Contact

Giá trị dinh dưỡng của cá CHÁY

Dược Sĩ Trần Việt Hưng

Sáng ngày bồ dục chấm chanh
Trưa gỏi cá Cháy, tối canh cá Chày
(Ca dao)

https://www.dulichhoanmy.com/Upload/Images/stories/huong_vi_que_nha/dac_san/ca_chay.jpg

Ảnh minh họa của dulichhoanmy.

Trong bài ‘Tết xưa miệt vườn’ đăng trong giai phẩm Xuân Người Việt Canh Dần (trang 12), Tác giả Cát Tường đã viết về cá Cháy như sau:
..’ Gần Tết, sáng sớm sương mù dày đặc trên các nhánh sông, đặc biệt sông Hậu, đoạn chảy qua các địa phận: Đại Ngãi (còn gọi Vàm Tấn, một xã của Huyện Kế Sách, Sóc Trăng), Cầu Quan (Tiểu Cần), Tân Dinh, Trà Ôn.. Gió chướng lao rao thổi như thể ‘lùa’ đám cá Cháy từ biển Đông vào khu vực nước ngọt này..’ Ông Nguyễn văn Vẹn, 80 tuổi, ngư dân xưa ở Đại Ngãi kể ‘Trong sương mù giữa khuya, từng đoàn ghe xuồng đua nhau kẻ câu người chài bắt cá Cháy ngoi lên ăn sương. Kỳ cục lắm nghen, vừa lên khỏi mặt nước nó chết liền..’

Cũng theo tác giả Cát Tường thì cá Chày cùng họ cá trích (tên khoa học Macrura ruversil) nhưng lớn hơn nhiều, thường vào sông để đẻ. Cá Cháy có dạng hình bầu dục, thân to và dẹt, lưng xám, lườn và bụng trắng bạc, vảy trắng to, nặng từ 2-3 kg/con.

Trong ‘Đặc Tính Dinh Dưỡng Và Trị Liệu Của Cá Và Thủy Sản, tập 1, chúng tôi trình bày, dựa trên tài liệu của Alan Davidson, sơ lược về cá Cháy trong bài viết về cá mòi, trang 168 và ghi tên khoa học của cá Cháy = Toli shad là (Tenualosa toli).

Cá Cháy là tên gọi chung của một số loài cá thuộc chi Tenualosa họ cá Clupeidae. Tên Tenualosa, còn có các tên đồng nghĩa khác như Alausa, Macrura. Cá Cháy có một số đặc tính chung là sinh sống ngoài biển khơi nhưng di cư vào vùng trung lưu của các sông lớn để đẻ trứng vào các tháng 4 và 5 rồi sau đó lại di chuyển trở lại ra biển vào các tháng 6-7. Trứng cá có chất dầu nên nổi trên mặt nước, trôi theo dòng nước rồi nở và phát triển thành cá con, cá con sinh sống tại vùng nước lợ, khi đạt tới kích thước 5-7 cm sẽ di chuyển ra biển. Cá Cháy sống thành từng đàn dọc duyên hải. Cá trưởng thành sống nơi tầng trên và ăn các phiêu sinh vật, các giáp xác nhỏ. Hình dạng chung là thân dẹp có vây lưng, 2 vây mang và 3 vây bụng; đuôi hình chữ V.

Theo tài liệu của FAO thì hiện nay Chi Tenualosa gồm các loài:
Tenualosa reevesii = Macrura reevesii hay cá Cháy Reeve. Reeves shad, Reeves stamsild.. Đây là loài cá Cháy phân bố tại vùng nhiệt đới của biển Đông, biển Nhật, các khu vực Tây-Bắc Thái bình dương sang đến vùng Đông Ấn Độ Dương. Tại Việt Nam, cá di chuyển vào các sông lớn tại Bắc Việt như sông Đà, sông Hồng và có thể xuống đến sông Lam (Nghệ An). Cá Cháy Reeve có thân hình bầu dục, một bên dẹt, dài tối đa 62 cm, trung bình khoảng 40 cm. Cá có thể nặng đến 5 kg. Đầu to và lõm, mõm ngắn và tròn. Miệng không có răng. Lưỡi rộng và ngắn. Mắt nhỏ nằm ở gốc các vây lưng. Vây ngực và vây bụng có một nếp da mỏng. Vây lưng tương đối nhỏ, vây ngực lớn, vây đuôi chẻ sâu tạo 2 thùy bằng nhau. Cá có thân màu trắng bạc ở mặt trên và mặt bụng, lưng màu xám. Cá con có một vệt đen chạy từ sau nắp mang đến giữa gốc vây đuôi, phía trước thân cá có 3-4 chấm đen lớn.
Tại Việt Nam, số lượng đánh bắt tại sông Hồng hàng năm lên đến 100 tấn, sông Đà 50 tấn. Tuy nhiên do tình trạng khai thác bừa bãi và phá hoại sinh thái nên số lượng đang bị sụt giảm. Đập thủy điện Hòa Bình đã gây tác hại trầm trọng cho các vùng bãi đẻ trứng của cá Cháy trên sông Đà. Việt Nam đã ban hành quy chế, chỉ cho phép bắt cá dài trên 25 cm, và cấm đánh bắt cá trong các tháng 3 đến 5.

https://tepbac.com/upload/species/ge_image/Tenualosa-toli.jpg

Ảnh minh họa của tepbac.

Tenualosa toli = Hilsa toli, Macrura sinensis. Tại Việt Nam, cá được gọi là cá Cháy bẹ hay cá Cháy toli. Tên Anh-Mỹ: Toli shad. Pháp: Alose toli. Ấn Độ: Chandan-ilish. Hongkong: cho paak. Cá phân bố phần lớn trong vùng biển Ấn Độ sang đến biển Java và biển Nam Trung Hoa, có khi tại hạ lưu sông Mekong, Việt Nam. Cá có chiều dài tối đa khoảng 50 cm, trung bình từ 30 đến 40 cm. Thân tương đối dẹp, bụng phình, màu trắng bạc, lưng xậm hơn có khi xanh lục xám. Trọng lượng tối đa khoảng 3 kg. Theo FAO, tổng sản lượng đánh bắt trên thế giới hiện nay trong khoảng 140- 230 ngàn tấn/ năm đa số trong vùng biển Bangladesh, tuy nhiên Nam Dương là nước có số lượng đánh bắt cao nhất (4 ngàn tấn).

Tenualosa thibaudeaui (Clupea hay Alosa thibaudeaui = cá Cháy Nam. Còn có tên Hilsa kanagurta và được gọi trong danh mục của FAO là Laotian shad= cá Cháy Lào (tên tại Lào: Pa mak Phang, Thái Lan: Pla mong kroi). Đây là loài cá Cháy sinh sống trong vùng biển Nam Việt Nam, theo hệ sinh thái của sông Mekong. Cá dài tối đa 30 cm, trung bình 17 cm, cân nặng đến 1 kg. Thân cá dẹp, mang rộng, mắt to. Mõm hướng nghiêng về phía trên. Thân màu xám bạc, có thể có đến 10 khoang xậm như vết ngón tay cái chạy dài theo phần trên của thân hay một sọc đen trên lưng. Cá có khả năng di chuyển từ hạ nguồn sông Cửu Long (Việt Nam) lên đến Luang Prabang, Lào một đoạn đường sông dài đến 2000 km, vào thượng nguồn của thác Khone để sinh đẻ sau đó cá con di chuyển về Biển Hồ. Sau năm 1984 hầu như không còn các hiện tượng di cư đang kể nữa. Cá Cháy Nam có một bộ phận lọc trong miệng giúp ăn được các vi sinh vật và rêu.

Tenualosa macrura = cá Cháy đuôi dài = Long-tail shad. Cá phân bố trong vùng biển Mã Lai và Nam Dương. Có những đặc tính sinh học tương tự như T. ilisha. Cá dài đến 52 cm. Sản lượng tại Nam Dương lên đến 2 ngàn 5 trăm tấn.

Tenualosa ilisha = cá Cháy Hilsa, phân bố trong vùng biển phía Bắc của Ấn độ dương, đôi khi thấy xuất hiện trong vùng Vịnh Bắc Việt. Cá có thể dài đến 60 cm và nặng đến 2.5 kg.

Thành phần dinh dưỡng:
100 gram phần ăn được (bỏ xương) chứa:
– Chất đạm 16.9 g
– Chất béo 15.8 g
– Carbohydrate 0.2 g
– Calcium 33 mg
– Phosphorus 220 mg
– Sắt 2.1 mg
– Riboflavine 0.14 mg
– Nicotinic acd 4 mg

Một nghiên cứu phân chất thành phần chất béo trong dầu cá Cháy (Tenualosa toli) tại ĐH Kebangsaan, Mã Lai ghi nhận:
Dầu cá chứa:
Acid béo chưa bão hòa: 52.79 %
Acid béo bão hòa: 47.2 %
Trong thành phần của acid béo chưa bão hòa có
– Acid béo chưa bão hòa mono 27.69 %
– Acid béo chưa bão hòa poly 25.1 %
-Acid béo loại Omega-3 22.24 %
– Acid béo loại Omega-6 2.86 %
– Tỷ lệ omega 3 / omega 6 7.82
Chất béo trong dầu cá Cháy được ghi nhận là có ít linoleic và linolenic acids nhưng có nhiều EPA và DHA. Do đó dầu cá Cháy có thể được xem là một nguồn cung cấp các acid béo omega PUFA hữu ích để ngăn ngừa một số bệnh về tim-mạch, tiểu đường, sưng xương khớp.
(Malaysia Journal of Analytical Sciences Số 1-2006)

Ẩm thực cá Cháy:
Có nhiều tác giả cũng như nhà văn đã viết về các món ăn chế biến từ cá Cháy:
Tác giả Võ Thanh Phụng trong báo điện tử Kinh Tế Nông Thôn đã ghi lại như sau: ‘ cá Cháy là đặc sản của riêng vùng đất nhỏ nằm bên sông Hậu, xã Tích Thiện (Trà Ôn, Vĩnh Long), vùng gặp nhau giữa nước trong và nước lợ. Cá Cháy nhiều xương nhưng thịt rất ngon. Cá cái có mang cặp trứng to chật cả khoang bụng, ăn rất bổ, béo. Ăn cá Cháy có nhiều cách. Cá được kho mặn trên bếp lửa riu riu để xương cá mềm nhừ. Cá nấu canh chua với các loại rau thơm như bạc hà, đậu bắp, giá, bông điên điển hoặc có thể rim cả con, bên dưới đáy nồi lót một lớp mía. Cá Cháy cũng có thể dùng để nấu cháo, ăn với cải cúc, rau đắng. Món trứng cá Cháy cũng rất hấp dẫn, ngoài vị béo không ngậy còn hương vị thơm ngon..’

Mục Văn Hóa Ẩm Thực Vĩnh Long ghi lại :’ Gỏi cá Cháy là món ăn cầu kỳ dành riêng cho dân nhậu. Món gỏi này phải có đủ các thức rau ghém, rau thơm, chuối chát, khế chua để cuốn chung với thịt cá Cháy bằng bánh tráng Mỹ Lồng, phải có nước chấm, chế riêng biệt cho nó.’
Nước mắm làm từ cá Cháy và mắm cá Cháy được xem là những món ngon đặc biệt chỉ có thể tìm được tại vùng Trà Ôn nhưng hầu như không còn nữa (từ 1973?).
Tại Lào, cá thường được ăn dưới dạng cá nướng và dùng làm mắm dưới tên Pa chao.
Tại Mã Lai, cá Cháy rất được ưa chuộng và thường được chế biến dưới dạng chiên dòn bọc nghệ và ớt bột (Ilish bhaja), bọc lá chuối sau khi ướp mù tạt, ớt, rồi nướng dòn(Ilish maaccher paturi) và cá Cháy hấp yaourt, sốt gừng.
Trứng cá cũng rất được ưa thích tại Trung Hoa và Mã Lai.

Cá Cháy trong Đông, Nam dược:
Y Dược cổ truyền Việt Nam và Trung Hoa có dùng thịt cá Cháy làm thuốc. Thịt cá hay toàn thân cá được gọi là Thời ngư. Vẩy cá gọi là Thời ngư lân.
Thịt cá Cháy được xem là có vị ngọt, tính bình có các tác dụng ‘bổ hư lao’, ‘ôn trung, ích hư’.
Tuệ Tĩnh, trong ‘Nam Dược Thần Hiệu’ ghi: Thời ngư = cá Cháy, vị ngọt, tính bình, không độc, trị chứng hư lao, bổ trung, mỡ dùng trị phỏng.
Hải Thượng Lãn Ông, trong ‘Lĩnh Nam Bản Thảo’:
‘ Thời ngư tục gọi là cá Cháy
Có chất độc, vị ngọt, khí bình
Thịt chữa hư lao, bổ trung khí
Mỡ bôi bỏng nước, lửa mau lành..’
Tại Trung Hoa, vẩy cá Cháy cũng được dùng trị mụn nhọt, phỏng và các chứng ung sang.

Cá shad tại Hoa Kỳ và Âu Châu:
Cùng trong đại gia đình cá mòi dầu (herring), nhóm cá shad (chi alosa) cũng được dùng làm thực phẩm tại Âu Châu và Hoa Kỳ. Loài quan trọng nhất là American shad (Alosa sapidissima), rất thường được ăn tại vùng ven biển phía Đông Hoa Kỳ, nhất là món trứng cá. Cá sau đó được đưa sang bờ biển phía Tây từ 1870, sinh sản mạnh và phát triển từ vùng biển Bắc California đến Alaska.
Tại Âu Châu, các loài chính gồm Alosa alosa hay Allis shad, có thể dài trên 50 cm và A. fallax hay Twaite shad sinh sống tại các vùng biển Nam Ái Nhĩ Lan, qua đến Địa Trung Hải.
Thịt cá shad tuy khá ngon, nhưng lại rất nhiều xương, nên cần được nấu hay đúng hơn là hầm để xương nhừ nát. Một phương pháp khác là chế biến cá với acid oxalic trong lá sorrel. Một món ăn nổi tiếng tại Pháp là Alose à l’Oseille (Shad in Sorrel).

Tài liệu sử dụng:
Từ Điển Động vật & Khoáng Vật Làm Thuốc Ở Việt Nam (Võ văn Chi).
Seafood of S-E Asia (Alan Davidson)
Fish and Fish Dishes of Laos (Alan Davidson)
FAO Species catalogue Vol 7. Clupeoid fishes of the world.

