Contact

Đệ Nhị Hổ Cáp Thực Tập Trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ

“Smooth seas do not make skillful sailors.”
Proverb
1. Huỳnh Hữu Lành:
Sau ngày mãn khoá, rời quân trường huấn luyện Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, tàu hải quân lại mang trả các tân sĩ quan Khoá 20 – khoá Đệ Nhị Hổ Cáp – về bến Sài Gòn. Sau ngày đi bờ nghỉ phép, các quan 20 tụ họp tại Câu Lạc Bộ nổi HQ trên bến Bạch Đằng; một số các quan tiếp nhận đơn vị, số còn lại được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ.

https://i1.wp.com/www.navsource.org/archives/09/06/09065906.jpg

USS VEGA (F59).

Tôi, Hà Mạnh Hùng, và Trịnh Văn Thơ được đi thực tập chung trên chiến hạm tiếp liệu USS VEGA F59. Theo lệnh công tác, ba anh em sẽ đáp phi cơ quân sự ra Đà Nẵng để xuống tàu. Thế là ba anh em hẹn nhau ra phố Lê Thánh Tôn gần nhà sách Khai Trí, mua một bức tranh sơn mài để làm quà tặng cho hạm trưởng khi trình diện. Nhưng khi đến phi trường Tân Sơn Nhất chờ Manifest thì được biết chương trình đã thay đổi! Chúng tôi phải trở về Bộ Tư Lệnh, nhận lệnh mới để đáp phi cơ quân sự của Hoa Kỳ đến Phi Luật Tân – căn cứ hải quân Mỹ tại Subic Bay, và xuống trình diện tàu tại nơi đó. Trong thời gian đi bờ nầy, chúng tôi đã làm lễ thành hôn vào ngày 3-8-1970, sau ngày mãn khóa sĩ quan một tuần lễ – trước khi đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ. Trong ngày cưới, ban nhạc 20 cũng đến giúp vui như các quan 20 Lưu An Huê, Phan Thiết Dũng cùng nhiều quan khác, còn thêm quan 20 Nguyễn Văn Nhẫn làm rể phụ… Xin thành thật cám ơn các quan đã đến chung vui với chúng tôi. Tôi rất thích thú khi được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ, nhưng cũng rất buồn vì phải xa người vợ trẻ vừa mới cưới.
Không có anh, thì ai ve vuốt?
Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện Thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa Xuân
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc.
(Cần Thiết – Nguyên Sa)
Khi máy bay đáp xuống phi trường Philippine, ba anh em mang hành lý vừa ra đến cổng đã gặp một tài xế người Phi đón, và đưa về doanh trại tạm trú của sĩ quan độc thân Hải Quân Hoa Kỳ (BOQ) trong căn cứ Hải Quân Mỹ tại Subic Bay. Tới đất Phi, phải xài tiền đô khi vào câu lạc bộ sĩ quan Hải Quân Mỹ để ăn tối. Lần đầu tiên anh em chúng tôi ăn cơm Mỹ. Có lẽ con mắt to hơn cái bụng nên cả ba đã khệ nệ mỗi người bưng một dĩa nào thịt bò, thịt gà, khoai tây, xà-lách, nhưng không đứa nào ăn hết phần ăn của mình! Hôm xuống tàu trình diện Hạm phó, ba anh em đã được xếp đặt mỗi đứa có một sĩ quan Mỹ đi kèm để huấn luyện. Tàu rời bến công tác tiếp vận cho Hạm đội 7, trên lộ trình từ Vịnh Bắc Việt đến Phú Quốc. Những ngày biển động, chúng tôi phải đi phiên tiếp tế thật khổ sở vì say sóng. Tàu cứ đi, rồi lại về bến ở Subic Bay. Đây là dịp được đi phố, vào các hộp đêm để rửa mắt. Nhất là quan Hà Mạnh Hùng mỗi lần đi phố suốt đêm về, và kể lại cho bọn nầy nghe những câu chuyện thật là hấp dẫn (quan Hùng chắc còn nhớ rõ). Tôi và quan Trịnh Văn Thơ cứ “lõ” mắt ra mà nghe, và thèm muốn nhểu nước miếng!
Trong khi công tác, chiến hạm cũng đã cặp bến Taipei – Đài Bắc, Taiwan – Đài Loan. Thế là ba anh em chúng tôi tính chuyện ăn cơm Tàu cho đã thèm. Vào nhà hàng Tàu, ăn cơm chiên lạp xưởng, thịt quay, mì vịt tiềm cho nó chướng to cái bao tử. Ăn xong chúng tôi lại đi dạo phố, và vào bar – club chơi suốt đêm, vì đây là dịp sau cùng còn ở nước ngoài, và biết khi nào mới được dịp ghé lại nữa. Ngày trở về tàu đang công tác ngang Vũng Tàu, nên đã được tàu chiến của Hải Quân Việt Nam đón về căn cứ Cát Lở, Vũng Tàu. Sau đó ba anh em chúng tôi đón xe đò về lại Sài Gòn.
2. Trịnh Văn Thơ:
Đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội với các bạn Huỳnh Hữu Lành và Hà Mạnh Hùng, nhưng tôi là dân cơ khí nên chỉ phải đi ca (quart) dưới hầm máy. Tàu Mỹ có hầm máy sạch “boong”, chẳng phải sửa chữa gì hết cả, và chỉ lo kiểm soát những đồng hồ chỉ mức dầu mức nhớt .. mà thôi. Thủy thủ Mỹ chịu trách nhiệm và tuân hành thủ tục (procedures) thì khỏi phải chê; họ làm chuyện gì cũng phải theo đúng sách vở. Những chuyện vui khác thì bạn Huỳnh Hữu Lành đã ”dành kể” hết rồi! Chúng tôi là “dân cơ khí” vốn ít nói, nhưng làm thì nhiều, thôi cũng được.
3. Nguyễn Hữu Bích:  Tôi tốt nghiệp với thứ hạng 49, và có tên trong danh sách sẽ lựa 100 người được chọn để đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Đợt đầu lấy 80 người, và không có tên tôi. Đợt chót lấy thêm 20 nguời nữa, tôi cũng không có tên, tôi bị loại luôn ở đợt 2 này, và không biết vì lý do gì!
4. Phạm Văn Độ:Thực tập Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ chung với quan Trần Tuấn Đức. Chỉ “rình” mang “hoa biển” về tặng em, nên chẳng còn nhớ cái gì hết cả!
5. Trần Duy Tín: Tôi không được đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội, dù đã đậu được thứ hạng cao, nhưng có lẽ vì giọng nói tiếng Anh của tôi có âm hưởng xứ Quảng chăng?
6. Nguyễn Hữu Nam: Trong danh sách của 88 Hổ Cáp 2 đi thực tập Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, tôi ở vị trí thứ 23. Trong Sự Vụ Lệnh (Mission Order) số 771/QP do Đổng Lý Văn Phòng Nguyễn Hữu Lương ký vào ngày 04 tháng 09 năm 1970, có sao y bản chính do HQ Đại uý Nguyễn Đa Phúc – Trưởng ban Du Học thuộc Khối Quân Huấn, Bộ Tư Lệnh Hải Quân KBC 3317 – ký cùng ngày, cho phép 88 sĩ quan thuộc khóa 20 SQHQ đi từ Sài Gòn đến Nhật Bản, Trung Hoa Quốc Gia, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Hồng Kông, Đại Hàn …
Tham chiếu theo phiếu đệ trình của Tổng Cục Quân Huấn Bộ Tổng Tham Mưu số 8182/TTM/TCQH/ĐHHL/HQ ngày 26-08-1970 với phương tiện chuyên chở của phi cơ quân sự Hoa Kỳ trong thời gian công tác 12 tuần lễ từ 10-09-1970 – với phí khoản công vụ do MACV đài thọ. Nguyễn Hùng (Hùng đầu bò) và tôi được phân phối đi thực tập trên Khu Trục Hạm USS Goldsborough (DLG-20), và theo lệnh Thuyên Chuyển tất cả 88 sĩ quan Hổ Cáp 2 sẽ thuộc thặng số quân số của Trung Tâm Hành Chánh Hải Quân. Mỗi ngày chúng tôi tập trung tại Câu Lạc Bộ Nổi để điểm danh và nhận những chỉ thị, thông cáo và tin tức từ HQ Đại úy Phúc trong khoảng thời gian từ 8 giờ đến 10 giờ sáng, sau đó mọi người giải tán rồi ai muốn về nhà hay đi chơi với các bạn gái đang chờ ở ngoài sân cỏ. Quan Hùng và tôi lúc nào cũng đi đôi với nhau, như đi chích ngừa, ra Thích Phú (cửa hàng người Tàu ở đường Nguyễn Văn Thinh, nằm giữa 2 đường Hai Bà Trưng và Tự Do, chuyên môn sản xuất các quân trang, cấp bậc của quân chủng Hải Quân) để may bộ quân phục đại lễ demisaison Hải Quân, đi lấy passport, rồi lãnh lương tiền Việt Nam để đổi ra đô la Mỹ. Hùng và tôi khởi hành vào hồi 12 giờ đêm ngày 10-09-1970 từ phi trường Tân Sơn Nhất, sau 4 giờ bay đến phi trường Okinawa vào lúc 7 giờ sáng theo giờ địa phương, lấy nhiên liệu, sau đó bay tiếp đến phi trường Okidata, và được xe bus đón về Căn Cứ Hải Quân Mỹ tại Yokosuka vào lúc 4 giờ chiều ngày 11-09-1970.

