Contact

NHỮNG ĐƯỜNG BAY ĐẦU TIÊN

Phan Nhật Nam.
Huy hieu TD7ND.JPG
Tiểu Đoàn được chuyển vận từ Long An bằng tàu FOM theo sông Vàm Cỏ Tây, đến ngã ba nơi gặp sông Vàm Cỏ Đông, theo nhánh sông này đi ngược về phía Bến Lức. Tàu đi trong giòng sông đầy sương mù, trời chưa có nắng, nước sông mênh mông. Tôi ra đứng ở mũi tàu, gió thổi lộng, những buồn bực của tháng ngày hậu cứ như trôi đi, những tháng ngày dạy lính, quân phong, quân kỹ, mệt mỏi như cơn buồn ngủ trong trưa nắng.
Cac chien dinh LCVP va FOM tuan tieu tren song
Đến khoảng xã Long Sơn, quận Cần Đước tàu đổi hướng cập vào bờ, lính ùa lên… Bỏ bờ mẫu lội ngang ruộng mà lên, coi chừng mìn… Lấy đà từ sàn tàu tôi nhảy lên đám lau sậy, dừa nước ngổn ngang. Bám được vào một bờ đất leo lên. Giàn đội hình hàng ngang, trung đội tiến lên khoảng hai trăm thước, dừng lại bố trí đợi đại đội lên sau. Cởi nón sắt ngồi xuống trên một mô đất nhìn ra xa, ruộng miền Nam thật đẹp, màu xanh dài bất tận, lúa khỏe mạnh, thơm nồng nàn… Chẳng bù với miền Trung, quê hương tôi, không có đất, chỉ có cát, cát mệt mỏi và cằn cỗi, không phải những bờ cát vàng đẹp đẽ cuả bãi biển trưởng giả, cát của quê tôi xám xịt, loang lỗ đây đó dăm ba cụm xương rồng, về mùa hạ gió Nam thổi luồng như đốt lửa, con trốt lớn chạy dài lừng lững như bóng ma.
Tiểu đoàn chia làm hai cánh quân đi song song với con lộ đất đỏ. Tuyệt đối không được đi trên bờ ruộng. Cứ nghe hoài hoài một lời dặn dò.
– Du kích vùng này nổi tiếng gài mìn, thiếu uý thấy gì lạ thì đừng đụng vào.
– Tao biết rồi, mày lo cái thân mày trước đi.
Đến giờ này tụi lính vẫn xem tôi như là một “mặt mới” đợi có dịp để lên mặt rành rẽ. Tôi kiểm soát lại hướng đi bằng địa bàn và bản đồ, kêu anh Trung sĩ trung đội phó:
-Trước mặt khoảng năm cây số có cái đồn phải không?
Tôi nói trống rỗng, vì nếu dùng tiếng mày tao thì tội nghiệp cho y, nhưng nếu gọi anh hay ông thì y lại coi thường. Nhà binh mệt nhọc thế đấy!
– Vâng, có đồn Long Sơn.
– Đồn còn người giữ không?
– Nghe nói hình như còn và vừa bị đánh nên tiểu đoàn mình đi hành quân vùng này để truy kích.
Đúng là một loại lính cũ, luôn luôn dóng tai lên để rình rập nghe ngóng tất cả, ẩn dấu sau một nét mặt lầm lì không nói. Tôi tưởng câu hỏi cốt để gây thêm tự tín, hóa thành một đòn phản. Viên trung sĩ đi ra xa, mặt thoáng vẻ hài lòng.
– Anh ra coi lại thằng vác đại liên, phía trái mình không có quân bạn. – Tôi nói với.
Khoảng bốn giờ chiều, đoàn quân đi ngang đồn Long Sơn, những người lính Nghĩa quân đứng trong hàng rào nhìn ra ngơ ngác. Họ nhìn toán quân chúng tôi như điều mới lạ đến từ nơi đầy ánh sáng. Bao nhiêu lâu sống trong chiếc đồn trơ trọi này, họ đã thành những kẻ thật xa với thế giới bình thường. Chiếc đồn chỉ cách quốc lộ hơn mười cây số đường chim bay còn thê thảm như thế, huống gì những tiền đồn ở cao nguyên, ở cuối cùng một cửa biển thì như thế nào? Tôi đâm ra hằn học với tự tin ngạo mạn của lính tôi.
Đóng quân đêm. Tôi nghĩ mênh mang. Chiến tranh là vô ích như thế, từ một nơi xa xăm đến để chết, ăn, ngủ trên một vùng đất lạ. Nhớ đến tấm ảnh trong cuốn Guerre Morte… Một anh lính Pháp ngồi đun nước với lời chú: “Jean ne fait rien dans la guerre, subitement, il mort”. Tôi chỉ ở qua một ngày trong chiến tranh, và như vậy còn rất lâu mới có kết thúc. Những ngày sau tiếp tục. Long Sơn rẽ phải, lên đông bắc là Rạch Kiến, phố chợ hoang vắng, chiếc cầu bắc qua con kinh bị đốt cháy sáu ngày trước còn loang lỗ vết than. Có một tiệm bán nước ngọt với đá, tôi uống một hơi ba ly, không biết là chanh muối, sirop hay cái gì… Chỉ biết đây là nước đá.
– Làm sao người ta mua nước đá được?
– Người ta mua từ Cần Giuộc, Cần Giuộc đi Chợ Lớn rất dễ dàng.
Người lính đứng bên cạnh tôi trả lời. Cần Giuộc, một địa danh nghe lạ hoắc. Miền Nam này thật lạ lùng, một nơi chốn đầy dẫy chết chóc vẫn có những quán cóc bán đồ nhậu, sạp bán báo, khốn nỗi chỉ bán toàn loại báo hạng bét, trang trong nói chuyện đào kép cải lương. Tuy vậy, tôi cũng mua một tờ xếp vào túi quần, chút thành phố có ở trong đây.
Một tuần đi qua không có gì, biến cố duy nhất mỗi ngày là binh sĩ đi Khinh binh thường vướng phải mìn. Việt Cộng thật tinh quái, họ gài mìn vô cùng khôn khéo, dò biết lính đơn vị tôi không đi trên bờ ruộng nên mìn được gài ngay trong bụi rậm ở bìa làng rồi giăng dây thật dài. Lính vào làng phải dàn hàng ngang để dễ dàng khi xung phong tất nhiên phải vướng dây bẫy. Được an uỉ, mìn là loại nội hóa do du kích chế tạo chẳng làm chết được ai. Số thương binh được di tản không có người nào bị nặng. Mỗi lần có tiếng nổ ở đầu hàng quân, binh sĩ ở đàng sau tỉnh bơ, la lối ầm ĩ…
– Rồi một con đã đi!
– Đ..m..Lại một thằng được ăn Tết ở nhà.
Người thương binh được di tản lui về đàng sau, ngang qua đồng bạn khi bị trêu chọc còn há mồm để chưỉ lại.
– Bị vào chân mà về “chọi” là rút gân nghe con, ráng baœo bà xã nhịn đi.
– Mẹ mày… – Lời nói buồn cười xóa tan vẻ bi thảm của dòng máu đang chảy. Đôi khi tôi cũng muốn bị nhẹ một phát vào chân. Nhảy dù gì đi ngang dọc hoài, chán bỏ mẹ!
Ngày thứ tám của cuộc hành quân, khi tiểu đoàn tiến qua rạch Long Sơn, chiếc cầu bằng sắt đã bị giựt sập. Đại đội 72 đi đầu chỉ định một trung đội tiến sát bờ sông để tìm phương tiện vượt sông. Ầm, một tiếng nổ thật lớn, cột nước bắn cao lên hơn mười thước, có tiếng súng bờ bên kia bắn qua, súng Việt Cộng. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng súng của đối phương… Cắc… cù… Tiếng đạn rít trong gió. Tôi thoáng một giây sợ hãi cứ tưởng chừng như viên đạn như vô tình đang bay về hướng mình. Và phản ứng thật tự nhiên: Thấp hẳn người xuống. Lẽ tất nhiên tôi không đến độ nằm bẹp xuống nhưng rõ ràng có một phản ứng không báo trước kéo thân thế thấp xuống, nhỏ lại. Nhỏ hơn nữa… Súng của Việt Cộng tiếp tục nỗ dọc theo con đường chúng tôi đang di chuyển.
– Trung đội bố trí phía tay phải.- Tôi hét lớn. Toàn thể trung đội nhào xuống một chiếc rạch nhỏ trông sang cánh đồng. Tôi yên tâm vì đã đứng được trong lòng đất. Đất vật che chở cho con người trong những giờ phút nguy nan. Chạm phải bờ cỏ ướt, tôi có cảm giác như ôm một vật thân yêu. Cảm giác này sau này trong những giờ phút ngặt nghèo nhất, tôi được thấy lại. Mỗi lần vào được trong một chiếc hầm, tôi cảm thấy tự tin hẳn lên, tin tưởng mình có thể sống sót được trong hết mọi hoàn cảnh. Một nhân vật của Georghiu trong ” La second chance ” khi biết mình sắp chết trước họng súng của bọn sát nhân đã có lực sống mãnh liệt: Tự dùng tay để đào cho mình một chỗ trú ẩn, chết khi tay còn giữ nắm đất! Đất cao cả và nhiệm màu bao nhiêu.
Trận đụng độ kéo dài chừng nửa giờ, du kích tháo chạy, chúng tôi vẫn chưa qua sông, tôi đi về phía đại đội chỉ huy. Bác sĩ Đạm đang băng bó cho thương binh, một xác chết được gói vào poncho, cột chặt bởi hai vòng băng cứu thương, gọn gàng và im lìm. Lần đầu tiên tôi đứng gần thây ma… Người chết trong chiến tranh đấy. Trở về chỗ bố trí của trung đội, thấy cần thiết một điếu thuốc hơn bao giờ hết.
Đêm xuống, hào hứng của những ngày đầu hành quân không còn nữa. Tôi chưa quen với đời sống hung bạo và nhàm chán này. Những người lính xung quanh sau khi căng võng nằm phì phèo điếu thuốc mãn nguyện trong im lặng. Tôi chưa quen với điếu thuốc và niềm lặng lẽ cô đơn đó, tôi còn là thanh niên đang lớn, cần có bè bạn, cần người để tâm sự, những tâm sự tầm thường, những vụn vặt tình cảm… Ở đây không có bạn, trong không khí lặng lẽ đầy đe dọa, tôi cô đơn như cây nhỏ trong chiều mưa.
Mười lăm ngày qua, nhận được lệnh đi học lớp Rừng Núi Sình Lầy ở Dục Mỹ, một lớp học hành hạ thể xác và đầy đọa tinh thần con người. Lúc ở trong trường tôi đã qua trung tâm này trong ba tuần lễ, đã biết thế nào là một lớp học kéo dài trong cực nhọc với thời gian hai mươi giờ trong một ngày. Nhưng đối với hoàn cảnh bây giờ, tôi không đủ kiên nhẫn để kéo dài sức chịu đựng trong loại hành quân này. Sao cũng được, miễn là đi khỏi vùng đồng ruộng đã bắt đầu quen thuộc. Khi chiếc xe qua cầu Gò Đen thấy Sài Gòn hiện ở xa, đột nhiên tôi muốn đập phá một cái gì…
Về đến hậu cứ, đúng cung cách của một tên lính, tôi đi đến khu gái điếm ở cuối phố, âu đó cũng là một thói quen. Tôi cần tập nhiều thói quen của đời sống này. Trên chiếc xe đi về Sài Gòn, tự nhiên thấy già – già hẳn đi…
Tháng 1-1964. Long An

Văn tế 74 tử sĩ trong trận hải chiến hoàng sa ngày 17 – 19.01.1974

Rằng hay,

Chinh chiến xưa nay
Không hẹn ngày về
Tình thê nhi không giữ nổi
Nợ nước non gánh vác trĩu nặng ngàn cân
Làm trai thời loạn
Chẳng sá gì thân
Tang bồng quảy gánh
Chẳng một chút chạnh lòng

Hỡi ơi!

Nhẹ tựa lông hồng,
Nặng tày non Thái.

Những cái chết đã đi vào quốc sử, con cháu nghe mà xót dạ bàng hoàng,
Bao con người vì gánh vác giang sơn, cây cỏ thấy cũng chạnh lòng tê tái.
Anh linh kia hoài phảng phất thiên phương,
Chính khí đó sẽ trường tồn vạn đại.

Thế mới biết,

Giòng giống Việt luôn còn nòi nghĩa dũng, thịt tan xương nát sá chi,
Trời đất Nam đâu thiếu bậc anh hùng, máu đổ thây rơi nào ngại.

Kính các anh vị quốc thân vong
Bày một lễ thâm tình cung bái.
Nhớ các anh xưa,
Tuổi trẻ thanh xuân,
Khí hùng chí đại.

Thời binh hỏa đâu màng gì nhung gấm, chọn tri âm tri kỷ chốn sa trường,
Thuở can qua há tiếc chút bình an, nguyền báo quốc báo dân nơi hiểm ải.
Một tấc đất vẫn là cương thổ, ông cha xưa bao đời gầy dựng, sao cam lòng để vuột mất đi.
Dăm hòn đảo ấy vốn bản hương, anh em nay mấy độ canh cày, quyết tận sức ra gìn giữ mãi.
Từ Chúa Nguyễn sách văn chép rõ, nhân dân Nam từng khai thác làm ăn,
Đến Pháp-Thanh công ước còn ghi, chủ quyền Việt chẳng luận bàn tranh cãi.
San Francisco hội nghị, mừng biết bao, thấy thế giới đồng lòng,
Việt Nam Quốc gia chính quyền, vui xiết kể, đón sơn hà trở lại.

Cho nên,

Đất cát ông cha thì phải giữ, dẫu mũi tên hòn đạn không sờn,
Núi sông tiên tổ sao chẳng gìn, mặc ăn gió nằm mưa chi nại.
Trùng dương sóng dữ, mập mờ thuyền viễn thú, thân trai há sợ kiếp gian nan,
Hải đảo gió cuồng, vời vợi biển quê hương, vai lính thêm bền lòng hăng hái.
Hội khao lề lại trống chiêng bi tráng, tiễn người đi mờ bóng cuối chân trời,
Nơi quê nhà đành con vợ u buồn, thương kẻ đợi trông buồm về trước bãi.

Có ngờ đâu,

Giặc ác hiểm quen tuồng xâm lược, máu tham tàn không giấu kín ý gian,
Ta hiền lương chuộng đạo hiếu hòa, tình hữu nghị có đâu ngoài lẽ phải.
Địch thả câu nước đục, hai ba lần chiếm đảo, xây đồn đắp lũy đó đây,
Chúng luồn gió bẻ măng, bốn năm dạo lên bờ, dựng trại cắm cờ lải rải.
Ngày 16 Quang Hòa, Hữu Nhật,… giặc đã nuốt tươi,
Đến 17 Duy Mộng, Quang Ảnh,.. chúng đang xơi tái.

Lửa hờn bốc tận thanh vân.
Khí uất tràn đầy thương hải.

Ghìm máu nóng, thông tin bằng quang hiệu, giặc cứ ngang tàng,
Hạ quyết tâm, biệt hải tiến vào bờ, ta ôm thất bại.
Không nản chí, Thường Kiệt, Nhật Tảo băng băng pháo đạn xông pha,
Chẳng sờn lòng Bình Trọng, Khánh Dư né né tiễn lôi lèo lái.
Vẳng đôi tai còn nghe khúc “Thuật Hoài”
Bừng con mắt đà thấy câu “Trung Ngãi”

Thế nhưng,

Lực bất tòng tâm,
Thiên dung vô lại.

Giặc đã nhiều chuẩn bị, nào tảo lôi, nào liệp đỉnh, tàu nhiều quân bộn giàn hàng,
Ta mất thế thượng phong, này sóng dữ, này đá ngầm, biển rộng đường xa phải trải.

Phía chếch đông tàu Mỹ đứng mà nhìn,
Phương chính bắc hạm Tàu nằm sắp phái.
Dù như thế ta vẫn quyết thư hùng
Có ra sao mình cứ liều sống mái.
Đùng đoành trọng pháo nổ thấp cao,
Sàn sạt hỏa tiễn bay trái phải,

Ngụy Văn Thà trúng thương trước ngực, máu anh hùng đẫm ướt chiến y,
”Lý Thường Kiệt” lãnh đạn ngang hông, nước đại hải ngập đầy buồng máy.

Khói mù tàu giặc cháy bốc lên,
Pháo nổ thuyền mình câu vọng lại.

Thương ơi!

Thế lực không cân
Thời cơ cũng trái.

Bảy tư người bỏ mình vì nước, biển sâu ký gởi thân phàm,
Cả bốn tàu trúng pháo quân thù, bờ cạn lui về gác mái.
Cờ quốc gia phủ người ra trận, toàn quân dân uất ức trẻ như già
Vành khăn tang chít tóc đang xanh, bao thân quyến nghẹn ngào trai lẫn gái.

Công các anh,

Tổ quốc thề không quên,
Toàn dân nguyền nhớ mãi.

Chống ngoại xâm là truyền thống muôn đời
Giữ lãnh thổ vốn luân thường vạn đại.
Máu tử sĩ sẽ nuôi khôn dân tộc, mau kiên trì giành lại giang sơn,
Xương anh linh rồi nung chín hùng tâm, sớm quyết liệt san bằng oan trái.
Nước cường thịnh khi dân biết kết đoàn,
Dân phú túc lúc người luôn thân ái.

Hôm nay.

Sơ sài lời điếu câu văn,
Đạm bạc chùm hoa dĩa trái.
Xin dâng chén rượu ân tình
Xót uy linh, xin tượng tạc bia xây,
Tỏ thâm tạ, khiến dân quì quan vái.
Mong các anh siêu độ tái sinh,
Cầu đất nước dân an quốc thái.

Hỡi ơi!

Xót xa tiếng mất ý còn,
Tha thiết lòng phơi ruột trải.
Hồn có linh thiêng
Niệm tình thụ bái.

(Nguyễn Phúc Vĩnh BaNguyễn Thị Âu Cơ kính bái)

___

Ghi chú Lịch Sử:

Đầu TK 17, Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm.

Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.

Ngày 9 tháng 6 năm 1885: Hòa ước Thiên Tân kết thúc chiến tranh Pháp Thanh. Ngày 26 tháng 6 năm 1887: Pháp và nhà Thanh xúc tiến ấn định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Hoa.
Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị.

Năm 1954 – Hiệp định Geneva quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Hoàng Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu) quản lý.

Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Geneva và trong khi chính quyền miền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa theo như thỏa thuận của hiệp định này, Trung Quốc đã thừa cơ đưa quân ra chiếm đóng bất hợp pháp nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa bao gồm Phú Lâm và Linh Côn.

(Trần Công Trực)

Tên các hòn đảo bị Trung Quốc xâm chiếm.

Tên bốn chiến hạm tham gia trận hải chiến Hoàng Sa: HQ4 (Trần Khánh Dư), HQ5 (Trần Bình Trọng), HQ10 (Nhật Tảo), và HQ16 (Lý Thường Kiệt).

Tên bài thơ của danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần được Hạm trưởng HQ4 Trung tá Vũ Hữu San đọc để cổ võ tinh thần binh sĩ trước giờ khai hỏa.

Tức là Trung Nghĩa, bổn phận của người lính. Trời dung tha phường vô lại.

Thiếu tá Ngụy Văn Thà là hạm trưởng HQ10 Nhật Tảo.

Lý Thường Kiệt là tàu HQ16

Nguồn Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

http://baotreonline.com/van-te-74-tu-si-trong-tran-hai-chien-hoang-sa-ngay-17-19-01-1974/

Soái hạm HQ5 và trận hải chiến Hoàng Sa


Huy hiệu TDH Trần Bình Trọng HQ.5

Bùi Ngọc Nở.

· Khoá 19 SQHQ/Nha Trang.

· Nguyên Sĩ Quan Hải Hành, Xử Lý Thường Vụ Trưởng Khối Hành Quân Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5

Các tài liệu đã đọc:

· Một Vài Uẩn Khúc Trong Trận Hoàng Sa của Ðề Ðốc Trần Văn Chơn Tư Lệnh HQ.

· Phỏng Vấn Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư Lệnh HQ / Vùng 1 Duyên Hải về trận chiến Hoàng Sa.

· Hành Quân Trần Hưng Ðạo 47 của HQ Ðại Tá Phạm Mạnh Khuê Bộ Tư Lệnh Hành Quân Biển.

· Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa của HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân.

· Sau 24 Năm, Nhớ Về Hải Chiến Hoàng Sa của HQ Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Khu Trục HạmHQ 4.

· Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa của HQ Trung Tá Lê Văn Thự, Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm HQ 16.

· Diễn Biến Cuộc Ðụng Ðộ Ở Hoàng Sa Tháng 1 Năm 1974 của ông Trần Ðỗ Cẩm (cùng khoá 11 với Hạm Trưởng San).

· Trận Hải Chiến Hoàng Sa theo tài liệu Trung Cộng của ông Trần Ðỗ Cẩm.

· Cuộc Hải Chiến Hoàng Sa của ông Hà Quang Tự khoá 12 SQHQ / Nha Trang.

· Tuần Dương Hạm HQ 16 Và Trận Hải Chiến Hoàng Sa của ông Ðào Dân khoá 18 SQHQ / Nha Trang.

· Lần Ðào Thoát Ở Hoàng Sa của HQ Trung Úy Nguyễn Ðông Mai, Hộ Tống Hạm HQ 10.

tuan-duong-ham-tran-binh-trong-hq5-tvq-collection

Lời Dẫn Nhập

Tôi phải liệt kê các tài liệu đã đọc để nói lên một điều là các cấp chỉ huy trực tiếp của trận đánh đã lên tiếng, những người thuộc các chiến hạm tham dự trận đánh đã lên tiếng như HQ 4, HQ 10 và HQ 16, ngoại trừ HQ 5. Nay tôi một người thuộc Tuần Dương Hạm HQ 5 (Soái Hạm) trực tiếp tham dự trận đánh, buộc lòng phải lên tiếng và thấy cần phải lên tiếng, đặc biệt là sau khi đọc bài “Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” của HQ Trung Tá Lê Văn Thự, Hạm Trưởng HQ 16. Tôi rất ngạc nhiên sau khi đọc xong bài này, ngạc nhiên vì một Hạm Trưởng có mặt từ đầu đến cuối trận chiến, sự hiểu biết của Hạm Trưởng Thự rất là hạn chế và có rất nhiều điều sai lầm, nếu không muốn nói là bôi bác 2 chiến hạm bạn là HQ 4 & HQ 5. Hạm Trưởng Thự nói (trích nguyên văn): “Chính tôi là người chỉ huy HQ 16 mà cũng không biết những hoạt động của HQ 4 và HQ 5 làm sao ông Dân biết được”, “Tôi không biết gì về hoạt động của HQ 4 và HQ 5 cũng như nhiệm vụ của họ”, “Sự thật là HQ 4 và HQ 5 chỉ ở vòng ngoài chứ không tham dự trận chiến trong lòng chảo”, “Suốt trận chiến, HQ 4 và HQ 5 làm gì tôi không được biết”, “Sự thật là HQ 4 và HQ 5 chẳng bị trầy một mảnh sơn nào cả. Cả Hải Quân đều biết, vì thế cho nên chỉ một mình HQ 16 được tiếp đón ở Sài Gòn và gắn huy chương chứ không có Ðại Tá Ngạc hay HQ 4 và HQ 5”, “Muốn thanh toán quân Trung Cộng trên đảo, tôi nghĩ không nhiều, chừng một tiểu đội mà dự định đổ bộ một toán người nhái 9, 10 thì khó mà thành công”, “Người nhái không đổ bộ trong ngày cuộc chiến xảy ra và cũng chưa bao giờ lên được đảo”, “Trước sau họ (Trung Cộng) chỉ đưa ra vỏn vẹn có 3 chiến hạm không thuộc loại tối tân”, “Toàn bài viết của Ðại Tá Ngạc (về trận chiến Hoàng Sa) từ đầu đến cuối là sai sự thật”, v.v… và v.v…

Tôi không biết Hạm Trưởng Thự muốn nói đến sự thật nào và đã xảy ra ở đâu chứ không phải là trận chiến Hoàng Sa, chỉ có một sự thật được nói lên là Hạm Trưởng Thự biết quá ít về trận chiến này, nhưng tôi không có tham vọng là viết lại trận hải chiến Hoàng Sa, vì Ðại Tá Ngạc, Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân, Ðại Tá Khuê BTL/Hành Quân Biển và ông Trần Ðổ Cẩm đã viết rồi, tương đối đầy đủ dù không hoàn toàn chính xác, tôi cũng không nghĩ đến chuyện tranh công, cướp công hay luận công ai nhiều ai ít, tôi chỉ nói lên những điều tôi biết, tôi thấy, tôi nghe và tôi hãy còn nhớ dù nó đã xảy ra hơn 30 năm rồi. Tôi chỉ muốn sự thật hãy trả về cho sự thật, hãy trả lại công lao cho những người đã chiến đấu và đã anh dũng hy sinh và cho những người còn sống dù họ còn ở trong nước hay đang sống ở hải ngoại. Mục đích chính của tôi là muốn làm sáng tỏ và rộng đường dư luận về cái gọi là “Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” của Hạm Trưởng Thự, cho nên tôi sẽ nói nhiều về những hoạt động của HQ 5 liên quan đến trận chiến này.

Ngày 16 tháng 1 năm 1974, chiến hạm tôi (Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5) đang ở Vũng Tàu thì được lệnh ra Ðà Nẵng. Chiến hạm tôi cập cầu quân cảng Tiên Sa chiều ngày 17 tháng 1 năm 1974, ngay sau đó Hạm Trưởng HQ 5, HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh lên BTL/HQ Vùng 1 Zuyên Hải họp hành quân. Họp xong Hạm Trưởng Quỳnh mang về một lệnh hành quân, mang tên Hành Quân Trần Hưng Ðạo 47, tôi đã đọc lệnh hành quân này. Về phía ta tức lực lượng bạn tham dự cuộc hành quân gồm có:

Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm I: HQ 4, HQ 16, HQ 5, HQ 10.

Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm II: HQ 1, HQ 6, HQ 17, HQ 11 (ghi chú: các chiến hạm này trên đường hướng về

Ðà Nẵng, nghĩa là còn xa vùng hành quân và các diển biến ở Hoàng Sa xảy ra quá nhanh, nhanh hơn dự liệu, nên hải đoàn này ít được nhắc đến).

Lực lượng Hải Kích và Biệt Hải.

Còn lực lượng địch gồm cả Hải Lục Không quân và có thể có cả tiềm thủy đĩnh nữa, chi tiết không nhớ được.

Sau đó lực lượng hải kích lên chiến hạm gồm 49 người với đầy đủ vũ khí cá nhân và hiện đại, dưới quyền chỉ huy của HQ Trung Úy Nguyễn Minh Cảnh Khoá 20 SQHQ / Nha Trang. Lúc 00:37 giờ ngày 18/01/1974 chiến hạm tôi rời quân cảng Tiên Sa, Ðà Nẵng cùng đi có HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội Tuần Dương kiêm Chỉ Huy Trưởng cuộc Hành Quân. Khởi hành cùng lúc còn có Hộ Tống Hạm HQ 10 do HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà làm Hạm Trưởng. Lúc đầu còn đi hải hành tập đội, nhưng vì HQ 10 chỉ còn một máy chánh, chạy không được nhanh, nên sau đó HQ 5 đã tăng tốc độ chạy trước. Chiến hạm tôi đến Hoàng Sa lúc 15:00 giờ ngày 18/01/1974, nơi đây đã có mặt HQ 4 và HQ 16. Sau đó Ðại Tá Ngạc ra lệnh 3 chiến hạm hải hành đội hình hàng dọc từ đảo Hoàng Sa tiến về đảo Quang Hòa (Duncan), tất cả đều vào nhiệm sở tác chiến, nhưng các khẩu pháo vẫn ở vị trí số 0, mục đích là quan sát, thăm dò sự hiện diện và phản ứng của địch. Khi tiến gần đến đảo Quang Hòa thì có 2 chiến hạm Trung Cộng loại Kronstad mang số 271 & 274 xuất hiện và nghênh cản, họ vận chuyển rất nguy hiểm bằng cách cắt ngang đường tiến của đội hình. HQ 5 và một Kronstad có trao đổi quang hiệu, cả hai bên đều nhận đảo này thuộc chủ quyền của mình và yêu cầu phía bên kia hảy rời khỏi đảo, dĩ nhiên kết quả là không đi tới đâu. Thấy tình hình không ổn và hơi căng thẳng, Ðại Tá Ngạc ra lệnh cho đội hình quay trở lại đảo Hoàng Sa và thả trôi ở đó. Ðến chiều tối, HQ 5 chuyển 16 hải kích qua HQ 16 nghĩa là trên HQ 5 còn lại 33 hải kích, nhận từ HQ 16 một phái đoàn Công binh gồm 6 người do một Thiếu Tá làm trưởng đoàn trong đó có một cố vấn người Mỹ, sau đó vì lý do an toàn và tránh mọi rắc rối có thể xảy ra, HQ 5 đã đưa phái đoàn này lên đảo Hoàng Sa. Tối hôm đó (tối ngày 18/01/1974) trên chiến hạm HQ 5 có một cuộc họp hành quân gồm 6 sĩ quan do Ðại Tá Ngạc chủ tọa, 6 sĩ quan đó là: Ðại Tá Ngạc, Hạm Trưởng Quỳnh, Hạm Phó Thông, Thiếu Tá Toàn, tôi sĩ quan Hải Hành, Xử Lý Thường Vụ Trưởng khối Hành Quân của chiến hạm và Trung Úy Cảnh chỉ huy hải kích. Ðại Tá Ngạc chia Hải Ðoàn đặc nhiệm I thành 2 phân đoàn: phân đoàn 1 gồm HQ 4 và HQ 5 làm nổ lực chính do Hạm Trưởng HQ 4 chỉ huy, phân đoàn 2 gồm HQ 16 và HQ 10 do Hạm Trưởng HQ 16 chỉ huy. Có người viết gọi phân đoàn 1 thành phân đoàn 2, phân đoàn 2 thành phân đoàn 1, nhưng đây chỉ là chi tiết nhỏ và không có gì quan trọng. Hạm Trưởng Thự nói việc chỉ định Hạm Trưởng San làm phân đoàn trưởng “là sai nguyên tắc” vì Ðại Tá Ngạc ở trên HQ 5, không lẽ Hạm Trưởng San chỉ huy luôn Ðại Tá Ngạc hay sao? Tôi nghĩ đây chỉ là chuyện phân quyền, phân nhiệm cho có vì trên thực tế người chỉ huy và điều động vẫn là Ðại Tá Ngạc và Hạm Trưởng Thự, đừng quên là Ðại Tá Ngạc Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân bao gồm 3 lực lượng: Hải đoàn đặc nhiệm I, Hải đoàn đặc nhiệm II dù chưa hiện diện trong vùng hành quân, lực lượng Hải kích và Biệt hải.