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-dinh-d%C6%B0%E1%BB%A1ng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1-ch%C3%81y.8367/

Cõi Già Trên Đất Lạ – Andrew Lam

Andrew Lam

Người Việt có một câu nói: Mỹ là thiên đường giới trẻ, địa ngục giới già. Nay tôi đã vào cái tuổi giữa 70, câu nói này thật là thấm thía. Mỹ có tất cả những sản phẩm dành cho thanh thiếu nhi: đồ chơi, phim ảnh, máy chơi điện tử thính thị, khu giải trí có chủ đề (theme parks). Còn đối với người già, thì chỉ có sự cô lập và nỗi cô đơn.
Căn bản nếp sống của người Việt dựa vào gia đình, cộng đồng, và khi ta mất những cái đó, ta mất đi một phần lớn cái tôi. Khi còn sống ở Việt Nam, tôi không bao giờ nghĩ đến việc sinh sống tại một nơi nào khác ngoài quê hương. Ta sống và chết nơi tiền nhân đã sống và đã chết. Ta có thân nhân, giòng họ; ta có gia đình, có những miếu đền.
Một khi ta đã quen miền đất với mồ mả tổ tiên, ta sẽ không còn sợ tử thần và cái chết. Nhưng tại Mỹ, lối sống cũ của chúng ta không còn nữa. Ngày nay, bạn bè và thân nhân của chúng ta tản mạn khắp nơi trên thế giới.
Tại Mỹ, càng già càng mất mát nhiều – bạn bè, thân nhân, trí nhớ, khả năng di chuyển, và ý nghĩ của chính mình. Chuông điện thoại kêu. Tôi nhấc ống máy. Đây là bà tên-này-tên-nọ ở Los Angeles. Bà mắc bệnh tiểu đường và mới bị cưa chân. Rồi chuông điện thoại lại reo nữa: Ông tên-ni-tên-nớ ở Georgia bị ung thư phổi, chỉ còn sống khoảng vài tháng. Ở Việt nam, chúng tôi đều là bạn thân. Nhưng với cái tuổi đời chồng chất như tôi, tôi làm sao đến thăm họ được khi họ hàng ngàn cây số cách xa? Làm sao ta tưởng tượng được đến việc gọi điện thoại cho người bạn thân khi họ nằm chờ chết trong bệnh viện, để nói lời xin lỗi là không thể tận mình đến viếng thăm được lần cuối. Ấy vậy, tôi làm điều này mỗi tháng, buồn lắm.
Tôi và chồng tôi, chúng tôi dự định đi một chuyến du lịch Âu châu vào kỳ hè tới đây. Chuyến đi này là chuyến đi cuối cùng, để nói lời giã biệt thân nhân bè bạn. Chúng tôi biết là sau chuyến đi này, chúng tôi sẽ không đi đây đi đó được nữa vì sức khỏe đã kém, sẽ không thấy mặt họ nữa. Tôi gần như không bước xuống được cầu thang nhà vì đầu gối chân rất đau. Nhà thì đã bán, giờ thì chúng tôi ở trong một chung cư có thang máy vì đó là điều kiện duy nhất mà chúng tôi có thể sống độc lập không nhờ vả đến ai bây giờ.
Điều mà tôi quan tâm nhất là trí nhớ suy sụp rất nhiều. Tôi là người giữ gia phả của giòng họ, nhưng tất cả đều nằm ở trong đầu. Biết ai liên quan với ai như thế nào trong họ là nghề đặc biệt của tôi, người con gái trưởng trong nhà. Nhưng không một đứa con nào của tôi biết được những mối dây liên hệ gia đình trong gia tộc, ngay cả đến những người em của chính tôi. Không có tôi, họ hàng thân thích sẽ trở thành kẻ xa lạ nếu tình cờ gặp nhau trên đường phố. Tôi có thể nhớ đến được những bà con cô dì chú bác ba đời của gia đình bên tôi và của cả bên chồng. Tôi phải viết xuống trước khi trí nhớ tôi lụt hết.
Thỉnh thoảng vào buổi sáng khi thức dậy, tôi lặng nhìn cây cối ngoài phố và tự hỏi tôi đang ở nơi nào. Đôi lúc, tôi đi sang khu chung cư kế cận, nơi có một số mèo hoang, và cho chúng ăn những thức ăn thừa. Khi tôi cất tiếng gọi, chúng nhận ra giọng nói của tôi và bổ xua lại. Bây giờ, chúng là những niềm vui nhỏ của tôi. Đương nhiên những ngày hạnh phúc nhất là những ngày con cháu đến thăm. Nhưng chúng cũng có đời sống riêng, thỉnh thoảng chỉ đến chơi được một lúc rồi về, tôi làm gì cho hết những khoảng thì giờ trống trải sau đó?
Mẹ tôi, bà mất năm bà 97 tuổi, và mẹ chồng tôi, qua đời lúc 95 tuổi; cả hai người có sống chung trong một khu dưỡng lão nhiều năm. Tôi thường đi xe buýt đến thăm hai bà mỗi ngày, ngay cả khi còn đi làm. Từ lúc đó tôi đã biết cái thảm não của người già trên đất Mỹ, ngay khi tôi còn trẻ trung mạnh khỏe. Các nhân viên điều dưỡng ở đó thường nói với tôi là hai bà có phước lắm, thường có được con cháu đến thăm. Tôi trả lời: “Đó là lối sống của người Việt Nam”. Còn những người già khác, con cháu họ ít đến. Tôi có nhớ một số bà lão, ngồi trên những chiếc xe đẩy, ngóng trông con cháu hay người thân, ngày này qua ngày khác, nhưng chẳng thấy ai. Có cả một bà cụ, cụ còn sống lâu hơn những người con trai; mỗi ngày bà vẫn ngồi chờ trông mong hình ảnh người con trai bước qua khung cửa. Thật tội nghiệp khi người ta sống dai như vậy trong sự cô đơn!
Ở xứ Mỹ này, tuổi già đúng là tuổi lỡ thời; cả hai đều không được người ta kính nể hay cho một chút gì quan trọng. Ở quê nhà, các ông già bà lão thì được nể vì nhất, vì họ là những người chia xẻ túi khôn cùng kinh nghiệm cho những người đi sau. Điều đó không có ở đây. Không ai muốn nghe tiếng nói của người già. Họ cảm thấy bị cô lập ngoài vòng ranh giới của con cháu Mỹ hóa của họ. Chúng cười vang về nhiều thứ mà tôi không hoàn toàn hiểu được. Mỹ đúng là một quốc gia của giới trẻ hơn là giới già như tôi.
Vào những buổi chiều mùa đông, tôi ngồi nhìn những hàng cây trơ trụi lá, tâm hồn lạc lõng. Tôi nghĩ về cái thế giới mà tôi đã biết, nay đã bay xa, như làn khói hương trầm. Tôi nghĩ đến cố hương, đến những mùa lễ Tết ở Saigon, đến những đám cưới, đám hỏi, đến những chuyến du lịch, những lần tíu tít họp mặt gia đình, ai ai cũng có mặt, con nít chạy quanh, người lớn ngồi nói chuyện đời chuyện gẫu, đàn bà con gái quây quần chung lo việc bếp nước. Và tôi cảm thấy rất khao khát những ngày quá khứ xa xưa.
Andrew LamChú thích: 
Andrew Lâm là một nhà văn trẻ, Việt Kiều, khá thành công trong những bài viết của ông về cộng đồng Việt cho độc giả Mỹ. Anh là con trai của Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi. Bài được viết theo tâm sự của mẹ tác giả, bà Lâm Quang Thi.

Nguồn: http://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2020/07/coi-gia-tren-at-la-andrew-lam.html

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜi MỸ & NGƯỜI VIỆT

KD

alt

– Người Mỹ khi ra nước ngoài thì tìm học cái hay. Người Việt thì tìm chỗ ăn chơi (thích hưởng thụ).

– Người Mỹ hôn nhau ngoài đường, đi tiểu trong toilet. Người Việt hôn nhau trong toilet, đi tiểu ngoài đường.

– Yêu nhau người Mỹ hôn công khai. Người Việt hôn trong bóng tối.

– Ở Mỹ, lễ sếp tặng quà cho nhân viên. Ở Việt Nam nhân viên biếu quà cho sếp.

– Người Mỹ ăn nhanh để đi làm. Người Việt làm nhanh để đi ăn.

– Đàn ông Mỹ tan sở về nhà ngay. Đàn ông Việt tan sở lê la quán nhậu, Cafe…

– Người Mỹ yêu động vật, thích chăm sóc thú cưng. Người Việt đâm trâu, chém lợn, ăn thịt chó-mèo.

– Người Mỹ vừa dạo chơi vừa nhặt rác. Người Việt vừa dạo chơi vừa xả rác ra đường.

– Người Mỹ đánh bắt hải sản thì thả mấy con nhỏ và con cái đang mang trứng. Người Việt đánh bắt hải sản thì tóm toàn bộ không tha con nào hết (càng nhiều trứng càng tốt vì bổ béo).

– Người Mỹ va chạm nhau trên đường thì ôn hòa bắt tay xin lỗi và hỏi han lẫn nhau. Người Việt thì hung hăng để quyết ăn thua đủ.

– Người Mỹ cuối tuần đem gia đình đi xa thành phố để thay đổi không khí. Người Việt thì đem cả nhà đến trung tâm thành phố.

– Mỹ quy hoạch nhà theo chiều ngang (bề rộng), nhà xa mặt đường thì đắt. Việt Nam quy hoạch nhà theo chiều dọc (hình hộp dẹp), nhà xa đường thì rẻ.

– Người Mỹ không uống rượu trước mặt trẻ em. Người Việt uống rượu sai trẻ em đi mua thêm, đi chậm sẽ bị đánh đòn.

– Người Mỹ đến nhà hàng gọi ăn, uống vừa đủ. Người Việt tỏ ra sành điệu ăn uống phải bỏ mứa, lãng phí.

– Người Mỹ đến nhà thờ cầu nguyện cho yên bình. Người Việt đi đền-chùa để “hối lộ thần thánh” và phá lộc, cướp phết…

Người Mỹ đi du lịch thì mặc cốt sao thoải mái và khám phá cảnh vật, văn hóa. Người Việt đi du lịch thì lo áo quần, mặc đẹp và chụp ảnh, khoe khoang lên facebook, etc…

– Mỹ không thích hỏi tuổi, hỏi lương. Người Việt là câu cửa miệng.

– Người Mỹ không bao giờ vứt rác sang nhà hàng xóm. Người Việt thường rác vứt ra đường vì ỷ có NV vệ sinh dọn dùm.

– Người Mỹ mạnh dạn, thẳng thắn góp ý với sếp. Người Việt thích đàm đúm nói xấu cấp trên.

– Người Mỹ sống thật không thích khoe mẽ. Người Việt không khoe sợ người khác nghĩ mình nghèo…

– Người Mỹ thích vận động nên họ đi bộ rất nhanh, tác phong gọn gàng, thái độ dứt khoát. Người Việt lề mề, ù lì – thụ động.

– Ở Mỹ chặt một cây thì trồng 3 cây. Ở Việt Nam chặt hàng trăm cây nhưng không trồng cây nào.

– Người Mỹ nuôi con theo ý họ. Người Việt nuôi con theo chỉ đạo của mẹ chồng.

Người Mỹ bàn xong thì đồng thuận – nhất trí & bắt tay làm. Người Việt bàn xong thì tiếp tục bàn ra và tranh cãi…

– Người Việt bị phê bình thì nhảy dựng lên như đụng phải nước sôi. Người Mỹ bị chỉ trích thì tranh luận & tiếp thu.

– Người Mỹ muốn đến nhà ai thì gọi điện thoại trước. Người Việt cứ đến nhà không thấy thì gọi hỏi sao không có ở nhà?

– Người Mỹ luôn hỏi ý kiến con trước mọi vấn đề. Người Việt coi con trẻ là không biết gì, áp đặt phải nghe theo ý mình.

– Ở Mỹ học nhiều, tiến sĩ ít. Việt Nam học ít, tiến sĩ nhiều (theo đầu người)

– Ở Mỹ lên xe là chạy. Ở Việt Nam lên xe là bóp còi.

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2020/09/su-khac-biet-giua-nguoi-my-nguoi-viet-kd.html

NẮNG TẮC TRÊN BIỂN ĐÔNG

TX2 VÕ KIÊM HUY

*Để tưởng nhớ lại một bạn học, bạn đồng ngũ, TX2 Cao Xuân Vũ đã mất tích
 trên bước đường tìm tự do…*



        Trên triền dốc cao, những bụi tre đan chằng chịt quấn vào nhau như những đàn rắn ngọ nguậy dưới buổi trưa hè nắng gắt, không gian thật im lặng. Xa xa bên dưới là khu đồi rộng bao la, những bãi tranh màu lá mạ thật tươi đang đùa giỡn nhấp nhô theo ngọn gió, lấp hẳn các lối đi ngoằn nghèo nối liền với khu rừng phía sau. Giửa thung lũng, có những bóng người đang lom khom cắt tranh, mồ hôi nhễ nhại. Đâu đây những tia nắng đủ màu cố chen qua các khe lá trải dái trên mặt đất làm thành những khoảng loang lổ, rung động. Thỉnh thoảng đôi chú sóc hai màu, trắng xám đang âu yếm đùa giỡn chung quanh bụi tre gây ra tiếng động nho nhỏ như phá cái im lặng của không gian. Tôi nghĩ đến một giấc mơ, ước gì trong hoàn cảnh tự do không bị quản thúc, tôi có thể ngồi đây nhẹ hưởng bầu không khí trông lành, không bị quấy nhiễu bởi những bộ đội tay hườm AK rải rác chung quanh khu rừng, canh chừng từng giây từng phút. Giật mình tỉnh mộng bởi cái thúc của Vũ đang nằm song song, một tay gối đầu vừa cười nói:

-Hôm nay tới phiên mầy nấu cơm không lo chuẩn bị, ở đó lo với nghĩ, nhanh còn ngủ trưa nữa. Chắc mầy không nghĩ cách để trốn trại chứ !.

Tôi dòm quanh, nhưng vẫn trấn an:

-Tao làm cơm trong năm phút, mầy ráng tranh thủ đi, để chốc nữa còn đi rửa chén. Tao cho mầy biết, hôm qua đại đội kế bên có 5 thằng trốn trại nhưng chỉ có 2 thoát thôi, cón 3 đứa bị nhân dân bắt lại và giao cho tiểu đoàn, thế nào mình cũng bị lên lớp nay mai.

Uể oải trên đống lá tre khô gom thành chỗ nằm êm ái, tôi cố gắng ngồi dậy trong tư thế nửa nằm nửa ngồi. Nhìn đôi mắt Vũ tôi biêt anh ta đang đói bụng, nhưng với tôi cũng không còn sức phục vụ hậu cần nửa, mà chỉ muốn nằm nghỉ được chút nào hay chút nấy. Trên cao là những đám mây đủ màu sắc đang cố gắng chen ra ngoài đám rừng mây chằng chịt, đan sát vào nhau như cuộc đời của chúng tôi.Thật thế chúng tôi muốn vươn ra ngoài để sống, để thở không khí tự do, đất rộng thênh thang nhưng không còn đường để đi, nhưng mà đi đâu? Đây là trại cải tạo, nơi mà chúng tôi đã sống gần một năm qua trong khu rừng mênh mông không bóng người dân lai vảng. Được di chuyển đến đây bằng những xe phủ mui bít bùng, sau khi xuyên qua nhiều khu rừng, đồi núi trong một đêm tối trời, sau cùng đã tới trại nầy. Ban đầu thật sự tinh thần của mọi người rất hoang mang và lo sợ không biết có phải nơi đây là chỗ chôn thây tập thể hay là nơi tù đày khổ sai của những người lính Cộng Hòa. Là những người thua cuộc cho lý tưởng, chúng tôi chấp nhận mọi sự trừng phạt. Mọi người ra sức làm việc từ sáng cho đến tối, chỉ có thời giờ ngủ thì mới được yên thân mà thôi. Tuần lễ vừa qua mọi người làm gấp đôi để sớm hoàn tất hội trường cho tiểu đoàn, mỗi ngày trung bình nộp 2 cây, đường kính 3 tấc cho mỗi người, nay nâng chỉ tiêu lên 4 cây.Nếu chọn đốn cây dùng làm cột thì là 2 cây lớn, thẳng và phải lội thật xa có khi hai ba khu rừng như trường hợp ngày hôm nay của chúng tôi. Sáng nay tôi và Vũ đã chặt xong 1 cây, lột vỏ chờ cho mủ khô, chúng tôi mỗi đưá một đầu khiêng về gần khu rừng tiểu đoàn, và dấu kín một nơi, chờ tới trưa chặt tiếp cây thứ nhì thì giao luôn. Hôm qua đội phụ trách cắt tranh, mỗi người 2 bó, mỗi bó to rộng hơn vòng tay. Cắt tranh tuy dễ nhưng châm lắm, cỏ tranh bén cắt sướt da, mặt khác làm tay chân mình mẩy ngứa ngáy khó chịu, phải dùng nước hoặc đi tắm mới hết, vả lại phải lội đi xa tranh mới tươi và dài. Nói tóm lại ngày nào cũng phải làm hùng hục vừa dứt công tác nầy lại có công tác kế tiếp không bao giờ được nghỉ, mỗi tối đều có hộp đội hoặc tổ để kiểm điểm công tác trong ngày hoặc sửa sai, chê nhiều hơn khen, đó là hinh thức cải tạo, một lối kiểm soát nhồi sọ kiểu XHCN.

– Mầy bắc cơm trước hả ! Vũ hỏi bâng quơ.