https://i1.wp.com/www.denhihocap.com/ds2009/image/ncknx/thuctap11.jpg

Chúng tôi được sắp xếp vào tạm trú trong cư xá sĩ quan độc thân, vì khu trục hạm USS Goldsborough (DDG-20) còn đang công tác. Chúng tôi dùng bữa ăn tối ở phòng ăn sĩ quan, sau đó về phòng để nghỉ ngơi, và ngủ bù sau 2 chuyến bay và xe bus đến Yokosuka, Nhật Bản. Phòng US Navy Information chưa cho chúng tôi biết, ngày nào khu trục hạm USS Goldsborough (DDG-20) sẽ về bến Yokosuka, vì bí mật quân sự. Chúng tôi thay đồ xi-vinh (civil), để ra ngoài phố Yokosuka thưởng ngoạn đời sống của dân Nhật. Các quán ăn đều có trưng bày các món ăn mẫu của Nhật cùng với giá biểu ngoài cửa kính. Nhưng nhìn hình các món ăn mẫu thì thấy bắt mắt, nhưng ăn vào thì không thấy hợp với khẩu vị của người Việt. Chúng tôi đi dạo phố Yokosuka đến chiều tối thì về lại các quán bar gần Yokosuka Naval Base. Chúng tôi vào một quán bar, thì đã thấy một băng “Welcome back USS Goldsborough (DDG-20) on Sept. 15, 1970” làm chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên vì chúng tôi không biết tin tức khi nào chiếc DDG-20 sẽ về bến, nhưng quán bar này lại biết rõ ngày về bến là 15-09-1970. Quán bar đang vắng khách; thấy hai chúng tôi vào, ông chủ bar niềm nở tiếp đón chúng tôi; chúng tôi có hỏi: “Làm sao mà ông ta biết chiến hạm DDG-20 chính xác về bến vào ngày 15-09- 1970 ?” Chủ quán chỉ cười và nói: “Wait and see, but for sure one hundred per cent.” Đây là một trong các quán bar nhỏ, với vũ nữ nhảy sexy cởi truồng 100% ở xung quanh Yokosuka Naval Base. Chủ bar cho biết, mỗi người chỉ phải trả 800 Yen cho mộ ly bia – vào thời điểm 1970, một đô la Mỹ đổi được 360 Yen , và có thể xem ba vũ nữ nhảy. Muốn xem lại lần nữa, thì phải trả thêm 800 Yen cho màn (show) kế tiếp. Nhạc bắt đầu trổi lên, một vũ nữ mặc đồ kimono xuất hiện nhảy múa xập xềnh theo tiếng nhạc với những mảnh vải của chiếc kimono được từ từ cởi bỏ theo điệu múa cho đến khi đôi guốc mộc và mảnh vải cuối cùng được cởi ra; nguyên thân hình cô gái lồ lộ, với cặp nhũ hoa nho nhỏ phơi bày. Kế tiếp cô vũ nữ thứ hai xuất hiện theo thể điệu nhạc khác, trong lúc đó có các sĩ quan và thủy thủ Hải Quân Mỹ vào. Đến cô vũ nữ thứ ba sau khi cởi bỏ mảnh vải cuối cùng; cô này đã đến thẳng bàn của chúng tôi, cô múa khiêu khích ngay trước mặt tôi; nàng đã cho tôi “táy máy nghịch ngợm” tí chút rồi tặng tôi một vài kỷ vật “thật đặc thù” trên người nàng; tôi bỏ vào chiếc hộp quẹt để làm kỷ niệm. Ôi những kỷ niệm khó quên trong chiếc hộp quẹt của quán bar ở Yokosuka. Tôi có hỏi Hùng “Sao các cô vũ nữ này, người nào cũng có răng vàng?” Hùng chỉ cười, mà không có ý kiến. Từ đó trở đi, mỗi khi tôi gặp một phụ nữ Nhật nào khi nở nụ cười mà có răng vàng đều khiến tôi phải nghĩ bâng quơ đến cặp nhũ hoa nho nhỏ cùng kỷ vật của người vũ nữ cởi truồng ở Yokosuka.

USS Goldsborough (DDG-20)

Sau thời gian về bến mười ngày, chiến hạm DDG-20 bắt đầu ra khơi và tuần dương dọc theo bờ biển Korea. Chúng tôi được tham dự bữa ăn đầu tiên với Hạm Trưởng Schmidt vào lúc 6 giờ chiều. Hải Quân Mỹ cũng quan liêu theo đúng truyền thống của Hải Quân quốc tế, Hạm trưởng ngồi chủ tọa ở đầu bàn, bên phải là Hạm phó, bên trái là sĩ quan Tuyên úy (Chaplain), sau đó là theo thứ tự cấp bậc và chức vụ, và cuối cùng là chúng tôi. Bữa ăn tối của sĩ quan được diễn ra trong ánh đèn cầy candle light, các thủy thủ tiếp vụ phục vụ bàn ăn đều là thủy thủ người Phi luật Tân. Tất cả sĩ quan chỉ được bắt đầu sau khi Hạm Trưởng đã bắt đầu ăn, và nếu có một sĩ quan nào muốn ăn thêm một món nào đó, thì ngay cả Hạm Trưởng cũng lịch sự chờ đến khi người sĩ quan đó ăn xong mới bắt đầu món ăn khác, và món tráng miệng phần nhiều là kem, bánh ngọt và trái cây. Tối khoảng 8 hay 9 giờ có chiếu phim mới nhất trong phòng ăn sĩ quan, kèm theo bữa ăn nhẹ gồm có Campbell noodle soup cùng với cracker. Vào buổi sáng các sĩ quan được đánh thức dậy bởi các thủy thủ tiếp vụ, và cũng chính người thủy thủ này sẽ thâu tóm quân phục cũ của các sĩ quan để mang đi giặt và ủi.

USS Richmond K. Turner

USS Richmond K. Turner (DLG-20)