Theo kế hoạch hành quân này, phân đoàn 1 tiến về phía Tây Nam đảo Quang Hòa, phân đoàn 2 tiến về Ðông Bắc đảo Quang Hòa, đổ bộ Hải kích và Biệt hải để chiếm lại 2 đảo là Quang Hòa và Duy Mộng, giờ xuất phát ấn định là 0400H ngày 19/01/1974. HQ 10 vì chỉ còn 1 máy chánh, chạy chậm nên đã nhập vùng vào khoảng 2200H ngày 18/01/1974. Còn lực lượng Hải kích và Biệt hải được phân bổ như sau:

HQ 5 có 33 Hải kích, HQ 16 có 16 Hải kích, HQ 4 có một trung đội Biệt Hải, riêng HQ 10 không có Hải kích hay Biệt hải.

0400H ngày 19/01/1974 (nhằm 27 tết) đúng giờ xuất phát, phân đoàn 1 gồm HQ 4 và HQ 5 rời Hoàng Sa hướng về Tây Nam đảo Quang Hòa, phân đoàn 2 gồm HQ 16 và HQ 10 hướng về Ðông Bắc đảo Quang Hòa. Ðúng 0600H HQ 4 và HQ 5 đã có mặt ở Tây Nam đảo Quang Hòa và hiện diện ở đây cho đến lúc tàn trận chiến, tôi không biết Tây Nam đảo Quang Hòa có nằm trong lòng chảo mà Hạm Trưởng Thự đã đề cập hay là còn có một lòng chảo nào khác. Khi xuất phát, chiến hạm đã vào nhiệm sở tác chiến, trên đài chỉ huy chỉ có 3 sĩ quan là Ðại Tá Ngạc, Hạm Trưởng Quỳnh và tôi là sĩ quan hải hành, Hạm Phó Thông ở trong Trung tâm Chiến báo (C.I.C.), Hạm Trưởng và Hạm Phó không cùng vị trí khi có nhiệm sở tác chiến, để khi cần còn có thể thay thế chỉ huy chiến hạm. Cả 3 đều hiện diện trên đài chỉ huy từ 0400H đến khoảng 1500H, nghỉa là từ khi bắt đầu nhiệm sở tác chiến cho đến khi giải tán nhiệm sở tác chiến. Và cũng kể từ 0400H trở đi, mọi liên lạc, báo cáo giữa soái hạm HQ 5 và Ðà Nẳng, cũng như giữa các chiến hạm với nhau, tôi đều được nghe trực tiếp từ đài chỉ huy của chiến hạm, cho đến khi phòng vô tuyến của chiến hạm bị ăn mấy trái đại bác 100 ly, bị hư hại nặng, mới chuyển giao lại việc liên lạc tầm xa cho HQ 4, và cũng kể từ đó không liên lạc được với HQ 16 và HQ 10.

Khi HQ 4 và HQ 5 đến nơi, tôi không thấy chiến hạm Trung Cộng đâu cả, nhưng sau đó khi phát hiện ra HQ 4 và HQ 5, hai chiến hạm Kronstad mang số 271 và 274 từ phía Ðông đảo Quang Hòa xuất hiện. Khoảng 0650H, Hải kích đã sẵn sàng, Ðại Tá Ngạc ra lệnh đổ bộ, Hải kích xuống xuồng cao su để vô bờ, từ chỗ chiến hạm thả trôi vô bờ cũng gần thôi, nhưng thấy xuồng không vô gần bờ mà càng lúc càng xa bờ, có lẽ có một luồng nước đã đẩy xuồng đi về một hướng khác, HQ 5 phải thả “yu yu” xuống để kéo các xuồng Hải kích vô gần bờ, cả hai phía đều theo dỏi diễn tiến này, trong khi đó mạn bên kia đảo, Trung Cộng cũng đang đổ thêm quân, tôi không rõ là bao nhiêu, cuối cùng khoảng 0730H, 30 Hải kích trên HQ 5 đã đặt chân lên đảo Quang Hòa, tiến vô sâu khoảng mấy chục mét, nhưng ngay sau đó đã bị quân Trung Cộng dàn hàng ngang chận lại, Ðại Tá Ngạc ra lệnh Hải kích chiếm lại đảo bằng biện pháp ôn hòa, nghỉa là nói rằng đây là đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa, yêu cầu quân Trung Cộng phải rời khỏi đảo, nên Hải kích dù trang bị tối tân nhưng súng chỉ được quyền chỉa lên trời, trong khi đó súng của quân Trung Cộng chỉa thẳng vào bụng của Hải kích, hai bên xí xô xí xào qua lại, bên này nói đảo thuộc chủ quyền của mình yêu cầu bên kia rời khỏi đảo, nghĩa là bên ta muốn chiếm lại những gì đã mất, còn bên kia cũng nói đảo thuộc chủ quyền của họ và yêu cầu Hải kích rời khỏi đảo, nghĩa là họ quyết giữ những gì đã chiếm, nhì nhằng như vậy kéo dài hơn một tiếng đồng hồ và quân Trung Cộng với súng chỉa vô bụng Hải kích, càng lúc càng đẩy lùi Hải kích về lại bải biển, nơi đã đổ bộ. Khoảng 0840H thấy tình hình như vậy, Ðại Tá Ngạc mới ra lệnh cho Trung Úy Lê Văn Ðơn trưởng toán Hải kích đổ bộ tiến về phía Ðông đảo chiếm ngọn đồi nhỏ, Trung Úy Ðơn và Hải kích mới di chuyển về phía Ðông, quân Trung Cộng liền nổ súng, bắn hạ ngay Trung Úy Ðơn (quân Trung Cộng biết rõ Trung Úy Ðơn là cấp chỉ huy) và một Hạ Sĩ Nhất người nhái tên Ðỗ Văn Long và bắn bị thương thêm 3 Hải kích khác. Thấy Trung Úy Ðơn tử thương và tình hình bất lợi, Ðại Tá Ngạc ra lệnh rút Hải kích về lại HQ 5, toàn bộ Hải kích sau đó đã rút về kể cả người chết và bị thương ngoại trừ Hạ Sĩ Nhất Ðỗ Văn Long ở lại vĩnh viễn để làm chứng nhân lịch sử cho việc xâm lấn của bọn giặc đỏ Bắc phương. Quân Trung Cộng không bắn theo khi Hải kích rút đi vì mục đích của họ là chỉ muốn Hải kích rời khỏi đảo và vì e ngại các chiến hạm của ta có thể hải pháo vô đảo. Trong khi đó HQ 16 và HQ 4 báo cáo là đổ bộ Hải kích và Biệt hải không thành công có nghĩa là thất bại. Hạm Trưởng Thự nói: “Muốn thanh toán quân Trung Cộng trên đảo, tôi nghĩ không nhiều, chừng một tiểu đội, mà dự định đổ bộ một toán người nhái 9, 10 thì khó mà thành công”, “Người nhái không đổ bộ trong ngày cuộc chiến xảy ra và cũng chưa bao giờ lên được đảo”, điều này chứng tỏ Hạm Trưởng Thự hoàn toàn không biết gì hết dù sự việc đã xảy ra lúc đó hay đã hơn 30 năm rồi, tình hình diễn biến mỗi lúc một khác và các diễn biến này khó lường trước hết được. Ngay sau đó Ðại Tá Ngạc báo cáo mọi diễn tiến về cho Ðà Nẳng, Ðà Nẵng ra lệnh “tái đổ bộ, cố gắng lập một đầu cầu, nếu cần thì hải pháo vô đảo”. Lệnh này khá gay go: tái đổ bộ, lập một đầu cầu không dể dàng, còn hải pháo vô đảo các chiến hạm Trung Cộng đâu để yên cho mình, cuối cùng suy đi tính lại chỉ còn có cách là đấu pháo, nếu diệt được mấy chiến hạm Trung Cộng thì mới có thể đổ bộ và chiếm lại đảo. Ðại Tá Ngạc nêu đề nghị về Ðà Nẵng và xin lệnh. Ðà Nẵng chập thuận cho khai hỏa. Ðại Tá Ngạc ra lệnh phân đoàn 2 từ Ðông Bắc đảo di chuyển về Tây Bắc đảo Quang Hòa hợp cùng phân đoàn 1, dĩ nhiên 2 chiến hạm Trung Cộng mang số 389 và 396 đã bám sát HQ 16 và HQ 10 từ sáng tới giờ cũng di chuyển theo. Bốn chiến hạm VNCH lập thành đội hình vòng cung từ Tây Bắc xuống Tây Nam đảo, vị trí các chiến hạm của ta tính từ trên xuống HQ 16, HQ 10, HQ 4 và HQ 5, còn các chiến hạm Trung Cộng theo đội hình hàng dọc, một kèm một và nằm bên trong vòng cung vị trí theo thứ tự từ trên xuống 389, 396, 271, 274 (xin xem phóng đồ). Hạm Trưởng Thự nói rằng “Trước sau họ chỉ đưa ra vỏn vẹn chỉ có 3 chiến hạm không thuộc loại tối tân”. Nội 4 chiếc bám sát các chiến hạm ta từ mờ sáng cho đến lúc hải chiến đã là 4 rồi, không kể những chiếc khác mang số 402, 407, 281, 282. Hạm Trưởng Thự đứng ở đài chỉ huy, tôi cũng đứng ở đài chỉ huy, tôi nhìn thấy HQ 16 và HQ 10 (chiếc HQ 4 nằm gần bên tôi không kể), và các chiến hạm địch tôi nhìn rõ con tàu lẫn số tàu và hãy còn nhớ như in dù đã 30 năm rồi, còn Hạm Trưởng Thự không nhìn thấy đầy đủ các chiến hạm địch và tệ hơn nữa không nhìn thấy chiến hạm bạn cho nên không biết HQ 4 và HQ 5 đang ở đâu và đang làm gì, tôi rất ngạc nhiên và không hiểu nổi về điều kỳ quái này. Lúc này các khẩu pháo không còn ở vị trí số không và các nòng pháo đều chỉa thẳng vào nhau, các pháo thủ của cả hai phía đều khiêng tối đa đạn lên pháo tháp của mình, chiếc này kèm chiếc kia và cũng là mục tiêu của nhau: HQ 16 & 389, HQ 10 & 396, HQ 4 & 271, HQ 5 & 274. Theo kế hoạch của Ðại Tá Ngạc, HQ 10 sẽ bắn phát đạn 76 ly 2 lên đảo như là một tiếng súng lệnh, ngay sau đó các chiến hạm đồng loạt nhả đạn vào chiến hạm địch. Lúc 1024H ngày 19/01/1974, Ðại Tá Ngạc ra lệnh HQ 10 khai hỏa, ngay sau đó các chiến hạm ta đồng loạt bắn thẳng vào các chiến hạm địch với mục tiêu đã định, trận hải chiến Hoàng Sa bắt đầu. Trận đấu pháo giữa ta và địch bắt đầu, lúc này chiến hạm ta và địch chỉ cách nhau khoảng 1500 yards, nghĩa là hoàn toàn nằm trong tầm pháo của nhau, trên bờ quân Trung Cộng bắn trước, trên biển hải quân ta bắn trước. Vài phút sau nghe báo cáo HQ 4 bị trở ngại tác xạ, 10 phút sau nghe báo cáo HQ 10 sắp chìm, nhiệm sở đào thoát, 15 phút sau nghe báo cáo HQ 16 cũng sắp chìm, đang nhiệm sở đào thoát. Riêng HQ 5, 15 phút đầu nhả đạn như mưa về phía tàu địch tức chiếc 274, không kể đạn đại bác 40 ly và 20 ly, chỉ tính riêng khẩu đại bác 127 ly đã bắn trên 100 quả đạn, nghĩa là cho đến khi bị bất khiển dụng vì trúng đạn đại bác 100 ly của địch, làm chết trưởng khẩu, làm bị thương các pháo thủ và làm đứt tung hệ thống điện của khẩu pháo, một khẩu pháo khác là khẩu đại bác 40 ly cũng bị bất khiển dụng vì trúng đạn 37 ly ngay khối cơ bẩm, làm khối cơ bẩm không di chuyển được, dỉ nhiên là không bắn được. 15 phút đầu tôi thấy HQ 5 ăn đạn cũng hơi nhiều nhưng không nhiều bằng những phút sau đó. Vì sao, vì HQ 10 đang chìm, HQ 16 đang rời vòng giao chiến vì bị thương nặng, HQ 4 đang lùi ra xa vì trở ngại tác xạ, chỉ còn lại HQ 5 là soái hạm với soái kỳ trên đỉnh, mà hỏa lực lúc bấy giờ rất hạn chế, chỉ còn lại một khẩu pháo 40 ly sau lái bên hữu hạm bắn cầm cự mà thôi, trong khi đó các chiến hạm Trung Cộng quay sang “dí” HQ 5, mỗi phút trôi qua, không biết bao nhiêu là quả đạn hướng về HQ 5 và không trật. Ðến khoảng 1100H, thấy tình hình hoàn toàn bất lợi, Ðại Tá Ngạc ra lệnh “di tản chiến thuật”, HQ 5 tăng máy rời vùng lửa đạn, hướng về phía Nam, sau đó đổi sang hướng Tây, chiến hạm Trung Cộng đuổi theo một đoan thấy vô ích nên quay trở lại. Khoảng 1400H ngày 19/01/1974 khi ngang qua đảo Tri Tôn thì được lệnh từ Ðà Nẳng: “HQ 4 và HQ 5 phải quay trở lại Hoàng Sa “nếu cần thì ủi bãi”, khu trục hạm và tuần dương hạm mà ủi bải có nghĩa là tự sát, một cái lệnh không hiểu nổi, nhưng không lâu sau đó có một phản lệnh từ Ðà Nẳng, cho HQ 4 và HQ 5 trở về lại Ðà Nẳng. Khoảng 1500H Hạm Trưởng Quỳnh ra lệnh giải tán nhiệm sở tác chiếm, trực chỉ Ðà Nẳng. Tôi rời đài chỉ huy đi xuống bên dưới, bên trong chiến hạm không điện, không đèn, tối thui, nhìn mọi người mặt mũi bơ phờ, đi một vòng chiến hạm thấy có quá nhiều vết đạn, phòng tai và nhân viên chiến hạm vẫn còn đang chiến đấu với thần hỏa vì hãy còn nhiều đám cháy nhỏ và phải làm ngập hầm đạn vì sợ sức nóng của lửa có thể dẫn đến việc nổ hầm đạn, người chết và bị thương rải rác khắp nơi trên chiến hạm, trời kêu ai nấy dạ, bên trong chiến hạm, nhiều nơi bị hư hại nặng v.v.. và v.v…, có điều hai máy chánh không bị suy suyển gì. Sau một trận hải chiến, thường thì người ta chỉ nhìn thấy những thiệt hại, những đổ nát, những tổn thất trên chiến hạm của mình mà không biết, mà không nhìn thấy những thiệt hại, những đổ nát, những tổn thất trên chiến hạm khác kể cả bạn và địch. Ðêm đó khi đi ngang qua “Ballon Room”, tần ngần nhìn 7 xác chiến hữu nằm xếp hàng ngang ở đó, có 7 chết và 18 bị thương bao gồm nặng nhẹ, kể cả Hải kích và nhân viên cơ hữu. Khoảng 0700H ngày 20/01/1974, HQ 5 về đến Ðà Nẵng và cập cầu thương cảng, được các đồng đội HQ hoan hô mà lòng cảm thấy xót xa buồn. Về đến bến, tôi là người đi đếm lỗ đạn, từ đài chỉ huy trở xuống, từ trước mũi ra sau lái, hữu hạm và tả hạm, vì Trung Cộng xử dụng loại đạn xuyên phá, nghĩa là xuyên thủng qua lớp thép rồi mới nổ và phá ở bên trong, nên thấy lỗ nào tròn tròn, đường kính khoảng 1 tấc đích thị là nó. Tôi đếm được tất cả là 102 lỗ đạn đại bác 100 ly, còn đạn đại bác 37 ly lỗ nhỏ hơn và nhiều không đếm được, riêng đài chỉ huy trúng mười mấy trái đại bác 100 ly nhưng may mắn là nhờ hai lớp thép bảo vệ nên khi xuyên qua hai lớp thép này thì hết tầm và cũng nhờ Trời thương Phật độ nếu không Ðại Tá Ngạc, Hạm Trưởng Quỳnh, tôi và các nhân viên trên đài chỉ huy có thể đã đi theo cố Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà, đâu đâu tôi cũng thấy vết đạn từ Trung tâm Chiến báo, phòng vô tuyến, phòng ngũ Hạm Trưởng, phòng ngũ sĩ quan, pháo tháp 127 ly v.v… và v.v… Riêng hữu hạm phần trên mặt nước trúng ba mươi mấy quả đại bác 100 ly, tàu to nên dễ bị ăn đạn, trúng đạn không có nghĩa là tàu phải chìm, sở dĩ trúng đạn nhiều mà không chìm là vì chiến hạm có hai phần, phần trên mặt nước và phần dưới mặt nước, nếu trúng phần trên chỉ gây hư hại, nếu trúng phần dưới mới nguy hiểm, mới có thể dẫn đến việc chìm tàu, vả lại hệ thống an toàn trên chiến hạm cao hơn tàu buôn rất nhiều, vẫn còn có thể cứu vãn được ngoại trừ trúng ngay chỗ nhược và có sức công phá mạnh như thủy lôi, torpedo, hỏa tiển v.v… Sau đó Căn cứ Yểm Trợ Tiếp vận Ðà Nẵng xuống sửa chữa khẩn cấp và tạm thời, để chiến hạm có thể đi hành quân tiếp. 102 lỗ đạn 100 ly, chỉ hàn khẩn cấp ba mươi mấy lỗ đạn bên hữu hạm và gần mực nước vì sóng gió lớn có thể làm nước biển tràn vào bên trong, còn những lỗ đạn khác chỉ vá, cắt một miếng lưới tròn tròn, đắp lên rồi sơn phết lại trông cũng OK, sửa hệ thống điện khẩu pháo 127 ly, thay khối cơ bẩm khẩu pháo 40 ly, sửa máy vô tuyến và một số linh tinh lang tang khác, còn những hư hại khác chờ về Sài Gòn sửa chữa hay thay thế, riêng boiler hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt, mỗi ngày lọc được 8,000 gallons bị bắn bể không sửa chữa được kể cả sau khi về Sài Gòn rồi, báo hại những chuyến công tác sau đó không có nước ngọt để tắm, còn đạn dược phải khiêng lên toàn bộ số đạn đã làm ngập và khiêng xuống bằng ấy số lượng, nghĩa là phải thanh toán một cầu tàu đạn, toàn bộ sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên đứng thành một hệ thống dây chuyền, hết đưa lên rồi lại đưa xuống, từ trưa cho đến trước giờ giao thừa, xong hầu hết đều đi ngủ vì quá uể oải.

Giao thừa tết Giáp Dần 1974 toàn chiến hạm trôi qua trong yên lặng và buồn thảm, buồn thảm vì có những người bạn đồng đội mới thấy đó đã vỉnh viển ra đi, vì có nhiều việc phải lo, phải làm, lo cho người chết, lo cho người bị thương, lo báo cáo, lo sửa chữa và lo chuẩn bị để đi hành quân tiếp. Hạm Trưởng Thự nói: “Sự thật là HQ 4 và HQ 5 chẳng bị trầy một mảnh sơn nào cả. Cả Hải Quân đều biết. Vì thế cho nên chỉ một mình HQ 16 được đón tiếp ở Sài Gòn và gắn huy chương chứ không có Ðại Tá Ngạc hay HQ 4 & HQ 5”, tôi không hiểu tại sao Hạm Trưởng Thự lại lộng ngôn đến thế, nếu Hạm Trưởng Thự muốn làm anh hùng thì cứ việc, nhưng xin đừng bôi bác, xin đừng phủ nhận công lao của chiến hạm bạn và những chiến hữu của mình, đừng tạo ra những hiểu lầm tai hại vì sự mù lòa và thiếu hiểu biết của mình. Sau khi sửa chữa tạm thời xong, nhìn từ bên ngoài HQ 5 trông vẫn OK, nhưng mấy ai biết được rằng từ đầu (đài chỉ huy) và lục phủ ngũ tạng (phần bên trong chiến hạm) gần banh xà rông, vẫn còn ngổn ngang trăm mối, ngoại trừ hai chân vẫn còn tốt, nghĩa là hai máy chánh vẩn còn khiển dụng. Ngày mồng Một Tết Giáp Dần, chiến hạm nhận được lệnh hành quân, đi đâu? – ra lại Hoàng Sa, làm gì? – tìm kiếm người mất tích, một cái lệnh coi bộ không vui chút nào, nhưng phải thi hành lệnh thôi. Sau vài ngày tìm kiếm người mất tích không kết quả, HQ 5 có tham dự thực tập tác xạ hải pháo lên một hòn đảo trọc (không cây cối) ngoài khơi Ðà Nẳng cùng với HQ 6 và HQ 17, xong về lại Ðà Nẵng. Ðầu tháng 2/1974 chiến hạm tôi được lệnh rời Ðà Nẵng, trực chỉ Trường Sa, tham dự hành quân Trần Hưng Ðạo 48, Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân là HQ Ðại Tá Nguyễn Văn May và một lần nữa chiến hạm của tôi lại làm soái hạm. Lực lượng hành quân gồm có: Tuần dương hạm HQ 5 (soái hạm), Tuần dương hạm HQ 17, Hộ tống hạm HQ 07 và Hải vận hạm HQ 405 chở theo một tiểu đoàn Ðịa phương quân thuộc Tiểu khu Phước Tuy, mục đích là chiếm đóng và duy trì chiếm đóng 4 đảo còn đang bỏ trống thuộc quần đảo Trường Sa vì không muốn tái diễn Hoàng Sa thêm một lần nữa, 4 đảo này là Sơn Ca, Song Tử Tây, Sinh Tồn và đảo Trường Sa. Trước đó năm 1973 Hải quân VNCH đã chiếm đóng và duy trì chiếm đóng đảo Nam Yết, đảo lớn nhất thuộc chủ quyền của VNCH và là đảo lớn thứ nhì sau đảo Thái Bình thuộc Trung Hoa Quốc Gia. Lực lượng hành quân đi một vòng đổ bộ tiểu đoàn Ðịa phương quân lên các đảo kể trên cùng các quân trang, quân dụng, vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm, nước ngọt v.v. và v.v…., kết quả hoàn toàn tốt đẹp mà không gặp bất cứ một sự kháng cự nào vì lúc đó trên đảo chỉ có chim và vích. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ các chiến hạm HQ 17, HQ 7 và HQ 405 rút về, chỉ còn lại soái hạm HQ 5 chạy vòng vòng 5 đảo để tuần tiểu, yểm trợ, tiếp tế, nói chạy vòng vòng chớ mấy đảo này cách nhau rất xa, hết 15 ngày về Vũng Tàu nghĩ bến, tiếp tế sửa chữa linh tinh 2 ngày, lại ra Trường Sa 15 ngày cứ như thế cho đến giữa tháng 4/1974 nghĩa là gần 3 tháng sau ngày xảy ra trận chiến, soái hạm của trận hải chiến Hoàng Sa mới được lệnh về Sài Gòn. Trong khi đó các lực lượng tham chiến và các thành phần liên quan đều đã lượt lượt trở về Sài Gòn hết rồi, từ HQ 16 được về sớm nhất, những người đào thoát từ HQ 10, HQ 4, những người đào thoát tù đảo thuộc HQ 16, rồi đến 48 tù binh bị Trung Cộng bắt giữ bao gồm Hải quân, Ðịa phương quân và Công binh trong đó có 1 cố vấn Mỹ, riêng soái hạm rời vùng lửa đạn sau cùng, ăn đạn nhiều nhất và cũng là chiến hạm về lại Sài Gòn chót nhất. Dầu trở về muộn màng, HQ 5 cũng được đón tiếp, hoan hô và sau đó có nhiều phái đoàn xuống chiến hạm ủy lạo và tặng thưởng, tổng số tiền mà các phái đoàn ủy lạo kể cả trước đó ở Ðà Nẵng nằm giữa con số một triệu rưởi và hai triệu đồng tiền VNCH thời điểm 1974, điều này cũng đủ để an ủi, cũng đủ để ấm lòng dù hãy còn nhiều áy náy vì sứ mạng không thành.

Khi về lại Sài Gòn, tôi có nghe được những lời đồn đại đầy ác ý và bôi bác về Ðại Tá Ngạc, nào là trong khi hải chiến Ðại Tá Ngạc sợ quá bò lăn bò càng trên đài chỉ huy, nào là sợ quá tìm chỗ ẩn núp v.v… tôi đứng cạnh Ðại Tá Ngạc trên đài chỉ huy từ 0400H đến 1500H, nào có thấy gì đâu, ổng lo điều động, chỉ huy, báo cáo, nhận lệnh còn thì giờ đâu mà lo mà sợ, vả lại cái lon Ðại Tá của ổng đâu cho phép ổng làm như vậy, nếu ổng không anh hùng thì tôi chắc chắn là ổng cũng không hèn. Ngay chuyện trước mắt đây, Hạm Trưởng Thự nói: “Toàn bài viết của Ðại Tá Ngạc (trận hải chiến Hoàng Sa) từ đầu đến cuối là sai sự thật” Ðại Tá Ngạc là người trực tiếp chỉ huy trận đánh, mấy chục năm sau ngồi xuống, nhớ lại viết về trận đánh này có thể không hoàn toàn đầy đủ, có thể không hoàn toàn chính xác, có thể có một vài nghi vấn, nhưng không thể hồ đồ kết luận rằng tất cả đều sai sự thật, ngoại trừ phi Ðại Tá Ngạc bị lú lẫn, mà tôi tin rằng Ðại Tá Ngạc thì không, điều khôi hài là sự kết luận này lại đúng cho chính Hạm Trưởng Thự, nhiều điều trong bài viết của Hạm Trưởng Thự là hoàn toàn sai sự thật, tôi có thể khẳng định như vậy. Hạm Trưởng Thự đã nhiều lần tự xác nhận là mình không biết gì về nhiệm vụ và hoạt động của HQ 4 và HQ 5, không biết trước, trong và sau hải chiến HQ 4 và HQ 5 đang ở đâu và đang làm gì thì tốt hơn hết là Hạm Trưởng Thự xin hãy dựa cột mà nghe, đừng có lên tiếng, lên tiếng làm chi, rồi còn hết sự thật này tới sự thật kia, những sự thật trời ơi đất hởi để làm phiền lòng nhau, phiền lòng nhau không phải bởi những điều Hạm Trường Thự nói đúng sự thật, mà bởi những điều nói sai sự thật. Hãy trả sự thật về với sự thật dù là nó không trọn vẹn, không hoàn hảo, còn cái gọi là “Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” xin được trả lại cho Hạm Trưởng Thự để khỏi phiền toái cuộc đời.

Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã làm tất cả những gì có thể làm được để bảo vệ quê hương và vùng biển thân yêu, nhưng lịch sử có những nghiệt ngã của nó, đã đưa đẩy chúng ta đến chỗ đau lòng, nhìn nước mất nhà tan và vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa lần lượt rơi vào tay bọn quỷ đỏ Bắc phương, và xin hãy nhớ cho một điều quan trọng, chúng ta chỉ có một kẻ thù duy nhất là bọn giặc đỏ Bắc phương.

Bùi Ngọc Nở
HQ 5

http://batkhuat.net/van-soaiham-hq5-tranhaichien-hoangsa.htm

Kỷ niệm thời quân ngũ “Công Tác Hà Tiên”

http://i1.wp.com/www.chienhuuoregon.com/contents/wp-content/uploads/2016/05/XK_PQNAM.jpg?resize=768%2C411

Trời vừa hừng sáng, toán xung kích đã trang bị gọn gàn, đầy đủ súng đạn và tụ tập dưới bến tàu của Duyên đoàn 44 Hà Tiên. Đằng kia, chiếc PCF của Trung úy Các (K.19) đã nổ hai máy sẳn sàng. Sau khi trung úy Các điều động xong nhân viên PCF cột 3 chiếc xuồng nhỏ kéo theo sau lái. Thuyền trưởng Các gọi tôi:

– Ê! xong chưa Nam?

Tôi ra dấu cho Trung úy Các, nói lớn:

– Chờ mấy thằng Seal xuống là go.

Không đầy 5 phút sau, Đãi úy Smith và một US Navy Seal khác mang máy PRC-25 từ phía trên cầu tàu chạy lụp xụp xuống bến. Hai thằng Seal mặc bà ba đen, mang dép râu, mặt mũi bôi lọ vằn vện màu xanh đỏ, dây đạn M.16 quấn trên vai với hai khẩu M.16. Trông thấy cả hai Navy Seal thật xom tụ như các tài tử đóng phim Rambo. Lần nào đi công tác, mấy thằng Seal cứ màu mè như thế. Nhưng đến vùng, họ ở dưới tàu và chỉ có bọn chúng tôi lần vào ‘victor tango’.

Tôi ra dấu cho cả toán, vừa nhảy xuống sàn lái PCF và nói to với thuyền trưởng Các:

– OK! Let’s go.

Trung úy Các thò đầu ra cửa phòng lái:

– Đủ chưa Nam?

Tôi gật gật đầu:

– OK! Đủ rồi.

Chiếc PCF tách bến hướng mũi vào sông Giang Thành. Tôi vào phòng lái gặp thuyền trưởng, Trung úy Các:

– Niên trưởng Các. Mình ghé Trà Phô ăn sáng.

Trung uý Các:

– OK! Được Nam.

Một lát sau, tàu đến Trà Phô. Chúng tôi lên chợ và tấp vào cái quán bán hủ tiếu quen thuôc, nằm cạnh bờ sông. Sáng sớm, con sông còn đang bốc hơi mùi tanh tanh, càng làm cho mùi hủ tiếu dậy mùi hấp dẫn. Mùi thơm quen thuộc mỗi lần ghé lên Trà Phô trên bờ sông Giang Thành. Mặc dù đó là quán hủ tiếu bình dân của nhà quê như Trà Phô này, nhưng mấy mươi năm ở Mỹ, tôi chưa tìm lại được mùi thơm của hủ tiếu quyến rũ như thế, ở bất cứ nhà hàng nào. Nói chi đến hương vị của nó. Tôi thắc mắc ở Mỹ đầy đủ nguyên vật liệu để nấu hủ tiếu, nhưng không thể nào và không có quán tiệm nào nấu được một tô hủ tiếu có hương vị đặc sắc của tô hủ tiếu như ở Việt Nam, dù là hủ tiếu bình dân rẻ tiền như nơi nhà quê. Tô hủ tiếu chỉ có vài lát thịt heo mỏng, ít tép mở, một nhúm nhỏ cải bấp thảo khô và vài cọng hẹ tươi với hành lá. Thế mà ngon tuyệt!

Đớp sạch tô hủ tiếu và uống cạn ly cà phê sửa nóng. Chúng tôi no bụng, tươi tỉnh ra và kéo nhau trở về tàu. Hai thằng seal cũng no ké. Chiếc PCF tách bến chạy ra giửa dòng sông và hai máy tiến full vào vùng công tác. Hơn nữa giờ sau, tôi dò theo bản đồ và nói Trung uý Các cho PCF ủi vào lùm cây gần cửa một con rạch nhỏ, không xa lắm với con kinh Vĩnh Tế. Toán của tôi chỉ có 7 người. Tôi đã cho hai nhân viên đi phép. Chúng tôi chia nhau xuống ba chiếc xuồng nhỏ được PCF kéo theo.