Tôi không trả lời. Dưới cái nắng cháy da mặc dù được phủ mát bởi những tàn tre, nhưng sau khi nằm nghỉ trưa thức dậy sẽ thấy nhức đầu và chóng mặt, thêm vào đàn muỗi chung quanh các bụi tre hễ bị cắn tới đâu là sưng tới đó, đau nhức khôn lường. Tôi vừa đập muỗi vừa tìm một chỗ tiện nghi để mồi lửa và hâm lại thức ăn. Nồi để đựng cơm là những lon Guigoz bằng nhôm, không rỉ sét dù được dùng cho mọi thứ. Nói là nấu cơm cho vui chứ thật ra hâm nóng lại cơm ban sáng được phát chung với canh rau muống nấu cùng tép cơm ( loại dùng làm phân) thêm chút muối, nước thật nhiều. Ngày nào cũng vậy canh hòa với cơm, không cần thưởng thức, chúng tôi lua nhanh chừng nào tôt chừng nấy. Sau khi tráng miệng bằng nửa cục đường oval, hai đứa lăn ra nằm nghỉ.
Tay gối đầu, Vũ tư lự nhìn bầu trời bao la với những đám mây trong xanh hòa lẫn với nhiều cụm bông trắng lang thang kéo về phía chân trời. Ánh nắng tỏa nhiều màu sắc lan tràn khắp khu rừng đong đưa theo từng cơn gió thổi nhấp nhô trên các bụi tranh kéo theo những tàn lá tre vàng úa rơi rụng. Tôi liếc nhìn Vũ nằm trong tư thế thoải mái. Tóc anh dài tận ót, má lún đồng tiền, đờn hay, lúc nào cũng tươi cười với bạn đồng đội. Anh có vẻ là một nghệ sĩ nếu đừng mặc bộ bà ba đen và mang đôi dép râu với nón tay bèo rộng vành thì trông vẫn còn phong độ như ngày nào phục vụ trong Quân Cảnh HQ.
Tôi và Vũ quen nhau từ nhỏ, cùng học trung học ở trường NBT, sau đó thì chúng tôi chia tay, Vũ vào CVA còn tôi ở lại. Tuy nhiên chúng tôi cũng thường liên lạc vào những ngày cuối tuần để trao đổi bài vở hoặc rủ nhau đi picnic hay xem chớp bóng. Thời ấy chúng tôi chưa hiểu nhiều về trai gái nhưng anh ta có bồ, một em nữ sinh Trưng Vương lúc nào cũng có đôi và mặn nồng. Trường NBT thường có lớp giáo lý vào ngày thứ bảy hoặc các ngày lễ để dạy các học sinh học đạo, vì vậy các con chiên của Chúa học rất đông, mà dân lương cũng không ít, theo học với nhiều lý do. Trước hết các cha giảng dạy giáo lý xong, thường chiếu các phim về du lịch hoặc các phim hay vừa chiêu ngoài rạp. Thứ hai là nhà trường phân chia nam nữ học riêng khu nhưng lớp giáo lý lại học chung. Ôi cám ơn thầy cha đã biết thông cảm đàn con của Chúa. Thôi thì bá quan văn võ, mặt thỏ mỏ dê tề tụ đông đủ, không rủ cũng cũng đến, tràn sang khu nữ sinh nơi có lớp giáo lý mà ngày thường là khu bất khả xâm phạm.
-Mầy ngoại đạo mà cũng học giáo lý thứ bảy nữa, không sợ Chúa phạt hay sao? Tôi chận Vũ lại ngay đầu cổng.
Vẫn nụ cười cầu tài , anh gãi đầu mà miệng cứ phân trần:
-Ê lùn, tuần lễ có bảy ngày mà tao chỉ mong mau đến ngày thứ bảy, mầy thấy tao ham học không ? Còn mầy chỉ muốn xem phim chứ học gì? Tao nói thiệt với mầy tao có hẹn với Chung sau giờ giáo lý, tụi tao đi xem cinê.

Như sợ ai bắt gặp, nói xong Vũ bay nhanh ra cổng và khuất sau dãy hàng rào sắt đen, đó là ranh giới giữa trường với khu bên ngoài. Tôi nhìn dáng anh ta mà lòng cũng vui lây. Anh thường ngân nga và thổn thức bài Hạ Trắng như là điệp khúc của tình yêu: ” Gọi nắng cho cơn mê chiều nhiều hoa trắng bay – Cho tay em gầy dài thêm nắng mai – Bước chân em về nào em có hay – Gọi em cho nắng chết trên sông dài.” Một lần hắn đã giải thích với tôi về nắng như sau.” Mầy biết không nắng là kết tinh bởi các biến động (?) của thiên nhiên và vũ trụ, do đó nó đem lại sức sống cho loài người, một tia nắng là một tia hy vọng, khi nào nắng tươi vui, sẽ cho con người đầy ấm áp và tràn trề ước mơ. Nước VN mình là xứ nhiệt đới ánh nắng lúc nào cũng đầy sinh lực đem lại tình người với nhau”. Tôi chỉ biết gật đầu và chấp nhận cái triết lý vòng vo, có lẽ Vũ đang yêu, con người đang yêu thường thích cái không gian trừu tượng và tất cả là màu xanh hy vọng.

Sau nầy chúng tôi gặp lại, không phải ngoài đời mà trong quân ngũ, buồn vui trong thời gian huấn luyện lẫn thực tập, và cả thời gian dài phục vụ trong cùng một đơn vị sau khi ra trường. Thời gian trôi qua quá nhanh, mỗi người một hướng cho đến ngày tàn cuộc chiên, và Vũ đến với tôi không phải là nụ cười cầu tài nữa, mà với gương mặt hốc hác, ngơ ngác, bơ phờ như người vừa mất ngủ. Sự thất vọng cao độ, anh không tin mất nước nhanh như vậy .Bạn bè đứa còn, đứa mất, một số lớn phải chịu lưu lạc xứ người. Gia đình nào ít nhiều cũng có sự mất mát giữa những người thân…Một lần Vủ đã nói:” Gia đình tao là dân di cư ,bố mẹ đã khăn gói bỏ nơi chôn nhau cắt rún chạy giặc trước khi tao chào đời, nên gia đình tao hiểu sinh hoạt dưới chế độ CS như thế nào? Nhưng vì tuổi tác cao ông bà không muốn ra đi lần nữa, đành chịu theo số trời “. Vẻ chán nản lộ trên gương mặt khác hẳn ngày trước, thêm vài nếp nhăn trên trán chứng tỏ những đêm dài suy tư không ngủ, anh đã chấp nhận sự thật. Nhìn dòng người xuôi ngược chạy di tản,… chúng tôi thấy mình như vừa đánh mất cái gì thiêng liêng vừa rời khỏi tầm tay xa dần…xa dần.

Một buổi sáng sau ngày mất nước, Vũ hẹn tôi thật sớm tại quán côc ngoài đường, nhìn quang cảnh hỗn độn bên ngoài, giọng thật trầm, ngước về khoảng trời xa, hắn tâm sự. Tao có bàn với Chung(bà xã của Vũ) đêm qua về việc trốn khỏi nơi nầy càng sớm càng tốt, vì tao biết ở Mỹ Tho vẫn còn có ghe chịu chở người ra ngoài biển, hy vọng sẽ có tàu của hạm đội tiếp cứu, nhưng cuối cùng mộng không thành . Vũ cho biết đêm qua trong giấc mơ đã thấy gia đình cùng vợ con lên thuyền theo đoàn người ra khơi, nhưng chiếc ghe qúa nhỏ, vô số người chen chúc nhau, từng bàn tay nắm vói như kéo lại cái hy vọng mỏng manh, chiếc ghe chòng chành trôi theo giòng nước đến một thế giới xa lạ, tao không muốn nghỉ thêm mầy ạ ! Tôi cố trấn an hắn nhưng trong lòng tôi cũng bất ổn, không biết phải làm gì trước tương lai sắp xảy ra cho đất nước và cả cuộc đời mình sau nầy. Mọi sự đổi thay nhanh chóng ngòai sức tưởng tượng của mọi người, nhà cửa mất sạch, gia đình ly tán, một số người trước đây hiền thục, nay cũng đeo băng đỏ trên cánh tay và trở thành cách mạng. Bọn tôi phập phòng cho số phận, cho đến khi nhận được thông cáo trình diện học tập cải tạo, dù chỉ có hai ngày. Trước lúc chia tay mẹ tôi hai tay run run dặn dò đủ điều nhưng tôi không còn tâm trí nào để tiếp nhận sự lo sợ của bà qua đôi bờ vai chuyển động nhẹ theo tiếng nấc và nước mắt đã cạn dần, cố nhìn tôi lần chót như là sẽ không còn dịp gặp lại nữa. Bà dặn tôi nên ráng chịu cực, nhịn nhục trong mọi trường hợp, cố gắng học hành để mau trở về với gia đình, sum họp với vợ con. Tôi rời nhà thật nhanh giữa những xúc động của người thân đã dành cho tôi trong lúc biệt ly, để trốn đi cái sự thật phũ phàng, ra đi mà dạ bất an, lòng bất ổn, cố nhìn lại nơi tôi sống từ thời ấu thơ cho đến khi trưởng thành, thương xót khôn nguôi.

Không hẹn tôi lại gặp Vũ tại trung tâm trường Gia Long, chúng tôi lại có dịp khơi lại dĩ vãng từ thời còn học sinh đến quãng đời trong quân trường, những ngày quay brimade khó quên của các tuần đầu nhập khóa, cho đến những vui mừng khi được đi bờ lần đầu tiên với bộ tiểu lễ trắng ngồi trên chiếc xe lam đầy ấp sinh viên rời quân trường ra thị xã. Những ngày đó, bãi cát trắng đầy vết chân người đánh dấu đời quân ngũ, từng tiếng sóng vổ nhẹ êm, từng ngọn gió ru động lòng người. Dù có đi xa tận chân trời góc biển, người SQHQ nào cũng có lần nhớ lại Trung Tâm Huấn Luyện HQ, nhớ Nha thành, bốn mùa hoa mộng để rồi như có lần tự hứa:

Nha Trang, Cầu Đá, Hòn Chồng
Dấu chân phiêu lãng, cát hong bóng người
Mây xanh ấp ủ chân trời
Bọt ươm sóng biển, tàu rời xa xăm
Một mai xa cách hồi âm
Gởi người phương đó trăm năm kết nguyền….
*.*

Ê lùn, ngày mai thứ bảy, thầy Thế đêm nay chắc bắt đầu kể tiếp “Cô gái đồ long” sớm chứ ? Mầy nhớ hôm trước tới đoạn nào, tao quên rồi ! Tiếng lao xao? của đống lá khô dưới sức nặng của Vũ, đã đánh thức tôi… Vũ hỏi.

– Lúc Vô Kỵ chấp thuận ba điều hứa với Triệu Minh, để đổi lại biết tin tức của cha nuôi Tạ Tốn điều thứ nhất là… Vũ bổng nhỏm đứng dậy đưa tay làm dấu ” thôi mầy đừng kể trước nữa để tối nay tao hấp thụ chân truyền võ công của sư phụ”. Võ công có thâm hậu mới đủ sức vác nổi 4 cây cột tổ bố hằng ngày chứ ! Tôi ngồi thư lự, ngẫm nghỉ lại cuộc đời cải tạo….biết đến bao giờ mới rời khỏi đây. Mổi ngày cứ từng ấy công việc, sáng vác búa vô rừng, tối họp tổ như chiếc kim đồng hồ cứ xoay tròn trong cái phạm vi nhỏ hẹp, bao bọc bởi các rừng rậm, các hàng rào kẻm gai và các chòi canh cao ngất. Những ngày cuối tuần tương đối thông thả hơn, mọi người phần lớn dành thời giờ cho bản thân, nếu muốn giải trí thì có cờ tướng, domino, ca hát, hoặc sang các lán khác kiếm bạn tâm sự để ngất ngây với vài bi thuốc lào Lạng Sơn. Còn Vũ và tôi, có nhiều thời giờ để kể nhau nghe về gia đình, chúng tôi chia nhau từng bi thuôc lào ,chia xẻ từng cục đường là thần dược qúy báo của cải tạo viên và nhất là trong lức đau ốm hoặc trong công tác lao động. Có lần sau khi họp tổ, tôi than đóI bụng, sau khi lục hết gia tài mà chẳng có gì để ăn, Vũ căn dặn tôi ngồi chờ ngoài hiên, riêng hắn vụt đi trong bóng tối. Bên ngoài trời mưa, tiếng mưa rơi đều trên mái tranh, bóng hắn nhảy nhót qua các luống khoai mì ,xuyên qua các dàn mướp, rồi mấy phút sau đó trở về trong tay một nắm rau muống thật lớn, mình mẩy ướt nhẹp. Hắn cẩn thận rửa sạch, nấu xong đưa cho tôi một chén. Mùi rau luộc bốc lên thật hấp dẫn nhưng chen vào đó một mùi khó ngữi làm bao tử tôi lộn ngược với mùi phân hăng hắc…Hắn nhìn tôi, gãi đầu phân trần :Luống rau của tụi mình đã cắt sạch mấy ngày trước, tao đành chơi phần của đại đội, tao biết, rau trước khi thu hoạch phải được tưới nước trong vài ngày, không dùng phân, nhưng tối nay hai đứa mình đói bụng, thôi mầy coi như là canh vi cá đi ! Tôi nuốc chén canh mà nghẹn lời, vì đâu đã gây nên tai kiếp nấy nay chúng tôi phải gánh chịu, không có gì trong bụng thì làm gì đủ sức để ngày sau kéo cày, tôi thương Vũ, thương hoàn cảnh cảc cải tạo viên….
Đêm đó trong giấc ngủ, tôi mơ thấy trời đầy sao, đây là sao mai, đây là chòm đại hùng tinh đây là chòm sao thiên xứng, bầu trời của một thời quên lãng, nhưng chưa bao giờ lãng quên trong đó không hận thù, oán ghét, không chiến tranh….tôi cảm thấy lòng mình thơi thới, nhẹ nhỏm…

Khoảng thời gian sau, trong một ngày không phải lao động, tụi quản giáo xuống làm việc ,thông báo cho biết tất cả sẽ được tập họp đại đội, sau đó là cấp tiểu đoàn, mọi người tranh thủ chuẩn bị vật dụng cá nhân để được giao phó công tác. Cả lán xôn sao, rối loạn, Vũ nói nhỏ vào tai tôi: “Tao đón chuyện lớn sắp xảy ra, hai đứa mình có lẽ sẽ không cùng trại nữa, nhưng tao cảm ơn trời đất đã cho mình sinh hoạt chung trong hơn năm qua, nhưng dù sao đứa nào được thả trước hãy ráng giữ liên lạc với gia đình, tụi mình ngày về thật sự sẽ thấy đất nước thanh bình. Còn nữa, nếu được thả về, tao sẽ dẫn Chung ra thăm quê nội, nơi hiện tại vẫn còn các người thân, tụi tao sẽ đi ghe ngắm cảnh vịnh Hạ Long, tao sẽ tặng nàng cái trâm làm bàng thiếc mỏng, cái lược làm bằng vỏ đạn, tao sẽ kẻ chân mày cho Chung như Vô Kỵ đã làm cho Triệu Minh… Hắn còn nói nhiều nữa, tôi biết đây là dịp cuối cùng không biết đến bao giờ gặp lại nhau, chúng tôi có nhiều kỷ niệm, biết nói gì hơn là chúc nhau cố gắng vượt mọi trở ngại để mau đoàn tụ với gia đình. Tôi bắt tay Vũ, chúng tôi giữ chặt tay nhau, hai bờ vai hắn rung động, nụ cười héo hon, gật gật đầu, tôi không dám nhìn thẳng mặt hắn, tôi biêt nếu không kìm giữ lúc nầy mình sẽ khó giữ xúc động trước cảnh chia tay. Bên ngoài vô số người chạy tới lui gắp rút, nắng đã lan dần, vài tia nắng nhỏ xuyên mái tranh trải dài trên chiếc giường tre cũ kỹ, đổi màu, những chiếc chiếu te tua hai đầu thủng lỗ thấy cả nền đất sét ẩm ướt. Trưa hôm đó, Vũ được kêu tên cùng một số người khác sang tập họp tại đại đội kế bên phân cách bởi hàng rào kẽm gai, hắn nhìn sang, tay vẫy chào, chúng tôi thật sự chia tay và ngay trong đêm, toán của Vũ được đưa lên xe bít bùng, chở xuống bến tàu để di chuyển ra đảo Phú Quốc theo như tin ” tình báo ” lan truyền.

