đưa cô về thăm quê hương nguồn cội ở Việt Nam. Riêng cha mẹ ruột của cô thật sự đã chết trong chiến tranh rồi.

Dường như vừa nhớ lại một điều gì, ông đứng lên bước tới kệ sách, quay lại nói vói tôi:

– Trong hồ sơ của con tôi, người ta có ghi chú: Khi hấp hối, mẹ cháu có trăn trối nhờ người mang nó về một viện mồ côi mà bà quen. Bà có để trong túi áo quần của đứa con một tấm hình khi vợ chồng bà làm đám cưới. Sau tấm hình có ghi tên và đơn vị của ba cháu. Đó cũng là dấu tích duy nhất về gốc gác của cô con gái nuôi yêu dấu của chúng tôi.

Tôi chưa kịp hỏi, ông đã đưa cho tôi tập album, và chỉ cho tôi một tấm ảnh đen trắng ngã màu vàng sậm, được dán ngay ở trang đầu. Nhìn tấm ảnh, tôi giật thót cả người, như đang bị mộng du vào một cõi xa xăm nào đó: hai người trong tấm ảnh chính là vợ chồng Nguyễn Thượng Tâm, người em mồ côi kết nghĩa mà chúng tôi đã lạc mất nhau trong những ngày cuối của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Phạm Tín An Ninh

http://phamtinanninh.com/?p=95

Qua Biển Dâu

Cao Hoàng

cao hoàng
Lâu lắm thầy mới truy bài một lần,  vì thầy tin rằng không có nhiều đứa học trò trong lớp dám không thuộc bài.  Thầy mở sổ ra, lăm lăm cây bút chì, chuẩn bị đánh dấu những tên thầy sẽ gọi.
Theo kinh nghiệm của anh, thầy gọi bỏ cách năm đứa một.  Nếu hôm nay đứa số một bị gọi đầu tiên, thì đứa mang số năm sẽ bị gọi kế tiếp, rồi đến đứa số mười, cho tới  hết sổ.  Nếu hôm khác, đứa mang số hai bị gọi trước thì đứa số sáu, số mười một bị gọi sau, không bao giờ sai.
Tên anh nằm giữa danh sách, anh biết tên anh mang số mấy, nên lúc ở nhà chỉ học sơ sơ, khi nào thấy nguy cơ đã gần kề mới lật vở ra học kỹ.  Bí mật này anh chẳng dại gì mà tiết lộ, lỡ có đứa lên méc thầy thì đúng là “làm ơn mắc nạn”.
Thường thì  cả lớp đứa nào cũng lật vở ra đọc rào rào như tằm ăn lên, nhưng đứa nào cũng còn tin rằng thầy chừa mình ra, nên học kiểu đó không có kết quả.  Thầy cũng biết như vây nên không thèm cấm.
Lâm Ngọc Thủy, tức thằng Thủy lộ, đứng sẵn nơi cửa lớp.  Nó luôn luôn mặc một cái áo blouson xanh khá bẩn, tay cầm cây roi mây dài có hơn một thước.  Đứa nào không thuộc bài thì tự giác ra cửa nằm dài và Thủy lộ thẳng tay vụt những roi quắn đít.  Thủy lộ chỉ có một con mắt lành, con mắt bên kia đục lờ như cùi nhãn càng làm khuôn mặt có nước da xam xám trở nên dữ tợn – thầy thật là người biết chọn mặt gởi “roi”.  Những đứa nào ngày thường gọi nó là Thủy lộ, khi “lâm sàng”, nó sẽ nghiến răng gia tăng công lực gấp hai.  Thầy chỉ cho nó đánh có một roi thôi, nhưng một roi của nó tuần sau vẫn chưa mất dấu.  Anh không những thường gọi nó là Thủy lộ mà còn gọi nó là thằng “un oeil”.  Nhân bài học Pháp văn thầy giảng deux yeux là hai con mắt, một con mắt là un oeil.  Anh nghe khoái quá, liền quay xuống nó làm lé mắt chọc cười.  Nó giận run lên mà chưa có dịp.  Nếu hôm nào anh không thuộc bài thì chắc lết về bàn không nổi đâu!
Để cho  công bình, bao giờ  cuối cùng thầy cũng gọi Thủy lộ lên trả bài.  Nó biết thân nên lúc nào cũng thuộc.  Có một lần nó tắc tị không trôi, nó tự động ra cửa lớp nằm dài.  Thầy gọi con Sum lên đánh nó ba roi.  Con Sum nhỏ nhất lớp, vừa đánh vừa nhe răng ra cười; roi đòn nhẹ hìu như phủi bụi, làm trong lớp đứa con trai nào cũng bất bình.  Nhưng được cái là bị con gái đánh đòn thì có cái đau khác, mà không chừng còn đau hơn thường.  Lần này thầy cũng lại biết chọn mặt gửi “roi”.
Phải chi thầy để cho Thu Hà, Mỹ Lan hay Túy làm công việc đao phủ đó thay Thủy lộ, thì anh sẽ tình nguyện không thuộc bài dài dài.
Anh chưa thấy đứa con gái nào bị đòn.  Tụi con gái nhát đòn lắm  nên chăm chỉ học, không thuộc làu thì cũng không đến nỗi bí xị.
Ngồi bên cạnh anh là thằng Đỗ Thuận.  Có hôm nó bảo, nó biết coi bói.  Anh nói: “Vậy coi cho tao đi.”
Nó bảo: “Chỉ biết coi có một thứ là tình duyên thôi.  Nếu ở trong lớp mình mày thương con nào thì tao coi liền,”  nó lại nói: “Coi dễ ợt à.  Chỉ cần viết tên mình ở trên, tên con nhỏ đó ở dưới.  Những chữ nào giống nhau thì gạch bỏ, còn lại mấy chữ thì đếm số.  Có bốn quẻ:  số một là Lỡ, số hai là Bạn, số ba là Tình, số bốn là Thù.”
Như một viên chức xã ấp, Đỗ Thuận giải thích: “Lỡ là lỡ làng đó.  Thương người ta mà không chịu nói, nẩu mang trầu cau tới hốt mất tiêu, quẻ đó xấu hung lắm.  Bạn thì chỉ là bạn như tao với mày, có ăn chung gì đâu. Quẻ tốt nhất là Tình, nên vợ nên chồng, suốt đời ăn ở với nhau tới đầu bạc răng long.  Còn Thù thì dễ hiểu quá, thế nào cũng đánh lộn, đổ máu lỗ đầu.  Vậy thì chỉ có quẻ số ba là tốt nhất.”
Anh xé ngay một tờ giấy vở, viết ba chữ in tên anh ở trên, rồi viết ba chữ TUY ở dưới.  Ngắm nghiá một hồi, anh bảo nó: Có chữ nào giống nhau đâu mà đòi gạch bỏ.  Nó ghé mắt vô xem: “Như vậy là có tới sáu chữ, thì cứ đếm tới bốn rồi trở lại từ đầu.  Có sáu chữ là quẻ số hai.  Mày với nó chỉ là bạn thôi, kiếm con khác bỏ tên vô đi . Anh không chịu, chê nó bói dở ẹc.
Bỗng có một bàn tay lẹ như chớp, lòn qua vai dựt mất tờ giấy.  Tiếp theo là tiếng hô rất lớn: “Thưa thầy trò Thuận với trò Hảo chơi bói tình duyên.”
Thầy ngưng chấm bài, trễ kiếng ngó xuống làm hai đứa xanh mặt.
– Hả ? Cái gì bói tình duyên?
– Thưa thầy, trò Thuận bói tình duyên cho trò Hảo với trò Túy.
Rồi Thủy lộ te te mang tờ giấy có hai cái tên lên bàn thầy làm tang vật.  Nó ưỡn ngực giải thích tường tận hết mọi điều nó đã nghe từ thằng thầy tướng Đỗ Thuận nói hồi nãy.  Cả lớp bụm miệng cười.  Thằng đao phủ chắc mẩm kỳ này nó đập anh nát đít.  Nhưng may mắn quá, thầy cũng cười cười  chỉ tay ra cửa:
– Hai đứa, mỗi đứa một bên, quỳ cho tới giờ về.
Cha mẹ ơi!  Còn mấy bài nữa nào là ám tả, Việt sử, vẽ trang trí.  Chưa bao giờ anh lại mong ông cai trường đập ba hồi trống đến thế!
Quỳ như vậy quê một cục mà đau đầu gối lắm.  Nếu thằng Thủy lộ dòm chỗ khác, thì anh ngồi lên hai gót chân; rồi anh lại quỳ thẳng lên khi con mắt duy nhất của nó đáo về.  Anh sợ nó thưa với thầy là anh quỳ ngồi.  Cái tội không thi hành lệnh phạt nghiêm chỉnh có thể đưa tới một hình phạt khác thê thảm hơn.
Chỉ tội nghiệp cho thầy tướng Đỗ Thuận.  Nó vốn già từ bé và loắt choắt như khỉ con.  Mặt nó rầu rầu, quỳ xuống coi lại càng thảm!  Nó từng nói với anh, nó thương con Kim Ly học lớp dưới.  Chết mẹ chưa, lát nữa giờ ra chơi người đẹp của nó tay cầm gói đậu phọng hay là chùm mía ghim sẽ ưỡn ẹo đi qua đi lại trên hành lang này.  Phải chi anh đừng chọc ghẹo thằng Thủy lộ thì đâu có hại bạn như thế!
…Lâu lâu anh liếc nhìn em.  Tóc em hồi đó dài lắm, hung hung đỏ, chảy xuống vai che cả má.  Bên trong mái tóc ấy hai mắt em long lanh nhìn anh, môi cười chúm chím …
Bây giờ tóc còn dài, mắt môi còn đẹp thế không?  Bên kia Thái Bình Dương có tiếng Túy thở dài:
-Không anh à.  Dáng em tuy vẫn còn thanh nhưng tóc vừa bạc vừa thưa, môi em nhăn nhúm, còn trong túi lúc nào cũng có hai ba cái kiếng mắt.  Anh Đỗ Thuận làm xây dựng cũng đã nghỉ hưu.  Anh ấy bói vậy mà đúng chứ không dở đâu.  Họ nên vợ nên chồng, còn hai đứa mình suốt đời chỉ là bạn thôi.Cao Hoàng
Seatlle, WA, USA
(Tác giả gởi bài và hình minh họa)
https://www.banvannghe.com/p27a9605/cao-hoang-qua-bien-dau

Pháo thủ thành Carol

Giao Chỉ, San Jose

Ðây là bài thứ 6 của loạt bài Quảng Trị, mùa hè 72.
Viết về câu chuyện đầu hàng bi thảm của trung đoàn 56 Bộ binh tại Camp Carroll.

Khi Cố vấn bỏ Trung đoàn:
Một trong những quy luật quan trọng là cố vấn không được bỏ đơn vị tại chiến trường nếu không có phép của cấp trên. Cách đây 37 năm, ngày 2 tháng 4-1972 trung tá William Camper, cố vấn trưởng trung đoàn 56 đóng tại Camp Carroll điện về ban cố vấn sư đoàn 3 xin di tản. Ông được lệnh phải ở lại, nhưng trung tá Camper cúp máy và tìm đường thoát thân

30 năm sau, năm 1972, vị cố vấn trung đoàn, William Camper đã viết lại câu chuyện vì sao cố vấn Hoa Kỳ phải bỏ đơn vị.

Lúc đó Trung tá Camper đã là 1 tay đầy kinh nghiệm. Nhiệm kỳ 1964 ông cố vấn cho Trung đoàn 2 tại Vùng I. Tình nguyện thêm nhiệm kỳ thứ hai năm 1972 ông làm cố vấn trưởng cho Trung tá Phạm văn Ðính, trung đoàn trưởng 56 thuộc sư đoàn 3 Bộ binh. Ðây là trung đoàn yếu của sư đoàn hỏa tuyến. Nhưng trung đoàn trưởng lại được coi là 1 sỹ quan xuất sắc. Anh hùng Tết Mậu thân, chỉ huy đơn vị Hắc báo Sư đoàn 1, lính của ông được vinh dự kéo cờ trong bức hình lịch sử 1968 tại Thành Nội. Trung tá Trung đoàn trưởng 28 tuổi, vừa đem đơn vị vào nhận căn cứ Carroll được mấy ngày. Cố vấn Camper cũng là tay cừ khôi. Có phụ tá là thiếu tá Brown lỳ lợm. Camp Carroll nằm ở phía nam Cam Lộ, trên đường 9, lối đi vào Hạ Lào.

Trước đây Carroll là căn cứ của sư đoàn Nhẩy dù Hoa Kỳ 101 có cả tiểu đoàn pháo binh cơ động 175 ly. Ðây là một căn cứ hỏa lực mạnh nhất vùng I chiến thuật yểm trợ cho Khe Sanh và bao vùng toàn thể mặt trận tây bắc Quảng Trị.

Cho đến cuối tháng 3-1972 báo cáo của trung tá William Camper ghi nhận căn cứ Carroll có 1.800 binh sĩ, 1 tiểu đoàn bộ binh, Bộ chỉ huy trung đoàn, và nhiều đơn vị trực thuộc. Một tiểu đoàn pháo 155 tăng cường gồm 4 pháo đội 4 góc. Hai pháo đội 105. 1 pháo đội 155. Ðặc biệt có 1 pháo đội 175 với súng đại bác nòng dài được gọi là vua chiến trường. Quân dụng này do pháo binh Hoa Kỳ khi rút khỏi Carroll đã bàn giao lại.

Nội trong tháng 3-72 địch đã uy hiếp các tiền đồn quanh căn cứ Carroll phải rút. Gần như không còn đơn vị nào ở phía Bắc và Tây bắc. Trại Carroll đã ngửi thấy mùi của Bắc quân. Vào lúc 11:30 ngày 30-3-1972 toàn bộ trung đoàn pháo Bông Lau của cộng sản với 40 đại bác 130 và 122 tập trung hỏa lực dứt điểm Carroll.

Sau 1 ngày 1 đêm, tinh thần binh sĩ giao động nhưng ban cố vấn nghĩ rằng vẫn còn chịu đựng được. Sẵn sàng cho trận đánh cuối cùng khi bộ binh cộng sản tấn công.

Lúc đó trung tá Camper đang nóng lòng chờ đợi thiếu tá cố vấn phó Joseph Brow đi lãnh tiếp tế chưa thấy về đồn. Ðến chiều ông này vượt vòng vây về được Carroll.