Chúng tôi đã được phân chia cho đi những “ca” riêng biệt với các sĩ quan Mỹ đương phiên trên đài Chỉ Huy, có những đêm chiến hạm nhận được tiếp tế ngoài khơi. Đôi khi cũng nhận được thư từ, bưu kiện, và các phim ảnh mới nhất từ trực thăng đáp xuống chiến hạm trong khi hải hành. USS DLG-10 và USS DLG-20 (guided missile destroyer leader) có trọng tải hơn 5 ngàn tấn, vận tốc tối đa khoảng 33 hải lý một giờ. Loại frigate này là loại chiến hạm có nhiệm vụ tấn công, được trang bị những hỏa tiễn, và những giàn radar mạnh của Hải Quân Hoa Kỳ. Ngoài ra nó còn có trang bị thêm trực thăng để cứu vớt những phi công bị rớt ngoài biển. Hết thời gian 15 ngày tuần dương bờ biển Korea, DDG-20 về nghỉ bến tại Sasebo vào ngày 10-10-1970, chúng tôi được lệnh thuyển chuyển qua Khu Trục Hạm USS Bausell (DD-845) tại Subic Bay bằng phương tiện của Khu Trục Hạm USS King (DLG-10) hiện đang nghỉ bến tại Sasebo. Hai bạn Nguyễn Hùng Tâm và Đỗ Duy Vy đang được thực tập trên chiến hạm DLG-10 này, và bốn đứa chúng tôi đã cùng nhau có dịp dạo phố Sasebo chung. Trên đường hải hành từ Sasebo đến Subic Bay, chiến hạm DLG-10 có ghé bến Kao-Hsiung (Cao Hùng) – một hải cảng nằm ở phía Tây Nam của Đài Loan; tàu neo tại bến cảng ba ngày. Chúng tôi bốn đứa lại có dịp đi bờ chung ở Đài Loan. Đỗ Duy Vy và tôi có chụp hình chung với hai chị em con của chủ một gift shop, và chắc các nường nay cũng trên dưới 60 tuổi hết cả rồi. Sau ba ngày nghỉ bến, chiến hạm DLG-10 trực chỉ Hồng Kông, và thả neo trong Vịnh Hồng Kông ngày 15-10-1970. Khi chiến hạm đã hoàn tất nhiệm sở thả neo, các ghe nhỏ (sampan) của dân bản địa Hồng Kông bắt đầu túa ra, và bu quanh chiến hạm để nhận lãnh làm công sơn phết lại vỏ tàu. Chúng tôi bốn đứa lại rủ nhau đi bờ dạo phố Hồng Kông. Chúng tôi ghé vào các quán bar nơi các thủy thủ Mỹ hay lui tới, Tâm có ngỏ ý rủ cả bọn “khám phá” các em “Hương Cảng” xem như thế nào? Nhưng tôi bị “lạnh cẳng” vì sợ vướng phải bệnh “teo cu” đang thịnh hành thời đó! Tôi rủ Hùng đi dạo phố Hồng Kông để mua sắm quà cáp cho gia đình, nhất là tôi muốn kiếm mua cho Mẹ tôi một ít gấm Thượng Hải, vì bà đã hy sinh cả cuộc đời cho chồng và cho con. Chúng tôi cũng đi đến Victoria Peak, để thăm viếng, chụp hình lưu niệm, và từ khu công viên này nhìn xuống bao quát cả vịnh Hồng Kông lẫn khu Kowloon (Cửu Long). Đến khu Tiger Palm Garden của chủ hãng dầu Cù Là Con Cọp để được “đi lên Thiên Đàng và đi xuống Hoả Ngục”, sau đó xuống phố để đi ăn cơm Tàu Quảng Đông. Tốn tổng cộng chỉ có bốn đô-la Hồng Kông – khoảng 40 cent Mỹ thời bấy giờ; tôi được một bữa cơm thịnh soạn và “hẩu xực” gồm có một tô mì hoành thánh thịt xá xíu, một đĩa to gồm gà xối mỡ, thịt heo quay, nửa con vịt quay, một đĩa cải làn hấp, cùng với một chai bia Hồng Kông.
Qua ngày hôm sau, chúng tôi bốn đứa lại rủ nhau dùng tắc-xi đi tắm biển ở Repulse Bay nơi có một pho tượng Phật Bà Quan Âm rất là lớn, và được dựng ngay sát bãi biển. Đêm đến chúng tôi rủ nhau đi ăn tại khu vực nổi tiếng là Floating Restaurant ở Aberdeen, khách phải dùng ghe tam bản nhỏ (sampan) để đi ra nhà hàng. Chúng tôi ghé đến một nhà hàng nổi có tiếng, nơi đây có khoe một tấm hình ngày xưa của Tổng Thống Nixon ngồi trên chiếc ngai vàng của nhà hàng, và chúng tôi cũng chụp mỗi người một tấm hình đang ngồi trên chiếc ngai vàng này.
Khu trục hạm DLG-10 nhổ neo, rời vịnh Hồng Kông ngày 25-10-1970, và hải hành trực chỉ Subic Bay. Tới nơi Hùng và tôi chia tay hai bạn Tâm và Vy, xuống trình diện Khu trục ham USS Bausell (DD-845). Sau khi trình diện Hạm trưởng, và được nói chuyện rất lâu với Hạm Phó, đã từng phục vụ ở Việt Nam qua vai trò cố vấn, và ông có khoe bằng Tưởng Lục do Đề Đốc Trần Văn Chơn ký. Chúng tôi lại tiếp tục được đi bờ tại Olongapo thuộc Subic Bay, và nếu các bạn đã từng ghé Subic Bay trong khi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội đều nhớ đến cây cầu nối ngang từ Subic Bay Naval Base đến thành phố Olongapo chỉ dài khoảng 20m, và lúc nào cũng có một chiếc ghe nhỏ dưới gầm cầu có những trẻ nhỏ xin tiền. Qua khỏi cây cầu là các quán bar cuả các em Phi Luật Tân. Khi tôi vừa mới đến Subic Bay, tôi đã nghe các thủy thủ Việt Nam đồn đãi về huyền thoại ăn chơi của HC2 Nguyễn Văn Như trong những ngày tung hoành ở Olongapo – anh là người bạn rất thân của tôi trong những ngày ở Quang Trung, lúc đó chúng tôi đã từng xưng hô với nhau là “đô đốc” rồi. Vào thời điểm năm 1970, tôi có thể đổi một đô-la Mỹ được bẩy peso ngay tại cổng chính căn-cứ – bây giờ thì được khoảng 50 peso. Vào quán bar chỉ tốn một peso cho một chai bia San Miguel ướp lạnh, và tha hồ ngắm nghía các em Phi bán bar cởi truồng trăm phần trăm. Hoặc ăn một nửa con gà chiên với giá một peso ngay trước một rạp hát ở Olongapo, và vừa xem “phim con heo” vừa nhâm nhi chiếc đùi gà.

USS Bausell (DD-845) in 1965
Ngày bầu cử Phi Luật Tân vào khoảng tháng 11 năm 1970, căn cứ Hải Quân Mỹ ở Subic Bay bị giới nghiêm, quân nhân Mỹ không được phép ra ngoài thành phố Olongapo, DD-845 vẫn còn nghỉ bến mấy ngày, nên tôi đã bàn với Hùng là “chúng mình là người Việt nom cũng giống như người Phi, chắc chắn là không có vấn đề gì đâu, chúng mình đi Manila chơi”. Chúng tôi ra Olongapo không có gì trở ngại, lên xe “khách” là một loại xe giống như xe Jeep cao, sơn đủ màu sặc sỡ, trang hoàng hoa giả, bóp còi inh ỏi để ra bến xe đò đi Manila. Xe đò đi Manila chạy qua những con đường coi không khác gì đoạn đường đi từ Phú Lâm về Cần Thơ, chúng tôi thấy rất nhiều nhà thờ có một lối kiến trúc rất đẹp. Đến bến xe ở Manila, có ngay những thanh niên nhẩy lên xe, và gạ bán hình 36 kiểu cho chúng tôi. Chúng tôi đi bộ dọc theo phố để kiếm phòng ngủ tạm qua đêm sau một chuyến xe chạy 6 tiếng đồng hồ từ Olongapo đến Manila. Ngày hôm sau chúng tôi dạo phố Manila, vào chợ, và đến công viên Rizal Park có tượng một con trâu, đài kỷ niệm Tổng Thống Ramon Magsaysay của Phi, và tượng này lúc nào cũng có hai quân nhân Phi mặc đại lễ bồng súng garant. Chúng tôi ghé khu Chinese Garden cũng nằm trong Rizal Park, có dịp trò chuyện và chụp hình kỷ niệm với khoảng 20 cô sinh viên trẻ và rất xinh đẹp cuả trường Y Tá Manila. Chúng tôi ngủ lại motel qua một đêm nữa, và sáng sớm ngày hôm sau ghé tiệm mì làm một tô hoành thánh mì lớn và một ly cà phê bít tất sữa nóng trước khi ra bến xe đò về lại Olongapo.