Trước khi trèo xuống chiếc xuồng của Hạ sĩ Tám rổ, nhân viên mang máy truyền tin PRC-25. Tôi hỏi hai thằng Navy seal.

– Tụi mầy vào không?

http://www.gstatic.com/hostedimg/685858f089e60ff3_landingUS Navy Seal.

Thằng Smith, rất thích đi công tác và nhậu ruợu đế ở quán cô Lệ góc cây me với tôi. Hắn lắc đầu, ra dấu ngón tay cái ‘Number one’ và đẩy ra phía chúng tôi:

– Tụi mày vào đi. Tụi tao ở ngoài. Nếu tụi mày bên trong có đụng, tao gọi yểm trợ hay trực thăng nhanh hơn.

Tôi cố ý hỏi để chọc họ chơi vậy thôi. Chứ đi nhiều chuyến công tác rồi, có khi nào mấy thàng seal này theo chúng tôi vào điểm kích.

Các chiếc xuồng bằng vật liệu thật mỏng nhẹ, rất hẹp và ngắn, chỉ ngồi được hai hoặc ba người. Chúng tôi bơi vào rạch. Chiếc xuồng di chuyển bằng cách níu các chòm cỏ dại hoặc cành cây nằm ven bờ rạch hay chống tay vào bờ đẩy xuồng tiến về phía trước. Các xuồng tiến vào sâu trong rạch. Đến vị trí kích, tôi cho xuồng trải ra xa và im lặng ngồi kích trên xuồng. Cảnh vật chung quanh thật tĩnh mịch. Thỉnh thoảng có bầy bù mắt kéo bay qua. Tiếng con cá nhỏ đớp mồi dưới mé rạch, chúng tôi cũng nghe thấy được.

Chờ đợi, rồi chờ đợi….Mặt trời đứng bóng….rồi ngã từ từ về tây….Xế trưa, mọi cảnh vật vẫn im lìm, không động tịnh. Tiếng rè rè của chiếc máy truyền tin vào xế trưa càng nghe như rỏ hơn…..Tôi nhìn đồng hồ tay thấy vừa đúng ba giờ chiều. Chúng tôi ngồi yên dưới xuồng kích đã hơn 5 tiếng đồng hồ. Không thấy bóng ma thằng kinh tài VC nào đi qua đây như tình báo đã đưa tin. Tôi báo cáo tình hình về phòng hành quân và xin lệnh rút ra tàu.

Bên kia đầu máy, Trung uý Nguyễn Văn Tràng (K.19):

– Ráng một chút nữa Nam. Đến 4 giờ không có gì thì rút.

Tôi nói ‘Ok’. Thời gian trôi qua chầm chậm như đi theo cây kim gió của chiếc đồng hồ đeo tay. Tôi nghe rỏ cả tiếng kêu tích tắc ở giửa cái không gian trầm lặng như tờ giửa rừng đước. Đúng 3:45 chiều, tôi ra dấu tập trung xuồng lại, chuẩn bị rút….

‘Xoạt’…..tiếng kêu xoạt trên bờ cách con rạch khoảng 10 mét làm chúng tôi giật mình. Cả bọn chúng tôi cùng hướng mắt vào nơi phát ra tiếng động. Với phản ứng tức thì, chúng tôi cùng đưa nòng súng vào tầm bắn. Một thằng nhỏ khoảng 10 tuổi vừa vạch bụi cây, chui lẹ ra ngoài và đâm đầu bỏ chạy vào trong rừng đước; Trung sĩ Nhàn định bóp cò nhưng tôi nhanh hơn:

– Đừng bắn! Đừng bắn! Nó là thằng con nít.

Trong nháy mắt, thằng VC con chạy biến mất trong khu rừng đước. Trung sĩ Nhàn ngạc nhiên:

– Ủa! Sao không bắn nó…Chuẩn úy?

Tôi lắc đầu:

– Mình có bắn thằng nhỏ thì bên trong mấy thằng VC nghe tiếng súng cũng đã bỏ chạy mất mẹ nó rồi. Có bắn chết hay bắt sống thằng VC con thì cũng không bắt được mấy thằng VC bên trong. Vã lại mình lại không được lệnh rời điểm kích đi sâu vào trong bờ.

Tôi tặc lưỡi:

– Cha nó. Bọn VC độc ác đến thế là cùng. Dùng thằng con nít làm bia báo động….Thôi rút về tàu anh em.

Trước khi rời điểm kích, tôi kêu Hạ sĩ nhất Châu văn Năm thẩy vào trong sâu vài trái M.79 và báo cho PCF và hai thằng seal bên ngoài biết chúng tôi đang trở ra tàu.

PCF đưa chúng tôi về đến bến tàu dưới ánh nắng buổi chiều buông.

Đó là chuyến công tác lần thứ mười một khi tôi làm trưởng toán xung kích. Đúng ra công tác của chúng tôi là đi thám sát, đổ bộ lên nơi sensor của khu vực nào có tín hiệu báo động để quan sát hay thu thập nguyên nhân làm cho sensor phát tín hiệu. Dãy sensor được cày đặt dọc biên giới Việt – Miên. Công tác bất kể ngày đêm, cứ sensor có báo động là chúng tôi được đưa đến. Tuy nhiên thỉnh thoảng phải đi công tác cho tình báo như phục kích bắt kinh tài hay cán bộ VC được kể bên trên. Không biết do tình báo của Hải quân Việt Nam hay của Hoa Kỳ yêu cầu.

Tôi và hai thằng bạn khác trong số 15 thằng mới ra trường về Vùng 4 Duyên Hải, bắt thăm về Duyên đoàn 41. Tôi không may mắn như Tuyên và Ninh được thay phiên nhau đi công tác hành quân ở Năm Căn (Vùng 5 Duyên Hải), tôi bị đơn vị trưởng là một đại úy gốc bộ binh chuyển sang hải quân đì hết sức. Nhiều lúc đối diện đấu võ mồm với ông ta làm cho tôi muốn điên lên. Tôi gần như bị ông ta giam lỏng tại hậu cứ của Duyên đoàn 41 trên hải đảo Giáng Tiên (Hòn Khoai – Poulo Obi). Ngày xưa tôi nghĩ đơn giản là tôi không họp ‘gu’ với ông ấy nên bị ‘đì’. Nhưng sau 30/4/1975 tôi được biết những vụ bất ổn xảy ra trong đơn vị chính do tên VC nằm vùng đội lớp sĩ quan hải quân của duyên đoàn gây nên mà bấy giờ tôi chỉ nghĩ hắn chỉ là tên antenna cho đơn vị trưởng mà thôi. Câu chuyện của tôi và đơn vị trưởng đã đến tay Tư lịnh vùng. Nhân chuyến thị sát bờ biển phía Nam của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và HQ Đại Tá Đỗ Kiểm, Tư Lịnh Vùng 4 Duyên Hải ghé Duyên đoàn 41, qua tin tức của Chuẩn úy Trần Công Nhuận thay thế Thiếu úy Nguyễn Phúc Kha, tùy viên Tư Lịnh Đỗ Kiểm được tháp tùng theo chuyến bay, cho tôi biết tôi đã có công điện gọi về Bộ Tư Lịnh Vùng. Biết được tin này và được TL. Đỗ Kiểm đồng ý, tôi cuốn gói lẹ theo trực thăng của Tướng Ngô Quang Trưởng, gĩa từ hải đảo Giáng Tiên trở về Bộ tư Lịnh vùng. Ngày hôm sau, tôi trình diện TL. Đổ Kiễm để lảnh 8 ngày trọng cấm. Một tháng sau, tôi được biệt phái cho đơn vị Tác Chiến Điện Tử của Hoa Kỳ tại Hà Tiên.

Chuyến công tác đầu tiên của tôi khi được biệt phái đến đây là dẫn toán xung kích thám sát một khu vực sensor báo động nằm sâu trong bờ, gần biên giới Việt – Miên vào giửa đêm khuya. Chúng tôi đến nơi và ghi nhận có một đơn vị của VC đang di chuyển. Chúng tôi được lệnh theo dõi đoàn quân của VC đang di chuyển này. Khi đoàn quân của địch biến mất vào sâu trong lãnh thổ của Miên, chúng tôi được lệnh rút về tàu. Mặt tôi vài nơi sưng vù vì bù mắt cắn, mặc dù tôi có mang theo thuốc thoa da và lưới trùm kín mặt.

Sáng hôm sau, chúng tôi lại được đưa trở lại điểm kích khuya hôm qua để thám sát và ước tính quân số của địch quân di chuyển. Nhân dịp này, chúng tôi đi sâu vào lãnh thổ của Miên. Dọc biên giới, xa xa mới có một căn nhà lá. Bấy giờ trời nắng gắt, cả bọn khát nước nên chúng tôi ghé tạt vào một ngôi nhà gần nhất, có vách bằng đất và mái nhà lợp bằng lá dừa. Sân nhà thật rộng, có hàng cây dừa cao thẳng tắp và nhiều cây xoài đang độ xum xuê, đầy trái chín (xoài mọi nhỏ trái nhưng rất ngọt). Vừa vào đến giửa sân, có một ông gìa người Miên trong nhà lom khom đi ra chào đón. Ông ta không nói được tiếng Việt. Chúng tôi ra dấu bằng tay, ông ta hiểu ý chúng tôi muốn xin vài trái dừa tươi để uống và ít trái xoài mọi ăn giải khát. Ông già vui vẻ chỉ trỏ như muốn nói tự nhiên hái lấy mà ăn. Tuy nhiên, chúng tôi biết xâm nhập qua đất Miên là trái phép, nên tôi bày kế cho Hạ sĩ Lưu Ban, nhân viên người Việt lai Miên trong toán xung kích biết nghe và nói được tiếng Miên sành sỏi:

– Lưu Ban. Anh nói tụi mình là lính Pôn Pốt nha. Đừng cho ông ta biết tụi mình là hải quân dưới tàu.

Không biết Lưu Ban nói gì với ông gìa. Chúng tôi thấy ông ta nhe hàm răng rụng gần hết, cười và quơ bàn tay như không tin lời Lưu Ban, miệng cứ nói: “Marine…Marine…”. Tay kia ông ta chỉ về hướng tàu đang ủi bên dưới bờ sông ngoài kia.

Tôi hiểu ra mấy tiếng ‘Marine…Marine” của ông cụ:

– Thôi Lưu Ban. Ông gìa biết mình là hải quân rồi. Không gạt được ổng đâu.

Lưu Ban không gạt ông lão nữa và cả hai quay ra nói chuyện chi đó. Một hồi ông gìa chỉ bầy gà đang kiếm mồi trước cửa nhà. Chúng tôi hiểu ông gìa cho Lưu Ban con gà. Lưu Ban chạy lẹ khom người xuống chụp một con gà trong bầy. Nhưng Lưu Ban chụp hụt làm bầy gà bỏ chạy tứ tán. Có một con gà mái chạy thẳng vào bên trong nhà. Lưu Ban rượt theo. Ông gìa như hốt hoảng chạy theo sau. Thấy phản ứng lạ lùng của ông gìa, tôi đi nhanh theo vào nhà. Vừa vào đến phòng bên trong, ông gìa thấy tôi xuất hiện, ông ta quỳ sụp xuống và lạy lia lịa làm tôi càng sanh nghi, nhìn quanh:

– Lưu Ban đừng bắt gà nữa. Khám xét mấy cái khạp lớn coi bên trong có cái gì không?

Ông gìa hình như hiểu lời tôi nói. Ông ta càng lạy và miệng nói lấp bắp như van xin điều chi đó. Sát vách nhà có mấy cái khạp to đậy nấp ván. Các khạp đựng nước uống và có cái đựng thóc, lúa. Lưu Ban đến giở nấp cái khạp cuối …một cô gái trẻ trong khạp đứng thẳng lên làm tôi và Lưu Ban giực nẩy người. Cô gái Miên độ chừng 16 hay 17 tuổi đứng thẳng, hai tay che trước ngực run lẩy bẩy. Mặt cô bé tái xanh không còn chút máu, như muốn khóc, trong khi ông gìa cứ hướng về phía tôi sụp lạy như tế sao.

Bấy giờ tôi và Lưu Ban hiểu ra cử chỉ van xin của ông gìa Miên. Tôi nói:

– Lưu Ban nói với ông gìa tụi mình không có làm bậy bạ gì cô gái kia đâu. Đừng sợ!

Lưu Ban thông dịch lại. Ông gìa mừng qúa. Ông ta hướng về tôi xá thêm vài xá và kéo tay Lưu Ban ra phía sau nhà. Tôi nhìn theo. Sau nhà là cái chuồng heo. Tôi trở ra ngoài ngồi với mấy anh em ngoài sân. Chúng tôi đợi Lưu Ban. Chưa đốt xong nữa điếu thuốc captain, Lưu Ban từ cửa nhà bước ra với một con heo mọi nhỏ xíu (heo con) kẹp bên hông. Ông gìa  vui vẽ và trở nên thân thiện hơn, đi theo phía sau Lưu Ban nói liên tu, mà chúng tôi chẳng hiểu gì cả.

Lưu Ban hí hửng:

– Chuẩn úy ơi! Ông gìa cho con heo sữa.

Vài anh em khoái chí:

– Thiệt hả Lưu Ban?

Lưu Ban ra dấu chắc ăn và chỉ ông già đi sau đang cười toe toét, gật gật đầu:

– Thiệt mà.

Nắng trưa cũng đã đứng bóng. Chúng tôi cám ơn ông gìa Miên và kéo nhau trở về tàu. PCF về đến bến. Chúng tôi rời bến tàu và trở về bản doanh. Chiều tối hôm đó, chúng tôi có một chầu nhậu đã đời với thịt heo quay, da mỏng dòn rụm và lòng heo luộc chấm nước mấm cay, dầm me. Tuyệt cú mèo!

Đơn vị Tác chiến Điện Tử của Hoa Kỳ tại Hà Tiên được đặt trong căn cứ của Duyên đoàn 44. Toán xung kích của chúng tôi không trực thuộc Duyên đoàn. Lúc ấy CHT Duyên đoàn 44 là HQ Thiếu Tá Nguyễn Khoa Lô (K.13), CHP là HQ. Trung úy Phạm Xuân Kha (K.14) và Trung úy Tình báo Nguyễn Văn Lang (Lang say – K.16). Giửa cố HQ Thiếu tá Nguyễn Dinh K.13, Cựu Liên đoàn Trưởng LĐ/SVSQ/HQ/NT, niên trưởng Lang và tôi có nhiều gắn bó ở trại tỵ nạn Bataan – Philippines vào đầu năm 1986. Nhất là niên trưởng Lang và tôi có một thời với lắm kỷ niệm vui. Tại Duyên đoàn 44, tôi còn gặp số bạn cùng khóa.

Toán xung kích của chúng tôi biệt lập với Duyên đoàn 44 nên Thiếu tá Nguyễn Khoa Lô, Chỉ huy trưởng Duyên đoàn không có ý kiến gì khi chúng tôi muốn ở bên ngoài căn cứ. Chúng tôi thuê nhà riêng cách chợ Hà Tiên một con đường và gần bến ghe đánh cá. Đương nhiên lính tráng được ở ngoài căn cứ thì được tự do, thoải mái qúa đi chứ. Chúng tôi còn thuê một căn nhà cho nhân viên ở chung và dùng nơi đó làm bản doanh để tập họp, cất vũ khí và máy truyền tin. Dân Hà Tiên cũng như các thứ lính khác như Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Cảnh Sát v.v…, có thể họ biết chúng tôi là hải quân nhưng không biết chúng tôi thuộc đơn vị nào. Chúng tôi thích gì mặc nấy khi đi công tác. Phần lớn anh em thích mặc đồ rằn ri nylon vì có nhiều chuyến công tác phải lội qua những con rạch lớn hay ngâm mình dưới đầm lầy nhiều giờ. Với vải nylon khi lên bờ chỉ một chút có gió và nắng là áo quần khô ngay. Súng ống thì đủ loại như M16, phóng lựu M.79, trung liên M.60, lựu đạn K3, lựu đạn mãng cầu (miểng), trái khói v.v…Anh em vác vũ khí đi lờ ngờ giửa đường, giửa chợ khi chuẩn đi công tác hay lúc trở về từ vùng hành quân. Hình ảnh ‘kiêu binh’ đó không có gì lạ, vì Hà Tiên gần như là một thành phố của nhiều sắc lính tác chiến. Có lúc tôi phải nổ súng giửa chợ để ra mật hiệu tập họp nhân viên đi công tác bất thường. Cơm nước thì khỏe re. Tôi ăn cơm tháng tại nơi mướn nhà trọ. Vài nhân viên của tôi quen biết ngư dân có ghe đi biển nên chúng tôi tha hồ có đồ biển ăn hàng ngày. Tôi thích nhất món cá sống làm gỏi với nước chấm đặc biệt có nước cốt dừa và lẩu chua cá nháp hay cá đuối. Nhậu hết biết, do đầu bếp Tám rổ ra tay.

Thời gian công tác tại Hà Tiên, toán xung kích chúng tôi rất gắn bó và có thật nhiều kỷ niệm khó quên với nếp sống tự do, bụi đời và ngang tàng của những người lính trẻ. Sau hai tháng, tôi được thuyên chuyển về Duyên Đoàn 42 An Thới – Phú Quốc. HQ. Chuẩn úy Nguyễn Tấn Phát thay tôi làm trưởng toán xung kích. Sau đó không lâu tôi được tin trong một chuyến công tác, Chuẩn úy Phát bị thương nơi đùi trái và Thủy thủ Thạch, xạ thủ M.60 bị VC bắn sẻ, viên đạn Ak47 oái oăm trúng đầu làm Thạch tử trận ngay tại chổ, trên kinh Vĩnh Tế. Tội nghiệp một thằng em dễ thương! Xin đốt một nén hương lòng tưởng niệm một Thủy thủ xung kích đã vĩnh viễn nằm xuống.

Kỷ niệm Ngày Quân Lực 19/6 năm 2016

HQ. Phm Quc Nam

Trận chiến trên cầu Bến Đá của TĐ9/TQLC một khúc quanh của cuộc chiến VN?

MX Tân-An Đoàn-Văn-Tịnh

https://i1.wp.com/tqlcvn.org/images/TD9-TQLC%20TRANS.gif

Lời giới-thiệu:
Ngay sau khi ký-kết Hiệp-định Geneve (20-7-1954) chia đôi đất nước, Cộng-Sản Bắc Việt đã mang sẵn mộng xâm-chiếm nốt miền Nam bằng cách này hay bằng cách khác.
Năm 1960, họ đã đưa cán-bộ Trung-ương Đảng âm-thầm vượt vĩ-tuyến 17, vào Nam thành-lập và kiểm-soát Mặt Trận Giải-Phóng (MTGPMN).
Cho tới năm 1965, CS Bắc Việt đã đưa vào miền Nam hơn 1 triệu quân chính-qui, với những vũ-khí tối-tân do Nga-sô và Trung Cộng cung-cấp.
Vào đầu mùa hè 1972, về mặt quân sự, họ đã tận dụng toàn lực để mở rộng trên toàn các mặt trận trong Nam. Trong khi đó về phiá Bắc, họ đã xua quân tràn qua bờ sông Bến-Hải.
Trong những ngày đầu, vì phải đối đầu với một lực lượng gồm 5 Sư Đoàn chính Qui (318. 304, 312, 320 và 325) và nhiều đơn vị cơ-giới và địa-phương, SĐ3/BB của QLVNCH và những lực-lượng tăng-phái đã buộc phải triệt-thoái khỏi thị-xã Quảng-Trị.
Vì thiếu kế-hoạch từ đó việc triệt-thoái đã diễn ra một cách hỗn-độn nên đoàn quân và dân di tản khỏi Quảng Trị đã bị lực lượng truy kích của CS Bắc Việt thừa thắng, truy-kích theo, tạo nên bao thảm-cảnh tàn-phá và chết chóc dài khoảng 12 cây số trên QL1. Đoạn đường này trải dài từ Thị-xã Quảng-Trị cho tới cầu Bến Đá, một cây cầu nằm về phiá Nam cuả Quận lỵ Hải Lăng khoảng 5 cây số.
Sau này đọan đường đầy chết choc đó được mang tên là “Đại-Lộ Kinh Hoàng”.
CS Bắc-Việt tưởng rằng việc chiếm thành phố Huế đã nắm chắc trong tay, nên họ hăm hở xua quân tiến về Huế.
Về mặt chính-trị, nếu chiếm được Huế, họ sẽ dùng làm thủ đô cho MTGPMN để đòi hỏi chia cắt đất nước thêm một lần nữa …
Vừa tiến quân, vừa tàn-sát, lực-lượng truy-kích của CS Bắc-Việt đã không gặp một lực lượng trì-hoãn chiến nào đáng kể cho đến khi chạm phải Tiểu-Đoàn 9/TQLC.
Vào chiều ngày 1-5-1972, đơn vị này đã từ những giải núi Trường Sơn được lệnh đổ ra về phiá Đông để bảo vệ cầu Bến Đá nằm trên QL1. Tiểu Đoàn 9/TQLC trải dài trấn-giữ bờ phía Nam giòng sông Ô-Khê chờ đón lực-lượng truy-kích của CS Bắc-Việt.

Trên bình diện chiến-thuật, bài viết sau đây của Tân-An Đoàn văn Tịnh đã ghi nhận đầy đủ chi tiết về trận đánh tại cầu Bến-Đá của một Đại đội thuộc Tiểu Đoàn 9/TQLC.
Nhưng trên phương diện chiến-lược và chính-trị, người ta thấy có hai lập-luận tương-phản như sau:
1. Trên phương-diện chiến-thuật, việc chặn đứng một lực-lượng hùng-hậu cuả CS Bắc Việt quả là một trận đánh ngoạn mục, kỳ-công, và ngoài ra chiến-thắng này còn có một giá trị trên phương diện chiến-lược rất quan-trọng
– CS Bắc-Việt và MTGPMN đã không có một nơi tạm mang danh là thủ đô để có thể mặc cả trong thế hoà đàm.
– Tuyến phòng thủ Mỹ-Chánh đã được thành-lập ngay sau đó.
– Tổng Thống VNCH đã ra lệnh tổ-chức phản-công, tái-chiếm cổ-thành Quảng-Trị vào ngày 16-9-1972.
2. Giả thử đơn-vị này không chặn được lực-lượng truy-kích hùng-hậu của CS Bắc-Việt thì CS Bắc-Việt và MTGPMN đã có thành-phố Huế làm thủ-đô và sẽ có tư-thế mạnh trong hội-đàm đòi chia cắt đất nước một lần nữa.
– Sẽ không có trận đánh Tái-chiếm Quảng-Trị.
– Cũng sẽ không có cuộc di-tản miền Trung đau thương … và cuối cùng mất tất cả đất nuớc …
Những tổn thất và mất mát từ đó trở đi, không thể qui trách vào những người đã quên mạng sống của mình để bảo vệ từng tấc đất.
Nhiệm-vụ của những chiến sĩ QLVNCH nói chung và TQLC nói riêng đã hoàn tất, họ thấy giặc đến là đánh, giản dị chỉ có vậy thôi.
Hơn nữa chính trong cuốn hồi-ký của Henry Kissinger gần đây đã được giải-mật, cho thấy rằng năm 1972 người Mỹ đã muốn lật-đổ chính-phủ VNCH vì VNCH nhất-quyết không nhượng-bộ CS Bắc Việt để Mỹ có thể rút chân ra khỏi chiến-trường Việt-nam.

Trân trọng giới thiệu để độc giả tuỳ nghi nhận định.
MX Nguyễn Kim Đễ

Tình hình tổng quát vào những ngày cuối tháng 4-1972
LĐ369/TQLC gồm 3 Tiểu Đoàn 2, 5 và 9 trải dài từ Nam lên Bắc qua hai căn cứ Barbara và Nancy nằm trên đường đỉnh của dẫy Trường-Sơn nhằm ngăn chặn địch từ hướng tây cuả Trường-Sơn tràn ra QL1.

Tất cả trận tuyến của 3 Tiểu Đoàn đều chịu áp lực nặng nề của địch. Tiền đồn và tuần tiễu cấp Trung đội của ta thường xuyên chạm địch.
Căn cứ Barbara và Nancy hàng ngày nhận lãnh hàng trăm quả đạn pháo kích đủ loại.
TĐ2/TQLC trải dọc theo trục lộ dẫn từ QL1 tới căn cứ Barbara.
TĐ9/TQLC trách nhiệm căn cứ Barbara,(một căn cứ đã được bỏ hoang của Hoa Kỳ).
Để giảm thiểu tổn thất vì pháo kích, BCH/TĐ9 đã khôn khéo chỉ đặt một Tiểu đội đặc biệt với máy truyền tin để duy trì sự hiện-diện mà thôi. Ngoài ra toàn bộ Tiểu đoàn trấn giữ tại các yếu điểm quan trọng khác. Kế hoạch này buộc địch đã phải tung ra nhiều cuộc tấn công thăm dò vị trí của ta, nên hầu như hàng ngày chạm địch.
TĐ5/TQLC trấn giữ căn cứ Nancy (nằm cách vào khoảng 5 cây số về phiá Bắc của căn cứ Barbara) cũng bị áp lực rất nặng.
Sau nhiều đợt pháo kích nặng và tấn công, TĐ5/TQLC đã phải rời bỏ vị trí và địch đã làm chủ căn cứ này.

Ngày 30/4 và ngày 1/5/1972
Bắt đầu từ buổi trưa ngày 1/5/1972 đầu mùa hạ, từ trên những đỉnh núi cao của dẫy Trường Sơn, chúng tôi nhìn xuống đồng bằng và phía Bắc tỉnh Quảng-Trị rất rõ ràng. Trên không phận, rất nhiều phi vụ F4 và A37 từ Hạm-đội 7 ngoài biển thay phiên nhau dội bom liên tục xuống dọc theo những vùng sát chân núi cố dập tắt các ổ pháo lớn, súng cối và hệ thống phòng không hùng hậu của địch quân đang ngày đêm đổ về phía Quốc-lộ I và các vị trí TQLC cũng như các đơn vị bạn. (BĐQ, BB…).
Có thể nói cho đến giờ phút này, sức chống cự của SĐ3/BB không còn nữa. Vùng HQ Quảng-Trị chỉ còn lại LĐ-147 và LĐ-258 TQLC cùng một số đơn vị BĐQ đang cố cầm cự mãnh liệt. Sau khi rút khỏi chiến trường Gio-Linh, Đông-Hà, Khe-Sanh và Cam-Lộ, các căn cứ hỏa lực chính yếu phía Bắc của Quảng-Trị như C1, C2, A1, A2, đỉnh Fuller, căn cứ Carol, Cùa, Mai-Lộc cùng các đỉnh Sarte, Holcomb đã lọt vào tay quân Bắc-Việt. Tóm lại, từ phía Bắc sông Thạch-Hãn không còn một đơn vị nào của QLVNCH trấn giữ. Trên QL-1 vô cùng bận rộn, các đơn vị bạn không còn hàng ngũ, lẫn lộn giữa dân chúng cùng di tản vội về phía Nam.
Chiến trường không còn ranh giới, bom-đạn đổ xuống khắp nơi, từ rừng-núi, đồng-bằng, quốc-lộ, làng-mạc và ngay trên bãi cát trắng của biển Đông. Hàng loạt đạn phòng không 37 ly của địch lập thành hệ thống phòng thủ dọc theo vùng đồi núi chạy lên phía Bắc chi chít, cố bắn hạ máy bay đang oanh tạc. Pháo của Bắc-Việt cùng những ổ súng lớn nhắm thẳng ra trục lộ, quyết ngăn chặn và cắt đứt các đơn vị đang rúi lui. Thê thảm nhất là dân chúng, cha con, chồng vợ…gánh gồng, đùm nhau cố chạy về Nam bị pháo địch, vô số người dân vô tội bị chết và bị thương nằm la liệt bên cạnh những chiếc xe trúng đạn tan tành trên QL-1 từ Quảng-Trị về tới sông Ô-Lâu.
Ban đêm, C47 còn có tên là Fire Dragon và C130 mang những khẩu đại bác 105 ly gọi là Spector Gunship rãi đều dọc trên vị trí phòng thủ hỏa lực của địch quân, những cột lửa đạn với tiếng hụ kinh hoàng.

Ngày 2/5/1972
Mặc dù trong lúc TĐ2 và TĐ 9/TQLC đang tiếp tục chạm địch, Đại tá Phạm văn Chung LĐT/LĐ369 đã ra lênh cho Tiểu Đoàn 2 và 9/TQLC lập tức đoạn chiến, dùng trì hoãn chiến để trở ra QL1.
TĐ2/TQLC đã trở ra QL1 tới cầu Mỹ Chánh và TĐ9/TQLC kéo ra QL1, lập phòng tuyến trấn giữ bên giòng sông Ô-Khê vói nhiệm vụ chận đứng sự tiến quân của địch, và cố gắng tiếp cứu các đơn vị bạn đang lui quân một cách hỗn tạp, cùng dân chúng đang cố chạy xuôi về Nam.
Đặc biệt lưu ý phải ngăn chặn được thiết-giáp của quân Bắc-Việt tràn xuống như chúng đã từng xử dụng với LĐ-147 trên cầu Đông-Hà.
BCH/LĐ đã gom góp hầu hết ống phóng hỏa tiển M72 chống chiến xa từ các đơn vị nằm tuyến sau trao cho TĐ9/TQLC để xử dụng.
BCH/TĐ 9 đã xử dụng ĐĐ3 và ĐĐ4 phòng ngự trên yếu điểm “Cầu Bến Đá” trên giòng Ô-Khê.
Đây là một cuộc phòng thủ diện địa, tuy cấp thời nhưng tinh thần và khả năng tác chiến vô cùng hùng hậu.
Trong tinh hình khẩn trương này, người chiến sĩ của TĐ 9/TQLC không còn sự lựa chọn nào khác hơn là tiêu diệt lực lượng hùng hậu của địch nếu không muốn để bị địch giết.
Trong khi đó, Đại tá Lữ đoàn trưởng ra lệnh cho TĐ2/TQLC chuẩn bị tuyến phòng thủ thứ hai tại cầu Mỹ Chánh nằm trên QL1, cách cầu Bến Đá 3 cây số về hướng Nam.

Những tháng năm dài hành quân diệt địch từ ngày rời khỏi quân trường, tôi đã đi khắp nơi, trên mọi vùng của quê hương đất nuớc. Trực tiếp tham dự hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, từ vùng rừng-núi Trường-Sơn, vùng đồng-bằng, kinh-lạch, sình-lầy bao la như Nam-Căn, Cà-Mau, Kiên-Giang…nếm đủ mùi vị, cảm giác của chiến trận….chưa bao giờ chúng tôi có một cuộc hành quân và phòng thủ tác chiến như thế này – với một cảm giác mạnh tối đa.
Pháo binh địch tập trung ồ ạt đổ xuống trên vị trí phòng thủ của Lữ Đoàn, đạn pháo lớn, pháo nhỏ, súng cối…đủ loại đạn, đủ loại tiếng nổ. Chúng cố làm sao cho ta không thể ngóc đầu lên nổi, nhưng địch quân đã quên một điều:
Với tình thế trước mắt, cuộc chiến đấu sinh-tử, một mất, một còn. Các cấp cán-bô, chỉ huy chẳng còn gì phải gìn-giữ, tất cả đều nằm trên phòng tuyến. Chịu đựng tất cả, cùng chiến đấu và không cần biết mọi hiểm nguy đang vây quanh, không thể lùi bước được nữa.
Trên phòng tuyến đầy cả ống phóng M72, đạn cối, M79…tất cả đều sẵn sàng, dáng mặt của tất cả mọi người vẫn bằng-an, vui-vẻ một cách tin tưởng. Cái ý-chí và tinh thần này vô cùng quan trọng, không phải chỉ duy nhất cho trận đánh khốc liệt sắp tới, mà là một sức mạnh vô địch để giữ vững sự yên-lành của mọi người trước sự di-tản bỏ chạy của các cánh quân bạn và dân chúng đang diễn ra trước mắt một cách đau lòng.