Hai anh sĩ quan Mỹ hết sức cô đơn giữa đơn vị Việt Nam, có cả anh trung đoàn phó Việt Nam thù Mỹ ra mặt. Tương lai chưa biết ra sao. Bèn lấy 2 lon coca nguội cuối cùng uống mừng lễ Easter tháng 4-1972. Chưa bao giờ những chiến binh Hoa Kỳ phiêu lưu này có được ngày lễ Phục sinh lạ lùng như vậy. Quay đi quay lại chợt Camper không thấy có sỹ quan Việt Nam. Họ đi đâu hết. Vội vàng nhào lên bộ chỉ huy trung đoàn và được biết ông trung tá Ðính họp bộ tham mưu khẩn cấp và loan báo Camp Carroll sẽ đầu hàng.

Căn cứ Carrol.

Dieu hau bo nui .jpg

Trong câu chuyện kể lại 30 năm sau, Trung tá Camper cho biết, ông từ chối việc đầu hàng và liên lạc về Sư đoàn 3 xin lệnh cố vấn trưởng cho phép tìm đường máu mà ra đi. Lệnh từ cố vấn sư đoàn bắt phải ở lại vì nghĩ rằng viên cố vấn trung đoàn mất tinh thần nên tìm đường trốn khỏi đơn vị.

Sau cùng, cứ như phim ciné, 2 tay cố vấn liều chết được trực thăng Mỹ vô tình bay ngang có phản lực hộ tống đáp xuống cứu thoát, đem theo hơn 30 binh sĩ Việt Nam cùng thoát hiểm với vũ khí đầy đủ.

Khi về đến Ái Tử rồi đến Quảng Trị, cố vấn trưởng và tướng Giai, tư lệnh sư đoàn 3 vẫn không tin là trung đoàn 56 đầu hàng. Về sau khi binh sĩ chạy về kể chuyện đơn vị treo cờ trắng và cho đến khi nghe tiếng của trung tá Ðính trên đài phát thanh Hà Nội, tướng Giai ngỏ lời xin lỗi trung tá Camper.

Tuy nhiên, trong báo cáo tường trình của viên cố vấn có 1 đoạn viết như sau: “Khi trực thăng cấp cứu đưa được cố vấn ra khỏi trại, phi công nhìn thấy cả trung đoàn đang chuẩn bị đầu hàng. Vải trắng bay phất phới mọi nơi. Trung tá Camper cảm thấy hết sức bất mãn, quả là thảm kịch. Chưa bao giờ quân miền Nam lại đầu hàng cả trung đoàn. Tuy nhiên, ông viết tiếp, phải ghi nhận rằng không phải tất cả các chiến binh Việt Nam tại đồn Carroll đã lựa chọn giải pháp đầu hàng. Một pháo đội thủy quân lục chiến Việt Nam duy nhất đóng tại Carroll với nhiệm vụ yểm trợ bao vùng. Ðơn vị này đã gửi điện văn về Mai Lộc cho biết họ sẽ không đầu hàng. Khi Bắc quân tiến vào cổng trại, pháo đội B của lính mũ xanh hạ ngang nòng súng tiếp tục chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. Rồi cũng chẳng phải tất cả các lính bộ binh khác đều theo lệnh trung tá Ðính. Trên 300 binh sĩ của tiểu đoàn đã phá vòng vây để tìm đường tự giải thoát. Cho đến giữa tháng 4-1972 đã có gần 1.000 chiến binh của trung đoàn 56 vượt qua phòng tuyến của Bắc quân mà về miền Nam.”

Ðó là nguyên văn báo cáo của Camper mới được phổ biến mấy năm gần đây.

Người anh hùng và kẻ phản bội trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa

Trên đường đi ngược dòng lịch sử, tìm về cuộc chiến mùa Phục sinh năm 1972, chúng tôi đọc tất cả tài liệu và đi hỏi rất nhiều người. Ðặc biệt muốn tìm cho ra, ai là nhân chứng cho thủy quân lục chiến của pháo đội B, trấn thủ Camp Carroll vào tháng 4 năm 1972. Và ai là người pháo đội trưởng đã không chịu đầu hàng. Ai đã từ chối treo vải trắng trong khu vực trách nhiệm. Nếu giờ này còn sống thì anh ở đâu.

Lang thang trong rừng lịch sử chiến tranh trên sách báo Mỹ, tôi tìm thấy tác phẩm Người anh hùng và kẻ phản bội, trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa(Heroism and Betrayal in The ARVN) Tác giả Andrew A. Wiest.

Cuốn sách này viết về 2 nhân vật của quân lực miền Nam. Ðó là trung tá Huế và trung tá Ðính.

Cả hai đều là chiến hữu xuất thân từ miền Trung Việt Nam. Hoàn cảnh đưa đẩy cùng vào sinh ra tử trong nhiều trận. Trung tá Ðính, như chúng ta đã biết, đầu hàng cộng sản đầu tháng tư 72, và được tuyên dương rất ồn ào. Ðược phong cấp bậc trung tá “quân đội nhân dân”. Về sau lên thượng tá, và ngày nay giải ngũ về sống tại Huế.

Trung tá Huế thì đi tù cộng sản và được HO qua sống tại Hoa Kỳ. Ông Huế lẫm liệt từ đầu tới cuối, anh dũng trong chiến tranh, can trường trong chiến bại khi đi tù cải tạo. Sau cùng qua Mỹ làm lại cuộc đời. Hoàn cảnh của ông cũng như hàng ngàn chiến sĩ miền Nam và tác giả gọi là anh hùng.

Phần ông trung tá Ðính, với ngọn cờ trắng tại Camp Carroll và những lời xu nịnh kẻ thù trên radio, tác giả xếp ông vào loại phản bội. Dù trước đó ông Ðính đã từng là anh hùng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðã được gọi là “Young lion”. Xếp hạng sĩ quan trẻ xuất sắc như các tiểu mãnh sư.

Tuy nhiên, toàn bộ cuốn sách vẫn không tìm thấy bóng dáng của Pháo đội B thủy quân lục chiến tại Camp Carroll vào tháng 4-1972.

Ngoài ra, quyết định đầu hàng của Trại Carroll và trung tá Ðính là một mất mát đau thương chưa từng xẩy ra cho miền Nam. Dù cho có sự tuyên bố phản bội rõ ràng, nhưng thật sự cũng còn nhiều lý do rất phức tạp chưa ai hiểu rõ.

Chuyện “Mùa hè Cháy“

Cuộc chiến mùa phục sinh 1972, phe ta gọi là mùa hè đỏ lửa theo tác phẩm rất nổi tiếng của Phan Nhật Nam. Phe miền Bắc cũng có tác phẩm của đại tá pháo binh Quý Hải.

Sách có tựa đề là Mùa Hè Cháy. Ðây là cuốn nhật ký chiến tranh gần 300 trang viết về đọan đường hành quân kéo pháo từ miền Bắc vào đánh trận Quảng Trị. Ðơn vị pháo của tác giả có tên là trung đoàn Bông Lau, trực tiếp bắn pháo tập trung vào căn cứ Carroll và sau cùng chính trung đoàn pháo này được coi như có công đầu trong việc thúc ép Carroll đầu hàng.

Tác phẩm này đã tả chi tiết con đường của miền Bắc đưa pháo vào chiến trường và chính khả năng pháo binh rất mảnh liệt từ 122 đến 130 và 152 ly của khối Cộng đã đạt được thắng lợi trong giai đoạn đầu của chiến dịch Quảng Trị mùa hè 72. Trang 211 tác giả đã có dịp ghi rõ vào ngày 1 tháng 5 năm 1972 Bắc quân tràn vào thị xã Quảng Trị, sau khi sư đoàn 3 tan hàng rút đi. Chính vào giờ phút đó lính và dân chạy loạn chen chúc trên quốc lộ số 1 thì pháo 122 và 130 của trung đoàn 38 bắn chụp lên toàn bộ đoạn đường Quảng trị-La Vang và làm thành 1 thảm cảnh mà chính cộng sản cũng biết là rất tàn khốc, khủng khiếp.

Ðó là nguyên văn tài liệu của đại tá pháo binh cộng sản Nguyễn Quý Hải tả về con đường mà sau này báo chí miền Nam gọi là Ðại lộ Kinh hoàng. Trong cuốn sách này, tác giả của pháo binh miền Bắc đã xử dụng nhiều bài viết của người Việt tại hải ngoại để dành đọc thêm phần tham khảo.

Chúng ta có dịp thấy rõ văn chương của phe cộng sản dù cố viết trung thực, vẫn còn nhiều đoạn tuyên truyền giáo điều làm hỏng giá trị lịch sử của tác phẩm.

Trong khi đó bài viết của người Việt tự do rất đơn giản và khách quan. Không có đoạn nào tuyên truyền bình luận chính trị làm người đọc chán nản.

Tuy nhiên điều quan trọng nhất là khi viết về vụ đầu hàng của căn cứ Carroll, không có hàng chữ nào của cộng sản viết về hành động không chịu đầu hàng của pháo đội thủy quân lục chiến.

Và chúng tôi vẫn phải tiếp tục đi tìm.

Lời rao đã gởi lên các báo, radio, và các trang điện toán. Vẫn còn phải đi tìm người pháo thủ của thành Carroll

Người pháo thủ Thành Carroll

https://i1.wp.com/i58.tinypic.com/14ig3ub.jpg

Khi tôi gọi điện từ California về Florida lần đầu, nghe tiếng trả lời rất từ tốn. Vâng, tôi là Tâm đây. Ðúng vậy, 37 năm trước tôi là đại úy Tâm, pháo đội trưởng pháo đội B thủy quân lục chiến ở Camp Carroll.

Và như vậy là chúng tôi đã tìm được người pháo thủ thành Carroll của trận Mùa Hè 1972.

Ðầu đuôi như thế này: Tại thành phố Lutz của tiểu bang Florida có anh Thịnh là chiến hữu của anh Bẩy Saigon. Ðây là tên hiệu của đại úy Nguyễn văn Tâm.

Anh Thịnh đọc bản tin trên điện báo thấy có người hỏi về pháo binh thủy quân lục chiến ở Camp Carroll bèn liên lạc với ông Bẩy và mặt khác nhắn tin cho chúng tôi.

Và bây giờ là chuyện của của người pháo binh mũ xanh tự coi như quân đội và cả cuộc đời bỏ quên anh từ 1972.

Anh Tâm cho biết là dân Bắc kỳ di cư, cả nhà đạo gốc, đi Thủ Ðức khóa 12 ra trường năm 1962 về thủy quân lục chiến rồi đi học pháo binh. Du học Mỹ 1 năm, lập gia đình. Ðầu năm 1972 đem pháo đội B của tiểu đoàn 1 pháo binh TQLC ra Huế, đóng tại Camp Carroll, yểm trợ cho lữ đoàn 259.

Nói đến căn cứ Carroll, người pháo thủ của chúng ta hết sức dè dặt. Anh cho biết khi các cố vấn Mỹ thấy ông Ðính ra lệnh đầu hàng thì chỉ có đơn vị pháo binh thủy quân lục chiến không chấp nhận. Cả hai ông cố vấn bèn tìm đến khu vực của pháo đội B nói chuyện. Anh Tâm cũng muốn thảo luận để phối hợp hành động. Tuy nhiên bên cố vấn cũng chưa biết tính đường nào. Có thể họ nghĩ rằng phá vây đơn lẻ thì dễ thoát. Do đó mạnh ai tính lấy chuyện của mình.

Ðại úy Tâm về họp các sĩ quan, và hạ sĩ quan nòng cốt. Tất cả đồng ý không hàng. Anh Tâm bèn chia ra nhiều toán và chỉ thị sẽ tùy nghi chiến đấu tìm đường tẩu thoát. Anh ủy cho 1 sỹ quan người địa phương biết địa lý. Cố thoát về được để báo cáo cho Bộ chỉ huy TQLC. Tất cả anh em đều đồng ý không chịu kéo cờ hàng.

Sau cùng kết cục cũng không phải là trận đẫm máu như đã dự trù. Trong lúc các đơn vị bộ binh đầu hàng, địch ở ngay sau lưng thủy quân lục chiến nên hầu hết các sỹ quan pháo binh của pháo đội đều bị bắt làm tù binh. Trên 50% lính phá rào chạy thoát cùng với 1 sỹ quan đã được ông Tâm ủy nhiệm dẫn anh em chạy.

Vì là sỹ quan thủy quân lục chiến cao cấp nhất trong nhóm, lại không chịu cộng tác nên đại úy Tâm được coi là tù binh, bị tách riêng và giải đi 10 ngày 11 đêm đường bộ vào Quảng Bình rồi đưa lên xe ra Hà nội.

Suốt từ đầu tháng 4-1972 anh hoàn toàn biệt lập, giao về ở chung với các tù binh VNCH bị bắt ở Hạ Lào. Ðến 1973 cũng không được trao trả tù binh theo Hiệp Ðịnh Paris.

Cộng sản nói là miền Nam nếu muốn thì phải nói chuyện với Pathet Lào. Ðã có lúc anh bị đưa vào Hỏa lò Hà Nội rồi lại đưa lên miền Bắc. Ðến 1975 anh củng vẫn không được đưa về cùng trại với các sỹ quan tập trung cải tạo. Vì không ở chung với anh em nên anh chàng pháo binh thủy quân lục chiến hết sức cô đơn và hoàn toàn không có tin tức gì về thế giới miền Nam. Chỉ biết sống với đói rét. Vợ anh ở nhà không biết tin tức gì để thăm nuôi. Nghe đồn chồng đã chết ngay từ tháng 4-72 tại căn cứ Carroll.

Nhưng nàng không tin và vẫn chờ đợi. Hai vợ chồng mới cưới, chưa có con, bà xã làm cho Hội Việt Mỹ Saigon, năm 1975 đã có giấy cho cả nhà ra đi nhưng vẫn cố ở lại với hy vọng. Lúc đó anh bị giam ngoài Bắc chẳng hề biết tin tức gì về cuộc di tản tại Saigon. Tuy nhiên, con người vẫn có phần số riêng. Năm 1978 một số anh em cấp úy diện tù binh được đưa vào miền Nam ngay tại trại Suối Máu.

Lúc đó anh mới tìm cách báo tin về cho gia đình.

Tuy nhiên, ngay đến lúc được tha cũng không biết trước. Anh phải tự lần mò tìm đường về. Về đến Sài gòn, bỏ gói đồ đầu ngõ, lén đi qua nhà. Anh em bạn tù chỉ dẫn. Mày rình bên ngoài, ngó vào nhà thấy người lạ, có nón cối, thì đi ngay chỗ khác chơi cho khỏi bẽ bàng.

Anh Tâm làm đúng như lời dặn. Thấy trong nhà không có nón cối. Thấy vợ còn ngồi với bố mẹ. Anh bèn quay lại đầu ngõ để lấy túi xách. Yên tâm trở về.

Ông bố nói rằng: “Ai như tao thấy bóng thằng Tâm trở về.

Hóa ra Tâm về thật.

Bây giờ ở đọan cuối thì chuyện nhà ai cũng tương tự.