https://i1.wp.com/www.denhihocap.com/ds2009/image/ncknx/thuctap21.jpg
Ngày 05-11-1970 khu trục hạm USSBausell (DD-845) rời Subic Bay và hải hành trực chỉ Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin), chiến hạm có nhiệm vụ hải hành dọc theo bờ biển vùng Hàm Tân, và có nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cho các đơn vị bộ binh của VNCH. Ngoài những giờ đi ca trong thời gian hải hành, Hùng và tôi còn được chỉ định thực tập trong Trung Tâm Tác Chiến (CIC) trong những lần yểm trợ hải pháo. Khu trục hạm USS Bausell (DD-845) là loại destroyer, có thiết bị radar tầm xa, hỏa lực mạnh, và trang bị vũ khí chống tàu ngầm (deep charge). Destroyer thường có nhiệm vụ hộ tống hàng không mẫu hạm hay yểm trợ hải pháo, vận tốc nhanh khoảng 35 hải lý một giờ, và có trọng tải khoảng 2500 tấn.
Cũng chính trên chiến hạm này, Hùng và tôi đã có tấm hình kỷ niệm trong Trung Tâm Tác Chiến (CIC) đăng trên tờ tạp chí All Hands của US Navy, được ấn hành vào cuối năm 1970, cùng với tấm hình của các bạn Nguyễn Ngọc Châu (Châu Fit) và Đỗ kim Bảng trong loạt bài nói về Việt Nam hoá đối với Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Sau một tháng công tác yểm trợ hải pháo tại Việt Nam, khu trục hạm USS Bausell rời vùng công tác và trực chỉ Subic Bay, đây cũng là thời điểm mãn hạn thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ của chúng tôi. Chúng tôi rời chiến hạm và dùng xe buýt để đến Clark Air Field, và bằng phương tiện máy bay của MACV để về lại Sài Gòn. Tôi được lệnh thuyên chuyển về BTL/LLTT; riêng Nguyễn Hùng thuyên chuyển về đâu tôi cũng không rõ; mãi đến tháng 7 năm 2000, Đại Hội 2000 của gia đình Đệ Nhị Hổ Cáp tại Huntington Beach-California, tôi mới có dịp gặp lại và hàn huyên tâm sự sau gần 30 năm không gặp. Rất tiếc Nguyễn Hùng Tâm đã qua đời, còn Đỗ Duy Vy thì ở mãi tận New Orleans, Louisiana và biết đến bao giờ thì mới gặp lại nhau đây? Chúng tôi đã có những kỷ niệm với nhau trong những ngày tháng khởi đầu hải nghiệp, với những hình ảnh thân thương của các bạn Hổ Cáp 2, Khoá 20 Sĩ Quan Hải Quân.

Nguồn: http://www.denhihocap.com/ds2009/ncknx.html

15 TẤN VÀNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG THÁNG 4 NĂM 1975 ** – Thềm Sơn Hà

Thềm Sơn Hà

Tác giả viện dẫn hai tài liệu tiêu biểu sau đây để trình bày câu chuyện 15 tấn vàng 46 năm về trước, xảy ra trong tháng 4 năm 1975, ở thời điểm hầu như cả Vùng I và hầu hết Vùng 2 đã mất vào tay CSBV và nguy cơ mất trọn miền Nam cũng đã cận kề.
Ngoài ra tác giả chỉ đưa ra những tài liệu và nhận xét từ lúc bắt đầu đến ngày 26 tháng 4 là ngày VNCH thông báo ngưng chuyển vàng.
Trước hết, xin được nói qua về các điểm mốc thời gian:
– 16 tháng 3 mất trọn Ban Mê Thuột, 18 tháng 3 mất trọn tỉnh Darlac.
– 25 tháng 3, Tổng thống Thiệu chỉ thị Thủ tướng Khiêm cải tổ nội các.
– 1 tháng 4, CSBV chiếm trọn Vùng I và hầu hết Vùng II.
– 14 tháng 4, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn thay thế Thủ tướng Trần Thiện Khiêm.
– 21 tháng 4, Tổng thống Thiệu từ chức, Tổng thống Trần Văn Hương thay thế.
– 24 tháng 4, chánh phủ Nguyễn Bá Cẩn từ chức.
– 25 tháng 4, Tổng thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm cùng đoàn tùy tùng rời Sài Gòn trong đêm, đến Đài Bắc, Đài Loan lúc 04:20 giờ địa phương ngày 26 tháng 4 [trước đó gia đình Tổng thống Thiệu đã qua Đài Loan ngày 3 tháng 4 (điện văn 127709_R 032219Z APR 75 của BNG/HK)].

ngân hàng quốc gia VN | manhhai | Flickr


                                                 _____________________________________________

A.- Tài liệu trao đổi giữa Đại sứ Martin [Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn (TĐS)] và Ngoại trưởng Kissinger [Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (BNG)] đã được giải mật và phổ biến vào tháng 7 năm 2006 do chính tác giả sưu tầm.

Ngày 14 THÁNG 4
Tài liệu bắt đầu ngày 14 tháng 4 khi Phó Thủ tướng Đặc trách Kinh tế Nguyễn Văn Hảo*** và Thống đốc Ngân hàng Quốc gia VN Lê Quang Uyển thông báo cố vấn kinh tế TĐS và Giám đốc cơ quan USAID ý định của chánh phủ VN gởi 15 tấn vàng còn giữ lại ở Saigon đến BANK OF INTERNATIONAL SETTLEMENTS (Ngân hàng Thanh toán Quốc tế) trụ sở ở Basel, Thụy Sĩ như là biện pháp thận trọng bảo đảm sự an toàn và chuẩn bị sẵn sàng để tung ra thị trường nếu cần đáp ứng cho yêu cầu.
Trước đó có năm tấn vàng báo cáo đã được cất giữ ở Basel.
Mặc dù chánh phủ VNCH quan tâm đến việc giữ bí mật tuyệt đối về công tác này; tuy nhiên hảng thông tấn Reuters đã lấy được tin về các sự tìm hiểu sơ khởi ở Thụy Sĩ liên quan đến sự chuyên chở và sắp đặt mua bảo hiểm. 
Ngoài ra tuần báo Time cũng biết được tin này và báo New York Times dựa trên tuần báo Time đã có bài viết trong ngày 14/4: “Tuần báo Time cho biết trong số đang phát hành được bán ra ngày hôm nay là các viên chức Nam Việt Nam cố gắng gởi số vàng trị giá 73 triệu đô – dường như thuộc về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Cam Bốt Lon Nol – đến Thụy Sĩ. Tuy nhiên hảng máy bay cho thuê riêng Balair, chi nhánh của hảng hàng không Thụy Sĩ từ chối chở vàng ra khỏi Sài Gòn.
Theo tuần báo Time, các viên chức của chánh phủ Việt Nam đã hỏi ý đại diện Balair vào cuối tháng 3 liệu họ có sẵn lòng vận chuyển “một số đồ đạc cá nhân” của gia đình Thiệu cũng như đồ đạc cá nhân của Tổng thống Lon Nol, người hiện đang trị bệnh ở Hawaii.
Khi được biết số đồ đạc này là 16 tấn vàng, Balair từ chối chuyên chở và còn cho biết thêm là họ lo ngại số vàng này có thể là một phần của các nguồn dự trữ chính thức của Nam Việt Nam và Campuchia.
Hãng hàng không nhấn mạnh là hàng hóa có thể bị kiểm tra tại các điểm dừng tiếp tế nhiên liệu ở Bangkok  và Bahrain.
Vào cuối tuần, các thỏi vàng dường như vẫn còn ở Sài Gòn, được đặt trên các pa lết và đang chờ một hãng hàng không sẵn sàng chịu vận chuyển.”
[1]

Trước tình trạng bất lợi vì đã bị lộ bí mật TĐS Mỹ khuyến cáo chánh phủ VN gởi vàng đến Ngân hàng Dự trữ Liên bang ở New York (Federal Reserve BankFRB New York) để tránh liên hệ đến Thụy Sĩ và sau đó công khai tuyên bố mục đích là để chuẩn bị cho việc mua sắm vũ khí và đạn dược trong tương lai nếu cần.
Ngoài ra TĐS còn yêu cầu Bộ Ngoại Giao HK (BNG) cho ý kiến trong thời hạn sớm nhất về bất cứ trở ngại nào, nếu có, của FRB trong việc tiếp nhận và lưu trữ và sự lượng định của BNG về ảnh hưởng đến quốc hội trước các tin đồn hiện tại liên quan đến việc di chuyển vàng và nhận định của BNG về ảnh hưởng của việc thông báo công khai như đã nêu trên để đập tan lời đồn đại.
TĐS cũng báo cáo mặc dù đây là lần đầu tiên TĐS đã được chánh phủ VN thông báo chánh thức về ý định gởi vàng đến Bank of International Settlements ở Thụy Sĩ, nhưng TĐS đã  biết về chuyện này qua các nguồn tin  thu thập được trong giới tình báo Mỹ.
Thêm vào đó, TĐS hy vọng Washington sẽ làm bất cứ điều gì có thể được để giúp sửa sai những bài viết như đã xuất hiện trong Time Magazine tuần này dưới tựa đề “Lưu vong giàu sang” cáo buộc âm mưu chuyển “Thiệu – Lonnol vàng” sang Thụy Sĩ. 
Chuyện này đã được các công ty truyền thông gởi đi khắp nơi. Rõ ràng là chuyện này sẽ mang đến tổn thương trước quốc hội. [2]