6 giờ chiều ngày 2/5/1972
Thiếu úy Lam đã sẵn sàng với một Tiểu-đội Cảm-tử (7 người), gồm B1 Hạnh mang máy truyền tin, Trung-sĩ Thành, Tiểu-đội trưởng và Hạ-sĩ I Quyền cùng 3 người lính của Trung-đội 2 làm nhiệm vụ của Biệt-kích. Vượt sông Ô-Khê, di chuyển lên phía Bắc càng xa càng tốt, tìm một vị trí ẩn nấp và chiến đấu. Mục đích theo dõi tình hình địch và dân chúng đang di chuyển về Nam, báo cáo kịp thời, nhất là thiết-giáp địch. Cho đến giờ này, bên phía sông hoàn toàn thuộc về địch quân. Nên chuyến đi của Lam vô cùng nguy hiểm, chỉ sơ hở là “tiêu” ngay tức khắc.
Mặt trời không còn nữa, đêm xuống bao phủ khắp nơi, tôi tiển Lam qua sông. Chiếc cầu vẫn còn đó, nhưng không thể dùng nó được. Tiểu-đội cảm-tử vượt sông an-toàn và họ yểm trợ nhau bò lên trên những bờ cao. Trung-sĩ Thành quay lại vẫy vẫy tay trong đêm đen. Họ như những bóng cây đổ xuống mặt đất, do ánh hỏa châu của pháo binh và máy bay chiếu sáng từ trên. Họ đã biến mất và tất cả im lặng, một vài phút giây khó thở. Cứ thế, chúng tôi chờ đợi toán quân gọi về cho biết tình hình di chuyển. 1/2 giờ trôi qua, có tiếng bấm rời rạc trên loa máy, dấu hiệu liên lạc tôi đã dặn Lam và Hạnh kỹ lưỡng. Tôi bốc máy và nói vừa đủ nghe
– Cho qua đi Hạnh.
– Trình anh Tư, chúng tôi đã rời bờ sông có lẽ hơn 100m. Trước mặt có nhiều bóng người qua lại trên đường.
– Nhận, địch quân đó – cẩn thận, tìm chỗ ẩn-nấp và bố trí.
– Đáp nhận.
Giọng của Hạnh thì thào trong máy, tôi cúi xuống sau dàn bao cát chất thành chiến tuyến, đốt điếu thuốc, liên tục rít những hơi dái và nhè nhẹ thở khói, im-lặng, đợi-chờ. Thời gian bổng đi chậm lại vì khoảng không gian chung quanh tôi hình như thiếu không khí, ngột-ngạt, chúng tôi đang trông-đợi , đang hồi-họp đến cực-độ. Đây là một sự kiện có thể tạo cho chúng tôi thắng lợi, nhưng cũng có thể mất những chiến-hữu gan-dạ, can-đảm này.
– Ám hiệu truyền tin lại xuất hiện. B1 Hoàng nói.
Tôi vội vàng nắm ngay ống liên hợp từ tay B1 Hoàng.
– Tôi nghe.
– Trình anh Tư, từ phía trong núi, chúng tôi thấy có những toán quân di chuyển ra gần trục lộ. Hoả châu sáng lắm, ở vị trí này chúng tôi có thể quan sát dễ dàng.
– Nhận 5, cho anh em quan sát kỹ lưỡng chung quanh vị trí.
– Anh Tư yên-tâm.
Bây giờ là 3 giờ sáng, trong suốt đêm, chúng tôi cũng đón chừng vài chục người dân, đàn ông có, đàn bà và con nít di chuyển về Nam. Những trạm chốt đầu cầu cẩn thận sẵn sàng tác chiến và kiểm soát bằng mắt và để cho họ qua cầu mới tiếp nhận. Không có một người lính nào của đơn vị bạn, vì họ đã biết về con đường này rất nguy hiểm nên họ đã thoát hiểm mưu sinh ở đâu đó để vượt qua giòng Ô-Khê .
3 giờ 40, Lam cho biết
– Có tiếng động cơ và áp tai trên mặt đất, nghe tiếng chuyển động nặng nề, có lẽ là Thiết-giáp.
– Nhận 5, cẩn thận theo giỏi.
4 giờ 5, giọng của Lam cấp bách.
– Hình như Thiết-giáp địch di chuyển từ phía Tây trong núi ra.
– Không đâu! từ Bắc xuống Nam song hướng tiến của chúng không phải dùng lộ nhựa. Cẩn thận quan sát.
4 giờ 15, Lam báo:
– Thiết-giáp địch xuất hiện và nhanh chóng chạy ra lộ nhựa. 3, 4 chiếc cách chúng tôi chừng 100mét hơn và đang dừng lại. Bộ-binh địch đang tiến lên, chúng la lối nghe rõ lắm.
– Lam-Giang nghe đây; Lập thành 2 toán như đã dự trù, yểm trợ nhau, nhanh chóng rút lui
– Đáp nhận.
– 1, 2, 3, 4 đây Tầm-Dương.
– Nghe, nghe, nghe, nghe anh Tư.
– Cho tất cả anh em rút nòng ống phóng M72 và sẵn sàng. Nhớ, phải nhắm kỹ từng chiếc Thiết-giáp địch, bắn đích xác, đừng cho chúng chạy lọt qua cầu. Xạ thủ đại liên quạt liên tục sát mặt đất dứt đám bộ-binh địch. Kiểm soát và sẵn sàng. Sông-Danh kiểm soát tổ diệt chiến xa của anh trên cái hầm cao. Lựu đạn và trái sáng sẵn sàng.
– Đà-Lạt đây Tân-An, trình Đại-bàng. Tiếng di chuyển của Thiết-giáp địch đã đến gần, tháp tùng chúng có bộ-binh đông đảo. Cách trước tuyến chừng 200m.
– Đà-Lạt đáp nhận. Tân-An thận trọng và sẵn sàng. Tác xạ chính xác,còn Toán biệt-kích….
– Trình Đại-bàng, tôi đang cho Lam và toán Biệt kích di chuyển nhanh về phòng tuyến.
– Dặn và kiểm soát con cái cẩn thận, tránh ngộ nhận. Chúc Tân-An thành công.
– Đáp nhận. Cám ơn Đà-Lạt.
Chiến tuyến bây giờ không còn như ngày trước, Đại-đội trưởng, Đại-đội Phó, Trung-đội trưởng tự tạo cho mình vị trí phòng thủ và tác chiến ngay trên tuyến như anh em binh-sĩ. Thậm chí vị Tiểu-Đoàn trưởng chỉ huy trận đánh và BCH cũng đã sẵn sàng trong những hầm hố dã chiến chỉ cách phòng tuyến chừng vài chục mét.
– Trùng dương đây Tầm dương (Tôi gọi Đại đội 4 của Đại úy Nguyễn minh Trí)
– Trùng dương nghe Tầm dương trên 5.
– Tóan Biệt kích sắp dọt qua cầu tránh ngộ nhận.
– Nhân Tầm dương 5
Chiếc cầu Bến-Đá do một Trung đội của ĐĐ3 kiểm soát. ĐĐ4 nằm bên phải, ĐĐ3 nằm bên trái của QL1. ĐĐ1 bố trí bảo vệ sườn phải hướng về làng mạc và dãy đồi cát phía Đông, ĐĐ2 phòng thủ về hướng tây, bảo vệ sườn trái của đơn vị, đề phòng địch đánh bọc từ dãy núi đổ xuống.
ĐĐCH và BCH/TĐ đương nhiên trở thành lực lượng bảo vệ mặt sau và không có lực lượng trừ bị nữa vì đây có thể là trận chiến cuối cùng của đơn vị.
Anh hai Thăng-Long (Danh hiệu của Đại Úy Lê Thắng xử lý chức vụ Tiểu Đoàn Phó TĐ9/TQLC) nằm chung với BCH/ĐĐ3 ở ngay gần đầu cầu Bến Đá.
Giờ phút nghiêm trọng sắp đến. Tuy lòng chúng tôi nôn-nao, hồi-hộp và nóng như lửa đốt, nhưng trên mặt ai cũng quyết tự-tin.

4 giờ 20 ngày 2/5/1972
Những đóm hỏa-châu từ trên cao về phía Tây của QL-1. Không đủ soi sáng cho khu vực quanh cầu Bến-Đá. Giữa sự im-lặng đang bao trùm trong đêm. Bỗng dưng nhiều tiếng chuyển động của động-cơ ầm-ầm tiến nhanh về phía chúng tôi.
– Tầm-Dương, Tầm-Dương đây Lam-Giang.
– Tôi nghe.
– Thiết-giáp địch phóng rất nhanh về phía anh Tư. Chúng tôi không thể về kịp.
– Cho chạy nhanh lên.
Trong đêm tối, bổng rực sáng và hàng trăm ống phóng hỏa-châu đồng loạt bắn thẳng lên trời. Cả một vùng bao la sáng rực như ban ngày. Toán quân của Lam-Giang đã chạy tới đầu cầu và thiết-giáp địch đuổi sát sau lưng các anh chừng ba chục thước.
– Lam-Giang, Lam-Giang, cho tất cả tiểu-đội nhảy xuống song! Nhảy xuống sông!
Trong giây phút cấp bách đó, những binh-sĩ của ổ tác-chiến giữ đầu cầu khai hỏa vào chiếc thiết-giáp đầu tiên và tiếp tục hàng trăm tiếng nổ lớn và đồng loạt của những ống phóng M72. Những tia lửa kẻ những đường sáng rực trong đêm bay thẳng tới mục tiêu. Loạt đạn khai hỏa đầu tiên của Trung-đội 2/ĐĐ3/TĐ9/TQLC khởi đầu cho trận chiến của toàn bộ của LĐ/369 Thủy quân lục chiến.
Đạn pháo của địch-quân, đạn pháo của các pháo-đội TQLC từ phía Nam sông Mỹ-Chánh. Tiến hụ cùng những cột lửa của C47 từ trên cao, tạo nên một vùng chiến-trận khốc-liệt và hãi-hùng. Toàn bộ trên chiến địa, đạn pháo ào-ạt đổ xuống như mưa.
Trong ánh sáng chiếu tỏa như ban ngày của hỏa-châu và đạn lớn. Chúng tôi nhìn thấy từ trên cầu, Tiểu-đội biệt-kích cùng với Lam-Giang lao thẳng xuống giòng sông cùng lúc với 3 chiếc thiết-giáp địch xông thẳng qua cầu như 3 khối lửa đang cháy phừng-phực dưới hỏa-lực kinh-hoàng của ống phóng M72 của toán diệt chiến-xa.
Từ giờ phút khởi đầu đó, liên tục những tia-sáng phóng về đoàn chiến-xa địch từ phòng tuyến của ĐĐ3 và ĐĐ4.

8 chiến-xa đầu tiên đã bị hoả thiêu và đơn vị bộ-binh của địch tùng-thiết đã bị hoàn toàn tiêu diệt, không tên nào sang được bên này cầu, ngoại trừ 5 chiếc thiết-giáp đầu, vì chúng đã xiềng xạ-thủ và người-lái chiến-xa vào xe, nên tuy cháy như ngọn đuốc, nhưng chúng vẫn phóng qua cầu và tông vào những gò cát cao hay cây cối, bờ vực hai bên đường.
Tại bên kia cầu, những chiếc còn lại bốc cháy dữ-dội và đâm vào các gò đất ở hai bên Quốc Lộ 1.
30 phút tác-chiến, 30 phút tác-xạ, đạn ống phóng M72, ống phóng lựu M79 và toàn thể những khẩu đại-liên, súng nhỏ đã tạo nên những tấm lưới hỏa-lực dày-đặc về phía trước bề ngang cả 500 mét.
Mờ sáng, những người chiến-binh kiêu-hùng của TĐ9/TQLC đã hỏa-thiêu đoàn thiết-giáp và những đơn-vị bộ-binh tùng-thiết của Trung-đoàn 66/304 quân Bắc-Việt bên giòng sông Ô-Lâu. Bờ Bắc giòng Ô-Khê, tiếng la-hét, gào-tháo, rên-rĩ của đám tàn-quân Bắc-Việt bỏ chạy ngược trở lại phía Bắc, để lại trên bải chiến-trường cả trăm xác người lăn-lóc, nát-bét với vũ-khí bể-gẫy, hỗn-loạn.
Cũng trong giây phút đó, đoàn quân của Lam-Giang đã về an-toàn với chúng tôi, ngoại trừ một vài vết thương khi họ lao xuống sông và chiếc máy truyền-tin bị thiết-giáp địch tác-xạ banh hết một góc. Nhưng người lính tuyền-tin B1 Nguyễn-Văn-Hạnh may-mắn an-toàn với vết thương trên vai trái. Đoàn quân Lam tiến lại gần tôi và bố-trí, tôi quay lại bắt tay Lam và siết tay anh trong vòng tay thân-mến, cùng những người chiến binh biệt kích can-đảm đã hoàn thành nhiệm vụ hiểm-nguy.
– Thăng-Long, Thăng-Long, anh Hai báo cáo cho Đà-Lạt mọi việc nghe.
Thăng-Long vui-vẻ móc ống liên-hợp.
– Đà-Lạt đây Thăng-Long.
– Cô-Tô nghe Thăng-Long, Đà-Lạt đang bận liên lạc với Cao-Bằng (Cô-Tô là danh hiệu truyền tin của Đại-Úy Kiều-Công-Cự, vị Trưởng Ban 3 TĐ9/TQLC)
– Nhờ Cô-Tô trình với Đà-Lạt là ĐĐ3, ĐĐ4 đã hoàn toàn làm chủ tình hình, 8 chiếc thiết-giáp địch bị bắn cháy ngay bên kia cầu, song còn đà chạy nên có 5 chiếc phóng qua được bên này. Còn Bộ Binh địch không một tên nào lọt qua sông, bị bắn hạ hoàn toàn bên kia bờ.
– Nhận 5, chúc mừng Thăng-Long, Tân-An, Trùng-Dương và tất cả anh em binh-sĩ.
6 giờ sáng ngày 3/5/1972, mặt biển Đông đã hừng sáng, vùng biển bao la dưới muôn ngàn tia sáng ban mai của vừng dương trên biển Đông cả vùng đất trời, như rực rỡ cùng đón mừng chiến thắng tuyệt đối của một đơn-vị tác-chiến hào hùng.
Đến 7 giờ sáng, phòng tuyến của TĐ được cũng cố và các đơn vị trưởng tiếp tục nhận lệnh của LĐ. Trong suốt buổi sáng ngày 3/5/1972, không có một trận tấn công nào của địch. Nhưng đến 2 giờ chiều cùng ngày, địch lại tập trung lực lượng từ phía Tây, từ trong những dãy núi trọc cách lộ chừng 2km, ào ạt tấn công sườn trái của LĐ. TĐ9/TQLC vẫn nằm lại trên vị-trí cũ chận sự tấn-công từ phía Bắc. TĐ9/TQLC được lệnh rút lui về phía chiến tuyến Mỹ-Chánh.
Trong tất cả mọi loại chiến thuật tác chiến, Trì hỏan-chiến và đoạn-chiến, là một loại tác chiến rất khó khăn cho cấp chỉ huy cùng mọi đơn vị.
Hơn nữa, trong tình thế hiện tại, lực lượng địch quân quá hùng hậu. Quân Bắc-Việt cố chận ngang sườn và dứt thành từng đoạn để tiêu diệt. Bom đạn đổ xuống khắp chiến địa, nên sự lui quân chiều ngày 3/5/72 trở nên nguy hiểm và khó khăn.
Nhưng chiến tuyến Mỹ-Chánh đã được lập xong vững vàng. Nên tuy rằng những gì có thể xảy ra cho các Đại Đội trên đoạn đường lui quân không thể lường được.
Song chúng tôi cũng yên tâm, cùng lắm thì Tiểu đoàn sẽ đơn độc tác chiến cũng chưa đến nổi gì. Vì giữa vùng phía Tây và trục lộ, thế cao của trục lô xe lửa và bờ đất chạy dài theo QL-1 cũng rất tiện lợi cho chúng tôi để cấp bách lập phòng tuyến chiến đấu.
Hơn nữa lộ trình chừng vài cây số là về tới tuyến Mỹ-Chánh. Với dự trù và tính toán đó chúng tôi vô cùng bình tâm, bởi lẽ “Chiến thắng mà phải lui quân”.
Nếu không giải thích cho binh sĩ hiểu một cách tường tận, rõ ràng là một đều vô cùng nguy hiểm cho cuộc đoạn chiến cấp bách này.
Lúc 4 giờ chiều, tôi đã đến từng Trung-đội trên tuyến phòng thủ nói rõ cuộc Hành-quân chiều nay và nhất là điểm đến của Đại Đội là bờ sông Mỹ-Chánh, tất cả tin tưởng và yên tâm.
– 1, 2, 3, 4 đây Tầm-Dương. Thẩm quyền vào máy.
– Đáp nhận.
– Trung-đội 1 lui quân trước, di chuyển sát vào bờ đường. Cho 1 Tiểu-đội tiến bên trái đường, nhanh chóng nhắm hướng Mỹ-Chánh di chuyển chừng 1 km nằm lại bố trí. Trung-đội 4 tiếp theo Trung-đội 1.
– Đáp nhận.
– Thi hành
– Trung-đội 2 nằm tại chỗ, Trung-đội 3 dạt qua trái đội hình cẩn thận di chuyển trên đồng ruộng, hướng về Nam và BCH/ĐĐ theo sau Trung-đội 4.
Chúng tôi thận trọng lên đường, nhưng khi di chuyển được 500m, tiếng của Sáng vội vàng trong máy (hỏa lực địch đã nổ sau lưng và Trung-đội 2 khai hỏa chống cự)
– Trình anh Tư, địch đang bám sát lại.
– Cho con cái tác chiến, bình tỉnh không sao. Tác xạ vào chúng ngay từ xa, đừng để chúng bám sát.
– Đáp nhận.
Và sau đó chúng tôi lại bắt đầu trận đánh. Chiều đã xuống, màu đất trời sắp sẩm tối, tôi nhìn lên trời cao và chung quanh rồi ban lệnh cho Sông-Danh.
– Cho toàn bộ Trung-đội của Sông-Danh rút lui ngay, chỉ cho một toán nhỏ nằm lại cạnh phía Đông của trục lộ, để chúng cho tôi.
Trung-đội 4 dừng lại quay về phía Bắc. Chiếm những gò cao yểm trợ cho Trung-đội 2 rút lui và ra lệnh cho Thiếu-úy Sử khai hỏa ngay và BCH/ĐĐ cùng toán biệt-kích nằm lại chiến đấu.
Trung-đội 2 nhanh nhẹn rút về cạnh Đông của trục lộ và lui về phía sau chừng cây số nằm lại yểm trợ cho BCH/ĐĐ và Trung-đội 4 và Tiểu-đội của Trung-đội 2 lui nhanh chóng và Trung-đội 1 nằm lại quay hướng phòng thủ về phía Tây sẵn sàng tác chiến yểm trợ
Trung-đội 3 chiếm những gò cao, bố trí, yểm trợ cho ĐĐ rút lui. Cứ thế chân vạt, bài học chiến thuật của trường mẹ đã đưa chúng tôi về tới căn cứ. Địch quân đã tiến sát ĐĐ vì TĐ2 đã rút hết về bên kia sông Mỹ-Chánh
– Tân-An đây Đà-Lạt.
– Tân-An nghe.
– Cố gắng đưa con cái an-toàn về tới nơi, tới chốn.
– Đáp nhận Đà-Lạt. Chúng bám sát quá, nhưng không sao.
Và khi chạy qua cầu Mỹ-Chánh. Đêm đã xuống tự bao giờ. Trung-đội của Luyến phải lội qua sông để bảo đảm an-toàn. Các Trung-đội 1, 3, 4 và BCH/ĐĐ cũng về được qua cầu sông Mỹ-Chánh an-toàn. Một vài binh-sĩ bị thương được mang theo. Trên mặt cầu, từng khối thuốc nổ TNT được Công-Binh đặt chuẩn bị giựt sập cầu theo lệnh của Lữ Đoàn.
6 giờ chiều ngày 3/5/1972, không còn lực lượng nào của ta lưu lại bên bờ Bắc sông Mỹ-Chánh. Và cũng giờ phút này, giòng sông ranh giới Huế và Quảng-Trị là chiến tuyến phương Bắc ngăn chặn toàn bộ sự xâm nhập và tấn công của gần 5, 6 Sư Đoàn quân của cộng sản Bắc-Việt và cũng là nơi khởi đầu cho chiến dịch tái chiếm Quảng-Trị, Cổ-Thành Đinh-Công-Tráng – Chính địa danh này đã đi vào chiến-sử oai hùng của đoàn quân Cọp-Biển.

MX Tân-An Đoàn-Văn-Tịnh
Maryland
13/10/2002

http://tqlcvn.org/chiensu/cs-td9-tran-cau-benda.htm

Người Ở Lại Charlie.

 Phan Nhật Nam

https://c1.staticflickr.com/1/718/21873894866_dfefb419a0_b.jpg

Đường mòn Hồ Chí Minh (HCM) trên đất Lào khi chạy đến vùng Tam-Biên phía đông cao nguyên Boloven chia ra hai nhánh. Nhánh thứ nhất từ Chavane đâm thẳng biên giới Lào-Việt xuyên qua dãy Chu Mon Ray để nhắm vào Darkto. Nhánh thứ hai từ Bản Tasseng qua trại Lệ Khánh, và Kontum là mục tiêu cuối cùng của quan niệm chiến thuật Bắc quân: Phải chiếm giữ thị trấn cực bắc này để làm bàn đạp lần tấn công Pleiku, rồi từ đây tiến về phía đông, xuống bình nguyên tỉnh Bình Định.
Gọi nhánh thứ nhất là nhánh Bắc và nhánh thứ nhì là nhánh Nam. Trong chiến dịch Xuân-Hè 72 của Mặt Trận B3 (chiến trường Tây Nguyên), đường rẽ phía Bắc được sử dụng, từ đỉnh 1773 của núi Chu Mon Ray, con đường không thể gọi là một nhánh nhỏ của “đường mòn Hồ Chí Minh” nữa, nhưng phải gọi đó là một “bypass” của một cải lộ tuyến phẳng phiu trơn láng, chạy ngoằn ngoèo qua các cao độ, đổ xuống những thung lũng hun hút của dãy Big Mama Mountain rồi bò theo hướng đông đến đỉnh Kngok Kon Kring. Đỉnh núi này cao quá, con đường phải quẹo qua trái, đi lên cao độ 960 và tạm dừng lại. Dừng lại, vì phía đông, hướng trước mặt chỉ cách mười cây số, con sông Pô-Kơ dậy sóng. Con sông ầm đổ qua ghè đá, ào ào đi giữa rừng xanh núi đỏ. Bên kia sông, Quốc Lộ 14 chỉ khoảng trên dưới sáu cây số và đầu con đường là Tân Cảnh, mục tiêu của bao chiến dịch.Từ ngày chiến tranh “giải phóng” bùng nổ.
Đây rồi, “…nồi cơm điện National” đây! Tân Cảnh hấp dẫn ngon lành như cô gái yếu đuối hớ hênh thụ động nằm dưới thung lũng bát ngát ở đằng kia. Bộ đội ta tiến lên. Nhưng không được nữa, con đường đã bị dừng lại, và bộ đội ta dù được “tùng thiết,” dù được đại pháo “dọn đường” cũng phải dừng lại, vì đỉnh 960 chính là bãi đáp C, là cứ điểm Charlie và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã xuống LZ (landing zone, tức bãi đáp trực thăng, hoặc khoảng đất trống dùng để đổ quân từ trực thăng) này từ ngày 2 tháng 4/1972. Con cháu Bác và Đảng phải ngừng lại bố trí trận địa. Nỗ lực kinh khiếp kéo dài trên năm mươi cây số đường núi, từ ngã rẽ đất Lào phải dừng lại vì chạm phải “sức người.” Ở đây, người đã gặp nhau.
Vực thấp, đỉnh cao, bạt núi, xẻ đèo, những con người cuồng tín và tội nghiệp của miền Bắc đã làm được tất cả. Con đường núi của Tướng Stiwelle từ Miến Điện đến Trùng Khánh, Trung Quốc năm 1945 đã là một sự khủng khiếp. Đường xuyên sơn vạn dậm, dài thật dài, quanh co khúc khuỷu lớp lớp giữa núi rừng nhiệt đới, con đường nổi tiếng đúng như tầm vóc và giá trị của nó. Cả nước Tàu sống bám vào cái ống cứu nguy thậm thượt hun hút này.
Vào thời điểm đầu thế chiến, nước Tàu, đồng minh “tuyệt vời cần thiết” của người Mỹ dễ thương cần phải sống để chống đỡ trục Bá Linh-Đông Kinh. Con đường quả đáng tiền và đáng sợ. Nhưng đường này làm bằng máy, dưới sự yểm trợ và che chở của các “Ong Biển” hảo hạng, những người lính công binh chiến đấu hãnh diện của Mỹ quốc giàu sang hùng mạnh. Năm mươi cây số đường xuyên sơn của “bộ đội ta” thì khác hẳn. Bộ đội đào bằng tay trong đêm tối. Bộ đội lấp hố dưới tấm lưới lửa thép của B-52, trên những giải thảm tử thần dầy lềnh bom-bi CBU (cluster bomb unit). Sức người và lòng cuồng tín ghê gớm đã vượt qua giới hạn. Đấy không còn là người với thịt da biết mệt mỏi đau đớn, cũng không là người với trí óc biết nguy biến và sợ hãi. Bắc quân, khối người vô tri tội nghiệp chìm đắm trong ảo tưởng và gian nguy triền miên. Con đường sạn đạo vào đất Ba Thục tân thời được hoàn thành từng phân từng thước. Bắc quân theo đó đi về Đông.
Nhưng đến đây, ở cao độ 960, người lính Bắc Việt không tiến được nữa vì đã gặp “người.” Người rất bình thường và giản dị. Người biết lo âu, sợ nguy biến. Người có ước mơ và ham muốn vụn vặt. Những người không thần thánh hóa lãnh tụ và tin tưởng Thiên Chúa cũng chỉ là bạn tâm tình. Nhưng đó cũng là những người lính đánh giặc “tới” nhất của Quân Lực Miền Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan miệt mài trên dưới mười năm trận địa. Những sĩ quan biết đánh hơi rất chính xác khả năng và ý định của đối phương. Bắc quân dừng lại giữa đường, ảo tưởng bị công phá và tan vỡ. Họ gặp lính Nhảy Dù Việt Nam.

TRẬN ÐÁNH TRÊN CAO ÐIỂM

Bia nhac nguoi o lai Charlie

Anh Năm (tức Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, sĩ quan chỉ huy trưởng của Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù) bố trí quân “hết xẩy.” Cứ điểm C hay Charlie chính thống, cao độ 960 giao cho “thằng 1,” Đại Đội 1, do Thinh, trung uý Khoá 25 Thủ Đức chỉ huy. Thinh trẻ tuổi đời lẫn tuổi lính. Thinh có vẻ yếu trước mắt mọi người vì Thinh… đẹp trai. Đã đẹp trai, tốt mã thì đánh giặc hơi yếu. Chẳng hiểu sao phần đông là như thế. Những anh có vẻ tài tử, ăn nói ngon lành, rỗn rãng thường hay lạnh cẳng.
Nhưng nghĩ cho kỹ thì cũng công bằng thôi, con người mà, được cái này thì mất cái kia. Nhưng anh Năm dưới cái nhìn sắc sảo của con ó, kèm theo “suy tư ” của phó Mễ đã chọn Thinh để giữ Charlie vì cả hai người chỉ huy đều chắc một điều: Đây là một tay “dur,” loại liều, thứ “kép trẻ đang lên” của trận địa. Thinh được lãnh hãnh diện “nhất kiếm trấn ãi” và những ngày sau Thinh đã chứng tỏ, người chỉ huy mình đã không nhầm lẫn.
Phía bắc của C giao cho Ðại Ðội 3, do Hùng “mập” làm đại đội trưởng. Hùng chỉ là đại úy thôi, nhưng “người” có đủ tác phong và khả năng để “tiến” xa hơn. Vì “người” cũng là tay văn nghệ, “lãnh tụ” sinh viên, có kích thước cơ thể và tính chất của tướng Thắng, ông “tướng sạch nhất ” của quân đội và cũng là ông tướng học giỏi nhất! Nhưng giờ này Hùng chỉ là “simple captain” nên cam phận dẫn quân lên trấn giữa phía bắc Charlie, căng mìn bẫy, đào hầm chờ con cháu Bác, những chiến sĩ Điện Biên. Điện Biên cái con bà nhà nó, lúc xưa bố nó đánh Điện Biên chứ đâu phải nó hôm nay, trong họ tôi có ông chú làm tiểu đoàn trưởng đánh cái Điện Biên khỉ gió kia. Bây giờ tụi nó là cái chó gì. Chẳng nhẽ tôi là lính Tây cà-lồ sao? Phần còn lại tiểu đoàn lên cao điểm 1020, hay C2.
Anh Năm bảo Mễ:
– Mình giữ hột lạc (cao độ trên bản đồ, thường nhìn giống như hình hột lạc) này vì phía nam tao chắc toàn tụi nó. Lệnh hành quân bắt buộc mình phải giữ cửa thằng Charlie. Kẹt lắm, trước sau gì tụi nó cũng phải chiếm thằng Charlie này, và mình thì chỉ việc “thủ.” Bố khỉ, thôi đã xuống đây thì phải giữ chứ biết làm sao, hôm đi họp hành quân được nhận tin tình báo từ quân đoàn, Sư Ðoàn 320 (tức Sư Ðoàn Điện Biên của Bắc quân) đã rút về tây, vào đất Lào!
– Anh Năm yên chí, mình “hơn tiền ” tụi nó! Mễ chắc giọng.
Nhưng thật ra tất cả chỉ là những câu nói bề mặt, phần trong, đằng sau lý luận và phân tích, do những kinh nghiệm và nhạy cảm riêng về chiến trường, mọi người đều có chung ý nghĩ: Xong rồi, mình đã lọt bẫy! Bởi, chiến tranh miền núi là chiến trường giữa những cao điểm. Ðành rằng C và C2 cũng là những cao độ, nhưng 960 và 1020 làm sao chế ngự được những đỉnh 1773, 1274, 1512 của rặng Big Mama Mountain và tiếp theo một dãy đường đỉnh nam rặng Chu To Sang. Và pháo binh của tụi nó. Pháo và kèm theo một “rừng cối,” gồm một hệ thống súng cối có đường kính từ 80 ly trở lên hoặc sơn pháo bắn thẳng.
Sự thông minh và tinh tế về chiến trường của toàn bộ sĩ quan tiểu đoàn ngừng lại ở đây. Họ không dám nghĩ thêm. Phần lệnh hành quân đã giao cho họ một đỉnh núi trơ trọi để sửa soạn vinh quang cùng cái chết. Họ chỉ có một đỉnh Charlie đang hừng hực bốc hơi dưới nắng hè hạ chí trời Tây Nguyên. Định mệnh, sức mạnh khắc nghiệt khốn kiếp đã bắt phải như thế. Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù không còn khả năng chọn lựa. Như cuối cùng cái chết thế nào rồi cũng phải tới cho dù người lính hằng chiến đấu quyết liệt bao nhiêu. Sự thông minh và tinh tế về chiến trường của toàn bộ sĩ quan tiểu đoàn ngừng lại ở đây. Họ không dám nghĩ thêm. Phần lệnh hành quân đã giao cho họ một đỉnh núi trơ trọi để sửa soạn vinh quang cùng cái chết.