Ông bà HO 5 (1991).

Cô vợ của Hội Việt Mỹ một thời vẫn chung thủy chờ đợi anh. May quá, chỉ xa cách có 6 năm. Xem ra từ lúc nhập ngũ 62 đến 72 là 10 năm pháo thủ cho thủy quân lục chiến.

Lại không chịu treo cờ trắng đầu hàng mà chỉ bị tù binh 6 năm cũng là nhẹ. Anh không cho rằng vì cộng sãn nhân đạo đối với cá nhân. Tất cả là nhờ ơn Thiên Chúa. Cả nhà anh theo đạo gốc. Ðức tin giữ cho anh sống để chờ đoàn tụ. Ðức tin cũng giữ cho vợ anh sống để chờ đoàn tụ. Anh phải sống thêm 3 năm biệt lập ở kinh tế mới Hố Nai.

Trốn tránh đi theo phục quốc nhưng chuyện bất thành. Sau xoay được hộ khẩu Sài Gòn, mười năm nội trợ nuôi con cho vợ đi làm. Dù sống khó khăn nhưng rồi vợ chồng cũng HO được hai con trai qua Mỹ năm 91. Các cháu học hành đỗ đạt, có nghề chuyên môn vững chắc. Cha mẹ cũng vậy. Chuyện cũ bao năm qua anh không hề nhắc đến một lần. Ðời binh nghiệp vẫn cảm thấy lẻ loi, cô đơn như 37 năm về trước. Những ngày bị bắt, rồi bị xếp loại tù binh Hạ Lào hết sức vô lý. Ðại úy Tâm dè dặt tâm sự. Dù vậy, anh cũng có đôi điều muốn nói thêm. Anh cảm ơn sự chờ đợi thủy chung của bà xã. Hoàn cảnh của chị cũng hết sức đặc biệt. Ða số vợ con người ta đều biết tin để thăm nuôi. Riêng anh Tâm của chị hoàn toàn không có tin tức ngay từ tháng tư năm 1972. Hiệp định Paris 1973 đem lại chút hy vọng mong manh nhưng rồi lại tuyệt vọng. Có tin anh đã chết tại Carroll. Lại có tin anh đầu hàng đi theo cộng sản. Từ 72 cho đến 75, miền Nam sống trong cơn hồng thủy nên gia đình cũng chẳng nhận được tin tức. Cho đến khi người tù thực sự trở về. Chị vẫn tiếp tục giữ các kỷ niệm của anh cho đến ngày nay. Ngồi bên người vợ đã tuyên hứa một đời theo thánh lễ, anh nói lời cảm ơn vợ hiền qua điện thoại để xin niên trưởng viết thành câu, in thành chữ cho nhà em đọc.

Đoạn cuối một chuyện tình.

Phần thứ hai có thể còn quan trọng hơn khi anh hết sức ca ngợi các sỹ quan và binh sĩ Thủy quân lục chiến của pháo đội B rất nhỏ bé gần như bị bỏ quên tại căn cứ Carroll từ tháng 3 năm 1972. Cũng là lính mũ xanh, cũng mặc áo rằn mầu biển, những anh lính trẻ thủy quân lục chiến cũng xâm trên tay hai chữ Sát Cộng và trong ngực đủ 4 chữ Thương nhớ mẹ hiền. Những cậu lính vừa tròn 18 tuổi, chết không sợ, nhưng rất sợ bị địch bắt. Sát Cộng mà đầu hàng thì quê biết chừng nào.

Ngày 2 tháng 4-1972, trong khi toàn thể căn cứ Carroll đều bỏ súng, treo vải trắng, chuẩn bị đầu hàng thì riêng 100 TQLC của pháo đội B vẫn cầm súng. Tất cả đều đồng ý với anh là không đầu hàng. Dù sau đó không phải là pháo đội đã chiến đấu hy sinh cho đến người lính cuối cùng như bài tuyên dương huyền thoại của trung tá Camper. Sự thực một nửa vượt rào chạy thoát, một nửa bị bắt. Các sĩ quan của pháo đội B đều ở lại để lính phá rào vượt trại. Ngoại trừ một trung úy dân miền Trung, được anh ủy nhiệm phải tìm mọi cách đi thoát để báo cáo cho lữ đoàn. Nhưng sau cùng anh sỹ quan này cũng bị bắt trở lại.

Ðại úy Tâm còn nhớ như mới hôm qua, khi anh họp đơn vị báo tin trung đoàn đầu hàng, nhưng anh quyết định Thủy quân lục chiến sẽ không hàng. Pháo thủ của anh đều biết rằng cả trại gần 2000 binh sĩ đều bỏ súng thì 100 lính mũ xanh ăn nhằm gì. Ðịch bao vây chung quanh. Hơn 40 đại bác 130 và 122 của cộng sản đã bắn mở màn vào ngày 30 tháng 3. Súng lớn của bên ta hoàn toàn vô dụng vì các tiền đồn làm hàng rào phòng thủ đã rút hết. Vả lại, pháo đội B chỉ toàn súng 105 ly chẳng giúp gì cho cận chiến. Hàng ngũ sĩ quan cán bộ toàn thiếu úy mới ra trường. Ai biết gì đâu mà góp ý kiến.

Người pháo thủ thành Carroll.

Chính trong cái giây phút đó, tình chiến hữu của đơn vị, làm anh nhớ mãi đến hôm nay. Rất bình tĩnh và cương quyết, anh em hoàn toàn trông cậy vào ông đại úy Bắc kỳ di cư 54. Trong tinh thần đó, anh đã quyết định không hàng. Pháo đội B chạy thoát được một nửa. Một nửa bị bắt, nhưng được gọi là tù binh, không phải là hàng binh, vẫn còn vinh quang một chút cho mầu cờ sắc áo.

Anh muốn nhắn tin và hỏi han từng người một, nhưng mà suốt 37 năm qua sao chẳng gặp ai. Pháo đội B, TD 1 PB/TQLC của Camp Carroll 1972, ai còn nghe được tiếng gọi năm xưa, xin hãy đáp lời.

Ðây là Bẩy Sài Gòn, pháo đội trưởng, pháo đội B thành Carroll, các anh có nghe tôi rõ không? Trả lời...”

Giao Chỉ, San Jose

https://ongvove.wordpress.com/2012/06/22/nguoi-phao-thu-thanh-carol/

Hành trình vượt biển

Hồi ký Quốc Nam

https://tusachonline.files.wordpress.com/2016/03/11.jpg?w=840

Thông thường viết về chuyện vượt biên là phải kể đến những chuyến đi hải hùng hoặc bi thảm trên biển cả. Ngược lại chuyến đi của tôi trên biển rất bình an như khi xưa lái chiến đĩnh đi một chuyến công tác. Chỉ có khác về phương tiện, tâm trạng và ra đi không hẹn ngày về. Tuy nhiên tôi muốn ghi lại hành trình vượt biên qua nhiều chuyến đi khác nhau với chuyến đi sau cùng như là một huyền thoại nhưng là sự thật. Một phép lạ !

Sau một tháng khi ra trại tù, với chuyến vượt biên đầu tiên tôi được đưa ra một chiếc ghe nằm ngoài khơi Rạch Giá. Bọn lo về bải đă chuyển người lên ghe vào xế chiều bằng các chiếc xuồng nhỏ chạy máy đuôi tôm, nhưng chúng quên hay cố ý không tải dầu ra ghe lớn ( gọi là cá lớn ).

Không có dầu tôi nhất định không cho đổ người lên ghe. Nhưng trước sự hâm dọa của bọn tải người nếu không cho khách lên ghe chúng sẽ đẩy khách xuống biển mà trong đó có vợ con của tôi. Cuối cùng tôi phải nhượng bộ cho khách lên ghe và nhổ neo đón gió cho ghe trôi ra tuyến đường tàu bč qua lại để được vớt hay chấp nhận bị tàu địch bắt. Làm như vậy là cơ hội để cứu gia đình tôi và mọi khách trên ghe, hơn là neo tàu ở nơi vắng vẽ sẽ chết vì đói và khát. Quả thật như tôi dự đoán, trưa hôm sau một LCU của Việt Cộng đi qua và bắt chúng tôi. Tôi qua tàu chúng thương lượng chung vàng hay tiền đô la để chúng kéo ghe chúng tôi vào đất liền. Tôi trở xuống ghe gom góp vàng, tiền của khách giao nộp cho chúng. Nhận tiền và vàng xong chúng đồng ý đưa chúng tôi vào cửa sông vùng Tắc Cậu ( Rạch Gía ). Tôi chuyển người dưới ghe sang tàu VC.

Vừa vào trong sông một đoạn, chúng lùa tất cả người vượt biên xuống trở lại ghe. Tôi cùng một ông đại úy ( VNCH ) trốn lại trên tàu VC vì biết khi xuống ghe chúng sẽ tháo giây cho ghe trôi hay dạt vào bờ thì không thoát khỏi bị bắt tại Tắc Cậu ( ổ của VC ngày xưa ). Tôi nói vợ tôi đừng xuống ghe, ba mẹ con ở lại tàu VC bằng cách chi thêm vàng để chúng đưa về Rạch Gía. Chúng đồng ý đề nghị của vợ tôi. Sau đó chúng mở giây cho ghe vượt biên tách rời LCU và chúng quay tàu trở ra cửa biển.

Đợi cho tàu ra khỏi cửa biển, ông đại úy và tôi liền xuất hiện làm như chưa kịp xuống ghe. Tôi cho họ biết vợ con tôi còn lại trên tàu này. Chúng tôi thỏa thuận chi thêm vài chỉ vàng nữa để được ở lại trên tàu về Rạch Gía. Chúng ưng thuận và đưa tàu vào cửa biển Rạch Giá. Tàu cập trước đền Nguyễn Trung Trực ( Rạch Gía ) cho chúng tôi lên bờ. Thấy tôi đi chân không, chúng cho tôi đôi dép râu. Vợ tôi xin thêm được cái áo bộ đội cho tôi. Lúc bấy giờ đă hơn 12 giờ khuya, đường xá vắng tanh.Tôi không biết dẫn vợ con đi đâu trong giờ khuya này.

Gia đình của tôi đang đứng trưóc quán ” Thuyền ra cửa Biển ” mà ngày xưa tôi thường theo ghe Duyên Đoàn 41 hay mang PCF cập bến để ghé vào quán cùng nhân viên ăn cơm hay lai rai. Ông đại uý vừa lên bờ đă thoát thân biến mất lúc nào tôi không hay. Tôi biết rành về Rạch Gía, nhưng sau 30/4/1975 mọi thứ thay đổi thế nào tôi không biết được. Các khách sạn tôi thường lui tới có còn không, nhà ông bác ruột của LĐ. Nghi Tích Sơn chủ nhân các khách sạn Đổ Thành tôi còn nhớ đường đến nhà nhưng sẽ không tránh khỏi bị bắt trọn đường ra chợ trong đêm khuya thế này.

Đánh liều, tôi dẫn vợ và hai đứa con đi thẳng vào văn phòng đang mở đčn sáng cạnh quán Thuyền Ra Cửa Biển giống như một trạm kiểm soát của VC để xin ngũ qua đêm. Một tên công an áo vàng đứng trước cửa văn phňng đang phì phà điếu thuốc lá. Khẩu súng A.K để nằm trên bàn viết bên trong.

Hắn đứng dựa lưng vào vách tường nhà nhìn chiếc LCU cập bến và nhìn chúng tôi từ dưới tàu lên không có chút nghi ngờ về gia đình chúng tôi. Có lẽ hắn lầm tưởng tôi là bộ đội hải quân của chiếc LCU cho nên khi tôi vừa tiến đến trước hắn , hắn vui vẽ hỏi:

– Đồng chí và chị đi đâu đây ?

Tôi chỉ chiếc LCU còn đang nổ máy và trả lời:

– Tôi là thủy thủ dưới tàu. Luật của hải quân cấm kỵ đàn bà ngũ trên tàu nên tôi lên đây xin đồng chí cho gia đěnh tôi ngũ tạm qua đêm.

Hắn liền đồng ý:

– Được, được! đồng chí đưa chị và hai cháu vào bên trong văn phòng ngũ. Tôi gác bên ngoài. Để tớ lấy cho chiếc chiếu nhé.

Mệt mõi qúa chừng, tôi thiếp đi lúc nŕo không hay. Khi thức giấc trời cũng vừa tờ mờ sáng. Tôi đánh thức vợ con dậy và ôm lấy mấy túi lát đồ đi lẹ ra bến xe Rạch Giá về Saigon vào lúc xế chiều. Một phen hú vía với chuyến vượt biên đầu tiên bị thất bại này. Nhưng từ đó đă cho tôi kinh nghiệm sau này khi nhận lãnh các mối vượt biên khác.

Một tuần lễ sau, một thằng bạn học rất thân hồi trung học tên Ngô Văn Bông. đến nhà thăm tôi và nhờ tôi lái chiếc ghe do người anh ruột tổ chức.

Khi biết ghe sẽ ra cửa Vũng Tàu, tôi từ chối vì mùa này biển đang động ở phía đông. Đi biển ở mặt hướng tây tôi đồng ý và đang trong mùa biển lặng và tôi tin mình biết đường né hải tặc, đồng thời chỉ cần trang bị một hay hai súng phóng lựu M-79 hoặc M.16 và với trái lựu đạn là có thể áp đảo lại hải tặc. Thông thường bọn hải tặc Thái Lan chỉ có một hoặc hai cây súng ngắn hay súng trường cũ kỹ, chúng sử dụng mã tấu nhiều hơn.

Đầu năm 1983 tôi có gặp LĐ. CBS tự S. Fox, cựu thuyền trưởng HĐ5ZP tại Saigon đang lúc S. Fox đang tìm mua hai khẩu M-79 để đi đường Rạch Gía ( trước kia bọn hải tặc thường tập trung ở phía tây của Hòn Tre ngoài khơi cửa Sông Ông Đốc lúc xưa chúng tôi ban đêm kích bên bờ phía đông chờ hùng sáng vòng qua mặt phía tây rượt bắt chúng. Chúng chỉ là bọn ngư phủ ở quanh năm trên biển và lén lúc sang biển Việt Nam để đánh bắt tôm cá lậu hay cướp lưới của ngư phủ Việt Nam. Khi xưa tàu hải quân chúng ta thường bắt được chúng đưa người về giam tại An Thới – Phú Quốc, thuyền chúng thì giao qua Quan Thuế tại Rạch Gía cập bến dọc trước đền thờ Nguyễn Trung Trực ).

Trước lời năn nỉ thiết tha của bạn học củ và đồng thời ông anh của Bông cho biết không thể thay đổi địa điểm và thời điểm ra đi được vě đă thu tiền khách. Nể bạn tôi đồng ý nhưng phải cho tôi xem chiếc ghe.