Ngày 15 THÁNG 4, nhận thấy vấn đề này liên quan đến Bộ Ngân Khố nên BNG/HK chuyển tiếp bức điện văn đến William E. Simon Bộ Trưởng Ngân Khố đang công tác tại Ấn Độ. [3]
Trong cùng ngày, BNG thông báo TĐS là công ty cho thuê máy bay riêng Balair của Thụy Sĩ xác nhận họ đã từ chối chở 16 tấn vàng từ Sài Gòn vì lý do “liên quan đến chánh trị”; không nêu tên người môi giới Âu Châu đã yêu cầu (nguồn tin từ UPI, NYDN; REUTER, NYT). [4]

Ngày 17 THÁNG 4
Trong điện văn trả lời TĐS,  BNG cảm thấy không có khó khăn trong việc gởi vàng của chánh phủ VN đến FRB New York. Ngân hàng đồng ý nhận và lưu trữ số vàng chuyển qua.
Quan thuế Mỹ sẽ làm gấp thủ tục nhập cảng nếu được cung cấp tin tức rõ rệt về thời gian và nơi đến.
Ngoài ra BNG dự trù không loan báo nhưng nếu được hỏi sẽ yêu cầu tham khảo thông báo của chánh phủ VN hoặc nếu được hỏi trước khi có thông báo về phía VN, BNG trả lời là theo sự hiểu biết của chúng tôi sự chuyển vàng là để chuẩn bị cho việc mua vũ khí và đạn dược trong tương lai. [5]
Phúc đáp điện văn của BNG, TĐS đề nghị là BNG thông báo vài Thượng nghị sĩ và dân biểu thân thiện biết sự thật là các bài viết này hoàn toàn sai và sự thật là để chuẩn bị mang vàng đến gởi ở FRB New York thay vì ngân hàng thanh toán quốc tế ở Basel, Thụy Sĩ, và sẽ được dùng để mua sắm vũ khí và đạn dược trong tương lai.
Quyết định này biểu hiện quyết tâm sử dụng tất cả tài nguyên của chánh phủ VN để duy trì sự tự do của họ.
TĐS còn cho biết thêm là Phó Thủ tướng đặc trách Phát triển Kinh tế Nguyễn Văn Hảo thông báo viên chức đặc trách kinh tế ở TĐS là họ đã quyết định gởi vàng đến FRB New York, nhưng thời gian chưa được xác định. [6]

Ngày 18 THÁNG 4
BNG gởi điện văn đến TĐS cho biết FRB New York thông báo BNG là họ đã nhận điện tín chứng nhận gởi từ Ngân hàng Trung ương VN yêu cầu chấp thuận chuyển vàng đến FRB New York để lưu trữ.
Câu trả lời khẳng định đã được gởi đến ngân hàng Trung ương VN trưa ngày hôm nay.
Ngoài ra BNG mới biết được từ hảng hàng không World Airways là chánh phủ VN đã yêu cầu họ chở 18 tấn vàng sang Zurich, Thụy Sĩ.
BNG mong đợi TĐS tìm hiểu để làm sáng tỏ vấn đề. [7]

Ngày 19 THÁNG 4
TĐS gởi điện văn thượng khẩn thông báo BNG là Phó Thủ tướng Đặc trách Kinh tế Nguyễn Văn Hảo tái xác nhận ông đã quyết định vận chuyển vàng đến FRB New York. Thời gian gởi chuyến hàng chưa xác định, ông Hảo không biết gì về yêu cầu đối với World Airways, mặc dù có vài hảng máy bay đã được tiếp xúc để vận chuyển đến Thụy Sĩ trước khi có quyết định gởi đến FRB New York. World Arways có thể là một trong các hảng máy bay đã được tiếc xúc để chở vàng qua Thụy Sĩ.
Về phần Thống đốc Lê Quang Uyển, ông không có rảnh buổi sáng nay, nhưng ông sẽ không hành động trước một vấn đề nhạy cảm có tính cách chánh trị như việc này mà không có chỉ thị rõ ràng từ ông Hảo.[8]

Ngày 21 THÁNG 4
TĐS gởi báo cáo về BNG cho biết là Thống đốc ngân hàng VN thông báo Tổng thống Thiệu đã chấp thuận gởi vàng qua Mỹ càng sớm càng tốt. Chánh phủ VN đã yêu cầu FRB New York sắp xếp bảo hiểm và hiện đang chờ phúc đáp từ FRB New York

TĐS đồng ý với lời yêu cầu của Chánh phủ VN sử dụng phi cơ quân sự hay phi cơ Bộ Quốc Phòng Mỹ thuê riêng để chở vàng. Vì đây là cách thức nhanh nhất và im lặng nhất để mang vàng ra khỏi nước. Chánh phủ VN bảo đảm sẽ bồi hoàn chi phí. Từ khi phương tiện vận tải quân sự đang có sẵn, ngay sau khi bảo hiểm được sắp đặt, BNG thông báo BQP để thi hành. Ngân hàng Quốc gia VN cho hay vàng đang được đóng thùng.
Các chi tiết kỹ thuật, FRB New York sắp đặt bảo hiểm và BQP ra lịnh để thi hành, tất cả các điều đó có thể cản trở chuyến hàng. [9]

Ngày 22 THÁNG 4

BNG chuyển TĐS điện tín số 25 ngày 18 tháng 4 năm 1975 từ FRB NewYork gởi Ngân hàng Quốc gia VN:
“Chúng tôi chuẩn bị để nhận và giữ cho tài khoản duy nhứt số lượng vàng viện dẫn từ điện tín số 8 của quý vị.
Chúng tôi hiểu rằng số vàng này là sở hữu của Ngân hàng VN và sự thỏa thuận hoặc tham gia trước của chúng tôi sẽ được bảo mật cho bất cứ sắp đặt nào liên quan đến việc tạo ra bên thứ ba quan tâm đến số vàng này.
Chúng tôi cũng hiểu rằng ngay ở thời điểm hiện tại vàng có thể được bán ra trên thị trường tự do bởi ngân hàng trung ương trong trường hợp tối cần mà không có sự phản đối chánh thức ở đây.
“Thủ tục thông thường của chúng tôi khi chuyên chở vàng bằng đường hàng không là mỗi thỏi vàng phải được đựng trong túi vải kín đánh số theo thứ tự với danh sách trọng lượng các thỏi vàng gồm luôn túi sau cùng,
Chuyến hàng nên ghi chú ký thác cho FRB ở NY và kèm theo danh sách trọng lượng.
Chúng tôi ước muốn được thông báo trước ít nhất 24 giờ bằng điện tín các con số và đánh dấu trên mỗi thỏi, số túi và và tổng trọng lượng vàng cũng như trong lượng của vàng ròng bằng troy ounces (1 troy ounces = 31.10gram).
Chúng tôi chuẩn bị sắp đặt việc chuyên chở bằng xe bọc thép từ phi trường đến hầm chứa tiền ở New York. Đề nghị  chuyến bay được sắp xếp đến New York không được quá 12 giờ trưa (giờ ở NY) trong ngày làm việc.
Gía tiền bảo hiểm chuyển vàng từ kho tiền của Ngân hàng VN đến kho tiền FRB, căn cứ trên giới hạn phỏng chừng 80 triệu đô cho tài khoản của ngân hàng VN, chống lại mọi rủi ro kể cả chiến tranh, và tùy thuộc vào điều ngoại lệ của khế ước bảo hiểm căn bản. Gía biểu hiện tại phỏng chừng $ .975 trên $100 đô (luôn cả rủi ro vì chiến tranh giá $.625 trên $100 đô dựa trên viện dẫn thay đổi theo từng giờ).
Gía biểu ước tính dựa trên điều kiện chuyến hàng sẽ được chuyên chở bởi phi cơ chánh phủ HK như trong mục 3 văn thư trên.