Riêng tôi sau hơn 3 năm cải tạo, được phóng thích, tôi tìm cách vượt biên bằng đường biển cùng vợ con và đã định cư tại một thành phố ở Bắc Mỹ trong một ngày đầu đông. Quê người tuyết lạnh băng giá, lạnh cả thể xác lẫn tâm hồn. Ngoài đường các cây phong trơ trụi lá, chỉ còn sót vài chiếc cuối cùng như cố bám víu sự sống còn, phía sau, các mái nhà chơ vơ tuyết phủ, bên cạnh các ống khói đang phì phào thở, vài cuộn khói lơ lửng bay tỏa vào không gian. Từng đoàn người nối đuôi đi nhanh trên cá đống tuyết bên vệ đường để bắt kịp các chuyến buýt, có hệ thống sưởi ấm trên xe, mọi thứ đều muốn vượt trở ngại để sanh tồn.
Tôi cũng vậy, đi trong cái chết để tìm sự sống, mười ngày trên biển, một năm ở trại tỵ nạn, cái mạng còn sót lại do cha mẹ cưu mang nên tôi ráng bảo tồn và nhận nơi nầy là quê hương thứ hai. Mùa Xuân nơi đây rất đẹp, khi cơn lạnh giảm dần, cây cối vạn vật nẩy nở, cả một màu xanh xuất hiện. Các nụ hoa uất kim cương đủ màu nhú khỏi mặt đất. Buổi sáng thức dậy nghe tiếng chim hót ngòai vườn, tiếng xe chạy đều bên ngòai, êm êm từ các con đường vắng, cả một không gian thanh bình.
Thời gian kế tiếp, tôi nhận tin của Vũ đã ra trại, cùng vợ con đang sinh sống tại quê nhà và đang chuẩn bị tìm đường vượt biên. Trong thư hắn có viết: ” Được tin gia đình mầy đã an cư lạc nghiệp tại cái xứ lạnh lẻo mà tao chưa hình dung vị trí của nó trên qủa địa cầu, nhưng dù sao cũng chúc mầy yên vui nơi cái thiên đường như tụi mình mong ước lúc còn ở trại Trảng Lớn. Bọn ở lại như tao, Tâm, Hải v.v .có quê hương mà cũng như không, suốt ngày chạy trốn tụi nó, không phải vì khuất phục mà vì bản năng sinh tồn của loài người phải sống qua tai kiếp nầy, không còn thử thách nào làm chùng bước chân đi tìm tự do. Tao đang chuẩn bị đưa gia đình về ngoại, một ngày rất gần hy vọng sẽ gặp lại mầy”. Nhìn dấu ấn của bưu điện, những màu mực đỏ lem luốc trên chiêc phong bì chuyển sang màu ngà, viết từ thành phố đổi tên, làm tôi nhớ lại những con đường củ, nhớ Sàigòn…

Chúng tôi thư đi thư lại nhiều lần cho đến một hôm tôi tình cờ khám phá ra hắn đã bặt tin từ lâu, tôi có viết thư về nhà hắn thì được biết trọn gia đình hắn mất tích trong cuộc vượt biên cho đến giờ mà vẫn bặt tin. Tôi cố gắng viết nhiều thư, người nhà hắn cũng xác nhận như vậy. Tôi thật sự mất thằng bạn, dù thời gian 14 năm qua tôi hy vọng có một phép mầu làm Vũ an lành trở về từ biển Đông, người đã chia xẻ ngọt bùi với tôi trong quá khứ rất nhiều. Hình ảnh chung vui ca hát những bản nhạc tiền chiến trong rừng hoặc ngất ngây cảm giác say thuốc lào qua chiếc điếu cày tự chế, từng ly nước trà đậm màu lấy từ lá mướp phơi khô mà hắn đặt tên là Thiết quan âm Trảng Lớn, đến từng ly nước mát lấy từ lá xưng xâm hoang dại, nào là thi đua nhặt rau càng cua mỗi lần vô rừng đốn mây, hoặc chia nhau các búp măng non mới mọc … những kỷ niệm đó vẫn còn đâu đây với tôi. Vũ, mầy đã thực sự được yên lành, không lo âu, trong cái thế giới riêng như mầy đã từng ao ước, đây là lúc mầy đưa Chung rong chơi phiêu lãng suốt từ Nam ra Bắc, mầy sẽ kẻ chân mày cho nàng suốt đời, phải không Vũ? Mỗi bửa ăn có rau muống luộc là tao nhớ canh vi cá của mầy? bây giờ rau muống tràn đầy, sao mầy không ở lại để hưởng? Mình còn bao nhiêu kỷ niệm hả Vũ. Cái điếu cày mầy có còn giữ hay không?

Ngoài xa kia nắng đã nhạt dần, một vài tia nắng còn sót lại, phản chiếu lăn tăn trên biển như muốn kéo dài một ngày sắp qua… và sẽ đi vào lòng đại dương mãi mãi. Đâu đây tiếng ca Ngọc Lan ru những lời xa xưa quen thuộc “Anh đưa em về chân em bước nhẹ trời buồn gió cao. Đời xin có nhau dài cho mãi sau nắng không gọi sầu. .Áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu. Gọi mãi tên nhau.”

Mùa Đông Mỹ Châu

TX2 VÕ KIÊM HUY

Nguồn: http://www.tx2.ca/MUCLUC/ntt_bdg.html

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)

  • Lê Nguyễn

Chương trình giáo dục trung và tiểu học thời Đệ nhất Cộng hòa do Bộ Giáo dục soạn thảo chung cho tất cả các trường trên toàn quốc. Chương trình này có tính ổn định lâu dài và chỉ có những thay đổi nhỏ trong quá trình thực hiện. Thời đó, không có hai từ “giáo án” và cũng thực sự không có việc giáo viên soạn thảo bài dạy theo một tiêu chuẩn nào, trình cho một giới chức nào. Người dạy học thời đó dựa vào chương trình chính thức do Bộ Giáo dục soạn thảo và dạy học sinh theo cách thức riêng của mỗi người, miễn sao trong kết quả cuối năm, nhiều học sinh đạt điểm cao nhất trong môn họ đã dạy. Nếu có soạn thảo “giáo án” chăng thì đó chỉ là những ghi chép riêng tư, sắp xếp ý tưởng giảng dạy để tự nhắc mình cho bài giảng có hiệu quả.

  • Xem lại kỳ 1

Ở bậc Tiểu học, sách giáo khoa các lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng (lớp Năm, lớp Tư và lớp Ba) được Nha Học chính Đông Pháp soạn thảo thống nhất cho cả nước từ các thập niên 1920-1930 và được áp dụng tại miền Nam cho đến nửa sau thập niên 1950. Bộ sách có tên chung là “Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư”, gồm nhiều đề mục khác nhau, sử dụng cho ba lớp sơ học: Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng, gồm nhiều chuyên mục khác nhau: Quốc văn Giáo khoa thư; Luân lý Giáo khoa thư; Sử ký – Địa dư Giáo khoa thư; Cách trí Giáo khoa thư; Vệ sinh Giáo khoa thư; Toán pháp Giáo khoa thư… Ban soạn thảo các sách giáo khoa này gồm 4 vị có tên tuổi và uy tín trong học giới: Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận.

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)
Sách Quốc văn Giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, bản in năm 1927 (Nguồn: thuongmaitruongxua.vn)

Tuy bộ sách có nhiều chuyên mục khác nhau, song được nhắc đến nhiều nhất là bộ Quốc văn Giáo khoa thư, ấn tượng đầu đời sâu đậm nhất của những người đi học vào thời kỳ chuyển tiếp giữa nền học cũ với nền học thời Đệ nhất Cộng hòa. Dù ở lớp nào, các bài học cũng đều mang ý nghĩa nhân văn, đi dần từ những bài dễ đọc, dễ hiểu ở lớp Đồng ấu và Dự bị đến những bài ở lớp Sơ đẳng, đòi hỏi học sinh tập suy luận trước những vấn đề được đặt ra, từ những bài ở sách Quốc văn Giáo khoa thư lớp Dự bị như Khuyến hiếu đễ; Người ta cần phải làm việc; Làng tôi; Nên giúp đỡ lẫn nhau; Lễ phép với người tàn tật… đến những bài dành cho lớp Sơ đẳng như Ai ơi chớ vội khoe mình; Lòng kính yêu chị; Chớ nên ham mê cờ bạc; Không nên báo thù; Không nên khinh những nghề lao lực…

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)
Hai trang sách trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ đẳng in năm 1927.

Bên cạnh sách giáo khoa thường được các trường Tiểu học sử dụng, còn có loại sách “Tập Đọc Vui” được soạn thảo và phát hành song song với sách giáo khoa, gồm những bài đọc vui, bổ ích về mặt hình thành nhân cách cho trẻ thuộc các lãnh vực: học đường, gia đình, thân thể, việc học và chơi… Trong tinh thần “Tiên học lễ, Hậu học văn” áp dụng xuyên suốt trên cả nước, nền giáo dục Tiểu học Đệ nhất Cộng hòa kế thừa nền giáo dục Hoàng Xuân Hãn năm 1945 và nguồn sách giáo khoa của Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư do bộ tứ Kim-Ngọc-Phúc-Thận biên soạn, coi trọng việc Đức dục ngang với Trí dục và Thể dục. Ấn tượng mạnh về bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư khiến những thế hệ ra đời từ thập niên 1950 trở về trước luôn nhắc nhở đến chúng như một hoài niệm về thời thơ ấu, với những bài học đáng nhớ là kim chỉ nam cho họ trong cách xử sự ở đời. Vào thập niên 1960 trở về sau, dù không còn là sách giáo khoa cho học trò nữa, song Quốc Văn Giáo Khoa Thư vẫn len lỏi vào ngóc ngách tâm hồn của nhiều thế hệ, vào cả trong tác phẩm Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, với truyện ngắn Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư nhắc đến những bài học không thể nào quên.

Khoảng thập niên 1990, nhà xuất bản trẻ TPHCM có sáng kiến in lại mấy tập sách giáo khoa này, theo yêu cầu của những độc giả có tuổi muốn tìm lại những hình ảnh của một thời học hành tuổi nhỏ. Nhiệt tình đó đáng ca ngợi, song đáng tiếc là sách in lại bằng giấy trắng láng, hình ảnh thiếu sự đậm đà, sắc nét khiến tác phẩm được phục hồi mất đi khá nhiều giá trị của sự hồi tưởng, hoài niệm một thời đã qua.

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)
Sách học Anh ngữ L’anglais vivant dành cho học sinh lớp Đệ Thất thập niên 1950.

Nửa sau thời Đệ nhất Cộng hòa, khoảng năm 1958, Bộ Quốc gia Giáo dục định ra các triết lý giáo dục gồm ba yếu tố cơ bản là: Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng, sách giáo khoa cho bậc Tiểu học được soạn mới, song vẫn giữ cốt cách của Quốc văn Giáo khoa thư và Luân lý Giáo khoa thư.

Ở bậc Trung học, thời Đệ nhất Cộng hòa, Nha Tổng Giám đốc Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục là cơ quan cao nhất thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục chịu trách nhiệm về việc dạy và học tại miền Nam. Cơ quan này bao gồm một số đơn vị trực thuộc gồm: Nha Trung học, Nha Tiểu học, Nha Tư thục, Nha Khảo thí và cơ quan Thanh tra. Tại cấp tỉnh, trong lúc các Ty Tiểu học trực thuộc chính quyền địa phương theo hệ thống ngang (thuộc Nha Tiểu học theo hệ thống dọc), thì các trường Trung học chỉ thống thuộc duy nhất Nha Trung học theo hệ thống dọc mà thôi. Ở bậc học này, Bộ Quốc gia Giáo dục có một quan điểm khá thoáng về mặt sách giáo khoa. Hầu như không có một bộ sách giáo khoa nào do cơ quan giáo dục chính thống biên soạn và phát hành để thầy và trò dạy và học theo.

Thời đó, dù là giáo sư tư thục hay công lập, mọi giáo chức có quyền dạy học sinh theo cách thức riêng của mình, không phải tuân theo một phương pháp giảng dạy nào, miễn sao tôn trọng đúng nội dung chương trình giáo dục do Bộ Quốc gia Giáo dục soạn thảo, giúp học sinh đạt được kết quả như ý trong các kỳ thi. Trên thị trường, nhiều sách giáo khoa (hay sách tham khảo) được bày bán, do các giáo sư tư thục lẫn công lập biên soạn. Mỗi tác giả có cách biên soạn của riêng mình, sách nào hay hoặc phù hợp với chương trình dạy và học sẽ được nhiều giáo chức tham khảo trong giảng dạy, học sinh tìm mua để đọc thêm.

Những năm cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960, về quốc văn, loại sách “Luận đề văn chương” của các giáo sư tư thục Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Duy Diễn, Nguyễn Văn Mùi… tràn ngập thị trường, được giới dạy văn và học sinh tham khảo nồng nhiệt. Mỗi sách luận đề khảo về văn chương của một tác giả cổ điển như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến…, sách khổ nhỏ, không dày, viết cô đọng, được cả thầy và trò ưa chuộng. Bản thân người viết bài này được làm học trò môn văn năm Đệ tứ (1958 – 1959) với giáo sư Nguyễn Duy Diễn, người đã mang lại cho cậu thiếu niên 14-15 tuổi một tình yêu nồng nàn đối với môn văn học nước nhà. Tiếc rằng thầy mất quá sớm, khoảng giữa thập niên 1960, khi tuổi đời còn trẻ.

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)
Sách “Luận đề văn chương” thời Đệ nhất Cộng hòa.

Với môn Văn, ngoài loại sách luận đề văn chương, còn có các sách quốc văn dành tham khảo của giáo sư Dương Quảng Hàm (1898 – 1946) (Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển), của các giáo sư Hà Như Chi, Phạm Thế Ngũ, Phan Ngô … Về lịch sử – địa lý có sách của ông bà giáo sư Tăng Xuân An, giáo sư Nguyễn Văn Mùi…; sách toán của các giáo sư Đinh Qui – Bùi Tấn – Lê Nguyên Diệm, Bùi Hữu Đột… sách ngoại ngữ, nhất là Anh ngữ, có loạt sách L’anglais vivant của nhà xuất bản Ziên Hồng được nhượng quyền khai thác từ nhà Hachette của Pháp… Thông thường, các nhà biên soạn sách giáo khoa đã được thị trường chấp nhận và tác phẩm của họ được sử dụng rộng rãi trong việc giảng dạy của các thầy cô và thỏa mãn nhu cầu tham khảo của các em học sinh trung học. Sự chọn lọc, đào thải của thị trường sách giáo khoa giúp các giáo chức, học sinh tìm được những sách đứng đắn, có chất lượng để dạy và học.

Ở bậc Đại học, với chủ trương một nền đại học tự trị, chính quyền Đệ nhất Cộng Hòa dành cho các viện Đại học Sài Gòn và Huế một quyền hạn rộng rãi trong việc sắp xếp chương trình giảng dạy, bố trí một đội ngũ giáo sư đại học phù hợp. Thông thường sách giáo khoa ở bậc học này do chính giáo sư các bộ môn soạn thảo và giảng dạy, không thông qua những tác giả trung gian khác.

Ở trường Đại học Luật khoa, có thể tham khảo, học tập sách của các giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thạc sĩ Luật, từng đảm nhận chức vụ Ngoại trưởng trong chính phủ Ngô Đình Diệm; Vũ Quốc Thúc, Thạc sĩ Kinh tế, Khoa trưởng trường Đại học Luật khoa; Nguyễn Độ, Tiến sĩ Hành chánh công (1952); Vũ Quốc Thông (Thạc sĩ Luật, từng làm Bộ trưởng Y tế, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh trước 1.11.1963); Nguyễn Văn Bông (Thạc sĩ Công pháp Quốc tế, sau ngày 1.11.1963 được cử làm Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh)…; ở Đại học Văn khoa có sách của các giáo sư Nguyễn Đăng Thục, dạy chủ yếu môn Triết học Đông phương, Nguyễn Khắc Hoạch, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Văn Trung, Bùi Xuân Bào… Ở các phân khoa Khoa học, Y khoa, Dược khoa… bài giảng và sách học được soạn chủ yếu dựa vào các tài liệu khoa học phổ biến ngoài nước. Cần nói thêm là hầu hết các giáo sư đại học tại miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa xuất thân từ các trường đại học Pháp, và theo chế độ giáo dục của nước này, bằng Thạc sĩ là bằng cấp cao nhất, trên bằng Tiến sĩ một bậc.

Hầu hết sách giáo khoa các bậc học Tiểu học, Trung học và Đại học thời Đệ nhất Cộng hòa đều theo khuynh hướng phi chính trị hóa, chú trọng chủ yếu đến việc rèn luyện con người trên các mặt Đức, Trí và Thể dục. Người viết sách giáo khoa cung ứng cho thị trường không bị một áp lực nào hay phải tuân theo một sự chỉ đạo nào. Đối tượng chủ yếu mà họ nhắm đến là các giáo chức cần tài liệu để hoàn thiện sự giảng dạy, đội ngũ học sinh, sinh viên cần tham khảo thêm ngoài các bài giảng ở trường.

Kỳ sau: Đội ngũ giáo chức và việc thi cử thời Đệ nhất Cộng hòa

Nhà nghiên cứu lịch sử Lê Nguyễn
Đăng lại có chỉnh sửa từ báo Trí Việt News, độc giả quan tâm có thể tham khảo tại triviet.news

Nguồn: https://trithucvn.org/van-hoa/ky-uc-vun-ve-chuyen-hoc-o-mien-nam-thoi-de-nhat-cong-hoa-ky-2.html

Huỳnh Anh Kiệt trong màu áo Biệt Động Quân và các trận đánh ở Cần Thơ

Văn Lan

Trong bối cảnh chiến tranh ngày càng gia tăng với những cuộc tấn công miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt, bao chàng trai đã lên đường nhập ngũ với tinh thần quyết chiến đấu để bảo vệ lý tưởng tự do, lại càng thúc giục Huỳnh Anh Kiệt cùng với bao lớp trai hùng lên đường vào quân đội.