Chiều ngày sau, Bông đưa tôi vào bến Bình Đông, Chợ Lớn. Đến nơi, đứng tręn bờ nhìn chiếc ghe Bông chỉ, tôi dứt khoát từ chối ngay, không nhận lái chiếc ghe này với lý do: ghe bầu đi sông như thế không thể nào ra được cửa biển Vũng Tàu trong mùa này. Trước sự dứt khoác từ chối của tôi Bông đành chịu thua và đưa tôi về nhà để nhờ tôi hướng dẫn đứa em vợ của ông anh là một sĩ quan hải quân khóa 25 Nha Trang ( tôi đă quên tên ) vạch hải trình và kể những kinh nghiệm cần thiết khi lái tàu đi trong sông hay trên biển.

Người sĩ quan hải quân trẻ này chưa có kinh nghiệm nào về đi biển nên rất có thiện chí nghe và ghi chép tất cả sự hướng dẫn của tôi.

Tôi cũng từng chỉ cách lái ghe, đi sóng và vạch hải trình cho một sĩ quan không quân, hoa tiêu khu trục tên Toản lái ghe cho gia đình người yêu tại Vũng Tàu đi đến nơi an toŕn vào giửa năm 1982.

Với khả năng đi biển không thể được của chiếc ghe bầu và dưới sự lčo lái bởi người sĩ quan hải quân chưa có chút kinh nghiệm đi biển là một nguy cơ lớn cho họ mà tôi đã thấy trước được. Tôi ra sức ngăn cản gia đình Bông và cho biết đây lŕàsự quá sức mạo hiểm và liều lĩnh. Tôi khuyên Bông nên suy nghĩ lại….Nhưng họ quyết định ra đi với ngày “đánh” ( danh từ ra đi trong giới vượt bięn ) như dự định.

Tối hôm đó tôi ghé vào nhà ba má của Bông để thăm hỏi tin tức chuyến đi vŕ biết được hung tin: chiếc ghe không ra được cửa biển và đă lật úp khi quay trở vô. Một số người chết chěm, số bị bắt và bị bắn chết. Người sĩ quan hải quan trẻ mà tôi kể trên cũng đã mất mạng trong chuyến này với người chị ruột và các cháu là vợ và con của ông anh người bạn học. Bông thoát nạn nhưng vợ con cũng bị mất mạng và ông anh bị bắt.

Một tháng sau, tôi theo dõi chuyến đi của LĐ. Đổ Văn Qúy (K.6/69 – 1ĐB/NT). Qúy bị bắn chết ngay trên bải đổ người tại Bà Rịa, để lại người vợ trẻ mới cưới đang mang bầu hai tháng và bà mẹ gìa đầm đìa nước mắt khi tôi ghé hỏi thăm chuyến đi của Qúy. LĐ. CNT ( TT/ HĐ5ZP ) cũng quyết định gĩa từ vượt bięn khi tham dự một chuyến đi. Ghe bị lật úp làm chết chìm người yêu……

Đầu năm 1982, tôi nhận một chuyến đi khác tại Thị Nghč. Trong các ghe tôi nhận đi thě chiếc ghe này đưọc tôi ưng ý nhất. Kiến trúc của ghe là loại tàu đi biển đánh cá, vỏ ghe bằng loại gổ tốt, dẩy và kín nước. Ghe lớn hơn PCF ( mark I ) một chút vŕ trang bị một máy mới có mă lực cao. Trước ngày đánh tôi thường dợt ghe nhiều giờ mỗi ngày vŕàtrong suốt một tuần lễ trên dòng sông cạnh Cư xá Thanh Đa, Gia Định.

Nhiều lần vượt biên thất bại nên chuyến đi này tôi quyết định đi một mình để vợ con ở lại nhà với số vŕàng của chủ ghe chi trả.

Trong ngày đánh, vợ tôi đổi ý muốn đi theo tôi và trả vàng lại cho chủ ghe. Sự thay đổi bất ngờ này làm chủ ghe phải bỏ tiền gấp đôi để thuê một chiếc xuồng nhỏ đưa vợ con tôi từ Thị Nghč ra bải tại Bà Rịa.

Người thanh niên chèo xuồng bổng ứng khẩu như một phép lạ khiến anh ta tự xưng là một thủy quân lục chiến của VNCH và khuyên vợ tôi nên đi về vì cái bải người chủ ghe mua là một bải chuyên lừa bịp. Vợ tôi nghe qua thất kinh và yêu cầu người lái xuồng cho cập vào bến đò Thủ Thiêm. Vợ con tôi lên bờ và đón xích lô về tận nhà chủ ghe báo tin.

Tôi và chủ ghe đang ở nhà chờ tin đưa khách đến bải xong , tôi sẽ lái cá lớn ( danh từ gọi ghe vượt bięn ) ra đón khách. Thấy vợ con tôi quay về với tin tức từ ngưňi chèo xuồng cho biết làm cả hai chúng tôi chới với. Chủ ghe đứng ngồi không yên. Không đầy nữa giờ sau, chúng tôi nhận được tin bải đă bị bể. Một số khách đă bị bắt, một số khác đă chạy thoát thân được trong đó có hai thằng bạn của tôi là sĩ quan Không Quân lái khu trục tên Hùng và Đức

Sau chuyến thất bại này, tôi lại gặp những thất bại khác với mỗi chuyến mỗi thất bại khác nhau. Có chuyến họ dùng tôi để gạt gẫm tiền, vàng của bạn bè hay gia đình quen biết với tôi muốn vượt biên. Rất may không lần nào tôi bị bắt. Nhiều lần ra đi thất bại, vợ chồng tôi chán nãn hứa quyết định sẽ đánh một chuyến cuối cůng nữa và nếu thất bại sẽ giã từ nghiệp vượt biên.

Đầu tháng sáu năm 1983, cố HQ. Trung Tá Nguyễn Duy Khanh được phóng thích từ trại tů. Thỉnh thoảng vợ chồng tôi đạp xe vào tận Phú Lâm để thăm anh chị Khanh hoặc cůng anh uống cà phê hoặc kéo nhau đi ăn cơm tối. Tôi cũng thường theo anh Khanh tụ tập tại một căn nhŕ bạn bč của anh tại Tân Định nhậu nhẹt, đánh bài với đám bạn bč anh Khanh, Khả Năng vŕ một số văn nghệ sĩ ” phản động ” khác. Hoặc thỉnh thoảng theo anh về tận Phú Xuân, Nhà Bč để ăn giỗ tại nhà ba má ruột của anh.

Một buổi trưa nọ, anh Khanh nhắn tôi vào nhà tại Phú Lâm để giới thiệu tôi với một chủ tàu:

– Anh muốn tìm thuyền trưởng hải quân thì đây tôi giới thiệu anh Nam từng là thuyền trưởng dưới thời tôi làm Chỉ Huy Phó Hải Đội.

Chủ ghe lập tức đồng ý ngay. Tôi ghi nhận các chi tiết mà anh ta dặn dò. Tôi rất an tâm với chuyến đi này vì tin anh Khanh cho biết đám này từng tổ chức nhiều chuyến đi đă thành công, vã lại chuyến đi này còn có vợ con và người thân của chủ ghe cùng đi. Anh Khanh cũng gởi gấm hề Khả Năng đi với tôi. Nhưng giờ chót không thấy Khả Năng xuống ghe. Sau nầy nghe tin Khả Năng qua đời tại Việt Nam khi tôi đang ở Nhật Bản.

Ba ngày sau đó, chủ ghe cho một tên công an VC tên là Việt, chuyên lo về bải để đưa tôi đi nhận vị trí đổ người và quan sát địa hình ra cửa sông Bình Đại (tỉnh Bến Tre). Đi với hắn tôi mang chứng minh nhân dân giả với nghề nghiệp là thầy giáo. Chúng tôi đến một xóm nhỏ sống nghề lưới cá. Hắn và tôi vào một gia đěnh hắn quen biết nhậu ngay một chầu rượu đế ngất ngây. Chiều tối chúng tôi theo chủ nhà xuống một ghe đánh cá nhỏ chạy ra gần cửa biển, họ chỉ cho tôi địa điểm đổ khách vượt biên bên kia bờ và sau đó chúng tôi chui vào một con rạch nhỏ tiếp tục nhậu trên ghe. Ngũ lại trên ghe nhỏ đêm đó. Hừng sáng chúng tôi quay về. Người chủ nhà đưa chúng tôi ra chợ ăn sáng và tiễn chúng tôi lên xe đò trở về Saigon. Xuống bến xe, chúng tôi đón xích lô đạp về Gia Định. Chưa rời khỏi khu vực Chợ Lớn, tên công an hỏi tôi có biết cái động nào không để hắn “xă xú báp “. Tôi hỏi phu đạp xe có biết cái động nào không? Ông ta trả lời: có biết và đưa chúng tôi đến một động không xa chợ Saigon cho lắm. Ông phu xe ngồi chờ dưới lề đường. Xong việc, chúng tôi ra xe đi về Gia Định và chia tay.

Sau khi tôi đi một tháng, ông anh cột chčo của tôi cũng là sĩ quan hải quân, khóa 17/NT cũng ra đi tại bải do tên công an này tổ chức. Trước khi đi, tôi có dặn ông anh cột chèo này cẩn thận khi ra cửa Bình Đại để tránh cái cồn rất lớn chắn giửa cửa sông. Tuy trên ghe có đến hai hải quân đại úy Nha Trang và một HQ. Trung Úy Đoàn Viên, nhưng cuối cùng cả ba đại quan đưa ghe leo lên cồn tại cửa biển, rất may là nước đang lớn dần, các đại quan hải quân cůng một số khách lội nước kéo được ghe ra khỏi cồn và tẩu thoát trước khi Việt cộng từ bờ ra bắt. Gặp tôi tại Hoa Kỳ, ông anh nhắn lời của tên công an tên Việt mà tôi kể trên đã than phiền tôi nghe lời ông phu xe xích lô để đưa hắn vào động ” zőm “, phải mang bệnh lậu.

Đúng giờ hẹn, gia đěnh tôi có mặt tại vườn hoa Lạc Hồng, Mỹ Tho. Vài người trong tổ chức vượt biên đón chúng tôi. Họ kéo nhau vào một nhà hàng sát bờ sông kêu bia nhậu. Sau đó họ giả bộ say rượu la lối và níu kéo nhau xuống một xuồng nhỏ chờ sẵn để qua bên kia sông nhậu tiếp. Chiếc xuồng này đưa gia đình của tôi và vợ con chủ ghe ra một chiếc ghe lớn neo giửa dòng.

Lên ghe, việc đầu tiên là tôi kiểm ngay dầu, nhớt, nước ngọt, giây neo, phao. Sau đó tôi đo đạt một số kích thước trên ghe để tính trọng tải của tàu. Tôi đă dùng sơn vàng đánh dấu một vạch lớn dọc theo hông ghe định mức trọng tải. Nhu cầu mà tôi yêu cầu chủ ghe cung cấp tương đối đầy đủ. Hải đồ, la bàn từ, địa bàn bộ binh và ống nhòm sẽ giao tại bải đổ người.

Trước giờ nhổ neo khoảng nửa giờ, một tàu tuần của VC xuất hiện. Chúng bỏ neo án ngữ tại eo sông. Tôi thấy các tàu bè qua lại đều ghé vào cho chúng kiểm soát. Tôi běnh tỉnh cởi bỏ quần dài và cuộn lại bỏ vào một túi nylon dự tính nếu tàu tuần VC kêu ghe lại, tôi sẽ ôm theo quần áo nhảy xuống sông bơi vào bờ thoát thân, để lại vợ con trên tàu. Dù sao đàn bà và trẻ con nếu có bị bắt cũng dễ dàng được thả ra khi chuộc ra bằng tiền. Nếu bản thân của tôi bị bắt mà không khéo che dấu được lý lịch sĩ quan ” ngụy ” thì rất dễ dàng ăn đạn tại chổ hoặc vào tù không có ngày ra.

Đúng giờ nhổ neo và theo lời dặn của chủ ghe tôi lấy bình nước đổ vào mũi ghe. Theo chủ ghe cho biết: đây là nước phép. Đổ nước này lęn mũi ghe trước khi lên đường sẽ giúp cho ghe tàn hình, tàu tuần hay trạm gác sẽ không trông thấy ghe di chuyển. Tôi không tin điều này và suýt quên nếu vợ ông ta trên ghe không nhắc nhở tôi trước khi nhổ neo. Sau này tôi nghĩ ra có lẽ đây là ám hiệu cho tàu tuần án ngữ trên sông không kêu ghe chúng tôi lại vì đã được tổ chức vượt biên bỏ tiền mua chứ không phải là nước phép chi cả. Họ muốn bảo mật đường giây làm ăn nên nói gạt tôi mà thôi.

Đổ ” nước phép ” xong, tôi khởi động máy tàu và nhổ neo. Tôi cho ghe chạy áp bên trái của dòng sông và chạy tàn tàn qua chiếc tàu tuần. Không biết do may mắn hay do ” nước phép tàn hình “, chiếc ghe chúng tôi tĩnh bơ đi ngang qua chiếc tàu tuần mà không bị chúng kêu lại. Lái ghe dọc theo bờ bên trái và khi vừa khuất tàu tuần, tôi gia tăng tốc độ. Ghe đến điểm bốc khách gần cửa biển sớm hơn giờ đă định.

Đúng 10 giờ đęm, các xuồng nhỏ bắt đầu đổ người lên ghe lớn. Một thanh niên tìm tôi để đưa một túi đồ bên trong có một la bàn từ, địa bŕn, hải đồ, ống nhňm của hải quân và năm cây thuốc lá hiệu Smitt của Thái Lan.

Không khí trở nên ồn ào, náo loạn: tiếng gọi tên, tiếng quăng đồ vật lên sàn tàu, người trèo kẻ chen lấn làm ghe chồng chềnh rất nguy hiểm. Tôi quát tháo khàn cả cổ để kêu gọi khách trèo lên ghe theo thứ tự. Thỉnh thoảng vài chiếc ghe đánh cá từ cửa biển đi vào với ánh đčn pha trên mui ghe soi sáng rực cảnh đổ người lên ghe làm tôi hốt hoãng. Cảnh hỗn độn cŕng tăng khi nhiều chiếc xuồng tiếp tục cập vào ghe. Tôi chọn vài thanh niên to tiếng trấn áp và ép khách chui xuống hầm ghe để lớp khác trèo lên. Nhiều xuồng chở đầy ấp khác còn đang hướng mũi về chiếc ghe.