Ngày 6, cứ điểm Delta ở phía Nam bị đánh. Đúng chiến thuật, lính ông Giáp tưới xuống một trận mưa pháo, cối và hoả tiễn. Đêm thật dài, người ở Charlie chờ đợi và theo dõi. Tiên sư, tụi thằng Mạnh (Tiểu Ðoàn Nhảy 2 Dù giữ căn cứ Delta) bị rồi. Xem thử tụi nó đánh đấm ra sao? Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù chong mắt vào loa khuếch đại máy truyền tin để nghe kết quả. Trời sáng dần, Delta lấy lại được, quân ta thắng. Anh Năm nhìn Mễ:
– Mày thấy đấy, chúng sẽ chơi với mình cũng với cách này, chúng sẽ lấy kinh nghiệm ở Delta để “dứt điểm” mình.
Toàn thể bộ chỉ huy im lặng. Mọi người đều có ý nghĩ chung. Bao giờ đến lượt mình? Bao giờ?
Nhưng anh Năm không thụ động, con hổ dù bị nhốt trong chuồng vẫn còn nguyên phong độ, uy lực riêng. Không cần phải luận lý lâu lắc. Đây, quyết định của anh:
– Mễ, mày đem hai thằng 2 và 4 (Đại Ðội 2 và 4) lên chiếm cho tao cái này. Anh chỉ vào một cao điểm ở nam C2. Nếu chiếm được mình sẽ cho một thằng lên giữ nó, mình đã bị phân tán mỏng thì cho mỏng luôn, càng mỏng càng tốt, tránh được pháo, đỡ bị tụi nó vây… Mày nghe chưa?

https://i1.wp.com/www.epoetryworld.com/clients/53741/3459868_org.jpg
Mễ gật đầu, anh Năm thấy, nó cũng chung ý nghĩ. Đã vào bẫy thì tìm cách thoát ra, một đỉnh núi không thể là vị trí cố thủ. Tôi nghe anh rõ. Mễ trả lời. Trời vừa sáng, Mễ quay bảo Hải, Sĩ Quan Trưởng Ban 3 (Ban Hành Quân):
– Ông cho hai thằng 2 và 4 chuẩn bị, mình đi làm ăn. Không thể ngồi đợi tụi nó tới đây rúc rỉa, cấu xé được.
Ba đợt xung phong không thành, Bắc quân quả không dại dột bỏ vị trí rất nhiều ưu điểm. Cũng bởi sườn quá dốc, quân ta dù can trường, dùng tay lẫn chân cũng không thể nào “chạy” qua được hàng lưới lửa của đại liên 12.7 ly hoặc sơn pháo 75 ly bắn thẳng!
Cho thằng Mễ lui! Anh Năm bảo Hải. Trán cau lại, anh nhìn xuống đất, gỡ kính, chớp mắt, nói nhỏ sau tiếng chặc lưỡi: Mình bị một con dao đâm lút cán vào lưng!
Những ngày sau tương đối bình yên, hằng ngày các đại đội tung các đứa con ra xa lục soát, chỉ trừ đường về phía nam, nơi tụi “khốn nạn” đang chui trong núi. Làm sao “móc” chúng ra được? Bom thả xuống hằng ngày, nhưng chỉ là bom miểng. Mẹ, hầm tụi nó đào theo chữ U hoặc con c… gì gì thì làm sao bom “lách” vào được? Anh Năm đi lại trên đỉnh đồi nhìn bốn hướng trùng trùng và xa xa trong ánh nắng về phía Tây, cuối con đường trong vùng núi Lớn có lớp bụi mù.
– Xe chúng nó! Xe chúng nó! Tăng hay GMC của tụi nó… Bom! Bom! Gọi lữ đoàn, Hải!
– Để em gọi, nhưng Molotova chứ đâu phải GMC, anh Năm.
– Thì đấy là GMC của Nga, mày biết mẹ gì!
Đàn em thì bao giờ cũng “chẳng biết mẹ” gì. Anh Năm vốn hay phủ đầu như vậy. Nhưng đấy chỉ là một cách nói, bởi anh rõ ưu điểm của từng người như một máy ghi âm cực tốt. Máy bay ta ào tới, con đĩ “Lan 19” lượn một vòng trên vùng chỉ định, cho “ra” một trái khói. Khu trục nhào xuống tiếp theo, bom nổ dâng cột khói lên cao.
– Tiên sư, bom ném thì hay nhưng sợ tụi nó trốn rồi, nó lại không trốn luôn mà quay trở lui về phía mình thì bỏ mẹ.
Sau cơn bom, khói bay lên không trung, qua bóng nắng đằng xa thung lũng lại có lớp bụi mới bồi từng chập.
– Tăng! Tăng! Tăng nữa! Ðông quá, tụi nó chưa bị! Tiên sư, nó trốn ở đâu nhỉ? Trên đồi cao, anh Năm đứng im như con báo nhìn lũ sài lang tiến tới hằng hằng lớp lớp. Làm gì được bây giờ. Không lẽ xin thêm phi tuần khu trục?
Ngày 11, trận địa pháo bắt đầu. Pháo thật sự của 122 và 130 ly ào ào trútxuống C1, C2, C3. Không phải từng trái, nhưng từng chùm, từng loạt. Một, hai, ba… Hải cố gắng đếm.
– Mày làm gì thế, điên sao em? Anh Năm vừa hỏi vừa cười.
– Mình gắng đếm để báo cáo cho chính xác!
– Thế thì Mày phải đếm hàng chục một, một chục, hai chục… Tụi nó đâu “đi tiền” lẽ!
– Tụi nó “chơi” tôi! Thinh ở Charlie báo cáo qua máy.
– Mày giữ nỗi không? Anh Năm cướp ống liên hợp máy truyền tin trên tay Hải.
-Trình ” đích thân,” suya là tôi giữ được, xin cho pháo mình nổ gần tôi thêm chút nữa.
Pháo căn cứ hoả lực Võ Định (nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn) bắn tới trước, rơi xuống sườn phía đông Charlie. Đạn 105 và 155 ly nổ từng trái một, khói bụi tung lên trông rõ.
– Mẹ, bắn gì “quý phái” vậy, nó tấn công chính diện ở phía tây. Mày xin pháo Căn Cứ 5 bắn xuống dễ ăn hơn!
Hải bốc ba, bốn cái máy truyền tin một lúc, năm ngón tay chuyên “xoa”, “nặn” di chuyển trên giàn ống liên hợp lẹ như chớp… Thằng này gọi là “Hải khều” cũng phải, nó khều cái gì đúng cái đó! Anh Năm phịa câu khôi hài đúng lúc. Hải nheo mắt cười thích chí.
Pháo Căn Cứ 5, và hai căn cứ Sơn Tây và Mạnh Mẽ cùng ào xuống, vây quanh Charlie vòng đai lửa.
– Đấy! Đấy! Phải như thế mới được. Anh Năm gật gù tán dương, đồng lúc tiếng Thinh vang vang qua loa khuyếch đại.
– Trình đích thân cứ cho gà nó “đá” như thế, em đánh tụi nó de ra như đuổi con nít. Tốt! Tốt! cho gần hơn năm mươi thước nữa thì tốt hơn, ngay trên tuyến em cũng được!
Bốn mươi lăm phút sau, pháo im bặt, cả ta lẫn của địch. Anh Năm lên hầm chong ống nhòm xem Ðại Ðội 1 bên đồi C lục soát chiến trường. Súng và xác bộ đội Cộng Sản nằm lềnh kênh chật kín đồi đất đỏ.
– Nó đánh thằng 1 là để dợt chơi, cú dứt sẽ với mình.
– Trung tá, trên họ không tin nó pháo mình bằng 130 ly! Hải báo cáo, giọng mỉa mai.
– Gì? Anh Năm chỉ gắt được một tiếng. Như thế là người đang nổi cáu. Trường hợp này vốn rất ít, vì anh vốn trầm tỉnh, sự giận chỉ đến sau chót, khi đã cuối cùng chịu đựng.
– “Họ” bảo mày sao? Chữ “họ” được gằn xuống khinh thị!
– “Họ” bảo mình kiếm mảnh 130 để gởi về! Chữ “họ” thứ hai qua cách nói của Hải cũng đắng cay không kém.
– Đến đây mà kiếm, muốn thấy súng của chúng thì cũng đến đây, tao như thế này không lẻ la hoảng, báo cáo láo sao? Anh đá một hòn đất bay tung… Mẹ, nó xài toàn đạn delay (tức đạn đầu nổ chậm, xuyên phá qua đất hoặc công sự chiến đấu mới phát nổ) mới thế này đây! Câu nói ngắn đau đớn của niềm phẫn nộ tuyệt vọng.
– Cho sửa sang hầm hố, ngày mai gì tụi nó cũng “chơi ” lại. Trước khi bước đi, anh quay sang Hải, dặn thêm: Mày trình với lữ đoàn, để nói với quân đoàn, đây là đạn 130 ly thật. Là 130 ly xuyên phá. Mày bảo tao nói thế.
Đêm xuống thật mau, đêm của núi rừng thẩm màu và đầy bóng tối đe doạ. Sao trên cao lấp lánh, sương mù đùn lớp. Đêm như có hình khối chuyển dịch. Ðêm chất chứa che dấu hàng ngàn sinh vật đang bò dần vào cứ điểm. Đêm cũng vô cùng im lặng, nhưng nỗi im lặng kinh dị như khoảng cách từ khi viên đạn ra khỏi nòng súng và sắp sửa “chui” xuống mái hầm, hố phòng thủ. Trong bóng tối, mấy trăm con người trên ba cứ điểm dựng đứng đôi mắt xuyên thủng qua bóng tối. Và chờ. Ngủ chỉ là khoảng cách ngắn để đối mắt khép lại, đầu gục xuống, xong giật mình tỉnh giấc với nỗi “lo lắng” như vừa qua cơn mê thiếp dài, và trong khoảng khắc “dài thăm thẳm chóng vánh” này, hình như quân địch đã tiến sát gần hơn. Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù qua đêm trong chập chờn sắc buốt với cảm giác viên đạn vô hình đang bay thẳng vào mặt. Có ráng hồng bên kia núi. Ngày đã tới. Ánh sáng đẹp âm vang hân hoan, như ân huệ nồng nàn vừa được sống sót qua thêm một đêm.

NGÀY CUỐI CỦA MỘT NGƯỜI

Ngày 12 bắt đầu. Lính cong lưng xuống trên đất để đào thêm độ sâu. Càng sâu càng tốt. Tỷ lệ được sống sót là độ sâu của lớp đất đá vô tri này. Đất được đổ lên mái. Con người chui lọt vào giữa đất đá, tội nghiệp và thụ động như con sâu ẩn mình trong tổ. Pháo sẽ đến lúc nào? Nổ ở đâu? Câu hỏi âm thầm vang vang trong đầu hàng trăm con người. Trên ba cứ điểm im lặng chỉ loáng thoáng bay những sợi khói mỏng manh. Khói của cơn pháo cuối cùng chưa dứt độ nóng trong đất. Chỉ tiếng cuốc đục đều đều vào đất đá như hơi thở bị ngắt khoảng.
Trong hầm chỉ huy, anh Năm chỉ những điểm ước tính Bắc quân đặt súng:
– Chắc chắn chúng chôn súng ở đây. Anh chỉ ngón tay trên các đỉnh Kngok Toim, Kngok Im Derong. Toàn là cao độ trên 1,500 thước, ở đấy, tụi nó thấy mình rõ như ở đây mình thấy thằng 1 dưới Charlie. Ngày hôm qua nó bắn mình không trật một phát ra ngoài. Mày xin mấy phi tuần để sẵn, có gì mình dội xuống liền. Dội ngay trên tuyến mình cũng được. Xong, ông Mễ và bác sĩ Liệu về hầm đi, đừng tụ vào một chỗ.
Mễ và Liệu đứng dậy.
– Chào trung tá. Anh Năm gật đầu. Hình như anh gượng cười. Có điều gì khó khăn sắp xẩy ra? Không ai biết, nhưng âm tiếng mọi người có điều gì khang khác, buồn buồn. Tai ương nguy biến chực sẵn đâu đây đã làm người hóa nên tê liệt, rã rời. Cũng thật do chờ đợi quá căng thẳng giữa vũng tối, dầy bóng đêm.
– Thôi, tôi về, có gì tôi chạy qua với anh. Hải không để ý tiếng “anh” bất bình thường nói trong hơi thở hụt. Người chỉ huy đứng dậy, Hải tiễn anh ra cửa hầm. Anh bước lên nặng nề, chậm chậm, lưng cong xuống. Anh đi trên đất đá đào xới với dáng dấp của con hổ bị thương khi trở lại rừng xưa nay đã hoang tàn.
Mười một giờ 5 phút, pháo lại bắt đầu. C2 bị nặng hơn C và C1. Theo thói quen, Hải nhẫm tính tính từng chục trái một; hắn hét lớn báo cáo với lữ đoàn.
– Tôi và hai đứa con cùng bị một lượt, toạ độ đặt súng ở yếu tố cũ. Không ước lượng được, hai trăm trái rồi. Tụi nó đang tấn công C.
Bắc quân từ Tây và Tây-Nam đồng nhào lên C, những người ở C2 nhìn xuống sườn đồi lúc nhúc những bóng áo vàng đục di chuyển chậm chạp, lui tới.
– Nó đánh giặc gì kỳ vậy? Người hạ sĩ quan hành quân hỏi Hải.
– Tụi nó “điên,” chẳng phải “điện biên” mẹ gì cả, đéo thấy ai ngu bằng tụi nó.
Lính đại đội Thinh nhỏm dậy khỏi giao thông hào, súng bắn không cần nhắm, lựu đạn ném không cần lấy đà. Ta và địch cách nhau không đầy một tầm lựu đạn. C2 vẫn im lìm dưới trận mưa đạn và lửa. Tám trăm trái rồi. Chưa đầy một tiếng, nó đã nổ hơn tám bớp! Hải ngồi bẹp trên đất, nón sắc chụp xuống, lẫm bẩm những câu vô nghĩa với chính mình. Qua máy truyền tin nội bộ (giữa các đại đội và ban hành quân tiểu đoàn), tiếng chuyển lệnh của Thinh nghe chững chạc, tự tin, “…Ðợi tụi nó đến gần rồi hẳn bắn, nó chỉ là lính con nít, bây là Nhảy Dù mà để thua là yếu lắm đó…” Hải cố mỉm cười nhưng nụ cười không thành dạng. Pháo vẫn nổ như cơn địa chấn như xoay chiếc hầm nghiêng ngã. Tụi nó đòi dứt đứa con của mình. Ờ mà sao chẳng nghe anh Năm gọi qua gì hết. Có chuyện gì không nhỉ. Trí não Hải đã cứng trơ. Hắn không nghĩ được điều gì hơn.
Mễ không buồn nghĩ đến số vũ khí của hai Ðại Ðội 1 và 3 tịch thu được. Anh Năm chết, là tiểu đoàn phó, Mễ tự động lên thay thế. Trách nhiệm quá nặng với tình thế kẹt cứng. Và anh Năm, người đàn anh thân mến từ bao nhiêu năm, gian nguy, khổ nhọc bao ngày dài cùng chia sớt. Vĩnh biệt anh, hầm bị ba trái cực mạnh, chịu làm sao thấu. Sao cuộc đời chỉ dành cho anh toàn hoạn nạn. Hoạn nạn của ba mươi năm ở đời chưa đủ sao?
Mễ, Hải, Liệu nhìn nhau. Trời chiều cao nguyên sẫm bóng nắng. Đêm sắp đến. Đêm với chiếc bẫy sập xuống từ từ, lũ người tuyệt vọng nhìn thấy những tia gân máu đỏ đục loáng ánh sáng phẫn nộ hấp hối trong mắt nhau. Liệu cho lệnh những người lính y tá đào đất lên, mang anh ra ánh sáng. Ngoài vết thương ở tim, người anh tím bầm từng chỗ, chiếc kính vỡ, mắt nhắm, miệng hơi mở để lộ ra những răng cửa. Hải ngồi xuống, rờ vào xác anh còn ấm, đập mấy cái lên áo. Lớp bụi mờ đục bay bay.
– Để tôi rửa cho ông ấy.
Liệu ngồi xuống với bông và cồn. Thi thể anh trầm trầm dưới nắng Tây Nguyên đẫm màu vàng rực. Hết. Mười hai năm chiến trận chấm dứt phút này đây trên cao độ 1020. Trông về bốn hướng chập chùng đồi cao tiếp núi thẩm. Trường Sơn ác độc nhận thêm một hình hài.

ÐỐT CHARLIE

https://i0.wp.com/www.epoetryworld.com/clients/53741/3169610_org.jpg

Bây giờ là buổi chiều. Buổi chiều với nắng vàng và gió lộng. Không còn tiếng nổ trong không gian, ba mỏm núi bốc những sợi khói nhỏ, mờ mờ hơi nóng. Nóng không phải hơi nắng mặt trời nhưng do âm ỉ của thuốc súng chưa kịp tan, còn lẫn khuất nơi cây cỏ, đất cát.
– Thiếu tá. Hải gọi nhỏ Mễ. Lúc riêng rẽ, ít khi hai người gọi nhau bằng cấp bậc, nhưng bây giờ, tình hình đã khác, trách nhiệm và bổn phận quá đổi nặng nề, thêm xúc động trong lòng qua cái chết của người chỉ huy. Hải nhắc nhở Mễ.
– Thiếu tá, tổng kết là mình chết 20, 40 bị thương cần di tản.
Mễ gật đầu, đưa mắt nhìn hỏi Liệu.
– Đúng vậy! Liệu đáp nhỏ. Anh toubib hết đồ nghề, nhìn xuống xác anh Năm, như một cách lẫn tránh.
– Dạ, có ông Hùng muốn nói chuyện với thiếu tá. Người lính truyền tin đưa ống liên hợp cho Mễ.
Tiếng Hùng ở C1, vọng trong máy: Trình Mê Linh (danh hiệu truyền tin của Mễ), ở tôi thì không có gì, nhưng từ sáng tới giờ sao chẳng nghe 008 (tiểu đoàn trưởng) nói gì với tôi hết. Giọng Hùng mang vẻ trách móc xa vắng, ắt hẳn hắn đã linh cảm được tai nạn xảy ra. Mễ nhìn xuống xác anh Năm, đôi mắt đỏ mệt mỏi chớp chớp, hình như có giọt nước mắt lưng tròng.
– 008 đã bắt tay với ông Phan (tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1 Dù, đã tử trận Hạ Lào năm 1971). Biết thế thôi, đừng nói cho ai hay.
– Dạ, tôi nghe rõ Mê Linh. Hùng không còn hơi sức để hỏi gì thêm.
Súng lại nổ dưới Charlie. “Cất” anh Năm lại, đừng cho lính biết. Tất cả ra giao thông hào. Mễ ra lệnh ngắn. Lời nói đanh cứng, dứt khoát. Trong ráng chiều, những người lính ở C1 và C 2 chăm chú theo dõi trận đánh nơi cao độ C. Bắt đầu, cối và sơn pháo từ những cao độ phía Tây bắn từng nhịp bốn trái một vào căn cứ, xong bộ binh Sư Ðoàn Điện Biên từ hai hướng Tây, Tây-Nam xếp hàng như đi điễn hành tiến vào.
– Đúng là tụi nó điên rồi, không điều động, ẩn núp gì cả. Ðiện Biên cái con c…! Lính ở C1 và C2 đồng đứng dậy khỏi giao thông hào chơi trò chơi mới.
– Mày bắn vào cái hố có bốn thằng núp dưới kia, nếu trật thì để tao. Hai người lính Ðại Ðội 112 thách nhau dùng súng phóng lựu M-79 và hoả tiễn cầm tay M-72 từ đồi cao bắn xuống. Trái đạn bay đi khoảng ngắn, đất bụi bay lên. Bốn thân xác phơi trần trụi, vật vã, lăn lóc. Người lính nhỏ Miền Bắc đi giải phóng ai đây; trong phút chốc họ đã trở nên thành những bia thịt sống thậm vô ích và chết với gía quá rẻ.
Cuộc tấn công vào cứ điểm C kéo dài năm đợt. Lính Thinh đánh tỉnh táo, chắc chắn. Nhưng bỗng nhiên, Mễ có quyết định: Rút nó về, nhỡ tối nay, nó hết đạn thì sao.
Hải gọi liền máy, bảo Thinh,
– 401 (Thinh) đây 06 (Hải), anh xếp va-ly lại, nhớ mang theo mấy thằng rách áo, về ở với bố mẹ.
– Vâng, vâng, tôi nghe rõ, tôi cũng có ý định đó vì kẹo gần hết, nhưng sợ 008 và 007 (tiểu đoàn trưởng và phó) hiểu lầm. Tội nghiệp chưa, đến giờ này, Thinh vẫn không biết người anh cả của tiểu đoàn đã đi khuất. Trong âm nói của Thinh vang động mối hân hoan vui sướng “về với bố mẹ”. Thinh đâu tiên đoán được đến lượt mình ở ngày mai.
Đại Ðội 111 rút được về C2, năm giờ chiều, trời chỉ còn chút ráng đỏ, gió lạnh. Đỉnh Charlie trống trải cháy ngọn lửa điêu tàn. Và trong hoang vu hấp hối của cỏ cây, hằng trăm người lính Bắc Việt, “những chiến sĩ Điện Biên của Sư Ðoàn Thép, đơn vị vang danh bốn chiều lục địa, những người lính Quân Ðội Nhân Dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, tất cả đồng nhào lên Charlie một lượt. Những “bàn chân gang thép mang linh hồn vũ bảo vào Nam giải phóng, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược” đồng chạy mau hơn, nhanh hơn. Để cùng lăn lộn, giành giựt trên vùng đất vỡ nát, lầy lụa xác người và hơi thuốc đạn.
Như một cơn đồng nhập quẩn trí, tất cả đồng vất bỏ vũ khí, dùng tay trần cào, xới, bới, móc. Đám lính đói Sư Ðoàn Thép kiếm thức ăn. Họ tìm gạo sấy, thịt hộp và C Ration. Cuối đường giải phóng, những “chiến sĩ Điện Biên anh hùng” tìm ra “vinh quang đích thực” nơi những hộp thức ăn chế tạo tại Mỹ, giữa đám xác người Miền Nam họ vừa tàn sát.
– Bom! Bom! Đốt cháy tụi nó hết! Mễ nói như thét.
– Có ngay! Hải “khều” ngay ba phi tuần Napalm. Toán lính Bắc định tháo chạy, nhưng không kịp nữa. Theo một hướng Tây-Đông chính xác, ba chiếc Skyraider cùng chúi xuống một lúc. Lửa lồng lộng, lửa vàng đỏ trộn khói đen cuộn lên lớp lớp. Trong cỏ cây cháy khét có mùi thịt. Thịt của người và thịt của thức ăn. Lính Cộng Sản Sư Ðoàn Điện Biên Phủ vinh quang chết trên mục tiêu vừa chiếm lĩnh: những hộp thịt thức ăn chế tạo tại Mỹ quốc.
Ngày 13 tháng 4, Mễ cho Ðại Ðội 112 xuống chiếm lại C. Lính của Hùng “móm” vừa từ trên “hột lạc” đổ xuống bị bật lại ngay bởi một hàng rào của cối 60, 82 và sơn pháo 75 ly bắn thẳng từ ngọn đồi phía Tây. Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn không một chút do dự: Cho thằng 2 về, tụi nó hận mình về vụ hôm qua. Lên phía Bắc không được, Mễ thử bung quân ra hướng Đông để tìm bãi đáp. Phải có một bãi đáp bất cứ gia nào, thương binh, người chết, xác anh Năm. Tât cả cần phải di tản. Sự hiện diện của những đau đớn này làm lòng nặng xuống, cũng có thể gây nên tâm lý phục hận phẫn nộ, nhưng cũng là lần suy sụp lo sợ. Phải di tản gấp số thương binh. Mễ nói với Thinh:
– Ông gắng ra chỗ này, (một trãng trống cách C2 khoảng ba trăm thước về hướng Đông), kiếm được LZ (bãi đáp trực thăng), di tản hết thương binh và người chết, tụi còn lại mới yên lòng được. Đừng để cho lính có cảm giác bị bỏ rơi, tinh thần họ giản dị, dễ xúc động. Hơn nữa, mình hết đạn và nước uống. Nhé, ông gắng ra cho được.
– Dạ, thiếu tá để tôi.
Thinh can trường như Triệu Tử Long, dẫn đại đội chỉ trên khoảng bốn mươi người rời căn cứ. Cái trãng trống kia rồi, 50, 40, 30. Gắng chút nữa, mình có nước uống! Thinh thúc dục người lính. Nhưng không thể được. Bắc quân bắt đầu khai hoả, bốn phía cùng nổ từ các cao điểm chung quanh. Nguy hiểm hơn, địch cắt đứt đường về, quân ở C2 cố ra đón bị chận lại, không thể dùng một thứ vũ khí nào khác ngoài lựu đạn. Tiến không được, thối lui không xong, trên đầu bị vây chụp bởi đạn sơn pháo từ dãy cao điểm phía Nam dội xuống. Thinh ngã xuống. Chỉ còn con đường này cho người lính trẻ. Thinh chết giữa trời, trên đồi cháy. Viên đạn cuối cùng vừa bắn ra. Bóng Bắc quân vây kín. Trái lựu đạn còn lại cũng vừa ném. Người sĩ quan tuổi quá hai mươi ngã xuống bởi chục nòng súng xả đạn vào. Chuẩn Úy Ba nhào đến ôm xác Thinh, hứng nốt những viên đạn còn lại.
Mễ nổi điên trong giao thông hào, gọi máy liên lạc với Ðại Ðội 111.
– Ở đấy còn có ai?
– Có tôi. Khánh, sĩ quan liên lạc tiền sát pháo binh đáp mau.
– Anh coi đại đội, cố dẫn về lại tôi. Có thằng 4 ra đón.
– Tôi nghe đích thân rõ.
Người sĩ quan pháo binh gom quân làm một mũi dài. Đánh! Để tao đi đầu, lựu đạn mở hết kíp ra. Trung Sĩ Lung, người hạ sĩ quan thâm niên nhất dẫn đầu toán quân, xung trận như mũi tên lửa. Đường về có được rồi, bắn bắn che nhau, Lung về chót. Nhưng còn hai ông thầy! Lung cố chạy ngược trở lại nơi xác của Thinh và Ba. Một loạt đạn vô tình nào đó. Chầm chậm Lung ngã xuống. Ba xác chết chồng lên nhau bất động.
Hai giờ chiều, Bắc quân mở cuộc tấn công mới, cuộc tấn công công khai, nhắm thẳng vào C2, căn cứ chính.
– Tụi nó dứt mình. Được, Mày “Điện biên” tao “Nhảy Dù,” xem ai hơn ai. Tất cả ai ngồi được, kể cả bị thương, ra hết giao thông hào, thằng nào kêu la khóc lóc, tao bắn chết. Chính tao bắn tụi mày để thua, tao bombing vào đây. Chết, chết tất cả! Mễ gào lên, xong ngất xỉu.
Liệu nói nhỏ, thì thầm sát tai Mễ: Tim ông nó mệt rồi, đừng “gonfler” quá, ông chết luôn, hết người chỉ huy.
Lính sư đoàn Điện Biên thổi kèn xung phong dưới yểm trợ của cối và sơn pháo. Quân ta sau mỗi đợt pháo, đứng khỏi giao thông hào. Vào nữa, vào nữa đi con. Có đứa nào già không mày? Tao chỉ thấy toàn con nít, đánh tay không tao cũng có thể bóp cổ tụi nó được! Trước mắt lính nhảy dù, một lớp, hai lớp, những “đứa trẻ” cứ tuần tự đi tới. Những lớp trẻ con chơi trò đánh nhau. Chơi trò chơi ác độc do ép buộc, tuyệt vọng và vô nghĩa lý.
– Không nương tay với nó. Napalm, Hải!
– Có ngay!