Ông Huỳnh Anh Kiệt kể lại trận đánh ở quận Đức Long, Cần Thơ, ông bị thương nhưng không chết, tiếp tục chiến đấu trong Sư Đoàn 21 Bộ Binh. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Với ông Kiệt, được chiến đấu dưới lá cờ vàng cho miền Nam tự do thanh bình, trong áo trận bạc màu xông pha vào nơi lửa đạn khắp bốn phương trời là chí nguyện của người trai thời tao loạn.

Ngồi tại nhà ở Garden Grove hồi tưởng lại chuyện từ khi vào lính trên chiến trường cho đến khi chiến đấu trên các mặt trận xã hội, ông Huỳnh Anh Kiệt kể lại câu chuyện dài gần nửa thế kỷ nhưng tưởng chừng như mới hôm qua, với tinh thần chiến đấu vẫn còn nguyên khi Cộng Sản vẫn còn trên quê hương đang chìm trong đêm dài tăm tối.

Scroll-over ads

Ông Kiệt kể khi đang theo học tại trung học Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn và trường Đức Minh Thủ Đức thì chiến sự ngày càng ác liệt, ông không thể nào ngồi học khi ngoài chiến trường, bạn học mình đang ngày đêm chiến đấu không hẹn ngày về.

“Tôi quyết định đăng lính vào Lực Lượng 81 Biệt Kích năm 1971, sau đó được chuyển qua Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân. Sau khi học khóa hạ sĩ quan ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tôi chính thức về Sư Đoàn 21 Bộ Binh, thuộc Trung Đoàn 33, Tiểu Đoàn 2,” ông Kiệt kể.

Sư Đoàn 21 Bộ Binh thuộc Quân Đoàn IV, phụ trách khu vực chiến trường miền Tây lúc bấy giờ cũng ngập tràn máu lửa với những trận đánh liên miên giữa Sư Đoàn 21 Bộ Binh với Cộng Quân. Người lính trận ngày đêm liên tục hành quân với những trận truy đuổi, càn quét và đụng độ với Việt Cộng khắp nơi trên vùng sình lầy ngập nước, nơi mà sông rạch chằng chịt và trận địa mênh mông với những cánh đồng lúa “cò bay thẳng cánh.”

Từ sau năm 1972, nhất là sau Hiệp Định Paris 1973, Cộng Sản Bắc Việt và quân Giải Phóng Miền Nam luôn tìm cách tấn công miền Nam bằng mọi cách.

Từ phải, Giáo Sư Võ Thị Liễu mẹ của ông Huỳnh Anh Kiệt, ông Kiệt và em gái, cùng đồng hương trong buổi biểu tình trước Tòa Bạch Ốc để đấu tranh cho nhạc sĩ Việt Khang được trả tự do. (Hình: Huỳnh Anh Kiệt cung cấp)

Trận Long Mỹ đầu đời trong binh nghiệp

Xã Long Mỹ cũng thuộc quận Long Mỹ trong buổi chiều êm ả với những cánh chim cò bay thẳng cánh trên đồng ruộng lúa vàng ươm, lại phơi bày một cảnh tượng hết sức đau lòng. Những cánh đồng lúa chín vàng đang chờ thu hoạch đã bị Việt Cộng đốt cháy rụi để mượn khói lửa tung hỏa mù để pháo kích vô quận và cũng để dọn đường rút quân, vừa tạo cảnh hoảng loạn trong dân chúng, vì xã Long Mỹ ở ngay rất gần trung tâm quận Long Mỹ.

Từ Phụng Hiệp về Chương Thiện có ba ngã rẽ, một về quận Đức Long, một về Chương Thiện, và một hướng thẳng vô quận Long Mỹ, khi ba tiểu đoàn 1, 2, và 3 thuộc Sư Đoàn 21 kéo về.

Ông Kiệt nhớ lại: “Tiểu Đoàn 2 ở ngay hướng trái quận Long Mỹ nơi đóng đô dinh quận, được lệnh là phải đánh Việt Cộng dạt khỏi vị trí ấy. Khi được lệnh, ba tiểu đoàn 1, 2, và 3 của Sư Đoàn 21 tràn vô, tôi ở Tiểu Đoàn 2 phía cánh trái ngay Long Mỹ, còn Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 3 ở cánh phải khi bọn Việt Cộng tập trung tấn công vô quận Long Mỹ.”

“Khi xáp lá cà, giữa quân ta và Việt Cộng chỉ cách nhau khoảng 400 mét, máy bay F5 thả bom dữ dội rơi vào bên địch mà bên ta bị tức thở theo, còn pháo binh thì phải xếp càng không bắn được vì hai bên quá gần. Chịu không nổi, bị tổn thất nặng bọn Việt Cộng phải rút chạy luôn vô những đồng ruộng phía sau. Bọn tôi không truy đuổi theo vì trời tối, hơn nữa những cánh đồng lúa đã bị cháy rụi, không có chỗ ẩn nấp rất nguy hiểm khi bị phục kích,” ông Kiệt kể.

Bức hình gia đình duy nhất còn sót lại của gia đình ông Huỳnh Anh Kiệt, khi năm anh chị em còn nhỏ trước 1975 (ông Kiệt, đầu tiên bên phải). (Hình: Văn Lan/Người Việt chụp lại)

Đụng độ với Quân Khu 9 Cộng Sản, giải vây cho Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân

Tại Chương Thiện đầu năm 1974, một tiểu đoàn của Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân khi đang đổ quân xuống trấn đóng ở đó, đã đụng độ với Quân Khu 9 (sư đoàn chính quy của Bắc Việt), hợp cùng với quân Giải Phóng Miền Nam dùng cối 60, cối 82 và đại bác 57 tấn công.

Khi được lệnh, Tiểu Đoàn 2/33 Sư Đoàn 21 lội theo đường bộ theo con kênh chạy về Chương Thiện, hướng về U Minh Hạ, Bạc Liêu để giải vây cho một tiểu đoàn của Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đang bị tấn công.

Ông Kiệt kể, ở miền Tây khi chiều về là từng đoàn trâu lũ lượt kéo nhau về chuồng, đó là cảnh quá quen thuộc đến mức thấy bình thường. Lúc ấy trên bờ ruộng, cánh Biệt Động Quân thấy đoàn trâu đi về phía mình trong chiều tối, nhưng khi chúng đến gần mới phát giác là bọn Việt Cộng núp phía sau, mượn đàn trâu đi phía trước che chắn để tấn công.

Khi địch khai hỏa thì Biệt Động Quân đang ở thế bất ngờ, bị động phải nhảy xuống ruộng để phản công và kiếm đường rút, không ngờ ruộng ở đó là loại sình đặc, khi lún xuống không thể di chuyển được, Biệt Động Quân phải chịu trận chờ quân bạn giải vây, trong khi trọng pháo không thể can thiệp vì hai bên ở quá gần!

Ông Kiệt kể: “Lúc đến giải vây cho một tiểu đoàn của Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân, khi Tiểu Đoàn 2/33 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh tràn vô thì bọn Việt Cộng rút qua con kênh phía sau lưng bỏ chạy. Tại trận này, trong đêm tối ghe đi sâu vô con kênh không được, trực thăng tản thương đáp xuống cũng không xong, cả những giang đoàn cũng không vô được vì còn đang bị địch pháo kích, không có lối cho các đơn vị tản thương.”

“Khi bọn Việt Cộng rút chạy, đêm ấy Tiểu Đoàn 2/33 Sư Đoàn 21 nằm lại trận địa, và Đại Đội 2 của tôi đóng ở tuyến đầu để quan sát phòng ngự, chờ đến sáng hôm sau mới kiểm điểm lại và mang xác đồng đội về. Lực lượng bạn tổn thất khá nặng khi chỉ còn khoảng 80 người!” ông Kiệt xúc động kể tiếp.

Ông Huỳnh Anh Kiệt (phải) gặp lại vị niên trưởng năm xưa, cựu Thiếu Tá Lê Nguyễn Thiện Truyền, cựu sĩ quan chỉ huy của Sư Đoàn 21 Bộ Binh, trong buổi tưởng niệm 30 Tháng Tư tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Anh Kiệt cung cấp)

Trận Đức Long bị thương nặng không chết, tiếp tục chiến đấu

Hướng Long Mỹ về Chương Thiện, là quận Đức Long, ngay ngã ba con kênh có một đồn nghĩa quân, gồm binh sĩ và vợ con cùng ở chung. Khi Tiểu Đoàn 2/33 vừa đi tới, ngay trên dòng sông, bọn Việt Cộng gõ nồi niêu om sòm gây tiếng ồn để uy hiếp tinh thần, để trên bờ bọn chúng bắn B40 và cối 82 vô đồn.

Khi Tiểu Đoàn 2/33 tiến vô thì đụng độ với Việt Cộng bên kia bờ đê pháo qua, nhưng lúc tiến sát vô tới nơi thì Việt Cộng rút chạy. Trời đã tối, tiểu đoàn phải rút ra khỏi bờ đê, bỗng một quả cối 82 bay trúng đầu ngọn dừa, trái đạn tạt xuống trúng ngay Trung Sĩ Nhất Kiệt và bốn anh em trong Đại Đội 2 cùng dính đạn.

“Tôi bị miểng pháo cối cắm vào cổ họng, hai cườm tay và cánh tay, chân đều bị miểng nằm sâu trong thịt, cổ tay phải có miểng đạn chèn vô gân. Tình hình nguy cấp với nhiều thương binh nằm chờ cứu thương nhưng tất cả phương tiện đều không vào được vì đạn pháo địch liên tục pháo ngay chỗ đóng quân. Tôi cùng vài đồng đội nằm tại chiến trường một ngày đêm chịu trận, hôm sau mới được ghe chở ra bệnh viện Chương Thiện,” ông Kiệt nhớ lại.

Ông Kiệt cho hay ông nằm bệnh viện vì miểng đạn pháo chèn vào cổ họng khiến giây thần kinh nói bị tê liệt không nói được, hai tay và chân băng bột. Nằm tới sáng hôm sau nữa, có hai ông bà vô tìm con theo giấy báo tử. “Khi đến đúng giường bệnh tôi nằm, thì hóa ra giấy báo tử ghi lầm, vì hai người nằm trong bệnh viện đều tên Anh Kiệt, nhưng tôi họ Huỳnh thì ghi đã tử trận còn người họ Trần chỉ bị thương, vì vậy theo giấy báo, hai ông bà đến bên giường tôi nằm để mừng thăm con,” ông kể.

“Sau giây phút sững sờ, y tá cho biết tôi thuộc Trung Đội 3 còn người đã mất thuộc Trung Đội 2, đều là trung sĩ nhất. Tội nghiệp cho hai vợ chồng già lặn lội đi tìm con với niềm hy vọng là con chỉ bị thương. Hai ông bà khóc hết nước mắt khi biết con mình đã hy sinh ngoài mặt trận, nhưng lúc đó tôi không thể nào lên tiếng an ủi được, còn hai tay thì bó bột cứng ngắt không cử động, đó là những cảnh đau lòng trong cuộc chiến mà tôi từng chứng kiến!” ông Kiệt nhớ lại.

“Trong lúc đó mẹ tôi được giấy báo tử là tôi đã chết, bà phải bao nguyên chiếc xe chạy trong đêm đi Cần Thơ, nhưng về tới Phụng Hiệp bị Việt Cộng đắp mô không đi được nữa, bà phải kêu xe ôm đi về bệnh viện Chương Thiện lúc 9 giờ tối, tức tốc vào nhà xác tìm con, mới gặp lại được hai vợ chồng già khóc tức tưởi khi nhận xác con mình, lúc ấy mẹ tôi mới biết tôi còn sống,” ông Kiệt bồi hồi xúc động kể.

Ông Huỳnh Anh Kiệt bên hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma trong dịp ông xuống tóc trong ngày mẹ mất. (Hình: Huỳnh Anh Kiệt cung cấp)

Đoạn đường gian truân sau 1975

Nhớ lại biến cố 30 Tháng Tư, 45 năm về trước, ông Kiệt cho hay lúc đó ông theo một đoàn mấy chiếc thiết giáp M113 từ Cần Thơ chạy ngược về hướng Chợ Mới, Long Xuyên. Trên đường đi, khi Việt Cộng đi từ Cần Thơ về Trà Nóc thì quân lính Việt Nam Cộng Hòa đi từ Trà Nóc về Bến Xe Mới ở Cần Thơ, xuống phà qua Vĩnh Long.

“Trong đầu tôi nghĩ cứ đi theo thiết giáp, dù sao đi bằng xe vẫn nhanh hơn đi bộ, trong khi bên lề đường phía đối diện, hàng đoàn lính Bắc Việt đi ngược chiều về hướng Cần Thơ, hai bên cứ đi, đều nhìn thấy nhau nhưng không phía bên nào bắn nhau, lính Cộng Sản hấu hết là rất trẻ, khoảng 15, 16 tuổi. Cứ đi như vậy cho đến khi đoàn thiết giáp M113 chạy về tới An Giang thì trời nhá nhem tối,” ông Kiệt kể.

“Tôi nghĩ mình đã mất nước, nhưng tuổi thanh niên tràn đầy nhiệt huyết, trong lòng vẫn sục sôi khí thế, thề quyết chiến đấu vì đất nước cho tới chết. Lúc đó tôi không bỏ súng, vẫn đi trên đường với khẩu M16 và băng đạn còn quấn bên hông, trên người vẫn còn mặc đồ lính trận với huy hiệu Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Cứ đi với thiết giáp cho tới khi về tới Long Xuyên thì cũng vừa hết nhiên liệu, lương thực cũng không còn, ở đó cho tới hôm sau thì tan hàng, mạnh ai nấy đi!” ông Kiệt nhớ lại.

Tại Long Xuyên ông Kiệt luôn tìm đường về Sài Gòn, lúc đó tiền không còn một xu trong túi, lương thực cũng không có, khi qua bắc Vàm Cống cũng khó khăn vì có mấy chốt chặn nhưng may mắn ông cũng lọt qua được.

“Khoảng 20 ngày sau tôi về tới Thủ Đức, ở nhà lúc đó còn bà mẹ là giáo sư dạy Anh và Pháp văn tại trường Lasan Mossard Thủ Đức, trong khi ba tôi còn đang ở Ban Mê Thuột lo về quân lương trong quân đội, vài tháng sau ông về tới nhà thì mất khi năm người con đang còn nhỏ. Khi đó cả gia đình hụt hẫng vô cùng,” ông Kiệt nói. (Văn Lan) [qd]

Kỳ cuối: Huỳnh Anh Kiệt, một ngày lính trận Sư Đoàn 21 Bộ Binh, một đời chiến đấu

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/huynh-anh-kiet-trong-mau-ao-biet-dong-quan-va-cac-tran-danh-o-can-tho/

Trực thăng đáng lẽ trở thành ARVN/Air Cavalry

QUEENBEE-1

https://i.redd.it/tfki3yblbns11.jpg

Năm 1964, là thời điểm chuẩn bị cho một cuộc leo thang chiến tranh tại Việt Nam với chìa khoá chính là ngụy tạo ra vụ “Tonkin Incident” để mở rộng đường Xa lộ Harriman (đường mòn HCM) cho lính BV vào cưỡng chiếm miền nam. Lúc nầy Secret Society muốn QLVNCH phải có Quân-chủng Lữ đoàn Không Kỵ (Air Cavalry) để cùng Mỹ với sư đoàn Air Cavalry 101 tiêu thụ 5.000 chiếc Hueys, (vì nhu cầu Thiếu tá Nguyễn Huy Ánh sẽ là Lữ đoàn trưởng 1965 đầu tiên) Nhưng việc đó không xảy ra vì ngân quỹ quá tốn kém.

Nếu không có lực lương trực thăng, Pentagon sẽ coi nhẹ về VNAF, một quân chủng nhỏ chỉ cần tiêu xài các chiến cụ thặng dư như T-6, T-28, T-37, T-38 với thời gian huấn luyện và tập oanh kích các mục tiêu là vừa đủ để rơi rụng là vừa, nên không muốn họ phải hy sinh như những phi công ưu tú Không Quân, Hải Quân và Marine Mỹ; vì họ phải giải quyết thanh toán cho hết những món hàng giết người thặng dư còn tồn kho quá nhiều như F-100, RF-101, F-104, F-105, F-4, SkyHaw, Crusader, Corsair, Intruder . ..vào khoảng vài ngàn chiếc và theo dự trù bằng đáp số qua máy tính thì cũng gần 1.000 phi công trở thành POW với cái giá phải tiêu xài cho hết thứ quỷ nầy trong sách lược “Khổ nhục kế”.