Trước cảnh tượng ồn ào, hỗn độn và xuồng đưa người ra càng đông, tôi lo sợ liền dùng đčn pin soi hông tàu thấy mực nước sông dâng gần đến vết sơn vàng đánh dấu trọng tải, lập tức tôi kêu các thanh niên kéo neo lên và bỏ chạy.Ghe hướng mũi ra cửa biển bỏ mặc các xuồng nhỏ chở đầy ấp người đưổi theo.

Quá trọng tải là điều không thể nên tôi dứt khoát lái ghe đi không dừng lại và bất chấp bọn lái xuồng hay đi chui reo hò hâm dọa hay là khách đã bỏ tiền ra đi cuống quít.

Trời tối đen như mực, khách đă được dồn xuống hầm không còn nghe ồn ào. Tầng bên trên giáp với chổ đứng lái tàu là một phòng nhỏ mà tôi dành cho gia đình thân nhân chủ tàu và vợ con tôi. Đi được một đoạn, tôi thấy một dáng tàu to lù lù tiến vào cửa sông Bình Đại, dùng ống nhòm tôi thấy đó là một tàu tuần của VC đang kéo theo một ghe đánh cá. Rất may là ghe tôi đang đi dưới gió nên lập tức tôi ép ghe áp sát vào bờ phía bắc( bên trái ), giảm hẳn tốc độ gần như thả trôi. Chiến thuật dưới gió thật hiệu qủa. Chờ cho chiếc tàu tuần đi ngang qua và chưa kịp phát hiện ra ghe, tôi liền tiến máy hết ga chạy dọc bờ và theo hướng đi đă nghiêng cứu trên hải đồ từ trước để ra cửa sông tránh bải cồn to chắn ngay giửa cửa biển và đồng thời tránh trạm kiểm soát ở bờ phía nam của cửa biển.

Vừa lái vừa nhìn lại phía sau thì quả nhiên như sự dự đoán của tôi: chiếc tàu tuần bây giờ ở vị trí dưới gió, ghe tôi trên gió, chúng phát hiện ra ghe của tôi. Tàu địch quay đầu lại đuổi theo. Chiếc ghe của tôi dựa trên yếu tố xuất hiện bất ngờ và ở vị trí ngược chiều cùng tốc độ được gia tăng, trong khi chiếc tàu địch với khuyết điểm là tàu lớn lại đang kéo theo một ghe , cho nên sự vận chuyển đổi chiều để đuổi theo ghe của tôi sẽ không nhanh được. Khai thác ưu điểm này, tôi cho ghe tiến với tốc độ tối đa thoát ra cửa biển và bỏ xa tàu địch đang đuổi theo phía sau.

Tôi chỉ lo một điều là chúng sẽ bắn theo. Với thanh niên đứng bu quanh chổ lái tàu thấy tàu địch đuổi theo sau họ đă rời phòng lái chạy về phía trước mũi để tránh đạn nếu địch nổ súng. Tôi vẫn bình tỉnh cầm vững tay lái tàu tuy cũng có cảm giác rợn người y như khi hồi xưa tôi vừa xuống PCF của Hải Đội 5 Duyên Phòng đi trên lộ trình từ căn cứ Năm Căn ra cửa Bồ Đề trong vài chuyến đi công tác đầu tiên hồi họp lo sợ bị VC phục kích bắn B.40 vŕào tàu. Cảm giác rợn người thoáng qua rồi biến mất vì trách nhiệm. Tôi lo hơn là sợ. Rất may chúng không nổ súng, ghe tôi đã ra được cửa biển và bỏ xa tàu địch phía sau còn trong sông.

Ra được cửa biển vào khoảng gần 5 giờ sáng. Lúc bấy giờ tôi thấy bên phía trái ghe hướng 10 giờ sát bờ một chiếc tàu bổng bật đèn phòng và đèn pha trên mui sáng rực. Linh cảm cho tôi biết có lẽ là tàu tuần của địch đang kích ngoài cửa biển nhận được lệnh đang chuẩn bị nhổ neo chận bắt ghe của tôi. Lập tức tôi đổi hướng đi về phía Vũng Tàu với hy vọng sẽ đánh lừa tàu địch và ra đa của đài kiểm báo tại Vũng Tàu. Tôi tiếp tục lái ghe hướng về phía Vũng Tàu cho đến khi trời vừa hừng sáng đủ cho tôi thấy từ hướng Vũng Tàu một chiếc tàu tuần khác đang hết tốc độ chạy về hướng tàu tôi. Càng phút chiếc tàu địch càng lớn dần, tôi nhận ra là loại tàu tuần lớn cố ý đang tiến về mục tiêu chính là ghe của tôi. Lập tức tôi đổi hướng 3 giờ và tăng tốc độ ghe. Ra xa khỏi bờ tôi gặp phải nhiều dàn lưới cá trước mũi tàu. Các dãy lưới cá này không thể làm khó được những cựu thuyền trưởng như chúng tôi. Tôi liền áp dụng kỷ thuật cho tàu đi ngang qua lưới, với chân vịt của ghe không lớn và không nằm sâu lắm dưới mặt biển nên tôi tăng rồi ngưng tốc độ cho chân vịt ngừng quay để sử dụng trớn đưa con tàu lướt qua các dàn lưới cá.

Ghe thoát ra được vùng lưới cá và xa bờ dần. Sự đổi hướng đột ngột của tôi làm tàu địch chới với ŕàcũng đổi hướng theo. Tôi tiếp tục cho ghe chạy theo hướng đông. Tàu địch đang đuổi theo sau. Bổng tàu của chúng khựng lại và mũi tàu dạt ngang. Con tàu của chúng lênh đênh và lắc ngang. Theo kinh nghiệm lái tàu; biến cố này xảy ra cho tôi biết được là chân vịt của tàu địch đang bị cuốn lưới, hết chạy.

Ghe của tôi xa dần bờ, mặt trời vừa lú lên từ mặt biển. Với ngọn hải đăng Vũng Tŕu phía sau lái tàu và vài đối vật trên bờ, tôi đã xác định được vị trí phỏng định đầu tiên của chiếc ghe trên hải đồ. Biển động nhẹ. Chung quanh tôi không còn thấy dáng ghe tàu nào. Chiếc ghe đã thoát hiểm, tôi nhờ một thanh niên giử tay lái, tôi mở cửa hầm ghe vối xuống hầm nói lớn trong niềm hân hoan: ” báo cho đồng báo biết là ghe chúng ta đã ra ngoài biển an toàn, ghe đang hướng ra hải phận quốc tế “. Chạy đến giữa trưa, tôi không thấy ai từ hầm ghe trčo lęn. Tôi lại mở hầm ghe và leo xuống. Cảnh tượng dưới hầm tàu làm tôi sửng sốt với số lượng người nằm chen chút, rã rượi. Hầu hết khách nằm bất động vě say sống. Nhưng không có ai trong tình trạng cấp cứu. Tôi trở lên phòng lái, nhờ một thanh niên tên Hiền ( đang sinh sống tại Úc), người nhà của chủ ghe xuống hầm đếm người và kêu gọi thanh niên còn tỉnh và khoẻ lên trên để nhường chổ cho các bà, các cô và trẻ em nằm. Tổng số đếm được là 89 người, vượt trội hơn con số mà chủ tàu đưa ra hơn trên 30 thuyền nhân.

Vượt biên bằng đường biển qủa thật là một sự quá liều mạng. Nhớ lại khi hồi còn là một thuyền trưởng PCF với con tàu có hai máy General Motors 12V71 Diesel, phương tiện hải hành và truyền tin đầy đủ, đồng thời đi tuần dọc biển còn có các chiến đĩnh bạn mà đôi lúc đi đêm gặp sóng to gió lớn cũng phải lo âu hồi họp. Huống chi đi trên biển với chiếc ghe nhỏ, phương tiện hải hành không đầy đủ hoặc không có.

Thật sự nếu không liều lĩnh và tưởng rằng khả năng hải quân của Việt Cộng ngang như của hải quân chúng ta thì sẽ không có can đảm vượt biên. Sau 1975 cái lầm của phần lớn sĩ quan Việt Nam Cộng Hňa và kể cả tôi là đã đánh gía quá cao về khả năng của Cộng Sản mà cùng rủ nhau trình diện chính quyền VC và bị chúng lừa đưa hết vào trại tập trung. Nếu sớm nhận định được sự dối trá và khả năng thấp kém về mọi mặt của VC thì có lẽ không ít thì nhiều sẽ không tự nguyện vào tù. Thật sự nếu khả năng hải quân của VC như của hải quân VNCH thì những ghe vượt biên khó thoát khỏi vùng biển Việt Nam Nhiều ghe thuyền đã ra đi được đă chứng minh hải quân Cộng Sản Việt Nam không có khả năng vŕ phương tiện bảo vệ bờ biển. Có lẽ các đŕi kiểm báo của hải quân chúng ta đă không cňn sử dụng được vŕ lực lượng chiến đĩnh, chiến hạm của chúng không đủ rải đều tręn khắp vůng biển. Đi lại trong giới vượt biên sẽ thấy phần lớn bị thất bại từ bị lường gạt, đổ bể tại bải, hay bị bắt khi qua các trạm kiểm soát trong sông hay cửa biển hoặc ghe thuyền gặp nạn trên biển vě kỷ thuật máy móc, vì khả năng của ghe thuyền hay tài công hoặc hoa tiêu không có kiến thức đi biển. Tàu vưọt biên bị bắt trên biển là điều ít có xảy ra. Ra được biển coi như là thoát.

Tôi đưa tàu ra đi từ cửa Bình Đại, Bến Tre, một cửa khẩu mà tôi chưa có dịp một lần lái tàu vô ra. Tôi ra được cửa Bình Đại là điều may mắn. Con đường ra vô cửa biển này thì phải hỏi anh em thuyền trưởng Hải Đội 3 Duyên Phòng. Sở dĩ tôi nhận chuyến đi ra cửa biển này là do sự tin tưởng vào hải đồ. Hồi trước khi đi tuần dọc bờ biển từ Gành Hào vòng qua mũi Cà Mau cho tới Hà Tiên, tôi hay đưa tàu vào các cửa sông hay ghé vài hòn đảo lạ, tôi có thói quen dùng hải đồ để dň đường vào cửa sông hay lối vào hải đảo ( tuy hải đồ chúng ta sử dụng bấy giờ đă rất xưa ). Chính sự tin tưởng vào hải đồ nên tôi rất tự tin khi vạch đường ra cửa biển. Con thuyền cũng hết sức may mắn đă thoát hiểm qua được các cột đáy tại cửa biển . Ra cửa sông vào lúc trời tối đen như mực không bá vào các cột đáy dăn ngang cửa biển qủa là một phép lạ. Có lúc con thuyền đi vào giữa hai cột đáy mà be hông tàu cọ sát vào hai cột đáy phát lên âm thanh rợn người. Ngày nay mỗi khi nghĩ đến tôi còn ớn lạnh.

Sau khi thoát khỏi các tàu địch vây bắt và không còn thấy bờ, tôi cho ghe đi về hướng đông nam (150 độ) để ra hải phận quốc tế với hải trěnh ngắn nhất. Tôi tiếp tục chấm vị trí ( tương đối ). Độ lệch la bàn từ tôi dựa theo độ của mặt trời lệch với đường xích đạo vào tháng 7, tôi đo vận tốc ghe với phép toán đơn giản ( D = VxT ) bằng cách dùng phao ( lưới cá ) bỏ từ mũi ghe xuống mặt nước biển, khi phao trôi qua khỏi vạch đuôi ghe là tôi định được thời gian ( làm nhiều đoạn như vậy để lấy thời lượng trung bình ), tính độ giạt của ghe bằng cách dùng can thùng xăng rỗng của quân đội ngày xưa đóng kỹ nắp thả trôi sau lái được kéo dài một khoảng bằng giây thừng, dùng địa bàn của bộ binh để lấy độ từ đường tâm của chiếc ghe và góc lệch của sợi giây thừng. Hải trình ban ngày tôi thường xuyên dùng phương cách này để làm points. Ban đêm tôi lái ghe theo nhịp và hướng mũi ghe nhảy sóng, đồng thời dựa theo con sao mai hướng nam để giử hướng đi. Chỉ khi nào mũi ghe nhảy sóng với hướng độ khác lạ tôi mới kiểm lại với la bàn từ. Thói quen đi theo nhịp nhảy sóng của mũi tàu không cần xem la bàn khi hải hŕnh ban đêm thì không lạ với những thuyền trưởng hải đội duyên phòng.

Trưa ngày thứ nhì sóng khá lớn cũng vừa lúc tôi thấy rác rưới, lon không của đồ hộp thực phẩm theo sóng nhấp nhô cho tôi đoán là ghe sắp ra đến hải phận quốc tế. Chạy thêm cho đến khi trời tối, tôi thấy xuất hiện ở chân trời nhiều đčn của tàu bè qua lại. Tôi thả trôi ghe và cho các thanh niên thả neo thăm dò độ sâu của đáy biển để xác định hải phận. Lúc bấy giờ cũng đă hơn 2 giờ sáng. Tôi cho neo ghe tại đây. Tôi vẫn để máy ghe chạy vě tôi không dám cho máy ngưng sợ khởi động lại không được thě bỏ mạng. Tôi xuống kiểm soát lại máy móc vŕ tình trạng nước vào lườn. Sau hai ngày và hai đêm nước biển vào lườn cũng khá. Dùng bơm nước chẳng bao lâu thì bơm bất khiển dụng. Tôi ra lệnh cho các thanh niên thay nhau tát nước, nhiều thanh niên say sóng không ngồi lên được, tôi phải hù dọa: ” ai không tát nước, tôi sẽ quăng xuống biển. Lời hù dọa của tôi có hiệu qủa, nhiều thanh niên sở hải trước lời hâm dọa của tôi đă cố gắng ngồi dậy tiếp tay tát nước. Hầu hết khách trên ghe đều nằm hay ngồi gục bất động vě say sóng. Họ tiểu tiện và ói mửa tại chổ đến nổi những thanh niên tát nước đă tát phải từng chùm lải như nùi giây thung mà khách say sóng đã ói ra. Tát nước xong, tôi nhờ các thanh niên thay phiên coi ghe để tôi ngũ một giấc. Tôi ngũ chưa đă thì bị Hiền gọi dậy. Theo hướng chỉ của Hiền về hướng 3 giờ có ánh dàn đèn của một chiếc tàu lớn đang neo. Dùng ống nhòm tôi không định ra được loại tàu gì và của nước nào vì trời còn quá tôí và con tàu neo qúa xa. Tôi dùng đèn pin đánh đčn hiệu SOS. Chiếc hạm đáp nhận và gọi chúng tôi tiến đến họ. Tôi lại ngă lưng ngũ thêm một giấc. Tôi thức dậy khi trời vừa tờ mờ sáng, lớp sương mù còn dầy dặt chỉ đủ thấy được dáng một chiếc hạm lớn lờ mờ. Chiếc hạm vẫn tiếp tục đánh đčn hiệu. Nhiều người khách đàn ông dưới hầm chui lên tò mò khi nghe nói có tàu lớn ở gần.