http://rvnscale.freeforums.org/download/file.php?id=9357&mode=view
Hai chiếc skyraider xuống thấp như chưa bao giờ thấp hơn, dưới đất thấy được chiếc mũ trắng của anh pilot. Hình như anh muốn nhìn quân bạn, anh muốn chào thăm hỏi như sau mỗi lần thả “líp” dù chót, phi cơ thường hạ thấp cách mặt đất khoảng vài mươi thước để “chào bãi.” Ở đây cũng thế, hai chiếc máy bay rà sát xuống coi như gần đụng ngọn cây. Thả bom với cao độ như thế này chắc chắn không chệch một thước, bom nổ cháy xém đến tuyến phòng thủ của quân bạn, đám lính Bắc lăn lộn trong bãi lửa, chạy dạt ra xa. Nhưng ô kìa, hai chiếc skyraider không lên được nữa. Lòng can đảm và tình đồng đội đã giết các anh. Các anh đã xuống quá thấp để ném bom thật chính xác, để bung địch ra cho bạn. Các anh đã quên thân mình. Hai cánh đại bàng chúi xuống. Chúi xuống nữa và bốc cháy. Vĩnh biệt các anh! Đám cháy kết thúc trận đánh. Thây người cháy đen nằm chật sườn đồi.
Chúng nó đánh, chết như thế để làm gì nhỉ? Một ngày của hai mươi bốn giờ trên thép đỏ và máu nóng đi qua. Trời tối dần. Đêm xuống. Người lính dựa lưng vào giao thông hào liếm môi. Môi anh nóng như miếng vỏ cây bi nung khô. Từ sáng đến giờ chưa được uống nước. Anh không còn sức để nghĩ thêm sau chữ “nước.”
Ngày 14 tháng 4 tiếp theo. Tính đến hai giờ chiều, C2 nhận hơn 2,000 đạn “delay” và nổ chụp. Toàn bộ Tiểu Ðoàn 11 co mình trong giao thông hào dưới cơn mưa pháo không dứt đoạn.
– Nó nổ xa mình. Hải thều thào.
– Ừ phía Tây, ngoài tuyến mình. Liệu tiếp lời, gật đầu đồng ý với Hải. Nhưng thật ra cả hai đều tự dối, pháo không rơi một điểm, một tuyến, pháo chụp toàn thể C2. Pháo tan nát. Pháo mênh mông. Tất cả những lời nói chỉ là cách tự đánh lừa, trấn tỉnh đồng đội và cũng chính mình.
– Hôm nay 14? Liệu hỏi bâng quơ, gợi chuyện trong tiếng nổ ầm ỉ sắc buốt. Mễ Hải không trả lời, đưa mắt dò hỏi. Còn lời nào trong cơn mưa lũ của sắt thép vang động này?!
– Hôm nay mười bốn, mai mười lăm, ngày đầy tháng con tôi.
Bốn con mắt lại mở ra. Mễ và Hải không hiểu ý Liệu. Không hể hiểu nổi. Vì Liệu đang nghĩ: Không lẽ ngày đầy tháng con bố lại chết? “Chết”, chữ nhỏ ngắn này làm tê liệt hết phản ứng. Chết đến từ tiếng “bục” âm âm nơi xa, sâu trong rặng Big Mama, xong nổ “oành” đâu đây. Hình như ngay trên đỉnh đầu, trong lòng nón sắc đang vang động u-u. Giữa khoảng cách kinh khiếp này chữ “chết” hiện ra sáng rực như một giải quang báo, tiếp nổ bùng với toàn hể sức công phá. Tiếp tục… tiếp tục… Bốn cây 130 ly nơi xa nã đạn xuống Charlie nhịp nhàng từng ngắt khoảng ngắn.
Năm giờ chiều, trận mưa đại pháo chấm dứt để cối và sơn pháo 75 ly điểm giọt, bắn thẳng vào căn cứ.
– Xong rồi, tụi nó “chơi’ mình lại. Mễ đứng khỏi giao thông hào. Đêm nay là quyết định, mình và nó last fighting. Mễ báo cáo với Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn.
– Bây giờ tụi nó hết “in coming,” (pháo kích) và bắt đầu “ground attack” (địa chiến). Không phải Mễ sính dùng tiếng Mỹ, bởi thông thường, những danh từ kia phải được nguỵ hoá, nhưng bây giờ tìm đâu ra thì giờ để dò tìm từng từ trong bảng “ám danh đàm thoại.”
– Nó đánh anh chưa? Viên lữ đoàn trưởng ở căn cứ Võ Định vào máy liên lạc trực tiếp với Mễ.
– Bắc đầu ở hướng cũ, tây và tây-nam, heavy attack (tấn công mạnh).
Tất cả đứng khỏi hầm, đạn súng Colt lên nòng, bác sĩ Liệu lúi húi tìm mấy trái lựu đạn. Tôi hết đồ nghề bác sĩ rồi, chơi “đồ chơi” mới vậy, lần sau đi hành quân, tôi mang một khẩu đại liên 60! Không ai còn sức hưởng ứng câu đùa của Liệu. Mễ nhăn mặt đau đớn, ngày hôm qua bị một quả pétard (thủ pháo, một loại lựu đạn biến chế) nổ quá gần, sức nổ ép cứng xương sườn vào vách hầm, để lại những vết máu bầm lấm chấm.
Trời tối dần, hơi núi đùn lên cao, đậm đặc thêm vì khói súng. Bắc quân đã chiếm được một phần giao thông hào, tuyến phòng thủ của Ðại Ðội 114. Trình Mê Linh, nó lấy của của tôi một “khúc ruột.” Cho, Ðại Ðội Trưởng 114 báo cáo với Mễ.
– Hải, nói với lữ đoàn nó vào tuyến mình rồi.
– Tao… tao mệt… nói không nổi, Liệu giúp hộ…
Bác sĩ Liệu, to người, béo mập, đang khom lưng lẫy súng colt lạch cạch như trong phim cao-bồi, chớp ống liên hợp máy truyền tin.
– Dễ thôi, để tôi. Tụi nó cắm được một phần vỏ lạc của tôi. Liệu ề à với giọng tỉnh táo đùa cợt.
– Ông phải la lên mới được, đùa thế, ngoài ấy tưởng mình giỡn.
– Giỡn làm sao, không đùa như thế, chẳng nhẻ lại khóc lóc mếu máo sao? Ê… chạy đi đâu! Liệu quay nòng súng Colt về phía một anh lính đang nháo nhát chạy vào khu giao thông hào trung tâm.
– Đi ra, ông bác sĩ không bắn Mày thì tao bắn cho. Mày biết chết như thế nào? Mễ hét lớn với người lính… “Biết chết như thế nào!” Mễ cũng buồn cười vì lời nói của mình. Chết rồi, thì biết chó thế nào nữa? Ầm! Một trái bộc-pha nổ thật gần, bắn Mễ ngã ngữa người xuống. Mễ lồm cồm bò dậy, sờ lưng.
– Bác sĩ, chắc tao bị thương nặng! Mễ thều thào.
Liệu xoa tay lên lưng Mễ, thân áo rách lỗ chổ. Đếch có gì cả, mảnh nhỏ như bụi, vì ông yếu sức nên ngất thế thôi, đây là hậu quả những cú đấm của thằng Hennessy, Couvoisier trước kia!!
– C… giờ này mà mày còn trêu được!
– Stupid! Why you fire forty-five? Anh vố vấn trưởng, Thiếu Tá Duffy hét vào tai Liệu.
– I have only this. Mẹ mày, giờ này còn why với what. What cái cần câu ông ấy.
Một đợt, hai đợt, năm đợt, Bắc quân tràn vào, bị đẩy ra, lại tiếp tục tràn vào, chiếm được một đoạn giao thông hào, xong lấn dần từng đoạn.
– Không xong rồi, nó nhiều “tiền” quá! Hải lẩm bẫm.
Mễ nhìn Liệu, Hải, cố vấn trưởng Duffy. Tôi muốn ở lại! Mễ chắc giọng.
– Nó vào chỗ thằng 4, đang qua chỗ thằng 2, mình hết đạn. Dọt, tôi đề nghị. Hải khôn ngoan, dứt khoát.
– Phải, mình “ra” đi, ở đây chịu không nổi, tụi nó đông gấp mấy mình. Liệu tiếp theo. Chữ “ra” ráo hoảnh trống không.
Mễ im lặng, gở nón sắc ra khỏi đầu.
– No hesitation, the best way, sir? Duffy, Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, người quấn băng loang lổ máu khô, anh đã bị thương ba nơi trên thân, nhưng quyết ở lại với tiểu đoàn. Viên cố vấn, hiểu được phút giây nghiêm trọng đối với Mễ; lần đầu tiên anh gọi người cùng cấp bậc, một thiếu tá người Việt với danh xưng kính trọng, “sir”.
– Đồng ý, cho thằng 2 dẫn đầu, xong đến đại đội chỉ huy và thằng 4 bao chót. Hải, gọi máy qua thằng 3, bảo nó “nhổ neo” ra điểm hẹn này. Mễ chỉ một vùng tập trung ở hướng đông-bắc trên bản đồ. Bảo nó đi ngay, mang theo thương binh.
Lần đầu tiên trong đời tác chiến Mễ phải “chạy”, Mậu Thân, 1968, ở Huế, với đại đội chỉ còn ba mươi người, dẫu trùng trùng nguy khốn, Mễ vẫn điều quân phản công chiếm lại cổng thành Thượng Tứ. Nhưng, lần này, viễn ảnh toàn bộ tiểu đoàn bị tràn ngập, Mễ không còn cách nào khác hơn.
– Hướng đông-bắc, 800 ly giác, thằng 3 sẽ ra đó với mình. Hải chuyển lệnh cho Hùng “móm,” thành phần xung kích còn lại cuối cùng của đơn vị.
– OK, em nghe, em làm được cái một. Hùng “móm” vẫn ranh mảnh như không có chuyện quan trọng đang xẩy ra.
Đi xuống hoài, vực sâu hun hút, trời tối thẫm và cây rừng đan lưới. Chỉ tiếng lá khẽ động dưới bước chân cùng những thanh âm rên rỉ gầm ghìm trong cổ họng. Đoàn quân lẫn vào bóng đêm như muốn tan thành vật vô hình. Sau lưng họ trên đồi cao, C2 bốc lửa ngọn. Bom đã thả xuống khi người lính cuối cùng Ðại Ðội 1 ra khỏi vòng vây. Thương binh nặng và xác “anh Năm,” chuỗi cảnh tượng chập chờn chồng lên trí óc Mễ. Mệt, cảm giác rõ rệt nhất, ba ngày và đêm không ăn, ngủ, chỉ nhấp chút nước lã cầm hơi và cuối cùng, cuộc rút quân trong đêm. Đi nữa đi Hùng, đúng hướng rồi, cứ tiếp tục, phía mặt trời đó, bao giờ đến chỗ trống thì báo tôi. Nhớ liên lạc với thằng 3 ở phía trái, thấy mặt trời thì bảo. Mễ thì thào chuyển lệnh cho Hùng, Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 1.
Mặt trời chưa thấy, đêm còn dầy. Dầy từng khối lớn mông mênh và đặc cứng. Hình như đã đến đáy một “tan-véc”(khe nhỏ chạy giữa hai chân núi), chân bước lên lớp đất ẩm. Nước! Người lính đặt tay xuống “mặt nước.” Không có, chỉ một lớp lá ẩm mục và đất bùn, khe suối mùa, chưa có nước. Nhưng bàn tay có chút ẩm, người lính lè lưỡi liếm miếng nước vô hình đó.
Qua khỏi “tan-véc,” lên đỉnh đồi, thấy lại sau lưng ngọn lửa ở C2 bập bùng. Bạn bè ta còn đó, sống làm sao được hở trời? Mễ kiệt lực hỏi.
– Hải, khi chót mình để “anh Năm” ở đâu ?
– Ở giao thông hào, nơi hầm đại liên. Mễ và Hải chỉ nói với nhau được câu ngắn trong đêm. Nguy biến và rình rập vẫn còn rất nhiều. Sao trời chưa sáng nhỉ? Hùng, gắng đi mau hơn nữa, càng xa tụi nó càng tốt, giữ được súng và thương binh nhẹ như thế này cũng tạm coi như là “đẹp.” Đẹp, hình như Mễ cười chế riễu mình trong bóng tối. Thôi, đừng nghĩ gì nữa, cởi nón sắt cầm tay, bốn ngày đội hoài khối sắt trên đầu, khi cởi ra còn nguyên ảo giác của âm vang tiếng nổ lộng trong lòng chiếc nón kim khí. Mệt quá! Sống rồi! Hùng “móm” kêu một tiếng sảng khoái, bốc máy báo cáo cho Mễ, nhanh như chớp:
– Tôi thấy “nó” rồi phía tay trái tôi.
Mễ nhìn lên tàng cây, trời tím nhạt chưa có ráng nắng, nhưng ngày đã bắt đầu, trãng trống vùng tập trung đã gần đến. Thoát rồi chăng? Mễ tự tin nhưng cũng rất đầy kinh nghiệm: Nó phục mình ở đây nữa thì tan hàng!! Ý nghĩ kinh khiếp như một mũi dao cực bén cắm ngay đỉnh đầu.Mễ không dám nghĩ tiếp.
– Kêu thằng “Đỗ Phủ” đến tao Hải,

https://i0.wp.com/www.epoetryworld.com/clients/53741/3169593_org.jpgMajor John Joseph Duffy, senior advisor of the ARVN´s 11th airborne battalion
– Duffy come here. Viên thiếu tá cố vấn đang đi sau Hải và Liệu nghe kêu, mỉm cười bước lại. Ba lần bị thương, bốn ngày chiến đấu không ăn, ngủ, Duffy vẫn “cứng” như một khối thép, đầu đội mũ đi rừng, khẩu M-18 đặt ngang hông, tự tin và bình thản như một ý chí không lay chuyển. Tiên sư thằng cha này “dur” cả hồn lẫn xác, number one! Liệu nói với Hải khi Duffy qua mặt để lên gặp Mễ. Anh chàng hiểu ý, mỉm cười: Hello Doc! Trong phút chốc sự việc khủng khiếp của bốn ngày căng cứng như vụt tan đi. Nắng cũng vừa đến, nắng đầu tiên của ngày, lòng người lính duỗi ra theo độ ấm của vệt ánh sáng. Sống được rồi mừng biết bao nhiêu!
Đây nhé Duffy, vùng tập trung của mình, 113 bên trái, phe ta bên phải cùng “move” lên. Mình làm một cái LZ, xong “mày” gọi “Tây” đem máy bay tới móc mình ra, OK
– OK Do! “Đỗ Phủ” gật đầu lia lịa… Good. Very good, you’re the best commander! “Đỗ Phủ” đưa ngón cái lên ca tụng Mễ.
– Tao hay hơn nhiều, cú này bị “kẹt,” mày khen làm tao ngượng. Duffy không biết Mễ nói gì, cười rộng mồm, Mễ cười theo.
Rất cẩn thận, Mễ cho Hùng “móm” và Hùng “mập” cùng lên trãng trước. Hai cậu Hùng “bắt tay” nhau, làm thành vòng phòng thủ, phần còn lại của tiểu đoàn với đám thương binh “bò” lên tiếp. Xong rồi, khá an toàn, giữ được cái trãng là tốt, có đường thoát rồi.Duffy,có tàu bay chưa?
– OK! Ten minutes, sir!
Nhưng không còn “ten minutes” nào cho Tiểu Đoàn 11 nữa! Một trận mưa rào, mưa đầu mùa. Mưa bởi một rừng cối và sơn pháo từ những cao độ phía đông “tưới” xuống. Bắc quân tấn công bộ từ đông-nam lên. Không hầm hố, không đạn, mệt mỏi, đói khát của bốn ngày đã đến đỉnh cao nhất chịu đựng. Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù lăn lộn, cựa quậy hấp hối trên trãng cỏ tranh trơ trụi dưới lưới chụp đan dầy bởi lửa, khói và mảnh đạn thép. Hàng sống, chống chết! Hàng sống, chống chết! Bắc quân ào ào như nước lũ tràn đi qua con đê bị vỡ. Tiểu Ðoàn 11 tựa tình cảnh con báo kiệt lực bị vây khốn bởi một rừng ong cực độc!
Bây giờ là 8 giờ sáng của ngày 15 tháng 4/1972, Tiểu Đoàn Nhảy Dù mới tinh của Anh Năm, tiểu đoàn đã khoan thủng bức tường thép của cộng quân ở Damber; tiểu đoàn “nướng sống” hai tiểu đoàn của sư đoàn Điện Biên trên cứ điểm C. Thua. Thua đau đớn và thua vô lý! Đâu còn có thế để dựa vào. Đâu còn lực để đương cự?
Muốn đánh nhau phải có “thế” và “lực.” Thế đã mất ngay từ ngày đầu tiên khi bước xuống cao điểm với một nhiệm vụ “phòng thủ” quá mỏng manh thụ động, và lực nào còn nổi sau bốn ngày hay 156 giờ tác chiến căng thẳng trên các cao điểm nguy biến và thiếu thốn toàn diện. Hình như mọi người đều không ăn, uống kể từ ngày 12. Uống, nếu có chỉ là chữ gọi động tác “nhúng” chiếc lưỡi vào nắp bi đông ẩm ướt. Tan hàng! Những người sống sót còn lại tan biến vào rừng cỏ tranh.
…Charlie mất, Delta ở phía nam do Tiểu Ðoàn 7 Dù phải rút đi vì không chịu nổi cuộc cường tập kéo dài qua ngày thứ tư. Vòng đai Nhảy Dù tan vỡ dần như chuỗi dây xích nút đầu bị phá. Chỉ còn lại hai cứ điểm chót là Bravo và Metro ở trái, phải Võ Định. Nhưng Võ Định không thể là một điểm chiến thuật vững chắc khi cạnh sườn đã bị nhổ.
Ngày 24 tháng 4, phi trường Phượng Hoàng (tây Tân Cảnh), Tân Cảnh và hai căn cứ Diên Bình, Zuzu ở phía nam lần lượt tan rã. Võ Định không còn là một cứ điểm có khả năng kháng cự và Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn 2 đưa Tiểu Ðoàn 7 dần dần mở đường xuôi nam hướng Kontum. Kontum dưới ảnh hưởng của việc mất Tân Cảnh biến thành cảnh địa ngục với những trận đánh sát nách thành phố, như ở Đại Chủng Viện, khu phi trường. Những đơn vị đặc công Bắc quân với ám hiệu riêng: Tay áo cuốn lên quá cùi chỏ, quần xắn quá đùi, mảnh vải trắng buộc quanh vai, đã đột nhập vào những nơi trọng yếu của thị xã.
Công Trường 2 Cộng Sản sau khi dưỡng quân, vượt sông Pô-Kơ đánh vào sườn của Lữ Ðoàn 2 và các Chiến Ðoàn Biệt Động Quân. Hết, Lữ Ðoàn 2 Dù chỉ còn mỗi đường, các tiểu đoàn tự nương bảo vệ lẫn nhau rút về Pleiku. Lữ đoàn lại hết nhiệm vụ Vùng 2 để ra Vùng 1. Đường về Pleiku phải qua đèo Chu Pao đỉnh núi 953 trông xuống sông Dak Yeul với những cao độ thẳng đứng. Chỉ còn mỗi đường này là sinh lộ, nhưng sinh lộ phải qua điểm chết: Đèo Chu Pao.
Hai đại đội của Tiểu Ðoàn 7 Dù do Nguyễn Lô (tiểu đoàn phó) chỉ huy mở một đường đi qua điểm chết với chấp nhận tỷ lệ thiệt hại 50% quân số. Và cũng như bao lần của mười năm chiến trận, Lô mở được cửa ngõ về Pleiku, dân và quân theo đó rút đi. Rút đi khỏi địa ngục, vì Kontum không còn là thành phố sống, người dân thất thần dáo dác giành dựt nhau kiếm một chỗ trực thăng ở sân vận động. Giữa bụi mù và tiếng nổ đại pháo, cảnh người sống cuồng loạn đổ xô vào lòng trực thăng bất chấp tiếng súng thị oai của quân cảnh. Họ chen nhau như nước tràn qua đê vỡ để đến gần, đến gần hơn chút nữa ngưỡng cửa trực thăng, và lúc tay vừa chạm được khối sắt xám phủ bụi đỏ, chân cong lên sắp bước vào lòng của “hy vọng sự sống” thì một cơn sóng khác, đạp họ ngã xuống, kéo hút ra xa.

Kontum cháy ngọn lửa hồng lên cao hẳn khỏi rừng xanh. Chỉ còn mỗi hình ảnh bình yên nơi thành phố đang bùng lửa này là hàng phượng đỏ hoa gần câu lạc bộ ngã cành xuống mặt nước sông Dakpla mờ sương khói. Nhưng phượng cũng có màu đỏ. Màu của máu.

Một chiều qua Cửu Long

Mai Thảo

Tôi thức giấc vì một tiếng động nhỏ nhẹ. Trong đêm tối.

Trước mặt tôi là Cửu Long. Tiếng động dâng lên từ phía ấy. Thêm một tiếng động nữa. Rồi những âm thanh khởi đầu lẻ tẻ trở nên một sự xao động rì rào.

Buổi chợ đêm đã bắt đầu dâng lên. Phải rồi, đang dâng lên. Xanh biếc phảng phất. Chợ đi dần thành những bước thuỷ triều. Tôi chống tay ngồi dậy đón nhận những tiếng sóng đi và những tiếng thuyền đi. Một lát, rồi những âm thanh rõ rệt ấy cũng không thể phân định được nữa. Chỉ còn là Cửu Long đang bát ngát dâng lên, Long Xuyên đổ về, Châu Đốc đổ về. Miền xa về họp chợ đi toàn bằng những bước đi của Cửu Long.

Bắc Rạch Miếu, bờ Mỹ Tho (1969)

Khúc này là ngã ba sông Sao. Mỹ Tho ở phía tay trái cho tôi một hình ảnh nữa của phương hướng rộng thẳng. Đêm về sáng thoáng mát. Tôi tiếp nhận thêm một cảm xúc thoải mái xuôi dòng giữa sự dồn đổ trùng điệp rộng lớn. Trên bờ, cái bến Vàm Cống bé nhỏ cũng đã thức dậy như tôi.

Chợ họp rồi. Đèn lửa thấp thoáng. Ghe thuyền lũ lượt xuôi về. Từ bên kia vượt sang. Từ phía dưới đổ lên. Từ trên trườn xuống.

Một người đi sát qua tôi, xuống bến. Tôi ngồi dậy.

Anh bảo tôi.

“Chợ họp rồi đấy. Chẳng ngủ được nữa đâu. Anh xuống bến đón thuyền về cho vui”.

Tôi gập chăn đệm – Cửu Long lạnh – gấp lại ghế bố, đi theo anh xuống sát mặt nước. Chỗ này, người ta đã đốt lửa thật sáng đón thuyền về.

Những chiếc đầu đoàn đã ghé bến. Có tiếng hỏi:

“Nhiều không?”

Dưới nước đáp lên:

“Nhiều”.

“Gì thế?”

“Toàn trê thôi”.

Tôi sán lại, nhìn xuống một lòng ghe nhỏ thấp thoáng dưới ánh đuốc cháy. Cả lòng khoang đầy nước. Mặt nước sóng sánh ánh lửa. Nhiều sóng quá. Nhiều sóng quá. Những ngọn sóng của ngã ba, của giữa dòng về tới lòng thuyền rồi mà vẫn chảy lênh láng. Hình như nước vẫn còn sóng. Và những con sóng vẫn còn chảy. Mỗi khoang vẫn còn là một đời Cửu Long.

Một người đứng cầm gầu đang tát nước ra khỏi ghe. Tiếng nước đổ trả lại sông lớn, oà vỡ giữa hai bờ ghe đậu sát liền rồi tan đi. Nước lại trả về cho Cửu Long rồi. Tôi có cảm tưởng như chúng vừa được trả về tự do.

Khối nước vợi đi, những con cá bắt đầu hiện ra. Chúng nhiều vô kể và còn tươi nguyên. Tôi nghĩ rằng ở những đáy nước ngoài sông lớn, chúng cũng chỉ tươi khoẻ được đến như thế. Tôi cúi xuống vớt lấy một con trê nhỏ. Con cá nằm gọn trong lòng tay tôi, rồi tuột đi. Một tiếng quẫy mạnh. Tôi buông tay, nhìn xuống khoang ghe lắc lư nhè nhẹ theo triều sóng đập bờ. Nước vời vợi ánh sáng và bóng tối. Tôi nhìn xuống bầy cá. Chúng là một sự kiện đông đặc đang trườn lên, đang lách đi, đang chìm chìm nổi nổi.

Bây giờ thì cả đoàn thuyền đã trở về.

Lửa bến cháy thành hàng nghi ngút. Chợ đêm không rõ người mà chỉ đầy đặc những hình bóng. Tôi sống một cảm giác lẫn lộn. Sự lẫn lộn của một buổi chợ, của đám đông, của đất liền kề sát nước biếc. Bước chân tôi nhoà lẫn tiếng sóng đập. Cửu Long về trong tôi.

Tôi nhìn lên những vì sao. Chúng đổ xuống lòng nước thành những mảnh lân tinh nhỏ. Một vì sao đổ, những con thuyền tròng trành, tiếng sóng tiếng nước, những bầy cá tươi sống, tất cả âm thanh mầu sắc của buổi chợ đêm từ ngoài sông lớn dâng lên, vây lấy tôi.

Tôi đang sống đời sống của Cửu Long.

Bây giờ thì tất cả đoàn thuyền đang nhất loạt đổ cá lên bờ. Chợ vui lên đất thành hội. Từ lòng thuyền, cá đổ lên những thùng lớn. Nhiều vô kể. Trê, rô, bống, lươn, chan hoà trên khắp bến nhỏ. Dưới thuyền, trong thùng, trên những bàn tay, dưới đất, đâu đâu cũng chỉ là cá. Lớn, nhỏ, dài, ngắn đủ thứ. Nhiều con bị bỏ quên. Nhiều con bị giẫm lên.

Tôi lại gần một người đàn bà. Chị đang dọn cá.

Tôi bắt chuyện:

“Nhiều cá quá chị nhỉ?”

Chị nhìn tôi cười nói:

“Chuyện, đang mùa mà! Thế này là ít đấy chứ. So với mọi năm, đã thấm tháp gì đâu anh. Tháng sau, số cá về còn gấp đôi gấp ba nữa”.

Tôi ngẩn người. Mùa. Những bầy cá. Mùa. Tôi nghĩ đến những bông lúa. Ở đâu, mùa cũng dâng lên, những con cá bông lúa đầy ắp nườm nượp. Tôi nhìn ra dòng Cửu Long đen thẳm mênh mông. Trong tôi, dòng sông hiến dâng kia biến thành một vệt sáng chói, trong suốt. Lòng tôi lắng đọng dần trong một ý niệm về mùa. Thì ra con sông đàn anh này không chỉ là một vệt nước chảy, không chỉ là một khoảng biếc, không chỉ là một dòng sông. Đời Cửu Long còn là đời đất liền nữa. Hàng năm, chợ họp đêm trong ánh đuốc lửa và những con cá vớt khỏi lòng sông lớn đã là những nhánh lúa Cửu Long của một mùa Nam Việt phong phú như chưa từng thấy. Con sông là mùa cho những bến bờ là chợ. Cho những buổi chợ là hội.

Tôi đón nhận thêm một cảm giác tin tưởng nữa.

Người đàn bà còn đứng ở chỗ cũ. Tôi đến hỏi chuyện. Chị cho tôi biết thêm là năm nào mùa cá cũng khởi đầu từ tháng sau, tháng Bảy. Mãi đến tháng Tư, tháng Năm mới hết. Tháng Giêng tháng Hai là giữa mùa.

Chị cười:

“Giữa mùa thì chả có sức mà đánh lưới anh ạ? Đánh một phần cá nở ra gấp hai gấp ba. Hôm trước về nửa thuyền thì hôm sau về đầy thuyền. Cứ là mệt đưa đi các nơi”.

Tôi chỉ tay bảo chị:

“Chợ đêm đông ghê”.

Chị trề môi:

“Đông ma gì. Mới đầu mùa mà! Cá chưa đủ tháng. Chúng tôi đánh lưới cầm chừng thôi. Đợi cho cá đủ tháng, vừa được nhiều, cá lại khoẻ mới đưa đi xa được.

Tôi bỏ chị, đi xuống bờ sông. Chợ thưa vắng dần. Đoàn ghe nằm im lìm. Từ mặt Cửu Long hắt tới những tiếng sàn sàn nhẹ nhẹ. Tôi nhìn xa xa. Cửu Long chảy trước mặt tôi. Bên kia là Long Xuyên. Phía dưới là Châu Đốc. Tôi nhìn về mạn Mỹ Tho. Tôi đứng giữa nhiều ngả đường đất nước. Dòng sông lớn đen đặc bát ngát. Những vì sao lác đác đổ xuống. Bóng sao, bóng nước thấp thoáng. Tôi nghe thấy những tiếng động thầm. Những tiếng động nhỏ của những đời sống mãnh liệt. Tôi đang sống với xuôi băng với thao thao. Có những dòng suối. Có những đời đại dương nữa. Có những buổi chợ đất nước.

Đêm hôm đó, chợ tàn rồi, tôi còn thao thức đến sáng. Dòng Cửu Long hiện lên trước mắt tôi như một ngả đường. Tôi nghĩ đến một ngả đường cũ. Chúng nó đã cướp được. Tôi nhớ đến Hồng Hà. Tôi nhìn Cửu Long. Chúng nó chưa cướp được. Chúng nó sẽ không bao giờ cướp được. Từ Cửu Long, chúng tôi sẽ về đánh chiếm lại Hồng Hà. Để những buổi chợ đất nước lại được mở thành hội ở hai bờ sông.

Đêm Cửu Long tôi đã có được niềm tin của Hồng Hà.

Tôi nhìn lên. Trời sáng rồi. Chợ Cửu Long tàn dần trong bình minh.

Vàm Cống, 12-1954

Mai Thảo

Trích Đêm Giã Từ Hà Nội

http://hung-viet.org/p17a22412/mot-chieu-qua-cuu-long

Tản mạn câu thơ

Nguyễn Thị Thảo An

“Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”Nói về chiến tranh, Vương Hàn, một thi sĩ Trung Hoa thời xưa đã viết,

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”*

Cuộc chiến tranh nào rồi cũng cướp đi những người con ưu tú nhất của đất nước. Bây giờ thì xương máu của những người nằm xuống đã hòa quyện thành hồn thiêng sông núi.

Lịch sử đã khép lại, cuộc chiến Việt Nam lùi dần vào quá khứ. Những người lính ngày xưa giờ thăm lại chiến trường cũ chắc phải cất tiếng ngậm ngùi, “Sông kia rày đã lên đồng. Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.”**

Không một ai tiếc nuối chiến tranh, cái khắc khoải xót xa là tiếng thở dài cho thế sự. Nhìn lại nỗi oan khiên của bao nhiêu đồng đội đã ngã xuống, những hình ảnh đó hơn 40 năm sau vẫn còn là những vết hằn khắc sâu trong ký ức. Có phải cái gì chưa trả trong chiến tranh, hòa bình sẽ đòi lại hết. Hơn 40 năm qua, những chiến trường xưa vẫn hằng sống dậy như những khúc phim buồn.

Tác giả Đoàn Văn Tịnh

Đó là cái giá phải trả của những người còn sống. Một món nợ ân tình của những người đồng đội. Những người mang cái định mệnh trong câu thơ, “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”

Lấy ý thơ này, tác giả Đoàn Văn Tịnh đã đặt tựa đề cho tập hồi ký chiến trường “Xưa Nay Chinh Chiến… Mấy Ai Về”.

Tôi biết anh Đoàn Văn Tịnh không nhiều. Thỉnh thoảng gặp anh trong bộ quân phục TQLC trong những ngày lễ hội của người Việt tại địa phương. Chuyện trò qua loa nhưng để lại trong tôi nhiều ấn tượng. Có thể nói đây là một người lính tiêu biểu cho hình tượng một người lính Việt Nam. Bây giờ, với năm tháng đã đi qua nhưng trong bộ quân phục nghiêm chỉnh, tác phong anh vẫn nhanh nhẹn như vẫn còn tại ngũ. Đặc biệt nhất là ánh mắt đầy nghị lực, tiềm tàng một sức mạnh tinh thần khó gì lay chuyển. Đó chính là tính chất can trường của một người sĩ quan hết lòng vì đồng đội.

Mới đây, tôi rất ngạc nhiên khi được anh mời viết lời bạt trong cuốn hồi ký chiến trường. Lời bạt xin dành cho những vị niên trưởng của anh, tôi chỉ viết một vài cảm nghĩ khi đọc những dòng ký ức này.

Anh viết, “Sau 20 năm ngày tàn chiến cuộc, tôi mới có dịp viết về tiểu đoàn để tưởng nhớ những người bạn và em út cùng đơn vị đã nằm xuống…

Sự đóng góp xương máu cùng sự sống của các bạn cho một vùng quê hương quá đỗi bất hạnh có lẽ là niềm đau xót trong suốt cuộc đời còn lại của tôi.”