Hảng bảo hiểm sẽ đòi hỏi là số vàng này được bảo vệ cẩn mật khi di chuyển từ hầm chứa ở ngân hàng đến phi trường.”
Lưu ý TĐS đoạn văn trên của FRB chỉ viện dẫn giá bảo hiểm, FRB chưa tiếp xúc với hảng bảo hiểm để tiến hành việc sắp đặt để được bảo hiểm.
BNG đã tiếp xúc với FRB để công việc tiến hành nhanh chóng nhưng FRB cần Ngân hàng quốc gia VN xác nhận chấp nhận điều kiện đã nêu ra trong điện tín của họ. [10]

Ngay sau đó TĐS báo cáo BNG:
– Ngân hàng quốc gia VN chấp nhận điều kiện trong điện tín nêu trên, sẽ gởi điện tín đến FRB New York để xác nhận.
– Công việc đóng thùng sẽ được hoàn tất vào ngày Chủ Nhật, 27 tháng 4. Chuyến bay thu xếp vào buổi trưa/ chiều 27 tháng 4.
 – Ngân hàng Quốc gia VN sẽ gởi một người đang được biệt phái tại Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế tháp tùng theo chuyến hàng để bảo đảm giấy tờ và biên nhận.[11]

Ngày 23 THÁNG 4
TĐS đề nghị BNG để được nhanh chóng chuyến hàng rời Sài Gòn chiều ngày Thứ Sáu 25 tháng 4. [12]

Ngày 24 THÁNG 4

BNG chấp thuận đề nghị của TĐS và đã phối hợp với BQP để ra lịnh phi cơ có mặt ở Sài Gòn lúc 0600 zulu (tức 2 giờ trưa giờ VN) ngày 25 tháng 4.  Nơi đến cuối cùng là căn cứ Không quân McGuire AFB ở phía nam tiểu bang New Jersey.
Ngoài ra BNG còn mong được biết một cách khẩn cấp các tin tức sau đây:
– Vàng có được bọc lại đặt trên pa lết?
– Danh tánh của người đại diện Ngân hàng Quốc gia VN mang theo tài liệu chuyến hàng.
– Danh tánh liên lạc của tòa Đại sứ/Văn phòng tùy viên quân sự.
Sau cùng BNG thông báo FRB New York cho hay là giá bảo hiểm đã tăng lên gấp ba kể từ lần viện dẫn đầu tiên trong điện văn ngày 22 tháng 4-75. Hơn thế nữa, qua ngân hàng Chase, FRB New York biết được ngân hàng quốc gia VN đang chuyển 10 triệu đô từ chương mục FRB sang ngân hàng Chase, như vậy trên thực tế chương mục của chánh phủ Việt Nam trong FRB đã hết sạch tiền, FRB chưa được ngân hàng quốc gia VN thông báo về việc này.
BNG đang tìm kiếm các khả năng thay thế để bảo hiểm số lượng vàng nhưng nếu không thành công BNG sẽ nói FRB New York tiến hành với việc bảo hiểm từ chương mục hiện tại của chánh phủ VN.
Yêu cầu Ngân hàng quốc gia VN xác nhận là nếu cần FRB New York có thể sử dụng chương mục của ngân hàng quốc gia VN để kết thúc việc sắp xếp bảo hiểm theo giá hiện tại. [13]
Tiếp theo, trong cùng ngày TĐS thông báo tên và chức vụ hai người tháp tùng theo chuyến bay:
– Đại diện tòa Đại sứ: Cố vấn kinh tế TĐS A.D. Ellerman  
– Đại diện Phòng Tùy viên Quân sự (DAO): Chuẩn tướng Không quân R.W. Wensen [14]
 
Ngày 25 THÁNG 5
BNG thông báo TĐS là FRB New York cho hay bảo hiểm cho nguy cơ chiến tranh chỉ giới hạn ở mức 27 triệu đô. FRB hy vọng sẽ sắp xếp thêm 53 triệu đô bảo hiểm hàng hải qua hảng bảo hiểm ở Luân Đôn trong sáng mai. Hiện tại chuyến hàng chưa được bảo hiểm đầy đủ.
Để cho Hoa Kỳ thực hiện chuyến chở hàng, Ngân hàng QG Việt Nam phải gởi qua giấy chấp thuận sau đây. Đây là điều bắt buộc từ khi chánh phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận trách nhiệm trong việc mất hàng.
Văn kiện chấp thuận của Ngân hàng Quốc gia VN phải được viết như sau:“để cứu xét việc Hoa Kỳ đồng ý vận chuyến số lượng vàng bằng máy bay được điều hành bởi hay thay mặt cho Hoa Kỳ, Ngân hàng Việt Nam, thay mặt cho chính mình, các đại diện, thừa kế và chuyển nhượng xin tuyên bố giải tỏa và vô hiệu hóa Hoa Kỳ, đại lý, nhân viên phục vụ và nhân viên trước bất kỳ và tất cả các yêu sách đòi bồi thường do thiệt hại hay mất mát hàng hóa do kết quả từ hoặc trong suốt chuyến bay hay các chuyến bay  tiếp nối hay từ  các sự việc xảy ra khi di chuyển bằng đường bộ đến nơi đó.” [15]

TĐS thông báo BNG là vàng sẽ được đóng kín trong 300 thùng gỗ, mỗi thùng cân khoảng 50 kí lô.
100 thùng có kích thước 20cmX22cmX12cm. 200 thùng có kích thước 19,5cmX29cmX10,5cm.
Đại diện cho Ngân hàng Quốc gia VN là ông Phạm Trường Long, passport của chánh phủ VN mang số 17895 cấp ngày 24 tháng 4 năm 1974. Visa vào nước Mỹ cấp ngày 22 tháng 4 năm 1975.
Qua một điện tín riêng biệt, Ngân hàng Quốc gia VN xác nhận trương mục của họ có thể dùng để thu xếp bảo hiểm với giá hiện tại. Việc sử dụng này có ưu tiên trên vấn đề ngân hàng Chase đã đề cập.
Ngân hàng Quốc gia VN sẽ không bắt đầu chuyến gởi hàng trừ khi được bảo hiểm đầy đủ. Yêu cầu thông báo bằng điện tín thượng khẩn ngay sau khi hoàn tất việc thu xếp bảo hiểm.
Ngân hàng Quốc gia VN không quan tâm đến sở phí. Nếu đã bảo hiểm đầy đủ, xin cho ý kiến có cần phải làm giấy chấp thuận như quí vị đòi hỏi trong văn thư nêu trên. [16]
 
Tiếp theo, BNG chuyển tiếp đến TĐS điện văn FRB  New York gởi Ngân hàng Quốc gia VN:
“Chúng tôi đã mua được bảo hiểm cho trương mục của qúy ngân hàng trị giá 60.240.000 đô la cho chuyến vận chuyển từ kho vàng này đến kho vàng kia chống lại các nguy cơ luôn cả chiến tranh và tùy thuộc vào tiêu chuẩn gồm các khoản loại trừ trong khế ước bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm là giới hạn của hảng bảo hiểm và sẽ có hiệu lực chỉ khi nào chuyến hàng rời Sài Gòn lúc 7 giờ sáng (giờ Sài Gòn) ngày 27 tháng 4 năm 1974.
Không có thêm bảo hiểm nào hiệu lực ở New York hay ở London.
Nếu thỏa mản về bảo hiểm, xin làm giấy chấp thuận, ký tên và khuyến cáo như FRB đã yêu cầu.[17]

Ngày 26 THÁNG 5Đột nhiên, qua ngày 26 tháng 4, TĐS báo cáo về BNG là chánh ph VNCH đã quyết định không chuyn vàng trong thi đim này, yêu cầu hủy bỏ các điện văn đã chuyển đạt và nhờ thông báo đến Bộ Quốc Phòng và Ngân hàng Dự trữ Liên Bang New York. [18]
 
Đến đây s phn ca Vit Nam Cng Hòa cũng sp sa kết thúc. Có l bn rn vi vic di tn nên TĐS Hoa K không tha thiết tìm hiu lý do vì sao đi ý.
 