Tôi cho lệnh nhổ neo để chạy đến chiếc hạm thì một ông khách người Hoa lớn tuổi khuyên tôi nên cẩn thận đừng vội vã đến chiếc hạm đó. Ông cho biết ông đă từng gặp trường họp ghe vượt biên mà ông đi trước đó chạy đến tàu lớn thě nhầm phải chiếc hạm của Liên Sô. Chúng bắt ghe và người giải giao cho tàu tuần của Việt Cộng. Tôi không nghe lời khuyên của ông khách và lái ghe về hướng chiếc hạm ẩn hiện trong sương mù. Chạy chưa được nữa giờ thì một trận mưa mây kéo đến phủ mờ chiếc hạm. Mưa tầm tả, đi sóng ngang làm chiếc ghe nghiêng ngữa, tôi sợ có khách sẽ lọt xuống biển nên tôi đành quay mũi ghe hướng về Nam để tránh cơn giông làm mưa tạt vào phòng lái và cho con tàu bớt vất vã. Không bao lâu cơn giông đã đi qua, chiếc hạm lớn lại hiện ra lờ mờ đằng xa.

Một lần nữa tôi lại hướng mũi ghe tiến về hướng chiếc hạm thì lập tức cơn giông kéo đến che mất chiếc hạm, tôi lại phải đưa mũi về hướng Nam thě lập tức trời ngưng mưa, sóng lặng. Nhiều cá Heo phóng cao trước mũi ghe hay chạy theo tàu. Trời lại trong sáng, chiếc hạm kia lại xuất hiện. Một lần nữa tôi ngoan cố lái về hướng chiếc hạm thì cơn giông lại kéo đến phủ mất chiến hạm y như hai lần trước.

Trước hiện tượng kỳ lạ này tôi cảm nhận có một quyền lực kỳ bí ngăn cản chiếc ghe của chúng tôi chạy đến chiến hạm đằng xa kia. Tôi quay sang hỏi Hiền:

– Anh theo đạo Công Giáo, anh có thấy đây là hiện tưọng kỳ lạ phải không?

Hiền nhúng vai:

– Em nghĩ đây là phép lạ. Thôi anh Nam hăy bỏ ý định đến chiếc hạm kia đi. Có lẽ đây là ý của Chúa.

Tôi cũng dứt khoát:

– Thôi thì mình đi thẳng đến Nam Dương vậy.

Tôi cho tàu quay về hưóng Nam. Vừa lái ghe tôi vừa kể cho anh Hiền nghe về hiện tượng kỳ lạ trong đęm khuya thứ hai khi tôi đổi hướng về phía nam. Mọi người trên ghe đều say sóng nằm vật ra im lìm như chết. Trên ghe chỉ còn một mình tôi với tay lái tàu. Tất cà họ không hay biết chiếc ghe đang chạy với một tốc độ cực nhanh đến đổi tôi phát sợ vě với tốc độ này nếu ghe va vào một hòn đảo hay chướng ngại vật trước mũi là vở toanh con tàu. Tôi không thể hảm vận tốc ghe. Huyền thoại về cá ông nâng ghe tàu trên biển xuất hiện trong óc làm tôi có cảm giác sợ hải vì sợ tàu bị lật. Tiếng gió rít lọt qua khe hở của phòng lái tạo thành âm thanh quái lạ làm tôi liên tưởng đến lời đồn tręn biển giửa khuya sẽ nghe thấy tiếng la khóc thảm thương của thuyển nhân vượt biên bị đấm tàu chết giửa biên khơi. Tôi cố lắng tay nghe những âm thanh quái lạ đó. Nhìn sự đối tác ngược chiều của be tàu với mặt biển cho tôi ước định ghe đang chạy với tốc độ cực nhanh. Từng nhiều năm đi trên các Yabuta, ghe Chủ Lực, PCF nên tôi có thể phỏng định được tốc độ tương đối của ghe hay chiến đĩnh đang đi trên biển hay trong sông. Ghe đang lướt nhanh như tôi đang lái PCF với hai máy tiến tối đa ( vào khoảng 30 đến 32 Knots ). Tôi tin đây lŕàmột phép lạ. Thật sự với hai nàŕy hai đêm trừ đi thời gian neo tàu ngủ đêm, ghe chúng tôi đă vượt xa gần 200 hải lý tính từ phía nam của Côn Sơn.

Sau ba lần tiến tàu đến chiếc hạm đều bị cơn giông kéo đến, đồng thời tôi bán tính bán nghi vào lời khuyên có tính dị đoan của vài thuyền nhân lớn tuổi. Tôi quyết định bỏ ý định chạy đến chiếc hạm và hải hŕnh về hướng nam. Mặt trời đă lên cao khỏi chân trời, gió lặng biển trong, từng bầy cá Heo đuổi theo sau lái hay vượt qua đầu ghe vui đůa. Nhìn thật xa, chúng tôi thấy nhiều tàu hàng lớn đi lại. Chúng tôi dùng áo quần vẩy ra dấu cầu cứu. Nhưng vì xa qúa, các tàu hàng không thấy hay có thể họ làm ngơ không muốn cứu vớt ghe thuyền vượt biên hay họ sợ gặp phải hải tặc.

Nhiều người khách đàn ông và thanh niên trẻ tiếp tục chui lên từ hầm ghe. Sau sàn lái hai cô gái người Việt gốc Hoa đang cố gắng kèm chặt cái lò để nấu nước sôi pha cà phê cho tôi mà hai cô gọi tôi là chú ba tài công. Ở góc trái, tôi bất chợt thấy một ông khách ngồi co ro gục đầu ngũ gục sát be sau lái tàu. Tôi nói lớn với hai cô gái người Hoa : ” coi chừng ông ngồi kia lọt xuống biển nha hai cô “.

Ông khách nghe tôi nói, liền ngước đôi mắt với nét mệt mői nhìn tôi. Vẽ mặt mệt mõi của anh ta vụt biến thành sự ngạc nhiên rồi vui mừng hẳn lên, đồng lúc tôi cũng vui mừng không kém:

– Ủa ! anh tên là Lê Văn Thưởng phải không.

Anh Thưởng tỉnh táo hẳn:

– Anh là Quốc Nam đây mà.

Tôi ngạc nhiên:

– hai ngày nay anh ở đâu trên ghe.

Anh Thưởng cười:

– thì ông nhốt tôi dưới hầm đó mà

Tôi thắc mắc:

– Uả ! Hôm kia tôi có xuống hầm xem khách ra sao, nhưng đâu thấy anh.

Tôi nói luôn:

– Thôi lên đây phụ lái với tôi. Anh là dân Không Quân mà, lái tàu cũng dễ thôi.

Anh Thưởng và tôi ở tù cải tạo cùng chung một đội tại Long Giao năm 1978. Anh là một Đại Úy Không Quân. Hiện anh đang định cư tại Nhật Bản.

Chúng tôi tiếp tục hải trình đã định để đến một hải đảo của Indonesia. Thời tiết thật tốt. Vào lúc gần 9 giờ sáng ở hướng 1 giờ trưa, chúng tôi thấy xuất hiện một con tàu lớn đi ngược chiều. Dàng ống nhòm tôi nhận được dạng con tàu loại vận chuyển khổng lồ. Theo dõi con tàu bằng ống nhòm, tôi thấy rỏ hàng chử LNG AQUARIUS sơn trắng bên hông tàu. Tôi đưa ống nhòm cho anh Thưởng tiếp tục quan sát và nói: không biết đó là tàu Mỹ hay của Anh Quốc. Nó không có treo cờ. Tôi lái ghe theo hướng Nam và chếch về chiếc tàu to lớn đang đi hướng ngược chiều.12 giờ 05 con tàu đi ngang sát ghe của chúng tôi. Khách vượt biên trên ghe nhốn nháo, chen lấn la hét gọi con tàu dừng lại làm cho chiếc ghe chồng chềnh mạnh. Tôi phải hét lên kêu gọi họ bình tĩnh giử thăng bằng cho chiếc ghe và cho họ biết con tàu ngoại quốc đang dừng lại. Có người đọc kinh Công Giáo, có kẻ niệm kinh của Phật, người trên ghe rối loạn cả lên. Có bà đang đọc kinh khi thấy con tàu lớn không dừng lại và lướt ngang qua ghe thì ngưng đọc kinh vối miệng theo chửi rủa con tàu tàn nhẫn. Nhìn sức đẩy sau lái con tàu to ngưng hẳn, tôi mừng rở cũng ngưng tốc độ và thả trôi ghe. Chiếc LNG Aquarius cũng dừng hẳn sau đó.

Khoảng hai mươi phút sau, thuỷ thủ trên LNG Aquarius ra dấu cho ghe cập tàu. Tôi mừng rỡ liền lái ghe đánh một vòng tròn đi ngược sóng để cập tàu vào đúng vị trí thủy thủ trên LNG chỉ định an toŕn. Nhiều thuỷ thủ ngoại quốc trên hành lang cao ngất của chiếc tàu hàng vỗ tay hoan nghinh và chào mừng. Các thuỷ thủ của LNG buông giây thừng xuống giử mũi và lái ghe. Tiếp đó họ buông thang giây xuống, vài thủy thủ theo xuống ghe. Tôi nhanh miệng: are you American ?. Họ vui vẽ: Yes. Anh Thưởng cũng mừng qúa: Oh! Our friends! Họ giúp đưa từng thuyền nhân trčo thang giây lęn tàu. Trên ghe chỉ có một cô gái trẻ vì quá đuối sức nên bất động phải dùng băng ca giây kéo lên.

Một thủy thủ của LNG Aquarius tháo gỡ tay lái tàu, la bàn từ và xin tôi tấm hải đồ mang về tàu. Một thủy thủ khác ở lại cùng tôi đụt phá một lổ lớn ở lườn tàu cho nước tràn vào. Ghe vừa trôi vừa chìm dần. Phá huỷ ghe cho chìm là lý do để họ vớt chúng tôi theo đúng luật hàng hải. Đứng trên thành chiếc tàu khổng lồ và cao ngất, tôi nhìn chiếc ghe nhỏ bé vừa trôi theo làn sóng vừa chìm dần giửa biển nước bao la, lòng tôi dâng lên nổi buồn khó tả: xin vĩnh biệt quê mẹ và xin cám ơn con thuyền nhỏ bé.

Trên chiếc LNG này, chúng tôi được phân phối phòng nghĩ ngơi, tấm gọi, ăn uống vŕ khám sức khoẻ. Anh Thưởng và tôi giúp đồng bào khai lý lịch. Chúng tôi được biên thư về gia đình kèm theo tấm ảnh chiếc LNG AQUARIUS. Tôi cũng biên thư cho anh chị Nguyễn Duy Khanh để báo tin chuyến đi đă thành công.

Sau đó vị hạm trưởng mời tôi và anh Thưởng lên phòng ông. Vị hạm trưởng hỏi chúng tôi muốn được đưa vào trại tỵ nạn của Nam Dương ( Indonesia ) hay theo tàu ông về Nhật Bản. Không chờ chúng tôi trả lời, ông đề nghị nên đi Nhật Bản. Ông cho biết Nam Dương chỉ cạnh đây thôi nhưng trại tỵ nạn tại đây nghčo khổ lắm. Người tỵ nạn rất khốn đốn.

Nghe ông nói chúng tôi có thể đi Nhật Bản nên anh Thưởng và tôi đồng ý ngay. Thứ nhất tránh sự cơ cực tại trại Nam Dương và thứ nhì chúng tôi muốn biết về nước Nhật giàu có. Sau đó ông quay sang tôi tìm hiểu với con thuyền nhỏ bé và không có phương tiện hải hành làm sao tôi xác định được vị trí hải hành. Ông rất ngạc nhiên khi thấy trên hải đồ tôi làm points so với hải đồ của ông nơi ghe được vớt vời vị trí tương đối không sai biệt lớn lắm: ở vĩ độ 7.33N và kinh độ 108.37 SE. Ông rất hứng thú khi nghe tôi giải thích. Sau đó ông ta nữa đùa nữa thật: ” anh có muốn đi tàu lại không ? “. Tôi cười và lắc đầu:” thưa không “. Tuy nhiên ông có cho tôi một danh thiếp của hảng tàu tại New York, nơi ông làm việc.

Rời phòng, ông đưa chúng tôi đến một phòng khác có cầu thang dẫn lên đài chỉ huy. Ông chỉ cho tôi mấy tấm ảnh và đồ vật lưu niệm được trịnh trọng treo trên vách cạnh cầu thang lên đài chỉ huy. Tôi đến gần xem, thì ra ông cho treo ảnh của các tài công và đồ vật lưu niệm của từng chiếc ghe mà tàu ông đã vớt được. Tàu ông đă vớt được ba ghe và chiếc ghe của tôi là chuyến vớt thứ tư trên đường ông đi từ Singapore về Nhật Bản. Tài công thứ nhất tôi nhìn ra cũng là bạn cùng khóa 2 đặc biệt Nha Trang ngày nay tôi đă quên tên, tài công thứ hai cũng cùng khóa 21 nhưng đi OCS mà tôi thường gọi là Quang nhí, cựu thuyền trưởng Coastguard ở Hải Đội 4 Duyên Phòng, người thứ ba là Bùi văn Qúy cũng khóa 21 đi khóa 9 OCS. Tôi cho ông biết các tài công trên đều là những sĩ quan hải quân của miền Nam và cũng là các bạn đồng khóa đồng môn của tôi. Ông cho biết sẽ để ảnh của tôi ở hàng thứ tư với vật lưu niệm là tấm hải đồ và tay lái của chiếc ghe. Sau đó ông đưa tôi lên đài chỉ huy và tặng cho tôi một chiếc mũ trắng có chạy chử LNG AQUARIUS với logo hình tay lái tàu màu xanh dương.

Từ điểm được vớt về đến bến tàu nào đó tại Nhật Bản mất trên sáu ngày. Một xe buýt thật sang trọng đến đón 89 thuyền nhân chúng tôi đưa về trại Omura vào lúc xế chiều. Sáng hôm sau anh Bảo, một người Việt đă định cư lâu năm tại Nhật Bản là nhân vięn của trại tỵ nan Omura cũng là thông dịch viên tiếng Nhật của trại đưa chúng tôi lên hội trường lớn. Khai mạc buổi nói chuyện về sinh hoạt của trại và làm thủ tục là nghi lễ chào Quốc Kỳ của Việt Nam Cộng Hoà. Chúng tôi đồng loạt đứng dậy theo lời hô của anh Bảo, không khí trong phňng bỗng im lặng và trang nghiêm. Không phải riêng tôi mà hình như tất cả thuyền nhân khác đồng cất tiếng hát bài Quốc Ca trong niềm cảm xúc tột độ. Tôi tự dưng đưa tay chŕo lá Quốc Kỳ và tự để cho dòng nước mắt chảy dài thấm vào ngực áo như nước mắt tủi thân của người con tình cờ gặp lại được người mẹ yêu dấu sau bao năm thất lạc.