Còn trực thăng Hueys không thôi cũng 5.000 chiếc, HK nhứt định không đem về Mỹ nếu có xuống HKMH cũng đẩy xuống biển, dĩ nhiên, đoàn viên Air Cavalry và anh em trực thăng VNAF rán mà chống chọi với thần chết khi phải tiêu xài cho hết 5.000 chiếc. Những phi cơ dành cho anh em khu trục VNAF như T-6, T-28, T-37, T-38 cũng không nhiều lắm, chỉ để vừa đủ luyện tập Take Off and Landing, hoặc ra chiến trận với một số bom đạn khiêm nhường hạn chế cho thực tập và sẽ hư hại sau đó qua huấn luyện, hoặc hành quân là vừa đủ. Riêng các AD-6 phía Hà Nội xin được giảm bớt phân nửa hoả lực vì sự chính xác đem cho họ quá nhiều thiệt hại, kết quả AD-6 chỉ mang theo 6 racks là 6 quả Bom mà thôi hay đình động là tốt nhứt. Thường khi Lê Đức Thọ đòi hỏi điều gì đều được Secret Society thoả thuận ngay vì sợ Thọ không chịu tiếp tục cuộc chiến thì bể kế hoạch Eurasian.

Thật tình nghĩ vậy nhưng không phải vậy, chính cũng là do cá tinh Nguyễn Cao Kỳ bởi W.Colby chọn theo hai tiêu chuẩn của Secret Society dặn dò; trẽ tuổi tính tình hay bốc đồng và dám nói dám làm, hai điều nầy Kỳ đã chứng minh. Vì thế khi tướng Kỳ xin Mỹ cấp cho F-4 Panthom, F-105 Thunderchief, nhưng Old Crocodile (Harriman) thẳng thừng bác bỏ vì tính bốc đồng của Kỳ. Làm sao ngăn cản được Kỳ cho oanh tạc các đê điền, ụ-đập trên sông Hồng Hà? Phi công MIG/21 cần có cơ hội để tập luyện; làm sao có runways nguyên vẹn để Mig cất cánh tập Dog Fight với Mỹ, nhứt là bốn điểm Cargo depot quan trọng như dưới chân đèo Mụ Giạ, Ban Kai và Ban Raving, và Căn cứ-611 để cưỡng chiếm miền nam…chỉ cần một viên đại bác 20 ly là depot nầy sẽ trở thành xác pháo như chơi. Phi công Hoa Kỳ cho là vùng Sam envelopped, nếu lỡ bay ngang bị hoả lực ở dưới ‘thọt lên’ cũng phải bỏ của chạy lấy người không được quyền trả đũa.

Vào chiến dịch Linebacker-1 (mùa Hè đỏ lửa 72) khi Mỹ rải mìn giải toả cho hết loại lỗi thời MK-52 vào tất cả các hải cảng BV để tiêu xài cho hết thứ quỷ nầy, nếu VNAF có F-4, F-105 họ thả vào runways thì làm sao Mỹ vin vào cơ hội thả Mìn nầy mà bí mật để cho vận tải cơ AN-2 của LX đáp xuống thả các vật liệu điện tử, khoa học phòng không cho Hà Nội; Nếu di-chuyển bằng tàu hoả thì Trung Cộng sẽ copy kỹ thuật là cái chắc! Chúng ta cũng thừa khả năng nhìn vị Tư lệnh bốc đồng như thế nào, Kỳ đã thỉnh cầu Mỹ nhưng không được thoả mãn là có lý do?

Như cây cầu Hàm Rồng đã có biết bao nhiêu Phi Cơ bị bắn rơi nơi đó vì chỉ dùng bom nổ thường, mà không được Salvo, mỗi pass chỉ hai trái Bom GP mà thôi, thay vì chỉ cần bắn một trái hỏa tiễn Pul-Pulp vô tuyến điều khiển là xong chiếc cầu. Để rồi không biết bao nhiêu tù binh Mỹ phải bị bắn rơi, trong đó có Đại sứ Peterson tại VN sau nầy (1995) và Thượng Nghị Sĩ John McCain…dĩ nhiên, quí vị nầy được Secret Society hậu tạ xứng đáng.

Để đổi lại, Hoa-kỳ khai thác được phương cách chống hỏa tiễn phòng không, bằng cách xử dụng hệ thống quang-tuyến Sensor phát hiện vật lạ với một tốc độ gia tăng bắn tới Phi-cơ và máy dò-tìm sẽ báo động ngay trong nón bay của Phi Công qua tín hiệu SAM-SAM-SAM… Lúc nghe được tín hiệu, Phi-công chỉ cần nhào lộn hay đổi hướng thật gắt, là hỏa tiễn sẽ bị mất đà và trượt qua một bên.

QUEENBEE-1

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/archive/showthread.php?8368-Tr%E1%BB%B1c-th%C4%83ng-%C4%91%C3%A1ng-l%E1%BA%BD-tr%E1%BB%9F-th%C3%A0nh-ARVN-Air-Cavalry

Thông Cáo Báo Chí Của NXB Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ Về Việc Xuất Bản Cuốn “Peace and Prisoners of War” (Tù Binh & Hòa Bình)

  • Phan Nhật Nam
https://vietbao.com/images/file/KLQXEixc2AgBAEBY/w400/tu-binh-va-hoa-binh.jpg

Sau đây là Thông Cáo Báo chí của NXB Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ về việc xuất bản cuốn Tù Binh và Hòa Bình-Peace & Prisoners of War: Hồi ức về Chiến Tranh Việt Nam của một người Miền Nam Việt Nam

Tác giả: Phan Nhật Nam

Với lời giới thiệu của Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ, Ông James Webb

“Các cuộc thảo luận tại Hoa Kỳ về Chiến tranh Việt Nam có xu hướng làm mờ nhạt giai đoạn từ năm 1972 đến cuộc tổng tấn công cuối của Miền Bắc vào năm 1975. Nhưng trên chiến trường, đó là thời điểm tàn bạo đối với đồng minh Nam Việt Nam của Hoa Kỳ trong lúc một cuộc đàm phán ngoại giao gay go được tiến hành trước thực tế ngày càng rõ là người Mỹ đã bỏ rơi họ.

Trong Tù Binh và Hòa Bình, được viết ngay khi các sự kiện đang xẩy ra, Nhà Văn Phan Nhật Nam qua một lăng kính đặc thù giúp người đọc thấy được cuộc chiến khắc nghiệt sau khi quân đội Mỹ rút lui và nỗi tuyệt vọng của Miền Nam trước nỗ lực ngăn chặn chiến thắng cuối cùng của cộng sản. Ít người cầm bút có thể viết nên những trang sử tương tự. Nhà văn Phan Nhật Nam đã chứng kiến cuộc chiến trong nhiều năm từ cái nhìn của một người lính cầm súng trong binh chủng Nhảy Dù và  phóng viên chiến trường được nể trọng của miền Nam Việt Nam, và 14 năm sau cuộc chiến là một tù nhân trong các trại tù cải tạo khét tiếng của Hà Nội, trong đó có 8 năm ông bị biệt giam. Sau cuộc chiến, mai danh ẩn tích là số phận và chọn lựa của Phan Nhật Nam cả ở Việt Nam và Hoa Kỳ. Nhưng giờ đây, một trong những tác phẩm quan trọng của ông được ấn hành và do Thượng nghị sĩ James Webb, một sĩ quan Thủy quân lục chiến được vinh danh nhất trong chiến tranh Việt Nam, giới thiệu trang trọng. Ông James Webb mô tả tác phẩm sống động này là “một cái nhìn nguyên bản bị đóng băng trong thời gian, không phô diễn thái quá hay kết hợp những hiểu biết được hồi tưởng lầm lẫn”. Quan sát của Nhà văn Phan Nhật Nam làm rõ ý nghĩa cái kết thúc của Miền Nam được dự báo trước với những sự kiện bi thảm, trên chiến trường cũng như nỗi thất vọng khi đàm phán với một đối thủ độc ác trong lúc bị đồng minh hàng đầu bỏ rơi.

Độc giả sẽ thấy cuốn sách vừa mang lại những điều mới lạ cũng như quan ngại, những quan sát của người viết cho đến nay vẫn bị lãng quên trong hầu hết các trang sử về Chiến tranh Việt Nam.

Phan Nhật Nam là một quân nhân, một nhà văn tên tuổi và một nhà bình luận chính trị. Tốt nghiệp trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, ngôi trường tại Miền Nam có thể so sánh với West Point. Trong cuộc chiến, Phan Nhật Nam là người lính trận Mũ Đỏ hơn 8 năm, một sư đoàn dù tinh nhuệ của miền Nam Việt Nam và sau đó trở thành phóng viên chiến trường tăm tiếng của Miền Nam. Sau ngày cộng sản tiếp quản Miền Nam 1975, ông bị giam trong “trại cải tạo” khét tiếng của Hà Nội trong 14 năm, với 8 năm biệt giam. Ông di cư sang Hoa Kỳ năm 1993 theo Chương trình Ra đi Trật tự (Orderly Departure Program), tuy vậy Ông không ngừng viết và nói về cuộc chiến cũng như hậu quả của nó. Nhà văn Phan Nhật Nam là một trong những tiếng nói có tầm ảnh hưởng lớn từ cộng đồng người Việt hải ngoại.

Nguyên Thượng Nghị Sĩ James Webb đã từng tham chiến tại chiến trường VN trong binh chủng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Ông được nhận nhiều huy chương cao quý của Hải quân Hoa Kỳ như Navy Cross, Silver Star, 2 Bronze Stars, và 2 Purple Hearts. Ông là tác giả của 10 tác phẩm, trong đó có tiểu thuyết kinh điển Fields of Fire về cuộc chiến Việt Nam. Ông cũng là nhà báo đi và viết nhiều, từng nhận giải Emmy Quốc gia cho chương trình truyền hình năm 1983 về Thủy quân Lục chiến ở Beirut, Lebanon, và là phóng viên chuyên nghiệp tại Afghanistan năm 2004. Trong chính quyền Hoa Kỳ, ông từng là cố vấn nhiều ủy ban tại Hạ viện, và nắm nhiều chức vụ quan trọng như Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Hải quân trong Chính phủ Reagan, và Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ thuộc Tiểu Bang Virginia.”

(Bản dịch tiếng Việt trích từ thông cáo báo chí của NXB Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ)

NXB HỌC VIỆN HẢI QUÂN HOA KỲ

Ấn Hành: 15 Tháng 9, 2020

ISBN: 9781682476147

Giá Sách Bìa Cứng: $24.95

240 Pages | 6 x 9 in

Đặt mua tại: https://www.usni.org/press/books/peace-and-prisoners-war  

Tin tức về việc phát hành, xin liên lạc với (1) Jacqline Barnes, (410) 295-1028, jbarnes@usni.org  hay (2) Phan Quang Trọng, (210) 724-7130, trong.phan@gmail.com 

Nguồn: https://vietbao.com/p112a304960/thong-cao-bao-chi-cua-nxb-hoc-vien-hai-quan-hoa-ky-ve-viec-xuat-ban-cuon-peace-and-prisoners-of-war-tu-binh-hoa-binh-

Chiến Dịch Hành Quân “Tam Giác Sắt” – NN Lê Đình An

NN Lê Đình An

http://www.canhthep.com/image.php?module=101&image=forums/kq/chuyendoilinh/notes/84516.ledinhan.jpg

Chiến dịch Cedar Falls là chiến dịch quân sự từ ngày 8 tháng 1 đến 16 tháng 1 năm 1967 trong Chiến tranh Việt Nam do Quân đội Mỹ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thực hiện nhằm triệt nhổ gốc rễ các căn cứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở “Tam giác sắt” (khu vực rộng 155 km² nằm giữa sông Sài Gòn và đường 13, khoảng 40 km phía bắc trung tâm Sài Gòn).

Chiến dịch có sự tham gia của 16 ngàn lính Mỹ và 14 ngàn lính Việt Nam Cộng hòa. Quân Giải Phóng Miền Nam quyết định không giao chiến mà phân tán rút vào rừng. Trong chiến dịch này, “lính chuột cống” (Tunnel Rat) được sử dụng lần đầu tiên để xâm nhập hầm trú ẩn và hệ thống công sự ngầm của quân Giải Phóng…..

Tháng 1 năm 1967.

Văn phòng Người Nhái trực nhận được công điện “Khẩn” của BTL/HQ/P3. NN chuẩn bị công tác. Tôi và NN Nguyễn Đức Nguyên với đầy đủ trang bị, khoảng 20 phút sau chúng tôi lên quân xa 4×4 trực chỉ lên Tỉnh Bình Dương…

Khi đến Bình Dương chúng tôi được một sĩ quan Hải Quân trách nhiệm, đón chúng tôi và cho chúng tôi biết Hải Quân tham dự cuộc hành quân vào khu Tam Giác Sắt với một lực lượng hùng hậu của Giang Đoàn tăng phái khoảng 50 Chiến Đĩnh, hợp cùng với các quân, binh chủng Không Quân và Lục Quân Việt, Mỹ. Cuộc hành quân qui mô rộng lớn, gồm khoảng 16.000 quân Mỹ và 14.000 quân Việt Nam Cộng Hòa. Nhiệm vụ của Hải Quân là di tản dân chúng ra khỏi vùng hành quân..

Trách nhiệm NN của chúng tôi là: – Bảo vệ mấy chiếc cầu để các chiến đĩnh cập vào nghỉ đêm .v.v. (An ninh phòng thủ hải cảng, bảo vệ cầu cống, cũng là nhiệm vụ của NN.) và tháp tùng với các chiến đĩnh bảo vệ đoàn Giang Đĩnh tiến vào vùng Tam Giác Sắt để đón dân chúng di tản ra khỏi vùng hành quân và đưa về Bình Dương.

Sau đó chúng tôi được hướng dẩn vào liều vải quân đội trong khuôn viên Ty Bưu Điện cạnh bờ sông để tạm trú, nơi đây là trạm Vô Tuyến truyền tin của HQ. Chúng tôi gặp anh Trưởng Toán là Thượng sỉ Vô Tuyến Nguyễn Văn Lý (Anh Lý là người kỳ cựu nhứt kể từ khi HQ Pháp bàn giao, rất giỏi trong ngành Vô Tuyến của HQ/VNCH.) và anh bạn cùng khóa 26 chuyên nghiệp là Hạ sĩ Vô Tuyến Nguyễn Viết Hiển. Các anh đến đây trước để lo sắp xếp máy móc liên lạc với các quân,binh chủng bạn. Chúng tôi chào nhau thăm hỏi. Các anh cho chúng tôi biết cuộc hành quân đã diễn ra mấy ngày rồi, và đoàn Giang đĩnh cũng vừa mới đến hôm nay cùng lúc với NN chúng tôi.v.v.

Tôi nhớ lại chuyến công tác áp tải đạn dược tiếp tế cho quận Dầu Tiếng mới đây chỉ cách khoảng một tháng trước cũng trên dòng sông hiểm ác nầy. Có thể chuyến công tác đó là để chuẩn bị đầy đủ đạn dược cho quân đội VNCH trong chiến dịch hành quân Tam Giác Sắt, nhưng vì bảo mật nên không ai được biết.

Việc canh gác trên các chiến đĩnh ngày đêm thì do nhân viên cơ hữu HQ, kiểm soát và canh chừng những đám lục bình hoặc cỏ rác tấp vào chiến đĩnh, vì đặc công thủy VC có thể ẩn núp dưới đó..

Thời tiết lúc nầy cuối mùa Đông có gió Bấc (Bắc) hiu hiu rất lạnh. Khoảng 10 giờ tối và 5 giờ sáng mỗi ngày. Tôi và NN Nguyên mang bình hơi lặn xuống để kiểm soát lại tất cả dưới lườn các chiến đĩnh, các chân cầu và các điểm khả nghi.v.v. Bảo đảm an toàn cho đoàn chiến đĩnh. Có điều đặc biệt là trên mặt nước sông có gió lạnh nhưng lặn xuống dưới mặt nước thì dòng nước lại âm ấm chớ không lạnh như ở trên mặt sông..

https://bienxua.files.wordpress.com/2018/06/05c6b-1968-04-my2btho-1.jpg

Khi đoàn giang đĩnh khởi hành, tôi và NN. Nguyên chia nhau xuống hai chiếc Tiểu Giáp Đĩnh (Fom) cùng nhân viên cơ hữu HQ đi đầu mở đường cho đoàn giang đĩnh tiến vào vùng hành quân..