B.- Tiến sĩ Nguyn Tiến Hưng***: cựu Tổng trưởng Kế Hoạch trong nội các Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Bá Cẩn, được xem như là cố vấn tín cẩn và trung thành của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông được đề cử đi công tác qua Mỹ cùng với ông Nguyễn Ngọc Bích Tổng Giám đốc Việt Nam Thông tấn xã với mục đích vận động Quốc hội và dư luận quần chúng HK ủng hộ các đề nghị giúp đỡ VN.
Hai ông rời VN ngày 16 tháng 4, dụ trù đến Washington ngày 17 tháng 4. [19]
Có 2 tài liệu liên quan đến ông:

1.- Bài  đăng trong Washington Post ngày 20 tháng 10 năm 1991 với tựa đề; “TIỀN CỦA VIỆT NAM TRONG NGÂN HÀNG” có đoạn viết về số vàng này như sau:
“Khi Sài Gòn mất vào tay Cộng Sản 16 năm về trước, trong số những lô hàng hóa giá trị bị mắc kẹt trong đống đổ nát của sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam là một thùng vàng thỏi ở sân bay Tân Sơn Nhứt và hàng triệu đô la và các vật có giá trị khác trong các ngân hàng của Hoa Kỳ.
Một tháng trước khi bại trận, tôi đã đề nghị gởi vàng sang Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ để bảo đảm an toàn và giúp duy trì các giao dịch tài chính của chính phủ chúng tôi. Nỗ lực của tôi bắt đầu sau khi Đà Nẵng thất thủ vào tháng 3 năm 1975, điều này khiến an ninh của các kho dự trữ do chính phủ nắm giữ ở Sài Gòn trở nên bấp bênh. Ngày 2 tháng 4, chánh phủ chấp thuận đề nghị của tôi, và vàng đã được đóng thùng và sẵn sàng cho phi cơ chở qua Mỹ. Nhưng trong sự hoang mang của những tuần cuối cùng, thỏi vàng không bao giờ di chuyển. Những nỗ lực của tôi đã thất bại và Cộng sản đã thâu lại.”
[20]

2
.- Qua lần nói chuyện với BBC ngày 29 Tháng 12 2005
“Trong một cuộc nói chuyện với Hà Mi của BBC, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng hòa thời ông Nguyễn Văn Thiệu về số phận của số vàng mà tính theo thời giá hôm nay bằng gần 300 triệu đôla Mỹ.
Theo ông Nguyễn Tiến Hưng, người ta đã không mang được số vàng đó ra khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa với mục tiêu dùng làm khoản thế chấp để vay tiền ở nước ngoài sau khi viện trợ cho chế độ đã cạn.
Lý do đầu tiên là tập đoàn Lloyds of London không đồng ý bảo hiểm cho việc vận chuyển bằng hàng không ra khỏi Việt Nam.
Vẫn theo ông Nguyễn Tiến Hưng, sau đó, khi nội các Việt Nam Cộng hòa muốn đưa sang Thụy Sĩ và cuối cùng là sang Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ bằng sự giúp đỡ của không lực Hoa Kỳ nhưng tân tổng thống Trần Văn Hương đã không đồng ý cho mang đi.”
[21]                                                                 **********************************

NHẬN XÉT VỀ BÀI VIẾT VÀ LẦN NÓI CHUYỆN CỦA TIẾN SĨ NGUYỄN TIẾN HƯNG
Có sự mâu thuẩn qua bài viết và lần nói chuyện của ông Hưng. Nếu đối chiếu với các tài liệu qua báo chí và qua là tài liệu đã được Bộ Ngoại Giao HK giải mật từ năm 2006 sẽ nhận ra các điểm không chính xác sau đây:
A.- Qua bài viết.
1.- Ông Hưng mở đầu bằng câu kết luận:
“trong số những lô hàng hóa giá trị bị mắc kẹt trong đống đổ nát của sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam một thùng vàng thỏi ở sân bay Tân Sơn Nhứt.”{nguyên văn: ‘a crate of gold bullion at Tan Son Nhut airport’)
••• Đọc điện văn cuối cùng của TĐS sẽ nhận ra là có đến 300 thùng gỗ mỗi thùng nặng 50 kg và số vàng này vẫn còn ở hầm chứa của Ngân hàng Quốc gia VN.
Và ngạc nhiên thay nếu đóng vai trò chính yếu và nếu đây là NỖ LỰC của ông sao ông không biết được số lượng vàng là bao nhiêu?
2.- Một tháng trước khi bại trận, tôi đã đề nghị gởi vàng sang Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ”••• Tất cả các tài liệu đều cho là ngay từ đầu chánh quyền VNCH có ý định gởi vàng qua Thụy Sĩ, Điều này hợp lý vì trong BANK OF INTERNATIONAL SETTLEMENTS ở Basel đã có sn 5 tn vàng gi t trước.
••• Ông đề nghị với ai? Tổng thống, Thủ tướng hay Phó Thủ tướng?
Chức vụ của ông là Tổng trưởng Kế hoạch, có thể là ông đã đề nghị, nhưng đề nghị này đã bị bác bỏ.
Mặc dù là viên chức cao cấp, thân cận với TT Thiệu nhưng vẫn không thay đổi được quyết định chuyển vàng qua Thụy Sĩ của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo và Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Lê Quang Uyển vì cho đến ngày 14 tháng 4 khi Phó Thủ tướng Hảo và Thống đốc Uyển thông báo TĐS Mỹ hai ông vn gi ý đnh mang vàng qua Thy Sĩ.
14 năm sau, qua lần nói chuyện với BBC ngày 29 tháng 12 năm 2005 ông nói hơi khác đi: “khi nội các Việt Nam Cộng Hòa muốn đưa sang Thụy Sĩ và cuối cùng là sang Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ… “
3.-  Ông cho là: “và vàng đã được đóng thùng và sẵn sàng cho phi cơ chở qua Mỹ.”
••• Xin được hỏi vàng đã được đóng thùng và sẵn sàng cho phi cơ chở qua Mỹ vào lúc nào?
Chắc hẵn là ông muốn nói tất cả đã sẵn sàng trước khi ông đi Mỹ?
••• Ngày 21/4 Ngân Hàng Quc Gia Vit Nam cho hay vàng đang được đóng thùng. Ngày 22 tháng 4, TĐS báo cáo v BNG là vic đóng thùng s hoàn tt vào ngày 27 tháng 4.

4.- Sau cùng ông Hưng đi đến kết luận: Những nỗ lực của tôi đã thất bại….”
Tất cả các tài liệu lưu trữ của BNG Mỹ không thấy đề cập đến ông Hưng vì trong khoảng thời gian từ ngày 14/4 lúc chánh phủ VN đồng ý với đề nghị của TĐS gởi vàng qua Mỹ cho đến ngày 26 /4 thông báo ngưng chuyển tất cả mọi liên lạc với phía bên Mỹ đều do Phó Thủ tướng Hảo và Thống đốc Uyển đảm trách.
Vã lại trong lúc này ông đang chuẩn bị cho chuyến công tác ở Mỹ. Xin được hỏi nỗ lực của ông ra sao? (ông rời Sài Gòn ngày 16 tháng 4, hưởng quy chế tị nạn ngay tại Mỹ)
Ngay cả đề nghị chuyển vàng qua Mỹ – nếu có – cũng không được chấp thuận, điều này cũng dễ hiểu vì chức vụ của ông là Tổng trưởng Kế hoạch do vậy trách nhiệm và phần hành của ông không liên quan gì đến số lượng vàng dự trữ trong Ngân hàng Quốc gia VN.
  Để kết luận, đoạn viết trên về câu chuyện 15 tấn vàng trong tháng 4/1975 của Tiến sĩ Nguyễn hoàn toàn sai sự thật. Ông tưởng tượng viết ra một câu chuyện chứng tỏ ông là nhân vật chính và là nỗ lực của chính ông.
Ông viết bài này sau khi đã thành công và nổi tiếng qua cuốn ‘HỒ SƠ MẬT DINH ĐỘC LẬP’ xuất bản năm 1986.  Có lẽ vì thế Washington Post đã đăng bài của ông và những ai đọc qua bài viết này sẽ không mảy may nghi ngờ là tiến trình gởi vàng qua Mỹ từ lúc bắt đầu cho đến khi đã được đóng thùng nằm chờ sẵn ở Tân Sơn Nhất tất cả là n lc ca Tiến sĩ Hưng và ông đã lo liu chu đáo trước khi lên đường qua Mỹ!!!

B.- Qua lần nói chuyện với BBC.
14 năm sau, ông tiết lộ thêm chi tiết về hảng bảo hiểm Lloyds và ngân hàng Thụy Sĩ:
“Lý do đầu tiên là tập đoàn Lloyds of London không đồng ý bảo hiểm cho việc vận chuyển bằng hàng không ra khỏi Việt Nam.
Vẫn theo ông Nguyễn Tiến Hưng, sau đó, khi nội các Việt Nam Cộng hòa muốn đưa sang Thụy Sĩ và cuối cùng là sang Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ…”
NHẬN XÉT1.- Viện dẫn nêu trên cho biết lý do đầu tiên không mang vàng ra khỏi Việt Nam là vì tập đoàn Lloyds of London không đồng ý bảo hiểm cho việc vận chuyển bằng hàng không ra khỏi Việt Nam.’
Xin được hỏi chở vàng đi đâu mà Lloyds không đồng ý?
Không lẽ ông không biết là chính hảng hàng không Balair đã từ chối trong khi một số hảng tin, báo chí và TĐS Mỹ đã biết chuyện này.
2.- Và tiếp theo ông hé lộ sự thật ‘sau đó, khi nội các Việt Nam Cộng hòa muốn đưa sang Thụy Sĩ và cuối cùng là sang Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ…’
Câu tr li này đã bác b tt c nhng gì gọi là “NỖ LỰC” của ông vì chứng tỏ ông không đóng vai trò gì cả trong việc gởi vàng ra ngoại quốc.
Hẵn ông phải biết rõ ai là người chủ động, nhưng ông vẫn mập mờ nói là ‘khi nội các Việt Nam Cộng Hòa…’.
3.- Mục đích của việc gởi vàng ra ngoại quốc.
Trong cả hai tài liệu dẫn chứng, Ông Hưng chỉ nói một cách tổng quát: “… với mục tiêu dùng làm khoản thế chấp để vay tiền ở nước ngoài sau khi viện trợ cho chế độ đã cạn.”
Trong khi TĐS nói rõ “mục đích là để chuẩn bị cho việc mua sắm vũ khí và đạn dược trong tương lai nếu cần.”