Nếu kỷ luật là sức mạnh của quân đội thì tình đồng đội chính là dòng máu luân lưu không ngừng giữa những người lính.

Nhưng tình đồng đội là gì? Nó không phải đơn thuần là tình bạn giữa những người cùng chung chiến tuyến. Có lẽ đối với những người dân sự khó mà hiểu được cái thứ tình cảm sống chết này.

Có lần, tôi tình cờ đọc tác phẩm Chiến Hữu của William Faukner. Đó là một cái truyện ngắn mà tôi không thể nào quên được. Truyện kể về một ông tướng quân đội Miền Nam Hoa Kỳ của cuộc nội chiến năm 1864. Sau khi thất trận, ông lui về nông trại với khẩu súng nhỏ tùy thân và một con ngựa chiến. Trở về làm nông nhưng ông không thiết tha gì với đồng ruộng, hàng ngày ông chỉ đắm mình trong rượu. Vì chỉ có rượu mới đưa ông trở về với chiến trường xưa. Mà chiến hữu của ông bây giờ chỉ còn đơn độc một con ngựa cũ. Mà con ngựa bấy giờ hình như cũng giống ông, nó thường chúc đầu xuống để cất giấu một nỗi buồn. Mỗi lần thấy ông, mắt nó sáng lên, gõ chiếc vó đã mòn lộp cộp như ra dấu. Ông rất hiểu nó, ắt nó cũng đang nhớ về cái thời cùng ông xông pha qua trận mạc, nơi vó câu không chạm đất. Họ là đôi bạn đã cùng vào sinh ra tử, cùng ngửi chung một mùi thuốc súng khét lẹt của chiến trường và đánh hơi được mùi máu thoảng pha trong gió. Ông từng tiếc, giá lúc đó mà ông chết, thì cái chết sẽ đẹp biết bao.

Chính nó, sẽ là kẻ duy nhất nhìn thấy ông trong giây phút sau cùng. Bây giờ thì cả hai, người và ngựa có chung một quá khứ. Cuộc sống của họ bây giờ chỉ là sự hồi tưởng. Có những đêm trăng, người ngựa tề chỉnh, họ âm thầm băng qua những cánh đồng loang loáng nước, chiến trận diễn ra êm đềm như quá khứ tái hiện trong phim. Khi mặt trời lấp ló, người ngựa lững thững trở về trên con đường làng như những người thất trận…

Tình đồng đội giữa người và ngựa kết thúc ở chương cuối. Khi con ngựa cái đẻ cũng chính là lúc đứa con của ông ra đời. Ông quyết định dọn xuống chuồng ngựa ở để tự tay chăm sóc cho nó. Đoạn văn sống động nhất là ở chương này. Tiếng thở phì phò gấp rút của con ngựa cái khi lâm bồn, cái trăn trở chật vật của nó làm mồ hôi trên trán ông rịn ra nhỏ giọt. Hơi thở và nhịp tim của ông cũng trở nên loạn xạ như chính ông lên bàn mổ. Giữa giờ phút căng thẳng đó, cửa chuồng ngựa hé mở. Người quản gia cũng chính là cha vợ ông xuất hiện, tay giữ một khẩu súng giấu trong túi áo,…”

Williams Fauker ngừng ngay chỗ đó. Người ta không biết kết thúc của câu chuyện.

Nhưng điều mà tác giả muốn nói là cái lớn nhất trong tình bạn chính là tình đồng đội.

Trong tác phẩm “Xưa Nay Chinh Chiến… Mấy Ai Về”, điểm nổi bật nhất là tình đồng đội. Câu chuyện bắt đầu sau chiến tranh, ngay sau khi ra tù đến cơ duyên thúc đẩy tác giả trên hành trình truy tìm tung tích của những đồng đội đã mất tích sau “Trận Chiến Cuối Cùng”. Đoạn ký ức vẫn rõ ràng như chuyện mới hôm qua,

“Trong những phút ngắn ngủi còn lại sau cùng trên bãi biển Non Nước Đà Nẳng, tôi đã gọi Trung tá Đỗ Hữu Tùng:

– Thái Dương đây,Tân An.

– Nghe, Tân An tốt, tới đâu rồi?

– Trình Đại bàng, chúng tôi tới được bên này sông Hàn.

– Tốt, anh có gặp một Tiểu đội của Hà Nội (danh xưng cuả Thiếu tá Hợp ) đón ở đó không?

– Không.

Tôi nghe tiếng nói của anh Tùng trong ống liên hợp và chiếc loa nhỏ gắn trên máy PRC-25 không được rõ ràng, lẫn lộn với một loại âm thanh thực quen thuộc, hình như tiếng cánh quạt của trực thăng hay tiếng sóng biển vỗ vào mạn tàu.

– Thái Dương đang ở đâu, trên máy bay hay trên tàu thủy?

– Sao Tân An lại hỏi vậy?

– Vì tôi nghe tiếng quạt đập gió hay tiếng oằm oặp của sóng.

– Không tàu cũng chẳng máy bay, đó là tiếng sóng vỗ bên bờ biển.

Tôi nghe tiếng la rất lớn của Trung tá Phúc:

– Cho Tân An ngay tần số của Hợp và Hợp có bổn phận đón Tiểu đoàn 9.

– OK,OK. Tân An đây Thái Dương, hãy ghi xuống tần số này và liên lạc với Hà Nội, để Hà Nội thu xếp đón TĐ9 lên tàu.

– Đáp nhận Đại bàng 5.

– Chúc may mắn…Ầm… bỗng tôi nghe trong máy một tiếng nổ rất lớn, cắt ngang tiếng nói của anh Tùng…và chấm dứt cuộc đối thoại. Chấm dứt tất cả…Niên trưởng, niên trưởng không còn gì hết, chẳng còn ai đón đơn vị em được nữa đâu, cám ơn các niên trưởng đã lo lắng, xin nguyện cầu các anh luôn an vui nơi chốn hư vô. Kể từ giờ phút đó, chúng tôi đã mất hẳn liên lạc với NT Tùng và NT Phúc.

Tiếng nổ định mệnh giữa trưa ngày 29/3/1975

Đã bao nhiêu năm tháng qua rồi, cũng đã bao lần vật đổi sao dời, nhưng bên tai tôi hình như vẫn còn nghe cái âm thanh khủng khiếp của tiếng nổ ngày đó, tôi thầm nhủ, những người đàn anh mình đã giã từ cuộc sống vì tiếng nổ oan nghiệt này, có phải không ? Tôi cố tìm, cố biết. Nên mỗi khi có dịp về tham dự các Đại hội TQLC tôi thường lần mò tìm kiếm tin tức qua những người quen, bạn bè.”

Những đoạn kể về cuộc tìm kiếm thi hài của gia đình những người lính cho tới giờ vẫn chưa kết thúc. Đó là gia đình chị Liên, chị Hoàng,…

Hành trình tìm kiếm hai vị này bất ngờ lại tìm ra hài cốt của hai người lính tuẫn tiết trong “Trận Chiến Cuối Cùng” của Tiểu đoàn 9 TQLC ở chủng viện Non Nước, Sơn Trà. Đó là Thiếu úy Nguyễn Viết Hùng mới ra trường và người lính đệ tử của anh. Sau khi bắn hết đạn, hai người lính chọn lấy cái chết.

Sự tuẫn tiết của 2 người lính này kiêu hùng như một trang huyền sử. Thái độ ung dung chọn cho mình một cách chết.

Một kết thúc làm tôi bần thần. Sự sống là thứ quý nhất trên đời. Tham sống, sợ chết là bản năng của muôn loài.

Sức mạnh nào khiến họ vượt qua bản năng của con người để ung dung chọn lấy cái chết? Phải chăng chỉ có con người mới có ý thức từ chối sự sống của tạo hóa ban cho? Có phải con người đứng trên muôn loài chỉ vì cái quyền chọn lựa cho mình giữa sống và chết.

Nhưng chết thì dễ, sống mới khó. Nhất là sống trong khổ nạn, nhục nhằn, đày đọa. Đó là cuộc chiến sinh tử trong bóng tối mà người lính chỉ còn một vũ khí duy nhất đó là ý chí. Ở chiến trường người ta tiêu phí súng đạn, nhưng ở trong tù cái tiêu phí được chỉ có thời gian. Cái chiến thắng là sự sống sót để trở về. Mặc dù trở về chỉ để,

“Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ,

Nghe tàn cát bụi tháng năm bay.”***

Tháng năm bay và tuổi trẻ cũng bay.

Thời gian cuốn nhanh như một cơn lốc, trong đó người lính sẽ không bao giờ chết, họ chỉ rút lui vào quá khứ, ẩn mình đi trong giòng lịch sử của dân tộc.****

Xin chúc mừng tác phẩm, “Xưa Nay Chinh Chiến Mấy Ai Về”. Cuối cùng, tác giả đã trả được một món nợ ân tình với những người đồng đội đã ngã xuống một thời.

Nguyễn Thị Thảo An

Atlanta, Oct. 2, 2015

Nguồn Trẻ

*Trích bài Lương Châu Từ của Vương Hàn (Đường Thi Trung Hoa)

**Bài thơ Sông Lấp của Trần Tế Xương

***Bài Thơ Ta Về của Tô Thùy Yên

****Trích ý từ câu “Old Soldier Never Die,…” của Mac Arthurs (Hoa Kỳ)

Trận hải chiến Hoàng Sa và nước mắt của vị Tư Lệnh Hải Quân

https://i1.wp.com/vnafmamn.com/NAVYphoto/HQVN65.jpg

Vào những ngày cuối năm Qúy Mão (tháng 1- 1974), tình hình chiến sự giữa ta và Việt Cộng hơi tạm lắng dịu ; ở nội địa như thế, nhưng ngoài quần đảo Hoàng Sa (HS) bọn Trung Cộng (TC) đã có hành động xâm lấn lãnh thổ của ta.
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/untoldpage/HoangSa2.gif

Ngày 15-1-1974 Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 của Hải Quân VNCH khởi hành ra HS. Chiến hạm chở theo phái đoàn Công Binh của Quân Đoàn I có nhiệm vụ khảo sát và nghiên cứu để xây một phi trường cho loại phi cơ vận tải cở nhỏ có thể đáp và cất cánh. Phi trường được dự trù xây trên đảo Hoàng Sa (Pattle) là đảo lớn nhất trong nhóm Nguyệt Thiềm thuộc quần đảo HS. Trên đảo này hiện có một Trung đội Địa Phương Quân của Tiểu khu Quảng Nam trấn giữ và có vài nhân viên điều hành đài khí tượng trực thuộc Nha Khí Tượng ở Sài Gòn.
https://i2.wp.com/www.vietlist.us/Images_history/ch_hq16.jpg

Sau khi HQ 16 đưa toán Công Binh lên đảo thi hành nhiệm vụ, chiến hạm tuần tiểu chung quanh trong khi chờ đợi toán người này hoàn tất công tác sẽ đón họ trở lại tàu quay về Đà Nẵng. Trong khoảng thời gian này, nhân viên đi phiên của HQ 16 đã phát hiện có 2 tàu TC nằm gần đảo Cam Tuyền (Robert).

Thoạt đầu, họ tưởng là tàu đánh cá của Đài Loan, nhưng khi tiến lại gần thấy rõ tàu mang cờ TC. HQ 16 đánh đèn và yêu cầu họ rời khỏi hải phận của VNCH, nhưng tàu TC vẫn không nhúc nhích. HQ 16 bèn dùng loa phóng thanh và xử dụng nhân viên gốc Trung Hoa biết nói tiếng Tàu để báo cho 2 tàu TC biết đây là lãnh thổ của VNCH, nhưng cũng không đạt được kết quả. Sau đó HQ 16 tiếp tục di chuyển về hướng Đông và quan sát thấy trên đảo Quang Hòa (Duncan) có đài quan sát và lính TC mặc quân phục đã chiếm đóng đảo không biết từ lúc nào.

Tất cả mọi việc xảy ra đã được HQ 16 báo cáo về TTHQ/HQ/VIDH và nơi đây đã lập tức báo cáo về Bộ Tư Lịnh Hải Quân (BTL/HQ). Ngay sau đó BTL/HQ ra lịnh Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 tăng phái cho VIDH để nhận chỉ thị lên đường ra HS và HQ 4 đến vùng hoạt động ngày 17-1.
https://i2.wp.com/i226.photobucket.com/albums/dd230/buithanh62/HQ-5-TranBinhTrong.jpg

Cũng trong ngày 17-1, Tư Lịnh Hải Quân VIDH chỉ thị HQ 10 và HQ 5 khởi hành công tác HS. Khi đi HQ 5 có chở theo HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc cùng toán Biệt Hải của Sở Phòng Vệ Duyên Hải và toán Người Nhái thuộc Liên Đoàn Người Nhái. Nhiệm vụ của HQ 5 và HQ 10 là để tăng cường cho HQ 4 và HQ 16.

Sáng ngày 18-1? (1), Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu viếng thăm BTL/VIDH. Tổng Thống Thiệu đã được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại TL/VIDH thuyết trình về tình hình quần đảo Hoàng Sa hiện có tàu và quân lính TC xuất hiện.

Sau khi nghe thuyết trình, Tổng Thống Thiệu rời BTL/VIDH để tiếp tục chương trình thăm viếng Vùng II Chiến Thuật.

Sáng ngày 19-1, thi hành lịnh hành quân của TL/VIDH, Đại Tá Ngạc chỉ thị cho toán Người nhái và toán Biệt hải đổ bộ lên đảo Quang Hòa đang có quân TC chiếm đóng để yêu cầu bọn chúng rời khỏi đảo và xem phản ứng của chúng như thế nào. Nhưng khi lực lượng ta tiến vào đảo đã bị chúng nổ súng trước (chúng có công sự chiến đấu) và bên ta có 2 người tử thương. Toán đổ bộ nhận được lịnh rút lui trở về chiến hạm.

Cũng trong lúc này, từ Đà Lạt Tổng Thống Thiệu gọi điện thoại về TTHQ/HQ/VIDH hỏi:” Tình hình Hoàng Sa như thế nào rồi ?” TL/HQ/VIDH Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trả lời trực tiếp với Tổng Thống Thiệu:” Ta đổ bộ lên đảo có quân TC đã bị chúng bắn trả gây cho ta 2 tử thương” liền theo đó Tổng Thống Thiệu hỏi:”Như vậy Hải quân đã làm gì chưa?” Câu hỏi ngắn gọn của Tổng Thống Thiệu đã đưa Đô Đốc Thoại đến quyết định khai hỏa.

Lúc 10 giờ sáng ngày 19-1-1974, TL/VIDH ra lịnh khai hỏa cho Đại Tá Ngạc, sau đó Đại Tá Ngạc phân phối nhiệm vụ các chiến hạm như sau: HQ 10 tác xạ lên đảo có quân TC (đảo Quang Hòa), HQ 4, 5 và 16 tác xạ vào các chiến hạm địch. Lịnh khai hỏa đã không được thi hành ngay lập tức vì Đại Tá Ngạc cứ xin thượng cấp xét lại chỉ thi với lý do là tàu của địch tốc độ nhanh, hỏa lực mạnh trong khi tàu của ta tốc độ chậm, hỏa lực kém.
http://www.aihuubienhoa.com/images/upload/Article/2013/Thang_1/Ho_Tong_Ham_Nhut_Tao_HQ_10__TVQ_Collection-large.jpg

Xét tới xét lui, cuối cùng TL/VIDH dứt khoát là không cứu xét nữa và yêu cầu Đại Tá Ngạc phải ra lịnh khai hỏa.

10 giờ 25 phút, các chiến hạm ta đồng loạt khai hỏa. Ngay lập tức TTHQ/HQ/VIDH gọi qua TTHQ/Sư Đoàn I/KQ yêu cầu cho phi cơ F5A bay ra HS (đã được Chuẩn Tướng Khánh Tư Lịnh SĐI/KQ chấp thuận từ trước) nhưng đã được trả lời là phi cơ F5A không thể chiến đấu ở HS vì F5A chỉ đủ nhiên liệu bay ra và bay về, không đủ nhiên liệu bay quần trên không.

Vào lúc giữa trưa, Tư Lịnh Hải Quân Đề Đốc Trần Văn Chơn vào TTHQ, HQ 5 báo cáo về TTHQ kết quả sơ khởi HQ 10 bị bốc cháy và đang chìm, khoảng 70 thủy thủ đoàn của HQ 10 chết ngay lúc ban đầu trong đó có Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà, Hạm Phó Nguyễn Thành Trí bị thương nặng. Thủy thủ đoàn còn lại đang đào thoát bằng 4 bè tập thể. Về phía địch có 1 tàu bốc cháy.

http://ubhoangsa.org/doc_public/hai-ch16.jpg

Nghe tin xấu về HQ 10, Đô Đốc Trần Văn Chơn quá xúc động, ông gục đầu vào máy KW 58 nước mắt chảy dài.

Cũng trong thời gian này, Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Đà Nẵng gọi qua TTHQ khuyến cáo nên ra chỉ thị cho các chiến hạm của ta trở về Đà Nẵng kẻo phi cơ MIG 21 và MIG 23 của TC cất cánh từ đảo Hải Nam sẽ oanh tạc đánh chìm .

Được tin này TL/HQ ra lịnh HQ 4, HQ 5 và HQ 16 rời HS trở lại Đà Nẵng.
https://i2.wp.com/vnafmamn.com/untoldpage/HQ4b.jpg

Tại trận chiến, chỉ còn lại HQ 10 đang từ từ chìm. Số thủy thủ đoàn xuống 4 bè đào thoát đang xuôi theo dòng nước, trong đó có Hạm Phó Nguyễn Thành Trí. Vì vết thương quá nặng và không được băng bó kỷ lưởng nên máu từ vết thương của HP chảy ra hoài và cá mập cứ theo bám sát phía sau bè. Có lẽ biết trước là sẽ không sống thêm được bao lâu nữa nên HP Nguyễn Thành Trí đã bảo các nhân viên trên bè :” hãy thả tôi xuống biển, nếu không cá mập cứ bám theo, các anh cũng sẽ chết hết.” Và ông đã hy sinh ngay trong đêm đầu tiên trên biển, các nhân viên đã đợi đến sáng để làm lễ thủy táng cho vị Hạm Phó của họ. (2)

Các bè vẫn tiếp tục trôi theo dòng nước, mặc dù các chiến hạm tuần tiểu ngoài khơi và phi cơ quan sát của Không quân cố gắng tìm kiếm , nhưng chẳng có kết quả.

Sau hơn 4 ngày trôi dạt trên biển Đông, các chiến sĩ HQ 10 đã được một thương thuyền Hòa Lan cứu vớt ngoài khơi Đà Nẵng và cũng vì hành động nhân đạo này vị Thuyền Trưởng và thủy thủ đoàn đã được chánh phủ VNCH trao tặng huy chương Nhân Dũng Bội Tinh.
https://i2.wp.com/vnafmamn.com/untoldpage/HoangSa_chinese.jpg

Trận hải chiến đã mấy mươi năm trôi qua , quần đảo Hoàng Sa vẫn còn trong tay giặc phương Bắc, mặc dù lúc bấy giờ ta đã quyết tâm chiến đấu nhưng cũng không giữ được. Trong trận hải chiến, hải quân VNCH đã ở thế bất lợi vì địa thế xa hậu phương, các chiến hạm của ta do Hoa Kỳ viện trợ đã được xử dụng từ đệ nhị thế chiến nên tốc độ chậm. hỏa lực kém. Dù biết thế nhưng chúng ta cũng phải đánh để chiếm lại lãnh thổ đã bị TC cưỡng chiếm và để thi hành quân lịnh.

Trận hải chiến này đã nói lên vài điểm chính yếu dưới đây :

– Đã chứng tỏ cho thế giới thấy tinh thần chiến đấu của quân lực VNCH nói chung và Hải Quân nói riêng không phải như một vài giới chức có tước quyền của người bạn đồng minh Hoa Kỳ thời bấy giờ cho là quân đội ta thế này thế nọ. Họ chỉ nhìn vào một số binh sĩ vô kỷ kuật, một nhóm Sĩ Quan mất tác phong, kém đạo đức và một vài vị Tướng lãnh bất tài, hèn nhát, tham nhũng mà vội kết luận xấu về QL/VNCH.

– Đã cho thấy là Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng đã vì lá cờ đỏ búa liềm mà vô lương tâm ký văn kiện nhượng đảo Hoàng Sa cho bọn Trung Cộng.

– Đã chứng tỏ cho tất cả chiến sĩ Hải Quân VNCH thấy được tình huynh đệ chi binh qua những giọt nước mắt của vị Tư Lịnh Hải Quân đã nhỏ xuống khi nghe tin Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 chìm.

– Đã cho thấy sự hy sinh cá nhân để cho đồng đội được sống còn ( Hạm Phó Nguyễn Thành Trí bảo nhân viên thả mình xuống biển).

HQ Đại Úy Lê Văn Thự Trung Tâm Trưởng TTHQ Vùng I Duyên Hải 1973-1975.

CHÚ THÍCH:
– (1) tôi không nhớ chính xác về ngày giờ Tổng Thống Thiệu đến VIDH
– (2) theo lời thuật lại từ các nhân viên HQ 10 sau khi họ được đưa về Đà Nẵng.
Lời mở đầu:
Tài liệu này đã được viết và phổ biến hạn chế đến một số bạn hữu tại Yukon, tiểu bang Oklahoma Hoa Kỳ vào năm 1997. 
Trước khi gởi đến website để nhờ phổ biến, tôi đã xem lại và sửa đổi một vài chi tiết.
Tôi viết tài liệu này dựa trên những gì tôi còn nhớ khi đảm nhận chức vụ Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân Vùng I Duyên Hải trong thời gian xảy ra biến cố Hoàng Sa. 
Ngày 19-1-1974 tôi đã có mặt thường trực tại Trung Tâm, vì vậy nên những câu trao đổi giữa Tổng Thống Thiệu và Đô Đốc Thoại tôi vẫn còn nhớ cũng như hình ảnh của vị Tư Lệnh Hải Quân gục đầu rơi nước mắt khi nghe tin HQ 10 bị chìm tôi không bao giờ quên.
Ngoài ra lời kể lại từ các chiến sĩ đào thoát trên HQ 10 khi trở về Đà Nẵng về cái chết của người bạn cùng khoá với tôi là cố HQ Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí vẫn còn in sâu trong trí nhớ tôi.

http://www.aihuubienhoa.com/p124a3285/6/tran-hai-chien-hoang-sa-va-nuoc-mat-cua-vi-tu-lenh-hai-quan-le-van-thu

Tháng giêng ra biển Đông ngồi nhớ, hải chiến Hoàng Sa “hận ngút trời”

MƯỜNG GIANG

“Hinh các quân nhân TQLC đang nhận trách nhiệm trấn giữ Trường Sa và Hoàng sa thời gian 1957. Đất  này là của chúng ta và được TQLC trấn giữ  trong thời TT Ngô Đình Diệm.” GVN

          Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chính sử cũng như những tài liệu của ngoại quốc như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, Hoàng Việt địa dư chí thời vua Minh Mạng, Quảng Ngãi tỉnh trí của các Tuần Vũ Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Đình Chi, Quảng Ngãi nhất thống chí của Lê Ngại.đều đề cập tới và xác nhận đó lãnh thổ lâu đời của Đại Việt. Với các tác phẩm ngoại quốc, có nhiều thiên ký sự của các giáo sĩ Thiên Chúa trên tàu Amphitrite, viết năm 1701, của Đô Đốc Pháp tên là D’Estaing viết năm 1768 rằng ; “Sự giao thông giữa đất liền và các đảo Paracel (Hoàng Sa) rất nguy hiểm, khó khăn nhưng Người Đại Việt chỉ dùng các thuyền nhỏ, lại có thể đi lại dễ dàng.” Nhưng quan trọng nhất, là tác phẩm viết về Hoàng Sa của Đổ Bá tự Công Đạo, viết năm Chính Hòa thứ 7 (1686), trong đó có bản đồ Bãi Cát Vàng : “ Đảo phỏng chừng 600 dặm chiều dài và 20 dặm bề ngang. Vị trí nằm giữa cửa Đại Chiêm và Quyết Mông. Hằng năm vào cuối mùa đông, các chúa Nguyễn Đàng Trong, cho Hải Đội Hoàng Sa gồm 18 chiến thuyền đến nơi tuần trú.” Năm 1776, trong tác phẩm “Phủ Biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đã viết một cách rõ ràng : “Trước đây, các Chúa Nguyễn đã đặt Đội Hoàng Sa 70 suất, tuyển lính tại Xã An Vĩnh, cắt phiên mỗi năm vào tháng 2 ra đi, mang theo lương thực 6 tháng. Dùng loại thuyền câu nhỏ, gồm 5 chiếc, mất 3 ngày 3 đêm, từ đất liền tới đảo.”

          Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của VN ngay khi người Việt từ đàng ngoài tới định cư tại Phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi vào khoảng thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Hai quần đảo trên nằm ngoài khơi Đông Hải : Hoàng Sa ở phía bắc và Trường Sa nằm về cực nam gần Côn Đảo.

QUẦN ĐẢO HOÀNG SA :

https://i1.wp.com/www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/PARACELS-Final2012b_ThemSonHa_july18_2012.jpgcompiled by Thềm Sơn Hà (2013)

           Nằm giữa hai kinh tuyến đông 111-112 độ và vĩ tuyến bắc 15 độ 45 – 17 độ 05. Đây là một chuỗi đảo gồm 120 hòn lớn nhỏ nhưng qui tụ thành bốn nhóm chính. Muốn tới đảo, nếu khởi hành từ Đà Nẵng, bằng tàu của Hải quân phải mất 10 giờ (chừng 170 hải lý), theo hướng 083. Bốn nhóm đảo chính là :

– NHÓM NGUYỆT THIỀM (CROISSANT) : gồm các đảo Cam Tuyền hay Hữu Nhật (Robert), hình tròn, diện tích là 0 km 2032, là đảo san hô nên có nhiều phốt phát. Toàn đảo chỉ có chim hải âu trú ngụ , tuyệt nhiên không có bóng người. Đảo Quang Hòa Đông (Duncan), diện tích 0 km2 48, phía đông đảo là rừng cây phốt phát và nhàn nhàn, phía tây toàn san hô là nơi trú ngụ của chim hải âu. Đảo Quang Hòa Tây (Palon Island) , hình tròn, diện tích 0km241, trên đảo toàn cây nhàn nhàn và phốt phát , đảo toàn san hô chỉ có chim ở. Đảo Dung Mộng (Drummond) hình bầu dục, diện tích 0km241, toàn đảo chỉ có nhàn nhàn và phốt phát. Giữa đảo có một vùng đất rộng, thời Đệ 1 Cộng Hòa trước tháng 11-1963, Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến trấn đóng tại đây để bảo vệ lãnh thổ. Hiện trên đảo vẫn cò hai ngôi mộ lính VNCH và 3 ngôi mộ cổ khác với mộ bia viết bằng chữ Hán.

          Trong số này quan trọng nhất vẫn là đảo Hoàng Sa (Pattle) có hình chữ nhật, chu vi 2100m, diện tích 0km230. Đảo nay đã được khai phá từ lâu đời, nên có nhiều công trình kiến trúc như Đồn quân trú phòng, Sở khí tượng, Hải đăng và cầu tàu để các chiếm hạm Hải quân/VNCH cập bến. Trên đảo có một ngôi miếu cổ thờ Bà Chúa Đảo và do một Trung đội Địa Phương Quân thuộc Tiểu Khu Quảng Nam trấn đóng.

          Đảo Vỉnh Lạc hay Quang Ảnh (Money) nằm biệt lập không thuộc nhóm đảo Nguyệt Thiềm, hình bầu dục, diện tích 0, 50 km2. Trên đảo toàn nhàn nhàn, phốt phát và một loại cây cao trên 5m, có trái như mít. Toàn đảo không có người ở.

          Đảo Linh Côn (Lincoln) cũng năm biệt lập và đã bị Đài Loan cưỡng chiếm vào tháng 12-1946 khi Trung Hoa Dân Quốc, được lệnh LHQ tới đảo giải giới quân Nhật đang trú đóng trên đảo.

– NHÓM TUYÊN ĐỨC (AMPHITRITE) : cũng bị Đài Loan chiếm năm 1946, nằm về phía bắc đảo Hoàng Sa, gồm 16 đảo nhỏ , trong số này quan trong nhất có đảo Phú Lâm (Woody Island) , dài 3700m, rộng 2800m. Trên đảo có nhiều cây ăn trái như dừa, được Nhật Bổn khai thác phốt phát từ thời Pháp thuộc. Năm 1950, Trung Cộng đánh đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan, chiếm lục địa và luôn các hải đảo của VN, xây phi trường, làm đường xá, lập căn cứ quân sự. Đây là nơi giặc Tàu phát xuất, tấn công chiếm các đảo của VN sau này.

QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA :

           Gồm chín đảo lớn nhỏ, nằm giữa hải phận của các nước VN, Phi Luật Tân, Srawak. Trong số này đảo lớn nhất là Trường Sa (Sparley) , dài 700m, ngang 200m, nằm ở kinh tuyến 114 độ 25 và vĩ tuyến 19 độ 10 bắc. Đảo cấu tạo bởi san hô, có nhiều hải âu trú ngụ, đẻ trứng rất to. Trên đó có nhiều loại cây ăn trái vùng nhiệt đới như dừa, bàng, mù u, nhàn nhàn, rau sam

https://i1.wp.com/www.nguyenthaihocfoundation.org/images/lichsuVN/SPRATLY-ThemSonHa-July18-2012.jpgcompiled by Thềm Sơn Hà (2012)

ĐỘI HOÀNG SA :

          Theo sử liệu cũng như nhân chứng, thì buổi trước, Đội Hoàng Sa tập trung tại Vươn Đồn, để luyện tập cũng như sửa chữa thuyền bè và nhận lệnh thượng cấp. Trước khi xuất quân, Đội đến Miếu Hoàng Sa tế lễ. Đây là một ngôi nhà gồm 3 gian, làm bằng gỗ tốt, lợp tranh dầy, mặt Miếu quay ra cửa Sa Kỳ, trước có 2 cây gạo cổ thụ. Trong Miếu thờ Một Bộ Xương Cá Ông rất lớn. Theo người địa phương, hơn 300 năm về trước, Ông lụy tại Hoàng Sa, nhưng đã được Hải Đội dìu về đất liền. Sau ba năm chôn cất, những người lính, thỉnh cốt vào thờ trong Miếu . Từ đó về sau, hằng năm vào tháng 6, khi những người lính, mãn phiên từ Hoàng Sa trở về, dân làng tổ chức cúng lễ tại Miếu, gọi là “Đánh Trống Tựu Xôi”.