Rời trại tạm trú Omura, gia đình tôi được ưu tięn (ưu tiên cho tài công ghe thuyền vượt biên theo anh Bảo cho biết) về trại tỵ nạn của vị Linh mục Picci, ông là người Ý, Cha xứ của một nhà thờ tại thành phố Saito thuộc tỉnh Miyazaki. Cha Picci thương yêu người Việt tỵ nạn một cách lạ lùng mà tôi chưa từng thấy ở một vị tu sĩ nào khác có được. Nhờ sự bảo trợ của Cha Picci, khoảng hơn chục gia đěnh người Việt ở trại Cha có sinh hoạt như một công dân người Nhật. Cha thuê nhà hoặc chung cư mới đầy đủ tiện nghi cho từng gia đěnh, các cô cậu độc thân thě ở tại nhà thờ, trẻ con ở tuổi mẫu giáo thì được đến nhà giử trẻ và trường học tại nhà thờ của Cha. Các trẻ lớn hơn thì được đi học tại trường Tiểu Học hoặc Trung Học của Nhật Bản. Ngoài sự bảo trợ nhŕ cửa và học vấn của vị linh mục ngoại quốc khả kính, người Việt tại đây còn được hưởng tiền trợ cấp của Cao Ủy Tỵ Nạn và của chánh quyền địa phương. Chẳng những thế các người lớn đều được Cha đưa vao các công ty làm việc với lương bổng như một công nhân người Nhật. Qủa đúng là một trại tỵ nạn được ưu đăi có một không hai của người Việt tỵ nạn trên đất Nhật.

Tuy nhiên có một điều làm chúng tôi chán nãn là những thuyền nhân có gia đình khó lòng rời được Nhật Bản để định cư ở nước thứ ba. Bởi vì vào đầu thập nięn 80, Cao Ủy Tỵ Nạn kêu gọi Nhật Bản ngoài việc trợ giúp tiền bạc phải nhận người định cư để chia sẽ gánh nặng với các nước tự do khác trên thế giới. Từ việc này mà các nước thứ ba khác kể cả Hoa Kỳ không vào nước Nhật để nhận người định cư. Họ chỉ giải quyết các hồ sơ bảo lảnh thân nhân của những thanh thiếu niên độc thân.

Hầu hết những gia đình tạm cư tại các trại tỵ nạn khác trên đất Nhật lần lượt chịu thua trước sự cưỡng ép định cư tại Nhật, họ đă phải ký giấy chấp nhận định cư để rời trại tỵ nạn ra ngoài mưu sinh, kể cả những sĩ quan VNCH cao cấp. Những gia đình người Việt tỵ nạn tại đây kể cả gia đěnh của tôi đều là nạn nhân của sự cưỡng bách định cư tại Nhật. Rất may người Việt chúng tôi tại đây có Cha Picci bao cho nên các phái đoŕn cưỡng bách định cư của Nhật ít khi vào đây. Thật sự Nhật bản là một quốc gia tân tiến, giàu có, xã hội rất an lành và mức sống của người dân rất cao. Người dân bản xứ rất hài hoà vui vẽ đón nhận người Việt. Nhưng trưóc sự phong kiến và kỳ thị chủng tộc bên trong của chính quyền Nhật Bản, ngưòi Việt tỵ nạn rất lo âu cho tương lai con em của mình nếu phải định cư tại Nhật.

Do đó, đi định cư tại các quốc gia khác ngoŕi Nhật Bản và nhất là được định cư tại Hoa Kỳ là niềm mơ ước của tất cả người Việt tỵ nạn tại Nhật. Sự kiện người Việt tỵ nạn tại Nhật bị cưỡng ép định cư tại Nhật Bản là điều làm tôi thật ân hận khi quyết định để cho tàu Mỹ vớt và đưa chúng tôi đến Nhật Bản mà ngay chính vị hạm trưởng của chiếc LNG cũng không biết đến sự kiện này. Ông tin là tàu Mỹ vớt thì chúng tôi sẽ được định cư tại Hoa Kỳ. Những đồng bào tôi đưa đi phần lớn đă bị định cư tại Nhật. Có lẽ họ trách cứ tôi rất nhiều.

Theo Cha Picci cho tôi biết gia đình chúng tôi có vài lần có tên trong danh sách được phỏng vấn đi Hoa Kỳ nhưng phái đoàn thiện nguyện phỏng vấn của Hoa Kỳ tìm cách dấu nhẹm đi hoặc theo thứ tự đến gia đěnh của tôi được phỏng vấn thì họ ngưng lại. Nghĩa là họ không muốn phỏng vấn gia đình chúng tôi. Lâu lắm có khi hơn nữa năm phái đoàn Hoa Kỳ này mới ghé trại một lần. Tôi cực kỳ bất mãn và đã viết thư khiếu nại đến tận trụ sở phái đoàn phỏng vấn tại Thái Lan. Việc khiếu nại này coi như là việc làm cầu may.

Nhưng không ngờ vào đầu năm 1986, một phái đoàn phỏng vấn dẫn đầu là một vị Trung Tá Hoa Kỳ từ trụ sở phỏng vấn người tỵ nạn ở Thái Lan sang tận trại Saito phỏng vấn gia đình của tôi àŕ chấp thuận cho gia đình tôi định cư tại Hoa Kỳ một cách dễ dàng. Nói phỏng vấn chứ thật ra ông Trung Tá này chỉ hỏi tôi hai câu thật đơn giản: tên tuổi, số quân và thời gian ở tù Cộng Sản. Ông ta đối chiếu lời khai của tôi với tập hồ sơ có sẳn về quân bạ của tôi mà ông ta mang theo.

Gia đình tôi có tin được phỏng vấn và được định cư tại Hoa Kỳ là một sự kiện gây xôn xao trong trại tỵ nạn Saito vŕà nhất là sự ngạc nhiên của một số anh em cựu sĩ quan VNCH và những sĩ quan hải quân khóa 17 ( HQ. Tân – trại Yuasa cùng quận Saito ) và 19 Nha Trang ( HQ. NV Lợi ) cũng từng là những cựu tù nhân cải tạo như tôi. Họ đã sống nhiều năm tại đây và không còn niềm tin nào vào các nước thứ ba đến nhận họ định cư. Họ không hiểu lý do nào mà gia đěnh chúng tôi được đi Hoa Kỳ vì ngay chính chúng tôi đến ngày nay cũng không hiểu được. Giả thuyết tàu Mỹ vớt sẽ định cư tại Mỹ cũng không phải là lý do đúng lắm vì thuyền nhân tại Nhật không thiếu gì do tàu Mỹ vớt nhưng họ cũng đâu được sang Hoa Kỳ. Vợ chồng chúng tôi cho đây là một phép lạ của ơn trên vậy.

Gia đěnh tôi rời Nhật Bản vào tháng giêng năm 1986 để đến tạm trú và học Anh Ngữ tại trại Bataang-Philippine. Tại đây tôi gặp lại các niên trưởng hải quân đă từng quen biết như : NT. Nguyễn Dinh (Lięn Đoŕn Trưởng LĐ/SVSQ/HQ/Nha Trang), NT. Nguyễn Văn Lang (Lang say-K.16/NT), NT. Nguyễn Quốc Hưng (K.18/NT) và các bạn củng khóa như Nguyễn Văn Hải (Hải hớt tóc -18C, lên đại úy sớm nhất khóa), Nguyễn Ngọc Bích (18C) và Trần Văn Công (Công ngũ -18C).

Gia đình tôi đến Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1986. Tôi lên internet tìm các bạn khoá 21 (lúc đó tôi chưa biết đến Hội Ái Hữu các Khoá Lưu Hải Quân Lưu Đày). Qua internet, bạn đầu tiên welcome tôi là Nguyễn Văn Trào (K.21/NT), kế đó là Hoàng Trọng Tuấn ( Tuấn cà -K.21/NT- Úc Châu) và Phan Văn Bắc (K.21/CK/NT- Việt Nam).

Qua E-mail tôi liên lạc được với HQ. Đại Tá Đổ Kiễm, cựu tư lệnh V4ZH, ông từng phạt tôi nhiều ngày trọng cấm xin gia tăng và cũng từng cảnh cáo đưa tôi sang bộ binh qua sự việc xung đột giữa Chỉ Huy Trưởng Duyên Đoàn 41 và tôi vào năm 1970. Ông đă nói: ” anh có muốn ra bộ binh không? anh mới ra trường với cấp Chuẩn Uý mà đã như vậy. Sau này trong hải quân ai chịu nổi anh đây. Anh chuẩn bị thuyên chuyển về An Thới, gần tôi để xem anh thế nào “. Tuy bị ông phạt nặng và cảnh cáo đưa sang bộ binh nhưng ông vẫn là vị chỉ huy cao cấp trong hải quân mà tôi kính trọng nhất qua tác phong chỉ huy và tài đức của ông. HQ. Thiếu Tá Phan Văn Trạng, Cựu Chỉ Huy Trưởng Duyên Đoàn 42 có dịp đến Oregon đă ghé nhŕà tôi nhậu chí tử và ngũ lại qua đêm. Cố HQ. Trung Tá Nguyễn Duy Khanh (ân nhân của tôi) cũng từ nam Cali lên Oregon đôi ba lần để cùng tôi àŕ người nhái Nguyển Cao Thắng đi chơi đây đó như thuở xưa gặp nhau tại Saigon. Đêm Hội Ngộ Lưu Đày năm 2003 tại Wasington DC tôi rất vui mừng gặp lại được HQ. Đại Úy Lý Thần Thông ( K.16/NT), một niên trưởng có nhiều kỷ niệm với tôi trên vùng biển của vùng 4 và 5 Duyên Hải và LĐ. Phan Văn Năm (K.5/69) là bạn học từ trung học.

Tại nơi cư ngụ, tôi có quen biết với các niên trưởng cao cấp khả kính như HQ. Đại Tá Nguyễn Văn Hớn, ông thỉnh thoảng ghé nhà hàng của tôi ăn mì thập cẫm và kể những chuyện vui mà ông đã quậy như ai khi ông còn là quan hải quân cấp úy. HQ.Trung Tá Lê Văn Quế hằng năm đều gởi thiệp chúc mừng Giáng Sinh và Năm mới đến gia đěnh tôi, ông đă dọn về cư trú tại Houston-Taxes. Ông có e-mail cho tôi biết ông được hân hạnh tham dự Tiệc Countdown 2006 do anh em hải quân Lưu Đày vŕ OCS tổ chức, ông ca ngợi buổi dạ tiệc thật đông và vui, ông cũng hẹn sẽ gặp lại tôi trong kỳ Lưu Đày Hội Ngộ 2007 tại Houston, Taxes. Tôi cũng quen thân với HQ. Đại Úy Trần Anh Tuấn (Tuấn đầu bạc, thủ khoa K.18/NT) và HQ. Trung Úy Huỳnh Ngọc Duẫn (K.18/NT). Anh Duẫn và tôi rất thân nhau và anh cũng là thầy dạy tôi từng chút về computer, anh là một sĩ quan hải quân ưu tú, khi còn là SVSQ/HQ/K.18 anh được tuyển về BTL/HQ để chuẫn bị đi học hải quân tại US Naval Academy ( Annapolis), trường hải quân nổi tiếng của Hoa Kỳ, nhưng sau đó có một sĩ quan khác được thế vào vì anh bị trả vể TT/HL/HQ/ Nha Trang. Anh bất mãn nạn bè phái này nên sau khi xong trách vụ làm sĩ quan cán bộ OCS tại Hoa Kỳ trở về Việt Nam anh nạp đon xin rời Hải Quân để qua Nha Kỹ Thuật. Trong thời điểm Việt Nam Hoá Chiến Tranh, khi anh chờ giải ngũ vě bị thương chân, anh trong nhóm dịch tài liệu hải quân của Hoa Kỳ sang Việt ngữ của BTL/HQ với gíá một chữ một đồng Việt Nam.

Vừa đến Oregon tôi đă bắt tay ngay vào sinh hoạt hội đoàn. Tôi cùng HQ. Nguyễn Văn Đông và cố HQ. Nguyễn Quang Ánh, cả hai khóa 23/NT sát cánh nhau chăm lo Hội Hải Quân Oregon và Nam Washington. Đi Seatle tôi có gặp Lê Minh Bạch (18C -ĐB/NT), Nguyễn Cường Việt (19D-21/NT), Phan Ngọc Hùng (18C) và Nguyễn Thay. Tại Portland tôi không có một bạn đồng môn hay cùng đơn vị ngày xưa, tôi chỉ vừa mới ra được Tôn Thất Án (20E-21/NT) ” thợ lặn ” từ 1975 cách nay vài năm.

Nhờ từ hai niên trưởng Anh Tuấn và Ngọc Duẫn từng là cựu sĩ quan cán bộ trường OCS nên tôi biết được trang web của anh em OCS. Qua trang nhà của OCS tôi mới biết đến Hội Hải Quân Lưu Đŕy. Sinh hoạt với ” Hải Quân Lưu Đày ” được dịp gặp lại các bạn cùng khóa hải quân khi xưa, tôi còn quen biết thêm nhiều anh em lưu đày khác khóa cùng lý tưởng, củng thiện chí, cùng mặn nồng với màu áo trắng hải quân. Tôi rất vui mừng khi thấy anh em HQLĐ vẫn gắn bó keo sơn. Dù thời gian có phôi pha vói biét bao đổi thay nhưng anh em HQLĐ vẫn một mực ôm ấp những kỷ niệm và trân qúy tình nghĩa Lưu Đày. Tình nghĩa và sự gắn bó đã được thể hiện qua các lần Họp Mặt hay Đại Hội hoặc kết chặt těnh thân của từng nhóm tại địa phưong.