Trên dòng sông rộng, chúng tôi nhìn về hướng hành quân, cả một vùng trời rộng thênh thang, vang rền tiếng bom đạn, từng bựng khói đen bung lên cao do các phi cơ đủ loại của Mỹ từ nhiều căn cứ trên đất liền, và từ Đệ Thất Hạm Đội bay vào tấn công, Không Quân Việt Nam cũng tham gia cuộc hành quân phi pháo và oanh kích vào vùng địch…

Khoảng 5 hay 6 mũi tiến quân..Mỗi mủi tiến quân đều có trên trời một Quan sát cơ L.19 như con diều hâu nhẹ nhàng bay lượn, theo dỏi và chỉ điểm cho các căn cứ pháo binh pháo kích, và các phi cơ oanh tạc.. Tiếng gầm thét vang trời của các loại phi cơ phản lực Việt, Mỹ phối hợp mở đường giúp cho Lục quân tiến sâu vào vùng Tam Giác Sắt. Theo tin tình báo cho biết vùng nầy VC đã thực hiện một hệ thống địa đạo rất kiên cố. Nên Không Quân đã sử dụng loại bom hạng nặng 500 lbs. để phá hủy các địa đạo và hầm núp, hàng loạt Phản lực cơ B.52 bay từ đảo Guam đến trải thảm vào vùng địch, làm rung chuyễn cả vùng trên mặt đất làm xao động cả mặt sông dài..

Đoàn chiến đĩnh hướng về thượng nguồn đã qua khỏi ngã ba nhà máy xay lúa, trước đây là vùng nguy hiểm tác xạ tự do, nhưng lần nầy chúng tôi không cần tác xạ vì quân bạn đang bao vây vùng nầy.. Trên không một chiếc quan sát cơ L.19 Không Quân VN bay lượn theo đoàn chiến đĩnh để giúp đở mổi khi thấy những điểm khả nghi thì L.19 gọi Trực Thăng bắn phá trước khi đoàn chiến đĩnh di chuyễn đến. Chúng tôi nghỉ có thể mật khu của chúng đang bị tấn công nên VC chỉ còn lo đào thoát chớ không còn sức kháng cự lại…
Dòng sông cũng là hành lang của cuộc hành quân. Khi tiến vào khu vực, chúng tôi thấy trên bờ sông phía bên trái có rất nhiều Thiết Giáp và Thiết Vận Xa của Hoa Kỳ ngụy trang, phục kích mổi chiếc cách khoảng nhau chừng 100 thước, dài suốt mấy cây số.

Trong chuyến công tác trước của tôi trên dòng sông nầy. Một dòng sông đã từ lâu hứng chịu sự hi sinh đầy xương máu của quân nhân VNCH. Vì tuân hành lệnh cấp trên thi hành công tác, các chiến đỉnh HQ đã bất chấp mọi nguy hiểm khi phải vượt qua các mật khu của VC nơi đây, các chiến đỉnh HQ đã bị bọn việt cộng gài đặt mìn bẩy và bắn phá hoặc thả Mìn trôi theo dòng nước để phá hủy các giang đĩnh, các quân nhân HQ đã phải hi sinh đền nợ nước rất nhiều trên đoạn sông nầy..

Nhưng hôm nay cũng trên đoạn sông nầy đổi ngược lại. Một cảnh thê lương đầy chết chóc diển ra trước mắt, những thây xác đàn ông và đàn bà đang trôi dật dờ là cán binh, cán bộ Việt Cộng. Còn trên bờ sông bên phải, cũng đầy thây xác của VC nằm vung vải khắp nơi, trên bờ đê và trên ruộng đồng …

Nguyên nhân vì quân đội Việt, Mỹ đang bao vây chặc chẽ hai mặt trên bộ và càn quét trong vùng mật khu an toàn của chúng, buộc bọn Việt Cộng phải đào thoát về hướng thứ ba của hình tam giác là hướng dòng sông mà Việt Cộng hi vọng là sinh lộ. Để tránh bị phát giác trong việc đào thoát, chúng chờ đến ban đêm mới rút ra bờ sông, nhưng chúng không ngờ lại bị lọt vào vòng phục kích của bộ binh Tùng Thiết Mỹ bên bờ sông đối diện. Với vũ khí tối tân và hồng ngoại tuyến nhìn thấy rỏ ban đêm, nên bọn VC không làm sao thoát được dưới hỏa lực kinh hồn của thiết Giáp kỵ Binh Hoa Kỳ…

https://bienxua.files.wordpress.com/2020/09/e4ce9-1-48.jpg

Đến Bến Súc địa điểm ấn định. Các chiến đĩnh lập vòng đai an toàn, còn các Quân Vận Đĩnh ủi bải để đón dân chúng. Được biết người dân sống rải rác trong thôn xóm hẻo lánh vùng nầy do đơn vị Nhảy Dù VN trách nhiệm, đã phối hợp cùng với Đoàn Dân Sự Vụ Tỉnh Bình Dương tập trung dân chúng lại tại đây . Đoàn Tâm Lý chiến của HQ cùng nhân viên cơ hữu HQ hướng dẩn giúp đở đưa dân xuống tàu. Sau đó đoàn giang đĩnh trở về Bình Dương chiều hôm đó, đưa dân chúng lên bờ giao lại cho các cơ quan dân sự tiếp đón đưa vào trại tạm cư để gạn lọc lại, đề phòng việt cộng có thể trà trộn LCM-6 trong dân tỵ nạn.

Suốt tuần lễ công tác, sáng đi chiều về để di tản dân chúng ra khỏi vùng lửa đạn. Chiến đĩnh chúng tôi phải ngược xuôi trên đoạn sông đầy xác người chết, trôi nổi ra vào theo con nước lớn và ròng của thủy triều, mùi tanh hôi nồng nặc bốc lên rất khó chịu. Mấy ngày đầu xác người sình lên, đàn ông thì nằm úp còn xác đàn bà thì lại nằm ngửa mặt lên trên mặt nước..Nhưng vài ngày sau thì xác thịt bị rửa lần, da nám đen và thung nhỏ lại, tóc bị rụng hết, và xác đàn ông, đàn bà đều lật ngửa ra hết rồi chìm lần…Nhưng mỗi ngày khi di chuyễn vào vùng nầy chúng tôi đều thấy có xác chết mới khác lại trôi nổi thêm trên mặt sông, và cả trên bờ sông, đồng ruộng, đâu đâu cũng dẫy đầy xác chết mới..Có lẽ vì mỗi đêm đều có VC bị bắn chết vì đào thoát về hướng con sông nầy..

Chiến dịch hành quân “Tam Giác Sắt” (The Iron Triangle) được giử bí mật nên cấm tất cả phóng viên chiến trường và giới truyền thông Việt và Mỹ đều không được tham dự. Vì vậy vào thời điểm đó giới truyền thông báo chí không thể loan tin đầy đủ cho chiến dịch hành quân to lớn nêu trên
Mật khu Tam Giác Sắt, nơi đây là trường huấn luyện đặc công đưa vào phá hoại trong thành phố và cũng là nơi HL cho thành phần sinh viên thân cộng, và các thành phần bất mãn với chế độ VNCH, các Ni Cô, Sư Sải giả danh, chống đối chánh quyền, được VC móc nối đưa vào đây học tập rồi đưa về nội thành tổ chức phá hoại qua nhiều hình thức.v.v…

Chúng tôi xin ghi lại hồi ức mà chúng tôi đã trực tiếp tham gia trong chiến dịch để lưu lại chiến tích hào hùng của quân đội VNCH phối hợp hành quân cùng quân đội Hoa Kỳ. Gót giày trận của các quân nhân VNCH đã từng xông pha dẫm nát những nơi như vùng mật khu Tam Giác Sắt nầy, mà bọn việt cộng rêu rao tuyên bố là vùng “bất khả xâm phạm”.

Để chấm dứt bài viết, xin xem kết quả của cuộc hành quân vào khu Tam Giác Sắt qua tài liệu trên trang nhà dưới đây:

“…Quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa thông báo tiêu diệt 750 Việt Cộng và bắt 280 tù binh. Thiệt hại của Việt Cộng còn bao gồm 23 vũ khí hạng nặng, 590 vũ khí cá nhân và 200 mìn, lựu đạn, đạn pháo và súng cối. 100 công trình kiên cố, 250 hầm và hơn 500 công trình khác bị phá hủy. 60 ngàn băng đạn cho vũ khí cá nhân, 7.500 bộ quân phục, 3,7 ngàn tấn gạo và khoảng nửa triệu trang tài liệu bị thu giữ cùng nhiều vật liệu chiến tranh khác.

Thương vong về phía Mỹ là 72 thiệt mạng và 337 bị thương; phía Việt Nam Cộng hòa là 11 chết và 8 bị thương. Phía Mỹ bị phá hủy 2 xe tăng, 5 xe bọc thép; ngoài ra còn bị hư hại 3 xe tăng, 9 xe bọc thép, 1 xe tăng hạng nặng, 2 xe ô tô và 2 trực thăng trinh sát nhẹ. Quân đội Việt Nam Cộng hòa mất 3 vũ khí cá nhân.”

NN Lê Đình An

Nguồn: http://canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1331963827&first=420&last=479

Chiến thuật trận địa Pháo, Chiến xa và Bộ binh của CSBV bị TQLC đánh bại tại Đông Hà và căn cứ Pedro tháng 4 năm 1972 – Mai Văn Tấn

Posted by bienxua on

MX Mai Văn Tấn

Lợi dụng Quân Ðội Hoa Kỳ cùng Ðồng Minh rút quân và Việt Nam hoá chiến tranh (Thời Tổng Thống Richard Nixon ). Ngày 29 tháng 3 năm 1972, Quân Ðội Cộng Sản Bắc Việt mở chiến dịch Nguyễn Huệ xâm nhập VNCH với ba diện tấn công quy mô.
1- Vượt vùng Phi quân sự ( DMZ) tiến chiếm tỉnh Quảng Trị.
2- Dùng Cam Bốt làm bàn đạp tiến chiếm Bình Long, An Lộc.
3- Lợi dụng khu vực rừng núi Tây Nguyên đánh chiếm Kontum.

Trong khu vực trách nhiệm của Lữ Ðoàn 258/TQLC. Chúng tôi xin ghi lại diễn tiến hành quân vùng dịa đầu giới tuyến.
Qua hơn 30 năm qua, đã đọc được nhiều bài viết về trận đánh này như:
– “Thần Ưng xé xác xe tăng Ðịch “ của Ðại Tá Phạm Văn Chung Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Nam.
– “Công Sản Bắc Việt Xâm Lăng” của Trung Tá Trần Văn Hiển Trưởng Phòng 3 SÐ/TQLC.
– “Thủy quân Lục chiến VN trong mùa Hè đỏ lửa” của tác giả Hoàng Xuân Trường.
– “The Easter Offensive” của Trung Tá TQLC Hoa Kỳ G.H Turley trong đoàn Cố Vấn Sư Ðoàn TQLC.

Ðây là cuộc hành quân với nhiều đơn vị tăng phái và cơ hữu tham chiến như: Chi Ðoàn 2/20 thuộc thiết đoàn 20/CX M48, những phi tuần A1 và A 37 của không quân VN, không quân Hoa Kỳ, TÐ3 Pháo Binh 105 ly TQLC, Ðại Ðội Công Binh của Tiều Ðoàn Công Binh TQLC, TÐ1, TÐ3 và TÐ6 TQLC.

Cũng là cuộc hành quân đầu tiên vùng giới tuyến có chiến xa địch tham chiến và ta đã bắn hạ nhiều chiến xa địch. Chúng tôi muốn đóng góp phần nào để làm sáng tỏ thêm với các tác giả kể trên mục đích trung thực hóa những việc đã xẩy ra với phuơng châm “Sự thật hãy trả lại cho Lịch sử”. Tô điểm thêm nét hào hùng trung thực của Quân sử VNCH và Chiến sử TQLC. Ðể những thế hệ sau biết rằng cha ông họ đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ tự do cho miền Nam Viêt Nam. Chiến đấu đến giờ phút cuối cùng, mặc cho Ðồng Minh quay lưng.


Đại Úy Nguyễn Văn Tâm

Ðầu tháng 4 năm 72, ở vùng địa đầu giới tuyến, một số căn cứ Hỏa lực đã bị Cộng sản chiếm đóng, thất thoát 36 đại bác 105 ly, 08 đại bác 155 ly, 4 đại bác 175 ly, các đơn vị đã bỏ lại sau khi di tản khỏi căn cứ. Trung Ðoàn 56 thuộc SÐ3/BB đóng tại căn cứ Tân Lâm ( Caroll ) đã đầu hàng vào lúc 14giờ 30 ngày 2 tháng 4 năm 72 ( Trung Tá Phạm Văn Ðính, Trung Ðoàn Trưởng ) trong đó có 1 pháo đội 105 ly của TÐ1/PB/TQLC (Ðại Úy Nguyễn Văn Tâm, Pháo Ðội Trưởng) tăng phái cho Trung Ðoàn 56 cũng phải chịu chung số phận ngoài ý muốn.
Áp lực địch rất nặng nề gồm các SÐ 308, 304 và 2 Trung đoàn CX, 1 Trung Ðoàn Pháo.

Vùng trách nhiệm của LÐ 258/TQLC.

Ngày 1 tháng 4 năm 1972, BTL/SÐ3/BB di chuyển về Cổ Thành Ðinh Công Tráng (Tiểu Khu Quảng Trị ) cách Ái Tử khoảng 6 Km về hướng Nam để tránh tầm pháo kích của Ðịch.
BCH/LÐ258 TQLC được lệnh di chuyển từ căn cứ Nancy đến Ái Tử thay thế BTL/SÐ3/BB. Ðịch pháo kích hàng trăm đại bác 130 ly trong khi BCH/LÐ/258/TQLC di chuyển vào căn cứ Ái Tử. Khói bay mịt mù trong căn cứ lẫn mùi xe cháy, mùi xăng cùng với những tiếng nổ nhức óc. TTHQ tuy bị pháo kích nhưng quá kiên cố nên rất an toàn. Nóc được phủ bằng lớp bao cát dầy khoảng 8m-10m nên chịu được sức pháo các loại. Vùng trách nhiệm của Lữ Ðoàn gồm phiá Tây và Bắc tỉnh Quảng Trị ( Phiá Nam cầu Ðông Hà là ranh giới )

Phối trí lực lượng
Các đơn vị thuộc quyền chỉ huy của LÐ258/TQLC. gồm TÐ1 + TÐ3 + TÐ6 TQLC. TÐ3 PB/TQLC, Ðại Ðội Công Binh TQLC, và được tăng phái Chi Ðoàn 2/20 CX M48 của Thiết Ðoàn 20 CX.
Ngày 30 tháng 3 năm 1972
– TÐ3 TQLC ( Thiếu Tá Lê Bá Bình TÐT) di chuyển từ căn cứ Nancy về Ðông Hà lập 1 tuyến cản địch dọc theo phiá Nam cầu Ðông Hà phối hợp với Thiết Ðoàn 20 CX ( Trung Tá Lý Thiết Ðoàn Trưởng chỉ huy tổng quát). Phiá Bắc cầu Ðông Hà đặt 1 toán tiền sát để quan sát tình hình địch.
– TÐ6 TQLC ( Thiếu Tá Ðỗ Hữu Tùng TÐT đã được tăng phái cho BTL/SĐ3 BB từ trước khi BCH/LÐ 258 đến Ái Tử. TÐ6 trách nhiệm phòng thủ căn cứ Ái Tử và bảo vệ BTL/SÐ3/BB
– TÐ1 ( Thiếu Tá Nguyễn Ðăng Tống TÐT) Trừ bị cho LÐ, đơn vị phối trí ở phiá Bắc căn cứ Ái Tử.
– TÐ3 PB/TQLC trách nhiệm yểm trợ trực tiếp các đơn vị.

Chiến thắng Ðông Hà.
Trong đêm 1 rạng 2 tháng 4/72, Trung Ðoàn 51/SÐ3 /BB di tản chiến thuật về phiá Nam Ðông Hà, VC đuổi theo trong tình trạng hổn độn cả dân và VC mặc quân phục BB giả dạng trà trộn. Toán tiền sát của TÐ3 TQLC ( Bắc cầu Ðông Hà ) báo cáo có xe vận tải chở BB địch và đoàn chiến xa địch khoảng 20 chiếc dẫn đầu 1 T54 và 1 PT76

TÐ3/TQLCvà TÐ20CX(-) báo động sẵn sàng chiến đấu
Ðến gần đầu cầu chiếc T54 bị trúng dạn CCX M72 và đạn đại bác 90 ly của TÐ20CX M48 nằm tại chỗ, chiếc PT76 lách sang 1 bên tiến lên để mở đường cho đoàn xe phiá sau nhưng cũng bị TÐ3/TQLC và TÐ20 CX M48 bắn hạ nằm song song với chiếc T54. Tất cà đoàn xe và chiến xa địch dừng lại tản ra 2 bên đường. TÐ3 TQLC yêu cầu LÐ cho hỏa lực yểm trợ. TÐ3/PB/ TQLC, Hải pháo của Hoa kỳ và các phi tuần phản lực của Không quân VN tất cả hoả lực tấn công vào đoàn xe BB và Chiến xa địch
Lực lượng BB của CSBV và đoàn chiến xa bị tiêu diệt số còn lại lẩn vào các làng mạc lân cận. TÐ3 TQLC và TÐ20 CX được yểm trợ hỏa lực chính xác của TÐ3/PB/TQLC. Hải pháo và các phi tuần oanh kích đã đẩy lui VC đơn vị cấp Sư Ðoàn có chiến xa tùng thiết với ý định tiến qua cầu Ðông Hà để tiến chiếm tỉnh Quảng trị. Hàng trăm lính CS Bắc Việt và 20 CX bị tiêu diệt.