          Từ thị xã Quảng Ngãi, qua cầu Trà Khúc, bỏ quốc lộ 1, rẽ vào quốc lộ 24B, ngang qua Làng Sơn Mỹ dưới chân Núi Thiên Ấn, chừng 5 km, thì rẽ vào một con đường đất đỏ, chạy giữa sông Kinh và rừng dương sát biển. Đó là xã Tịnh Kỳ, thuộc Huyện Sơn Tịnh, nơi khai sinh Hải Đội Hoàng Sa, khoảng mấy trăm về trước, thời các Chúa Nguyễn, Nam Hà, thuộc Đại Việt. Theo Quảng Ngãi địa dư chí, vùng đất này, trước năm 1898 thuộc trấn Bình Sơn. Năm Thành Thái thứ 10, tách ra thành 2 Huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh.. Sau tháng 8-1945, khu Tịnh Kỳ được hoàn thành bởi ba xã An Kỳ-An Vịnh và Kỳ Xuyên. Xưa vùng này là một cù lao, nằm cách đất liền, phải dùng ghe vào các bến Mỹ Khê, Chợ Mới, Sa Kỳ hay xa hơn là Thị Xã Quảng Ngãi và các Thị Trấn Ba Gia, Đồng Ké, Sông Vê, Ba Tơ. Từ năm 1993, qua việc xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất nên hải cảng Sa Kỳ đã được mở rộng, đồng thời với con đường , chạy từ cầu Khê Kỳ, qua Cửa Lở tới Kỳ Xuyên. Có lẽ do địa thế sông nước bao quanh, nên từ mấy trăm năm về trước, Các Vị Chúa Nguyễn đã chọn An Vĩnh làm căn cứ , đặt Hải Đội Hoàng Sa, với nhiệm vụ bảo vệ hải đảo, cũng như khai thác các tài nguyên ngoài Đông Hải. Đình làng An Vĩnh trước đây rất đồ xộ, là nơi Xuân thu nhị kỳ cúng tế những người lính Hoàng Sa, nay đã đổ nát, chỉ còn lại Chiếc Cổng Tam Quan. Điều này đủ để minh chứng với thế giới, việc Quần Đảo Hoàng Sa-Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Đại Việt. Người Tàu chỉ ỷ vào sức mạnh và tờ văn khế bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958, để cướp chiếm nước ta, như sau này chúng đã làm tại biên giới Việt Trung và Lãnh Hải trong Vịnh Bắc Việt.

          Ở đây, hiện còn nhà thờ Cai Đội Phạm Quang Ánh, là người được Vua Gia Long cử ra Hoàng Sa năm 1815, đo đạc, khảo sát lộ trình và tổ chức Hải Đội. Ông được nhà Nguyễn phong chức Thượng Đẳng Thần khi mất. Tóm lại, từ thời các Chúa Nguyễn (1558-1783), nhà Tây Sơn (1788-1802), Nhà Nguyễn (1802-1945), đã có Hải Đội Hoàng Sa. Đặc biệt, năm 1836, Minh Mạng thứ 17, quần đảo Paracel hay bãi cát vàng, được Công Bộ, đặt tên là “Bản Quốc Hải Cương Hoàng Sa Xứ, Tối thị Hiểm Yếu”.

          Từ năm 1954, Hoàng Sa là một đơn vị hành chánh thuộc tỉnh Quảng Nam-VNCH, được Tiểu Đoàn 1/TQLC bảo vệ. Từ năm 1959 tới 1974, Đảo do các Đơn Vị ĐPQ/Quảng Nam trú đóng. Giống như Quần Đảo Trường Sa ở phía Nam, cũng là một đơn vị hành chánh , của tỉnh Phước Tuy và do ĐPQ của tỉnh này bảo vệ, cho tới ngày 30-4-1975.

          Tính đến năm 1974, khi xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa, Hải quân VNCH rất hùng hậu với quân số trên 40.000 người (sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ) , phân thành 5 vùng duyên hải và 2 vùng sông ngòi. Hải quân có một hạm đội gồm 83 chiến ham đủ loại. Để bảo vệ các sông ngòi, kênh rạch ở Nam phần, Hải quân đã thành lập 4 Lực lượng dặc nhiệm hành quân lưu động, gồm LL Tuần thám 212, LL Thủy bộ 211, LL Trung ương 214 và LL Đặc nhiệm 99. Ngoài ra còn Lực lượng Duyên phòng 213, Liên đoàn Tuần giang, 28 Duyên đoàn, 20 Giang đoàn xung phong, 3 Trung tâm Huấn Luyện Hải quân và nhiều căn cứ yểm trợ khắp nơi. Khi xảy ra cuộc hải chiến, Đề đốc Trần Văn Chơn là Tư lệnh Hải quân. Tóm lại Hải quân VNCH rất hùng mạnh trong vùng Đông Nam Á.

          Ngay từ thời thượng cổ , người Tàu luôn kính nể dân Việt vì “họ tuy ở núi mà rất thạo thủy tánh, lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa. Đến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo. Tính tình khinh bạc, hiếu chiến, không bao giờ sợ chết và luôn luôn quật khởi với kẻ thù”.Bởi vậy suốt dòng lịch sử , Hải quân Việt đã ba lần oanh liệt chiến thắng quân Tàu trên Bạch Đằng Giang và sông Như Nguyệt. Sau năm 1975, nhiều tài liệu mật nhất là của Mỹ được bạch hóa, trong đó có tương quan lực lượng hải quân giữa Trung Cộng vùng đảo Hải Nam so với Hải quân của VNCH thì thua xa và rất yếu. Tình trạng này tới năm 1979 tình trạng quân sự của Trung Cộng vẫn còn lạc hậu, cho nên khi Đặng Tiểu Bình muốn dạy VC một bài học về quân sự, lại bị thằng đàn em phản bội đá giò lái. Nhưng dù bị Mỹ dùng viện trợ ngăn cản, đâm sau lưng, Hải quân VNCH trong suốt hai mươi năm (1955-1975) , đã anh dũng giữ vững lãnh hải của đất nước một cách gần như trọn vẹn, trước sự dòm ngó tranh dành hải đảo của các nước Trung Cộng, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Nam Dương và Kampuchia..

           Sau khi đạt được thắng lợi ngoại giao với Hoa Kỳ qua cặp Nixon-Kissinger, đồng thời với sự đồng lõa của Việt Cộng, nên giặc Tàu quyết tâm chiếm cho bằng được hai quần đảo ngoài Đông Hải của VNCH. Dã tâm càng lớn từ năm 1973, sau khi được tin các hãng dầu thăm dò cho biết vùng này có trữ lượng rất lớn về dầu khí. Lúc đó VNCH cũng đã bắt đầu ký nhiều hợp đồng, cho phép các hảng dầu tới hai vùng đảo trên khai thác.Thế là ngày 11-1-1974, Trung Cộng lại tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Ngày 19-1-1974, bất thần Trung Công tấn công Hoàng Sa , gây nên trận hải chiến, tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Trung Cộng dù chiếm được đảo nhưng thiệt hại gấp 3 lần VNCH.

          Quần đảo Hoàng Sa thời Đệ I Cộng Hòa (1955-1963) thuộc tỉnh Quảng Nam. Cũng trong thời kỳ này, chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 134/NV ban hành năm 1956, sáp nhập quần đảo Trường Sa, vào tỉnh Phước Tuy. Nghị định số 241/BNV ban hành ngày 14-12-1960, do chính Tổng thống Diệm bổ nhiệm Nguyễn Bá Thước làm Phái viên hành chánh Hoàng Sa. Lại phối trí Tiểu đoàn 1 TQLC trú đóng khắp các đảo, để bảo vệ lãnh thổ VNCH.

TRẬN HẢI CHIẾN GIỮA VNCH VÀ TRUNG CỘNG :

          Như thường lệ, vào ngày 18-1-1974 gần tới Tết Âm Lịch Nhâm Dần. Lúc đó Tuần Dương Hạm HQ.16 Lý Thường Kiệt, khởi hành từ Đà Nẵng với công tác chuyển vận Đơn vị Địa Phương Quân của Tiểu khu Quảng Nam , ra Hoàng Sa hoán đổi định kỳ. Trong chuyến công tác trên, còn có một Phái đoàn khảo sát điạ chất , gồm 7 sĩ quan công binh và hải quân. Ngoài ra còn có một người Mỹ tên Gerald Kosh, là nhân viên tùng sự tại Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ Vùng I Chiến thuật. Trước khi vào đảo đổi quân, tàu HQ.16 đã vòng các đảo để kiểm soát, nên đã phát hiện được nhiều tàu chiến của Trung Cộng sơn màu xanh ô liu, ngụy trang như các tàu đánh cá, trang bị toàn vũ khí nặng. Trong lúc đó còn có nhiều tàu chiến khác đang di chuyển từ đảo Phú Lâm, tiến về các đảo Quang Hòa, Duy Mộng và Hoàng Sa.Do tình hình quá khẩn cấp, nên HQ.16 đã báo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Chiến thuật, nên được tăng cường thêm các Chiến hạm như Khu trục hạm Trần Khánh Dư, Tuần dương hạm Trần Bình Trọng và Hộ tống hạm Nhật Tảo. Tuy nhiên tất cả đã được lệnh Trung ương, chỉ phòng thủ, không được tấn công trước khi địch chưa khai hỏa.

          Theo sử liệu, trong trận hải chiến này, lực lượng hải quân của Trung Cộng rất hùng hậu vì đã chuẩn bị trước. Thành phần tham chiến gồm : Hộ tống hạm 271 Kronstadt, Đại Tá Vương Kỳ Uy là hạm trưởng, tử thương. Hộ tống hạm 274 Kronstadt, Hạm trưởng là Đại Tá Quan Đức. Đây cũng là Soái hạm, chỉ huy trận chiến, gồm Tư lệnh là Đô Đốc Phương Quang Kính, cũng là Phó tư lệnh của Hạm Đội Nam Hải. Sau trận đánh, toàn bộ chỉ huy của Trung Cộng trên Soái Hạm này, gồm 2 Đề Đốc, 4 Đại Tá, 6 Trung Tá, 2 Thiếu tá và 7 Sĩ Quan Cấp uý, đều bị trúng đạn đại bác tử thương. Trục lôi hạm 389, hạm trưởng là Trung Tá Triệu Quát tử thương. Trục lôi hạm 396, Hạm trưởng là Đại Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương. Phi Tiễn Đỉnh 133 Komar, có hỏa tiễn địa điạ Styx, Hạm trưởng là Thiếu tá Tôn Quân Anh. Phi tiễn đỉnh 137 Komar, có hỏa tiễn địa địa Styx, Hạm trưởng là Thiếu Tá Mạc Quang Đại. Phi tiễn đỉnh 139 Komar có hỏa tiễn, Hạm trưởng là Thiếu tá Phạm Quy. Phi tiễn đỉnh 145 Komar có hỏa tiễn, Hạm trưởng là Thiếu Tá Ngụy Như và 6 Hải Vận Hạm chở quân chiến đấu. Ngoài ra còn một lực lượng trừ bị gồm 2 Tuần Dương Hạm, 4 Pháo Hạm, 4 Khu trục Hạm , trang bị hỏa tiễn Kiangjiang, 2 Phi đội Mig 19 và 2 phi đội Mig 21, do tư lệnh Hạm Đội Nam Hải, tổng chỉ huy.

          Bên VNCH, lực lượng tham chiến gồm Khu Trục Hạm HQ4 Trần Khánh Dư, Hạm Trưởng Trung Tá HQ.Vũ Hữu San. Tuần Dương Hạm HQ5 Trần Bình Trọng , Hạm trưởng Trung Ta HQ Phạm Trọng Quỳnh. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, Hạm Trưởng Thiếu Tá HQ.Ngụy Văn Thà. Trong khi giao chiến, HQ10 bị trúng đạn, toàn thể thủy thủ xuống xuồng nhỏ, thì Hạm Trưởng ở lại tuẫn quốc với chiến hạm. Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Lê Văn Thư. Về lực lượng trừ bị,, có Tuần Dương Hạm HQ6 Trần Quốc Toản, Hộ Tống Hạm HQ11 Chí Linh và Phi Đoàn F5-A37, nhưng vì ở cách xa chiến trường, nên khi chưa tới nơi, thì chiến cuộc đã tàn. Riêng Sư Đoàn 1 Không Quân, không can thiệp.. Kết quả, phía VNCH, các chiến hạm 4,5 và 16 bị hư hại nặng nhưng chạy được về Đà Nẵng sửa chữa và tiếp tục hoạt động sau đó. Chỉ có Chiến Hạm HQ10 bị chìm, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, bị thương nhưng quyết ở lại chết với tàu. Về phía Trung Cộng, Tư Lệnh Mặt Trận, Bộ Tham Mưu và 4 Hạm Trưởng tử thương. Hộ Tống Hạm 274 bị chìm, Hộ Tống Hạm 271 và 2 Trục lôi hạm 389-396 bị hư nặng và phá hủy cùng với 4 ngư thuyền bị bắn chìm

           Có một điều bi thảm mà hiện nay ai cũng biết, là hầu hết các Chiến hạm mà Hoa Kỳ đã viện trợ cho Hải Quân VNCH, đều được hạ thủy năm 1940, loại phế thải được tân trạng. Bốn Chiến hạm tham chiến năm 1974, được coi là tối tân nhất , vì HQ4 hạ thủy năm 1943, HQ5 hạ thủy năm 1944, HQ10 hạ thủy năm 1942 và HQ16 hạ thủy năm 1942. Riêng các vũ khí trên tàu, các loại súng liên thanh đều được gỡ bỏ , khi cho VNCH. Nhưng dù quân lực Miền Nam ít, chiến hạm vừa cũ kỹ lại nhỏ, vũ khí trang bị, chỉ có đại bác nhưng vì Các Sĩ Quan Hải Quân VNCH đều được huấn luyện như Âu Mỹ, rất thiện chiến và tài giỏi. Cho nên đã tác xạ rất chính xác, làm nhiều tàu giặc cũng như Hạm trưởng tử thương. Tệ nhất là người Mỹ, lúc đó vẫn còn là đồng minh của QLVNCH, vẫn đang có hiệp ước hỗ tương chiến đấu và bảo vệ cho nhau. Vậy mà khi cuộc chiến xảy ra, Hạm Đội 7 Hoa Kỳ đang tuần hành gần đó, chẳng những đã không lên tiếng, không can thiệp mà ngay thủy thủ VNCH bị chìm tàu,, cũng không thèm cứu vớt, theo đúng luật hàng hải quốc tế.

          Theo các nhân chứng đã tham dự cuộc hải chiến kể lại, thì lúc đó các chiến hạm của Hải quân/VNCH , đã chống trả với giặc rất dũng mãnh, nên chỉ trong mấy phút đầu, đã có nhiều tàu chiến của Trung Cộng đã bị bắn chìm. Về phía VNCH, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HO.16, bị bắn trúng bánh lái và sườn tàu, được HQ.11 dìu về Đà Nẵng. Trên chiến trường lửa máu, chỉ còn HQ.10 và Hộ tống hạm Nhật Tảo, vùng vẩy chiến đấu vời hằng chục chiến hạm của Trung Cộng, được Không quân từ các căn cứ trên dảo Hải Nam tới yểm trợ.

https://bienxua.files.wordpress.com/2017/01/b47e1-zhq10-capture2bcopy.jpg?w=688&h=419

          Cuối cùng Hộ tống hạm Nhật Tảo đã bị bắn cháy và chìm giữa biển Đông. Hạm trưởng chiến hạm này là Trung Tá HQ.Ngụy Văn Thà,tốt nghiệp khóa 12 Sĩ quan Hải quan Nha Trang, sinh năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Khi tàu lâm nạn, với tư cách là Chỉ huy trưởng, Trung Tá Thà đã ra lệnh cho Hạm Phó là Thiếu Tá HQ. Nguyễn Thành Trí, sinh năm 1941 tại Sa Đéc, Tốt nghiệp khóa 17 Sĩ quan Hải quân Nha Trang, hướng dẫn số quân nhân còn sống sót, trong tổng số 80 người trên tàu, dùng bè cao su về đất liền. Riêng Ông ở lại chết với tàu.

          Trên biển, Thiếu tá Trí vì bị thương nặng nên đã chết trên bè, trước khi các quân nhân còn lại, được thương thuyền Skopionella của Hòa Lan, trên đường từ Hồng Kông đi Tân Gia Ba, cứu sống vào đúng đêm giao thừa Tết âm lịch Nhâm Dần (1974). Sau đó 22 quân nhân này được một chiến hạm của Hải Đội 1 Duyên Phòng, đón về đất liền. Còn 16 Biệt Hải của Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt, có lệnh giữ đảo Vĩnh Lạc, sau khi Hòang Sa thất thủ, đã dùng bè cao su vượt biển về đất liền. Lênh đênh nhiều ngày trên sóng nước, nắng mưa gió lạnh, cuối cùng cũng được một Tàu đánh cá cứu thoát đưa về điều trị tại Quân Y Viện Qui Nhơn, 2 người chết vì đói lạnh, số còn lại may mắn thoát được tử thần.

          Cuộc hải chiến chấm dứt, các chiến hạm của VNCH đều rút lui, vì Hoàng Sa đã thất thủ. Bấy giờ giặc Tàu mới bắt đâu thu dọn chiến trường và xua quân chiếm đóng tất cả các đảo. Về phía VNCH còn kẹt lại trên đảo, gồm Trung đội ĐQP.Quảng Nam, các quân nhân Hải quân, 7 Sĩ quan Công binh trong toán khảo sát địa chất, 4 nhân viên Sở khí tượng và 1 người Mỹ làm việc ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ thuộc Quân đoàn 1. Tổng cộng là 42 người, đều bị giặc bắt làm tù binh, giải về thành phố Quảng Châu và giam trong một trại tù, cạnh dòng sông Sa Giang. Đây cũng chính là nơi mà hơn mấy chục năm về trước, liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã gieo mình tự vẫn, để không bị sa vào tay giặc Pháp, sau khi ném bom ám sát hụt Merlin, toàn quyền Đông Dương đang có mặt tại Hồng Kông.

          Lúc đó đúng 8 giờ sáng ngày mồng một Tết Nguyên Đán, thời gian hạnh phúc nhất của các dân tộc Á Đông vui xuân theo âm lịch, trong đó có VNCH. Riêng 42 tù binh VN liên tục bị bọn an ninh Trung Cộng , tra vấn, bắt buộc phải nhận tội là đã chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ của Tàu. Nhưng rồi không biết vì sao, Đặng Tiểu Bình ra lệnh phóng thích tất cả, đưa tới Hồng Kông để mọi người hồi hương.

          Lịch sử lại tái diển, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải quân Việt Cộng, tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi này, vì VC chỉ phản ứng có lệ, nên tài liệu cho biết phía Trung Cộng , không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VC có nhiều tàu chiến bị chìm, gồm : Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ , 1 Tuần Dương Hạm cũ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và trên 300 lính Hải quân bị thương vong.

(Tất cả nhóm tù binh do Trung Cộng trao trả, đã về tâp trung tại trại dưỡng quân Lê Văn Duyệt, Sài Gòn – ảnh do Thiếu tá Phạm Văn Hồng cung cấp)

          Thương biết bao những anh hùng vị quốc, trong đó có những chiến sĩ Hải quân năm nào, đã anh dũng chống giặc Tàu xâm lăng, như tổ tiên ta đã bao đời banh thây đổ máu để có  Nam quốc sơn hà, nam, mà ngày nay CSVN đem bán lần hồi cho giặc Tàu.

***

tài liệu liên quan

Thư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

gởi Tổng Thống Richard Nixon trong biến cố Hoàng Sa tháng 1-1974.

Lời mở đầu:

          Trận hải chiến Hoàng Sa đã đi vào lịch sử nước Việt như là một trận chiến chống giặc ngoại xâm Trung Hoa đã ngang nhiên mang quân xâm chiếm cõi bờ thiêng liêng do cha ông chúng ta gìn giữ từ ngàn xưa truyền lại.

Trận hải chiến này đã làm chấn động các quốc gia trong vùng Đông Nam Á và đã khiến dư luận khắp thế giới xôn xao. Ngoài ra cũng qua biến cố này sự rạn nứt giữa Trung Cộng và Nga Sô đã lộ rõ qua việc Nga Sô lên tiếng chỉ trích hành vi xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Trung Cộng

 Giá trị lịch sử và tầm mức quan trọng của biến cố này còn được thể hiện qua sự kiện Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã gởi thư riêng đến Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon để yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ “…hết lòng hỗ trợ về vật chất và chánh trị cần thiết…

Bức thơ này đề ngày 22-1-1974 và do ông Kỳ, Phụ Tá Đặc Biệt Chánh Trị của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc mang đến Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ trưa ngày 23 tháng 1 năm 1974 và đã được chuyển về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào lúc 6 giờ chiều.
Thay vì viết phúc thư trực tiếp đến Tổng Thống Thiệu, Tổng Thống Nixon đã gởi điện văn cho Đại Sứ Martin khoảng 3 tuần sau đó và chỉ thị ông đến gặp thẳng Tổng Thống Thiệu để diễn đạt lại nội dung của bản phúc đáp.

Dưới đây là bản dịch từ điện thư mật mang số 1035 của Đại Sứ Martin gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Kính gởi : Ngài Richard Nixon Tổng Thống Hoa-Kỳ

Tòa Bạch Ốc, Washington, D.C.

Kính thưa Tổng Thống,

          Tôi mong Tổng Thống lưu tâm đến tình trạng nghiêm trọng hiện nay gây nên bởi hành động quân sự của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trong vùng quần đảo Hoàng Sa ngoài khơi bờ biển Trung phần Việt Nam.

Việc tôi tiếp xúc trực tiếp với Tổng Thống trong cách thức khẩn cấp này phản ảnh sự quan tâm lớn lao của tôi trước những biến chuyển gần đây ở nơi ấy.
Tôi tin Tổng Thống nhận thức rõ những hành động chiến tranh Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã gây ra ở quần đảo Hoàng Sa là sự vi phạm trắng trợn chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của VNCH. Chủ quyền của quốc gia chúng tôi trên những hòn đảo này được dựa trên lịch sử, điạ lý và những căn bản pháp lý cũng như dựa trên sự kiện VNCH từ lâu đã thực thi việc cai quản một cách hữu hiệu trên những đảo này.
Ngày 11 tháng 1 năm 1974 Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã đưa ra bản tuyên cáo đòi hỏi chủ quyền trên quần đảo này, và Bộ Ngoại Giao của chúng tôi đã lập tức bác bỏ luận điệu vô căn cứ của họ.

Tiếp theo yêu sách ngày 11 tháng 1 năm 1974, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã dùng vũ lực để chiếm một phần lãnh thổ quốc gia chúng tôi. Họ đã đưa binh sĩ và chiến hạm vào trong khu vực các đảo Cam Tuyền ,Quang Hòa và Duy Mộng thuộc quần đảo Hoàng Sa và đã đổ bộ quân lính lên các đảo này.

Để đối phó với các hành động gây chiến và để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia của VNCH, lực lượng Hải quân Việt Nam hiện diện trong vùng đã ra lịnh cho lực lượng xâm nhập rút ra khỏi vùng.

Thay vì tuân lệnh, các chiến hạm Trung Cộng từ ngày 18 tháng 1 năm 1974 đã chọn thái độ gây hấn với lối vận chuyển khiêu khích và đã tác xạ vào các toán lính và các đơn vị Hải Quân đưa đến sự thiệt hại về nhân mạng và vật chất.

Ngày 20 tháng 1 năm 1974 Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã gia tăng mức độ chiến tranh. Họ đưa phi cơ vào oanh tạc 3 đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Hoàng Sa, trên các đảo này có quân của VNCH trú đóng và ngoài ra họ cũng đã đổ bộ quân lính để chiếm đoạt những đảo này.

Sự gây hấn hiện tại đối với VNCH không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của VNCH mà còn tạo nên mối hiểm họa cho nền hòa bình và sự ổn định trong vùng Đông Nam Á .Điều này hoàn toàn đi ngược lại văn tự và tinh thần của Bản Thông Cáo Chung Thượng Hải.

Bằng cách công khai xử dụng vũ lực để xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, Trung Cộng đã ngang nhiên vi phạm luật quốc tế, hiến chương Liên Hiệp Quốc, hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 mà họ đã cam kết tôn trọng và chứng thư sau cùng ngày 2 tháng 3 năm 1973 của hội nghị thế giới về Việt Nam mà Trung Cộng là một nước ký tên vào. Trên thực tế, điều khoản 1 của hiệp định Paris và điều khoản 4 của chứng thư sau cùng đã là một sự giao ước cho tất cả các nước, nhất là cho các nước ký vào chứng thư là phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ cuả Việt Nam.
Sự đe dọa nghiêm trọng đến nền hòa bình đang diễn ra và chỉ có thể tránh khỏi nếu Trung Cộng bị bắt buộc chấm dứt vai trò của kẻ xâm lược và hành động hiếu chiến đối với VNCH.

Sự lấn chiếm lãnh thổ VNCH của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không những vi phạm trắng trợn luật pháp và trật tự quốc tế mà còn tạo nên nghi ngờ về sự hiệu lực của hai thành quả đáng kể nhất trong chánh sách ngoại giao của Tổng Thống đó là Bản Thông Cáo Chung Thượng Hải và hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Vì thế tôi viết thư này đến Tổng Thống để yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ hết lòng hỗ trợ chúng tôi về vật chất và chánh trị cần thiết mà chúng tôi cần đến để đưa đến sự phục hồi nguyên trạng và dàn xếp êm đẹp việc tranh chấp quốc tế trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhân cơ hội này, tôi xin đoan chắc lại với Tổng Thống lòng qúy mến sâu xa của tôi.

Ký tên: Nguyễn Văn Thiệu

***

Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974

Posted on 04/10/2011

Đô đốc Thomas H. Moorer:

“Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui.” . Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger hỏi tiếp: “Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?”. William Colby, Giám đốc tình báo CIA, nói: “Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới Vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào.” 

Một số tư liệu giải mật gần đây của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho người ta biết rõ hơn về thái độ lưng chừng của Mỹ trước tranh chấp quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đầu thập niên 1970.

Loạt sách Quan hệ Ngoại giao của Hoa Kỳ là hồ sơ chính thức về hoạt động ngoại giao của chính phủ Mỹ bắt đầu từ 1952, tập hợp các văn bản gốc như biên bản cuộc họp, điện tín, thư từ.

          Các sử gia của Bộ Ngoại giao Mỹ đã hoàn tất 25 cuốn về chính quyền Kennedy, 34 cuốn về chính quyền Johnson, trong khi ý định làm 54 tập về thời kỳ Nixon và Ford (1969-1976) vẫn còn dở dang.

Biên bản cuộc họp ngày 25/01/1974, một tuần sau trận hải chiến Hoàng Sa (17 – 19 tháng Giêng), tường thuật cuộc họp về Đông Dương do Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger chủ trì.

‘Tránh xa’ 

 Henry Kissinger từng đóng vai trò quyết định trong chính sách của Hoa Kỳ với Đông Nam Á nhiều năm liền.

Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân, báo cáo: “Chúng ta đã tránh xa vấn đề.”

Ngoại trưởng Kissinger hỏi lại: “Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?”

Đô đốc Moorer trả lời: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác có cùng vấn đề – đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó.”

Ông Kissinger hỏi “Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?”

Đô đốc Thomas H. Moorer mô tả: “Một đội tuần tra của Nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Đó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm.

“Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó.

“Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui.”

Ngoại trưởng Mỹ hỏi tiếp: “Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?”

William Colby, Giám đốc tình báo CIA, nói: “Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới Vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào.”

Ông William Smyser, từ Hội đồng An ninh Quốc gia, nói thêm: “Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực.”

Cuộc bàn luận tiếp tục với trình tự như sau:

“Ngoại trưởng Kissinger: Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?

Đô đốc Moorer: Tôi nghĩ họ lo lắng.

Ông Colby: Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó.

Ông Clements [Thứ trưởng Quốc phòng]: Đừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Đó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng.

Đô đốc Moorer: Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong Thế chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Cộng kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Philippines có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy.”

Sau đó, Đô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: “Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực.”

Cũng cần nhắc lại, trong một cuộc gặp trước đó, ngày 23/1/1974 với ông Han Hsu, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Washington, Ngoại trưởng Kissinger nói: “Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này.”

Bảo vệ Philippines hay không?

          Trong một cuộc họp ngày 31/1/1974 của Bộ Ngoại giao, Ngoại trưởng Kissinger khi đó được thông báo: “Không có dấu hiệu Trung Quốc định tiến về Trường Sa. Dẫu vậy, có sự lo ngại đáng kể từ phía Nhật, Philippines và đặc biệt là Nam Việt Nam, mà theo tin báo chí thì hôm nay đã gửi đoàn 200 người ra chiếm một số hòn đảo lâu nay không ai ở trong khu vực Trường Sa.”

“Đài Loan đã chiếm ít nhất một đảo và Trung Quốc cũng vậy.”

Trong bối cảnh này, Philippines đã hỏi Mỹ liệu Hiệp Ước An ninh Mỹ – Philippines có được dùng nếu quân Philippines kéo ra Trường Sa và bị Trung Quốc tấn công.

Các quan chức Mỹ có mặt trong cuộc họp đồng ý rằng không có câu trả lời rõ rệt và họ muốn để ngỏ sự mơ hồ trong câu trả lời cho Philippines.

Một người trong cuộc họp, ông Hummel, nói: “Tạp âm xung quanh các tuyên bố của chúng ta về những hòn đảo này hẳn đã đủ cho người Philippines hiểu rằng chúng ta không có ý định hay chúng ta không muốn.”

Ngoại trưởng Kissinger kết luận: “Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ.”

Chỉ cho đến gần đây, hồi tháng Bảy 2011, Thượng Nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch Ủy ban Đông Á và Thái Bình Dương của Thượng viện Mỹ, đã kêu gọi Bộ Ngoại giao Mỹ giải thích công khai về hiệp ước an ninh Mỹ – Philippines trong tranh chấp Biển Đông.

Ông Jim Webb khi đó nói: “Sự minh bạch của chúng ta trong vấn đề này là vô cùng quan trọng với đồng minh, Philippines và cho toàn vùng Đông Nam Á.”

***

          Bạch Đằng Giang, Trên Sông Bạch Đằng, Hội Nghị Diên Hồng..đều là những ca khúc hùng tráng, ngợi ca tinh thần yêu nước và công cuộc đấu tranh thần thánh của toàn dân Đại Việt trước sự xâm lăng của giặc Nguyên Mông. Bài hát làm cho chúng ta không thể không nhớ tới đia danh huyền thoại Hoàng Sa của VN ngoài biển Đông , đã đồng hành với dân tộc và non nuớc Việt hơn 43 năm qua, trong hào khí của Hải Quân VNCH, theo gương người anh hùng dân tộc “ Trần Hưng Đạo” ngăn chống giặc Tàu giữ nưc.

Đêm nay buồn đau trước đại họa mất nước về tay TC xâm lăng và cưởng đoạt lần hồi non sông gấm vóc Việt, trước sự hèn hạ đầu hàng giặc của CSVN, bổng dưng nhớ tới thời oanh liệt của giống nòi, nay đã lẫn khuất vào phong ba dâu bễ của cuộc đời. Đâu rồi những trận Hải Chiến hào hùng năm xưa, khi hồi tưởng đã khiến cho cõi hồn không khỏi dấy lên nổi bi thương thãm tuyệt.

“ Nam quốc sơn hà, Nam đế cư

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư .! .”

Tất cả nay chỉ còn trong những trang Việt sử.

Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng Giêng 2017

MƯỜNG GIANG

https://vietbao.com/p112a263043/thang-gieng-ra-bien-dong-ngoi-nho-hai-chien-hoang-sa-han-ngut-troi-