Những HQLĐ khóa đàn anh mà tôi được biết trước năm 1975 là Đoàn Văn Xinh, Nguyễn Phúc Kha, Đỗ Văn Qúy, Đinh Quang Viên, Phạm Văn Quỳnh, Tống Viết Thuật. Lần đầu tiên tôi được tham dự Đại Hội Lưu Đăy tại San Jose California, tôi nhận diện ra huynh trưởng LĐ. Phạm Thái Hoàng một cách dễ dŕàng vì LĐ. PTHoàng và LĐ. THCận là hai huynh trưởng ” sát thủ ” đă hành hạ các HQLĐ khóa 1/70 te tua mà lúc bấy giò chúng tôi rất ” căm thù “. Đêm Dạ Tiệc này tôi cũng nhận ra được huynh trưởng KQ. Nguyễn Bỉnh Liêu, cựu Trường Trạm phi trường An Thói Phú Quốc mà ngày xưa trước 1975 tôi biết khi hắn còn trẻ và gầy còm, nhưng ngày nay nhờ rượu ngon, đắc tiền hắn trở nên béo to như voi. Chúng tôi thường gọi hắn là Tư Lịnh Không Quân Phú Quốc hay Tư Lịnh Tà Nắc hoặc ” HQ. Trung Úy KQ. NBLiêu ” vì trước kia ở An Thới chỉ có mình hắn là sĩ quan Không Quân mà bạn bè chung quanh hắn đều là các quan hải quân , nhất là các quan Hải Đội 4 Duyên Phòng. Vì tình bạn học xưa ( đa số khóa 6/69 là học sinh, sinh viên xuất thân trưòng Kỹ Thuật ), vì bè bạn trong thời quân ngũ toàn là các quan hải quân nên họp mặt nào của HQLĐ đều không thiếu hắn. Tôi đi lại và thân thiết với hắn vě bản chất chân tình, ham vui và qúy bạn của hắn.

Nguời bạn đầu tiên trong hội Lưu Đày mà tôi liên lạc được là LĐ. Trần Châu. Chúng tôi cùng khóa 2 Đặc Biệt và cũng là một cặp hay la cà bia rượu quá khuya tại quán cơm của mẹ con cô Thúy Mập tại quân trường Nha Trang. Chúng tôi từng cười lăn ra mỗi khi Trần Châu nhậu qúa chén về quậy phá LĐ. Hồ Đắc Thắng tức điên lên. Đặc biệt Châu có loại máu âm được khắc tręn tấm thẻ bài. Trần Châu đă gởi cho tôi danh sách Hải Quân Lưu Đŕy trước mấy tuần lễ khi Châu bệnh nặng qua đời.

Nói đến bạn bč khuất bóng, tôi chợt buồn nhớ đến ba thằng bạn thân cůng khóa mà không đầy hai năm đă theo nhau vĩnh viễn ra đi như nhà thơ vŕànhà báo Giang Hữu Tuyên (18C), kế đến OCS. Phan Văn Tiến (19D) đă ôm mộng thực hiện đại hội SQHQ khóa 21 về nước Chúa và Trần Công Nhuận (18C) rất khó tánh nhưng là một cựu sĩ quan hải quân gương mẫu trước kia. Nhuận lập gia đình trể và sống âm thầm tại Taxes.

Trong tuần lễ Đại Hội Lưu Đày tại Florida năm 2001 tôi được cựu Hội Trưởng Dương Minh Châu giới thiệu và một số bạn Lưu Đày tín nhiệm bầu tôi làm Hội Trưởng của hội trong nhiệm kỳ 2001 đến 2005. Trong thời gian lŕàm hội trưởng này, tôi có lập một trang website cá nhân với chánh danh khóa Sĩ Quan Đặc Biệt Nha Trang nằm trong phần Web Bạn của Tổng Hội Hải Quân với ba mục đích: thứ nhất lập đầu cầu đưa các bạn hải quân Chiến Binh, Đặc Biệt khắp nơi trên thế giới biết đến bến nhà ( Hội Ái Hữu Cựu Sĩ Quan Các Khóa Lưu Đày và Thân Hữu), thứ nhì với một góc nhỏ dành cho những kỷ niệm cá nhân với tập thể 530 khoá sinh tài nguyên SVSQ khoá 21 sĩ quan hải quân và thứ ba là một góc tài liệu về lực lượng Hải Đội Duyên Phòng, một đơn vị mà tôi rất yêu thích ( chưa thiết kế xong). Đối với trang Hải Đội Duyên Phòng này tôi rất mong qúy niên trưởng, các bạn hải quân cho biết danh sách thuỷ thủ đoàn của chiến đĩnh trong thời gian qúy vị từng là Thuyền Trưởng hay Thuyền Phó qua e-mail: hq611@juno.com.

Hồi ký tạp ghi này đến đây tôi xin được tạm ngưng.

Một lần nữa tôi xin cảm tạ Thượng Đế đă che chở và ban cho gia đěnh của tôi nhiều ơn đặc biệt trên hành trình đi tìm tự do và tương lai cho con cái.

Cám ơn người vợ hiền đă đảm đương nuôi con, nuôi chồng trong suốt thời gian lao tù Cộng sản và cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng gian khổ hiểm nguy trên khắp nẻo đường vượt biên.

Tôi cũng cám ơn các bạn hiền đă trên 37 năm với biết bao đổi thay hay ở xa ngàn dậm vẫn giử vẹn thân tình đồng môn đồng khoá như Vő Trường Xuân, Nguyễn Gia Trọng, Phan Ngọc Hùng, Lê Chiến Thắng, Phan Văn Bắc, Phạm Cao Bốn, Hoàng Trọng Tuấn, Kim Ngọc Thành, Nguyễn Hữu Phước, Hồ Văn Rẫm, Nguyễn Đức Thịnh, Lê Ngọc Đảnh, Trần Hữu Hoàng, Lê Trọng Kế, Phạm Viết Khiết, Lê Xuân Chiến, Võ Xuân Long, Trần Ngọc Châu, thi sĩ Nguyễn Đức Phổ, Ngô Hữu Tân, Lê Minh Huệ, Ngô Sơn, Lê Tiết Minh, Tôn Thất Tài, Hồ Ngọc Minh Đức và nhiều bạn khác mà trong một thoáng tôi không thể nhớ hết được. Những người bạn tôi kể trên xuất thân từ nhiều quân trường khác nhau nhưng họ đã đến với nhau từ những kỷ niệm, từ tình đồng đội, cùng hoàn cảnh và cùng màu áo trắng dưới ngọn cờ hải quân. Những dị biệt về xuất thân quân trường như Chiến Binh, Đặc Biệt, Nha Trang hay OCS đối với họ cũng như tôi không có ý nghĩa gì hết. Bên cạnh cũng có một số ít bạn thân hiện đang sinh sống tại hải ngoại nhưng họ đă đoạn tuyệt với qúa khứ, không muốn liên hệ với bạn hữu khi xưa, có lẽ các bạn này vì hoàn cảnh hay lý do nào khác. Chúng ta cũng nên cảm thông cho họ.

Nơi đây tôi cũng xin các bạn cầu nguyện cho các đồng đội của chúng ta cňn lại ở Việt Nam có cuộc sống bình an. Nếu có thể, xin các bạn trợ giúp các bạn còn lại ở Việt Nam đang khốn khổ và bệnh tật như Lê Văn Nhẫn (19D-ĐB/NT) hằng ngày phải lội bộ hằng trăm cây số để bán từng tấm vé số kiếm cơm qua ngày, như Tạ Quăng (21/NT) ra tù mang bệnh trầm trọng đến đổi mất cả trí nhớ và Triệu Thanh Sơn (OCS) đă bị tę liệt đôi chân từ trong tù cải tạo. Nếu các bạn có biết các bạn bè khác đang sống trong hoàn cảnh tận cùng của xã hội Cộng Sản cần sự giúp đỡ. Chúng ta hãy vận động giúp đỡ họ hay liên lạc với tôi qua trang web Sĩ Quan Hải Quân Đặc Biệt nơi phần Link đến Web Bạn của trang nhà Tổng Hội Hải Quân VNCH.

Tôi cũng không quên cám ơn binh chủng mẹ, quân chủng Hải Quân đã cho tôi một thời phục vụ bảo vệ Tổ Quốc và đã trang bị cho tôi một số kiến thức của một người lính thủy vừa đủ để lčo lái con thuyền vượt biển đưa gia đình và gần hằng trăm đồng bào thoát khỏi giặc đỏ Cộng Sản Việt Nam đến bến bờ tự do một cách bình an.

Tuy Việt Nam Cộng Hòa đã bị xoá tên trên bàn cờ quốc tế nhưng tôi vẫn hãnh diện là một chiến binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và vẫn mang niềm tự hào đã xuất thân từ Sĩ Quan Hải Quân Đặc Biệt Nha Trang.

Portland,OR – 3/2007

Quoc Nam – Trường Sa 611.

http://www.haiquanvietnamconghoa.com/UDS25A.html

Bị áp lực, CSVN phải trục xuất William Nguyễn; hai dân biểu Mỹ rất vui; Janet Nguyễn hài lòng


William Nguyễn (giữa) đang bị công an hộ tống đến tòa án tại Sài Gòn ngày thứ Sáu, 20 tháng 7, 2018. (Getty Images)SÀI GÒN – Sáng thứ Sáu, Viện Kiểm Sát của CSVN đã ra lệnh trục xuất anh William Nguyễn, một công dân Mỹ gốc Việt. Lệnh này được thi hành ngay lập tức, và gia đình cho biết William đã lên máy bay rời Việt nam.Sau khi hay tin này, hai dân biểu Hoa Kỳ từ California cho biết họ vui mừng, nhưng một dân biểu nói rằng anh William đã “rõ ràng vô tội” và “đúng ra không nên bị truy tố như vậy.”

Tại Sài Gòn, tòa án nhân dân xét xử William Nguyễn (cũng được biết đến là Will Nguyễn) với cáo buộc gây rối trật tự công cộng. Theo luật cộng sản, tội này mang án từ hai năm đến bảy năm.
An ninh được thắt chặt trước và trong thời điểm diễn ra phiên tòa.

Trong phiên xét xử sáng thứ Sáu, 20/7, năm trong số chín nhân chứng tòa mời đến dự đã vắng mặt. Báo chí trong nước cho biết Will Nguyễn “đã thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố.”
Viện Kiểm Sát cho rằng Will Nguyễn là người nước ngoài, lần đầu phạm tội tại VN nên đề nghị hình phạt là trục xuất. Trong lời nói sau cùng, Will Nguyễn “nhận sai” nhưng “mong muốn sau này được về Việt Nam đóng góp xây dựng đất nước.”

Báo Pháp Luật cho biết: “Trong suốt phiên xử, William cũng bày tỏ tình cảm mình với Việt Nam nơi quê hương, cội nguồn của cha mẹ mình.”

Trước đó, cô Victoria Nguyễn, em gái Will Nguyễn, phát biểu với báo Anh The Guardian rằng anh Will “bị sụt gần 3kg, bị chuyển sang phòng giam lớn hơn có 13 phạm nhân.”
Victoria cũng cho hay mẹ bà đã được nhà cầm quyền cho phép gặp Will Nguyễn khoảng 30 phút hôm thứ Ba, 17/7.

Will Nguyễn, 32 tuổi, sanh ra tại Texas, tốt nghiệp Đại Học Yale, sắp lấy bằng thạc sĩ tại Singapore khi biết tin kêu gọi biểu tình phản đối dự Luật Đặc Khu và Luật An Ninh Mạng vào ngày 10 tháng Sáu tại Sài Gòn nên quyết định đến tham gia.

Anh đã đụng độ với công an và bị đánh chảy máu trước khi bị bắt giam từ ngày hôm đó đến buổi ra tòa 20/7. Sau phiên xử, nhà cầm quyền đã cho thanh niên có tấm lòng yêu thương và muốn quê hương này được dân chủ hơn lên phi cơ cùng với mẹ tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Hai dân biểu Mỹ lên tiếng

Tại Hoa Thịnh Đốn, Dân Biểu Lou correa (Dân Chủ, California) và Dân Biểu Alan Lowenthal (Dân Chủ, California) đã có lời phát biểu như sau về việc trục xuất công dân Hoa Kỳ William Nguyễn ra khỏi Việt Nam.

Dân Biểu Lou Correa phát biểu qua một văn thư gởi đến báo chí chiều thứ Sáu, “Hôm nay, anh William Nguyễn được trả tự do và sẽ về về với gia đình của mình. Tôi rất vui khi biết rằng đây là thành quả của sự hợp tác chung giữa các đồng viện của tôi, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và quan trọng nhất là gia đình và bạn bè của anh William Nguyễn.

“Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến với những ai đã cùng chúng tôi ủng hộ và giúp ông William Nguyễn được trả tự do trong thời gian vừa qua. Còn với tôi, tôi rất hãnh diện được đóng góp vào nỗ lực này.  Xin chúc anh William Nguyễn và gia đình của anh thượng lộ bình an trở về nhà.”

Dân Biểu Alan Lowenthal cũng có lời phát biểu như sau, “Tôi vui mừng và an tâm rằng William đang trở về với gia đình.  Tôi tin tưởng rằng sự kiên trì của gia đình anh, sự làm việc không ngừng của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đặc biệt là Đại Sứ Kritenbrink và các viên chức của ông tại Việt Nam, và sự áp lực của nhiều vị Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ đã giúp mang đến kết quả ngày hôm nay.  Tôi hãnh diện được đóng góp một phần trong nỗ lực vừa qua.

“Tuy nhiên, sự việc này lẽ ra không nên kéo dài như đã xảy ra. William Nguyễn rõ ràng là vô tội và đúng ra anh không nên bị truy tố như vậy. Quyết định hôm nay là một tin vui cho William, gia đình và bạn bè của anh.”

Nữ nghị sĩ California phát biểu

Cũng vào chiều thứ Sáu, tại California, Nghị Sĩ Tiểu Bang Janet Nguyễn đã có tuyên bố liên quan đến quyết định của Cộng Sản Việt Nam trục xuất anh sinh viên Will Nguyễn

Bà Janet Nguyễn nói trong một văn thư, “Trả lại tự do cho anh Will Nguyễn là việc Cộng Sản Việt Nam phải thực thi, và tôi rất hài lòng khi nhận được tin này, trường hợp này đã được giải quyết với sự trả tự do cho phép anh trở về Hoa Kỳ.

“Tôi cám ơn tất cả mọi người, thay mặt anh để vận động cho anh, nhất là hơn 3,000 thành viên cộng đồng đã tham gia cùng tôi, trong việc kêu gọi Tổng Thống Donald Trump và Ngoại Trưởng Mike Pompeo, yêu cầu họ giúp bảo đảm sự trả tự do và sức khỏe cho anh Will Nguyễn.

Nữ nghị sĩ nói thêm, “Trong khi chúng ta vui mừng là anh Will Nguyễn được đoàn tụ với gia đình, chúng ta cũng không thể quên rằng còn rất nhiều tù nhân lương tâm vẫn còn bị giam giữ trong các nhà tù tại Việt Nam rất cần sự tranh đấu và can thiệp của chúng ta. Anh Will Nguyễn là một trong những cá nhân bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam đàn áp, cưỡng bách, và ngược đãi bất công. Chúng ta sẽ tiếp tục lên tiếng tranh đấu cho đến khi tất cả tù nhân lương tâm được tự do.”