Sau 7 ngày quần thảo với lực lượng địch cấp Sư Ðoàn và Trung đoàn chiến xa ( Tin tình báo cho biết là SÐ 308 và Trung Ðoàn 202 CX )


Đại Úy Ripley dùng chất nổ phá cầu Đông Hà

Khu vực phiá Bắc cầu Ðông Hà, quân số tham chiến của TÐ3 từ 700 thiệt hại trên 200. TÐ3 tịch thu được 2 dàn hoả tiễn AT3 của CS do Liên sô chế tạo. Ðể tiêu diệt CX địch TÐ3 xử dụng M72 CCX, đại bác 90 ly của chiến xa M48, đại bác 105 ly do đơn vị BB của ta bỏ lại bắn trực xạ. Sau đó cầu Ðông Hà được lệnh phá sập để ngăn đường tiến quân của địch. Toán CB của SÐ3 BB cùng với cố vấn Mỹ có nhiệm vụ thi hành nhưng họ không hoàn thành được nhiệm vụ. Ðại Úy Ripley cố vấn TÐ3 và một số binh sĩ TÐ3 dùng số chất nổ của CB/SÐ3 để lại trong sự cố gắng vượt bực để phá sập cầu Ðông Hà.

Ngày 8 tháng 4 năm 72, BCH/LÐ điều động TÐ3 về phòng thủ căn cứ Ái Tử thay thế TÐ6/TQLC. Khu vực trách nhiệm của TÐ3 bàn giao lại cho Liên Ðoàn 5 BÐQ ( Trung Tá Lê Minh Hồng Liên Ðoàn Trưởng )
TÐ6 được điều động phòng thủ phiá Tây khoảng 6 Km từ căn cứ Ái Tử và chiếm giữ căn cứ Phượng Hoàng ( Pedro), thay thế cho 1 Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân.

Chiến Thắng Phượng Hoàng.
Căn cứ Phượng Hoàng ( Pedro ) như 1 tiền đồn ngăn chặn sự tiến quân của địch từ thung lũng Ba Lòng ( VC từng gọi là chiến khu Ba lòng ) cách căn cứ Ái Tử khoảng 6 Km về phiá Tây. BCH/LÐ tăng cường cho TÐ6 một xe ủi đất để tổ chức phòng thủ.
TÐ6 (-) ở vị trí cao cách căn cứ Phượng Hoàng 1 Km về hướng Bắc. Cánh B TÐ6 ( 2 ÐÐ)( Ðại Úy Nguyễn Văn Sử TÐP) bố trí hướng Ðông Nam cách căn cứ Phượng Hoàng 1 Km. 1 ÐÐ phòng thủ căn cứ Phượng Hoàng. Phối trí quân của TÐ6 tránh thiệt hại và tổn thất cho TÐ khi địch pháo kích vào căn cứ Phượng Hoàng vì thế 2 Sĩ quan cố vấn TÐ6 ở với TÐ6 (-).
Theo tin tình báo, tình hình Ðịch rất nặng nề có khả năng tấn công có chiến xa ( Trung Ðoàn 203 ) và pháo yểm trợ.
Chiều ngày 8 tháng 4 năm 72, Trung Tá LÐT tăng phái 1 đơn vị công binh gồm CB/TQLC và CB của Quân Ðoàn cho TÐ1/TQLC để đặt một bãi mìn CCX. Hơn 500 quả mìn được đặt trên đường từ hướng Tây Nam dẫn vào căn cứ Ái Tử để chặn đường tiến quân của CX địch. BCH/LÐ và cố vấn Mỹ đã phối hợp hoả lực yểm trợ chu đáo, để ý đến những đường tiến sát. Sẵn sàng các yếu tố hoả lực khi cần tác xạ ngay.
Ðêm 8 rạng 9 tháng 4 VC pháo kích rải rác suốt đêm vào khu vực TÐ6, có cả đại bác không giật
Lúc 6giờ 30 sáng, TÐ6 báo cáo về LÐ đich tấn công và TÐ6 đã sẵn sàng chiến đấu.
Lực lương Pháo của CSBV chắc không đủ để pháo cùng một lúc vào căn cứ Phượng hoàng và căn cứ Ái Tử, thành thử khi chúng tấn công vào TÐ6 và căn cứ Phượng Hoàng BCH/LÐ không bị pháo kích. Sau đó TÐ6 và cố vấn Mỹ phát giác có tiếng máy nổ của chiến xa địch. TÐ6 chỉ được trang bị M72 CCX cho từng cá nhân. TÐ3/PB/TQLC( Thiếu Tá Trần Thiện Hiệu TÐT ) đã yểm trợ thật chính xác và hữu hiệu. Trận mưa pháo bằng đạn nổ chụp của TÐ3/PB đã phá vỡ đội hình của lực lương BB tùng thiết của VC. Không biết vì lý do gì 2CX dẫn đầu đi cách xa với đoàn chiến xa sau có BB tùng thiết của VC tiến gần hàng rào phòng thủ của căn cứ Ái Tử. Ðụng phải bãi mìn CCX phát nổ nên 2CX phải dừng lại không tiến được vào căn cứ Ái Tử. Trung Tá Lữ Ðoàn Trưởng ra khỏi TTHQ để lệnh thẳng cho Ðại Úy Chi Ðoàn Trưởng chiến xa M48 (Ðại Úy Hà Mai Khuê ) dàn đội hình tiến quân để cản chiến xa địch. Trong khi đó Trung Tá LÐP (Ðỗ Ðình Vượng ) bình tĩnh điều động các đơn vị tại TTHQ. Lực lượng địch có khoảng 30 CX tham chiến, ½ số này đã bị mìn và PB tiêu diệt. Mấy phi tuần F4 của TQLC/HK có đến yểm trợ nhưng vì thời tiết xấu nên trở ngại phải rời vùng Thời tiết quang đãng dần, nên không quân VN yểm trợ rất hữu hiệu và chính xác tiêu diệt chiến xa địch. Trong lúc các phi công hăng xay diệt chiến xa địch, khoảng 10 giờ sáng 1 chiếc A1 bị phòng không 23 ly từ chiến xa địch bắn hạ. Ðại Úy Phi công Trần Thế Vinh hy sinh. Nhưng không tìm được xác mặc dù TÐ1/TQLC được lệnh cố gắng tìm.
Ðịch tiến quân bằng 2 cánh:
– 1 tiến chiếm căn cứ Phượng Hoàng TÐ6/TQLC
– 2 tiến chiếm căn cứ Ái Tử nơi BCH/Lữ Ðoàn. Tuy nhiên nhờ sự yểm trợ hữu hiệu của TÐ3/PB/TQLC, không quân VN và bãi Mìn CCX, chiến xa địch bị tiêu diệt và BB tùng thiết của địch bị tan rã đội hình vì đạn nổ chụp của pháo binh.
Ðến lúc này chi đoàn 2/20 CX M48 vẫn chưa xuất phát đội hình ngăn chặn chiến xa địch mặc dầu Trung Tá LÐT đã ra ngoài TTHQ ra lệnh thẳng cho Chi Ðoàn Trưởng

Kế hoạch phản công
Trong khi 2 chiến xa địch bị mìn CCX chặn đứng sự tiến quân của CS, Trung tá LÐT xử dụng cánh B/TÐ1 gồm 2 ÐÐ + 1 chi đoàn Thiết Quân Vận M113 (Ðại Úy Ðoàn Ðức Nghi TÐP chỉ huy ) tăng phái 8 CX M48 của chi đoàn 2/20 CX làm lực lương phản công , có Ðại Úy Lawerence Livingston cố vấn trưởng TÐ1 đi cùng.( Trận tái chiếm Thị Xã và Cổ Thành thì Ðại Úy Livingston làm cố vấn trưởng cho TÐ2 Trâu Ðiên., sau này về Mỹ ông lên cấp Thiếu Tướng ( Maj Gen ) )
Lưc lương phản công xuất phát từ Ái Tử hướng về Phượng Hoàng. Thiếu Tá TÐT/TÐ6 tái phối trí với 2 ÐÐ để tăng cường yểm trợ cho cánh B /TÐ1/TQLC. TÐ3 pháo binh TQLC bắn chặn đường rút lui của địch. Chúng tháo lui chạy về hướng Tây Nam bỏ lại xác chết và thương binh.( Tài liệu từ tù binh bị bắt cho biết Ðịch thuộc Trung Ðoàn 66 Sư Ðoàn 304 và trung Ðoàn 203 CX ) Số chiến xa còn lại làm mục tiêu cho không quân VN, pháo binh và đại bác 90 của CX M48 M72 CCX của TÐ6 (-) và cánh B TÐ1/TQLC. Hai chiếc chiến xa (1 T54 và 1 T59) 1 chiếc bị mìn hư hại nhẹ, một chiếc còn nguyên vẹn, VC trên chiến xa đã bỏ chạy. Chi Ðoàn 2/20 được lệnh của Trung Tá LÐT kéo về Ái Tử. đậu trước TTHQ. Chiếc còn nguyên vẹn và còn chạy được thì được đem về Huế để triển lãm cho dân chúng xem chiến lợi phẩm của LÐ/258/TQLC. Sau thời gian triển lãm ở Huế chiếc chiến xa này được đưa về Saigon triển lãm trước Toà Ðô Chính. Sau đó QLVNCH tặng cho Quân Ðội Hoa Kỳ. Vì trong cuộc chiến tranh Triều Tiên Quân Ðội Hoa Kỳ cũng muốn có 1 chiếc để nghiên cứu nhưng không có cơ hội.

Cuộc chiến trong khu vực căn cứ Phượng Hoàng đã lắng dịu, nhưng khu vực trách nhiệm của LÐ vẫn còn các hoạt đông của những đơn vị địch, ngày 12 tháng 4 năm 1972 cánh B /TÐ1 được điều động trở về khu vực Ái Tử để sát nhập lại với TÐ. Khi còn cách căn cứ Ái Tử khoảng 2 cây số, phát hiện đơn vị VC đang đào giao thông hào. Mục đích là để bất ngờ tấn công đơn vị này khi về gần đến Ái Tử. Ðược sự yểm trợ hữu hiệu của chi đoàn M113 và pháo binh, cánh B/TÐ1 đã đánh tan lực lượng phục kích của VC ( Ðại Úy Nghi đã tử thương vì loạt đạn đại liên 50 đầu tiên, quân ta làm chủ tình hình, trên 200 VC đã bị giết trong trận này, đơn vị này mới từ bên kia vĩ tuyến 17 vào, vũ khí quân trang quân đụng còn mới nguyên. Ðây là trận đánh đầu tiên với chiến thuật “ Pháo + Xa + BB “ của địch. TÐ6 TQLC đã xử dụng hữu hiệu M72 CCX trang bị cho cá nhân làm cho tinh thần binh sĩ tin tưởng, nâng cao tinh thần chiến đấu các đơn vị TQLC.
BTTM/TC/CTCT đã gửi văn thư cho các đơn vị trong QLVNCH về hữu hiệu của M72 CCX để nâng cao tinh thần binh sĩ và tưởng thưởng 30 ngàn đồng cho 1 chiếc CX bị bắn hạ. BCH/LÐ/258 TQLC đã báo cáo 30 chiến xa bị loại ra khỏi vòng chiến do Mìn và các đơn vị bắn hạ tại khu vực Ái Tử và Phượng Hoàng ngày 9 tháng 4 năm 72 cho TÐ6 và TÐ3 Pháo binh, và 20 CX tại Bắc cầu Ðông Hà cho TÐ3 và Thiết Ðoàn 20 CX M48. để các đơn vị có ngân khoản tưởng thưởng cho các quân nhân hữu công và ủy lạo các thương binh và gia đình tử sĩ.

Ngày 29 tháng 4 năm 1972, LÐ/258/TQLC rời vùng trách nhiệm, bàn giao lại cho LÐ/ 147/TQLC ( Trung Tá Nguyễn Năng Bảo LÐT). BCH/LÐ cùng TÐ3+TÐ6 và TÐ3/PB/TQLC di chuyển về thành nội Huế dưỡng quân. TÐ1 ở lại đặt thuộc quyền chỉ huy của LÐ/147/TQLC
Chiến thắng trong cuộc HQ Sóng Thần 4/72 của LÐ/258/TQLC đã làm cho CSBV phải suy nghĩ vì đã bị TQLCVN đánh bại, mặc dầu quân BV đông hơn được khối CS trang bị vũ khí tối tân hơn và lại có một hậu phương rất gần. Mặc dù CSBV đã bắt tay với chính quyền Hoa Kỳ trong khi Quân Ðội Hoa Kỳ và Ðồng minh đã quay lưng. Những diễn biến chính trị không làm QLVNCH xuống tinh thần, ngược lại càng chiến đấu quyết liệt.

Ðại úy Ripley Cố vấn trưởng TÐ3 trong trận Ðồng Hà chứng kiến về gương chiến đấu anh dũng của quân nhân TÐ như sau
Captain Ripley told a story of the unbelievable fortitude of a young Marine private who had been wounded seven times in four days.He was the same marine I had seen two days before with a serious shrapnel wound in the upper back. Now he was holbling along with his arm around a wounded comrade attempting to move his friend to safety. Both would be dead at day’s end ( Easter offensive Chapter 15 trang 233 )

Tạm dịch:
Ðại Úy Ripley đã kể câu chuyện khó tin nhưng đã thật sự xẩy ra như sau: môt binh sĩ trẻ thuộc TÐ3/TQLC đã bị thương 7 lần trong 4 ngày. Hai ngày trước ông ta thấy vết thương sau bả vai, máu còn đang chẩy mà anh ta còn cố gắng di chuyển 1 người bạn bị thương đến chỗ an toàn nhưng cả 2 đã bị chết cùng ngày hôm ấy.

Cũng như Ðại Úy Cố Vấn Al Nettleingham đã quan sát kế hoạch hành quân của BCH/Lữ Ðoàn 258 ở TTHQ. Ông ta có nhận xét như sau :
I think the whole credit for repulsing the attack belongs to Colonel Dinh.He had his finger on the situation at all times. He knew what assets he had available and then committed them at the crucial moments. He’s commander in the full sense of the word. His subordinate commanders had great confidence on him, in his judgment. The man presented the best example of decisiveness and military skill that I’ve seen.
( Easter offensive Chapter 15 page 239 ) “ First Bluejacket Books printing.1995

Tạm dịch:
Ðại Úy Al Nettleingham đã quan sát kế hoạch phản công của Lữ Ðoàn Trưởng LÐ 258 ở TTHQ. Ông ta nhận xét về Trung Tá Ðịnh LÐT như sau: Cuộc phản công do công lao của Lữ Ðoàn Trưởng rất nhiều. Thuộc cấp đặt hết lòng tin tưởng vào ông và về sự phán xét của ông. Ông ta biều hiện tốt nhất về quyết định và hành động quân sự mà tôi chưa từng gặp ( Chứng kiến )

Tóm lại với tinh thần chiến đấu rất cao của các Tiểu Ðoàn với sự chỉ huy các cấp sáng suốt và đúng mức với sự làm việc của tất cà quân nhân không biết mệt mỏi đã tạo nên chiến thắng vẻ vang.

Ngày hôm nay ngồi viết lại trận chiến này để thế hệ mai sau biết rằng cha ông của họ đã chiến đấu rất kiên cường để bảo vệ miền Nam thân yêu và sự hy sinh vô bờ bến cho Ðộc lập Tự Do ở miền Nam Việt Nam. Nhưng vì thế cờ chính trị, một Quân Lực hùng mạnh phải tan rã thật đáng sót xa. Một bài học thật đáng giá cho tất cả Quân Dân Cán Chính của mìền Nam Việt Nam nói riêng và một nỗi buồn cho những Quốc Gia nhược tiểu sống còn nhờ vào sự viện trợ của cường quốc nói chung. Ðánh tan mọi luận điệu sai lầm về QLVNCH của những kẻ phản chiến ở chính trường Hoa Kỳ về cuộc chiến cùa nhân dân miền Nam Việt Nam chống lại sự xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt.

Ðể tưởng nhớ tất cả chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc bảo vệ Tự Do Dân Chủ cho mìền Nam Việt Nam.

MX Mai Văn Tấn
Nguồn: http://s113345672.onlinehome.us/chiensu/cs-tqlc-danhbai-csbv-dongha.htm