NHN XÉT TNG QUÁT1.- Lý do khởi đầu chánh quyền VN muốn gởi vàng qua ngân hàng Thụy Sĩ cũng dễ hiểu vì Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã có sẵn năm tấn vàng được cất giữ ở Basel.
2.- Chính Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo đã quyết định gởi vàng qua Mỹ sau đề nghị của TĐS Hoa Kỳ.
3.- Ngoài Balair, một vài hảng hàng không khác cũng được tiếp xúc để chở vàng qua Thụy Sĩ.
4.- Đại Sứ Martin đã lựa chọn thái độ không can dự. Mặc dù đã biết được ý định của chánh phủ VN ngay từ đầu nhưng TĐS không liên lạc để đưa ra bất cứ đề nghị hoặc khuyến cáo nào.
5.- Các cơ quan liên hệ trong chánh quyền Mỹ đã liên lạc tích cực và chặt chẽ để hoàn thành công tác. Vì việc chuyển vàng có thể thổi luồng sinh khí nâng cao tinh thần quân dân VNCH. Nếu chánh quyền VN còn cầm cự thêm một thời gian chừng vài tháng có thể dùng vàng để thế chấp cho việc mua vũ khí, đạn dược và nhiên liệu. Ngoài ra nếu miền Nam thất thủ, Mỹ có thể dùng số vàng này như là con cờ để mặc cả sau này.
6.- Tính chất xuyên tạc và bôi nhọ cá nhân của các hảng tin và báo chí mỹ khi họ vu khống số vàng này thuộc về cá nhân của Tổng Thống Thiệu và Tổng Thống Lon Nol Cam Bốt.
Chính TĐS cũng nhận thức ra lẽ phải vì thế: “hy vọng Washington sẽ làm bất cứ điều gì có thể được để giúp sửa sai những bài viết như đã xuất hiện trong Time Magazine tuần này dưới tựa đề ‘Lưu vong giàu sang’ cáo buộc âm mưu chuyển ‘Thiệu – Lonnol vàng’ sang Thụy Sĩ.” 
                                                                        —————————————
** Ghi chú: hầu hết các bài phổ biến trong và ngoài nước đều viết là 16 tấn vàng, nhưng qua các tài lệu sau đây xác nhận 15 tấn:
1.- Ngân hàng Quốc gia VN:“Vàng sẽ được đóng kín trong 300 thùng gỗ, mỗi thùng cân khoảng 50 kí lô = khoảng 15 tấn.
Và còn nói rõ chi tiết là “100 thùng có kích thước 20cmx22cmx12cm. 200 thùng có kích thước 19,5cmx29cmx10,5cm.”
2.- Tài liệu CIA ngày 23 tháng 4 năm 1975: “Sài Gòn tìm cách gởi ra ngoại quốc khoảng 15 tấn vàng trị giá 20 triệu đô theo hối xuất chánh thức.” [22]
3.- Bài viết ‘Vietnamese Had Role In Gold Disposition’ đăng trong The New York Times ngày 19 tháng 10 năm 1993 cũng xác nhận là 15 tấn, ngoài ra còn nói rõ chính Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo thông báo là chánh phủ Trần Văn Hương đã đổi ý và vàng còn ở lại Sài Gòn.Như vy có th kết lun trng lượng ca s vàng này khong chng 15 TN.
*** Qua sắc lệnh số 1102 TT/SL ngày 28 tháng 11 năm 1974 của Tổng thống VNCH:
– Tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Thủ tướng Đặc trách Phát triển Kinh Tế kiêm Tổng trưởng Nông nghiệp và Kỹ nghệ.
– Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng được bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng trưởng Kế hoạch.
Ông Hưng là kinh tế gia được Mỹ đào tạo, trở về nước giữa năm 1973 giữ chức vụ Cố vấn Đặc biệt cho Tổng thống về Kế hoạch Quốc gia và Kinh tế Tài Chánh.
Tiếp theo đó ngày 18 tháng 2 năm 1974 ông được bổ nhiệm chức vụ Tổng Ủy viên Kế hoạch thay thế ông Phạm Kim Ngọc từ chức.

THAM KHẢO
[1]
THIEU SAID TO TRY TO SEND OUT GOLD/April 14, 1975  –  The New York Times Archives
[2] Điện văn số 012671 ngày 15 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC IMMEDIATE)
[3] Điện văn số 020061 ngày 15 tháng 4 năm 1975 từ SECSTATE WASHDC đến AMEMBASSY NEW DELHI IMMEDIATE S E C R E T
[4] Điện văn số 029194  ngày 15 tháng 4 năm 1975 từ SECSTATE WASHDC đến ALL EAST ASIAN AND PACIFIC DIPLOMATIC POSTS
[5] Điện văn số 048100 ngày 17 tháng 4 năm 1975 từ SECSTATE WASHDC đến AMEMBASSY SAIGON IMMEDIATE S E C R E T
[6] Điện văn số 054644 ngày 17 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC IMMEDIATE
[7] Điện văn số 083714 ngày 18 tháng 4 năm 1975 từ SECSTATE WASHDC đến AMEMBASSY SAIGON IMMEDIATE
[8] Điện văn số 090139 ngày 19 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC IMMEDIATE 5589
[9] Điện văn số 100326 ngày 21 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC [10] Điện văn số 112781 ngày 22 tháng 4 năm 1975 từ SECSTATE WASHDC đến AMEMBASSY SAIGON NIACT IMMEDIATE
[11] Điện văn số 118115 ngày 22 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC PRIORITY
[12] Điện văn số 002140 ngày 23 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC IMMEDIATE
[13] Điện văn số 033347 ngày 24 tháng 4 năm 1975 từ SECSTATE WASHDC đến AMEMBASSY SAIGON NIACT IMMEDIATE
[14] Điện văn số 035877 ngày 24 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC NIACT IMMEDIATE 5783
[15] Điện văn số 035927 ngày 25 tháng 4 năm 1975 từ SECSTATE WASHDC đến AMEMBASSY SAIGON NIACT IMMEDIATE
[16] Điện văn số 041824 ngày 25 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC IMMEDIATE 5799
[17] Điện văn số 050385 ngày 25 tháng 4 năm 1975 từ SECSTATE WASHDC đến AMEMBASSY SAIGON NIACT IMMEDIATE
[18] Điện văn số 060928 ngày 26 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHDC IMMEDIATE
[19] Điện văn số 036834 ngày 16 tháng 4 năm 1975 từ AMEMBASSY SAIGON đến SECSTATE WASHC
[20] VIETNAM’S MONEY IN THE BANK By G. Nguyen Tien Hung- Washington Post – October 20, 1991
[21] BBC- “Anh ra hồ sơ về ông Nguyễn Văn Thiệu /29 Tháng 12 2005”.
[22] CIA-RDP86T00608 R000500140016-6 ngày 23 tháng 4 năm 1975

Nguồn: Cảm ơn Mr. TSH chuyển bài.

Lễ Tạ ơn (Thanksgiving) và thịt Gà Tây – Trần Minh Quân

Trần Minh Quân

Thanksgiving GIFs | Tenor

Mỗi năm khi Lễ Tạ Ơn về,Trần Minh Quân nhớ những ngày đầu tiên đến Đất Mỹ.. tháng 10 năm 1988 từ Trại Tỵ Nạn PRPC, Morong Bataan (Philippines)..Ngày Lễ Tạ Ơn Nhà Thờ bảo trợ đem đến tận nhà hai con gà Tây thật to (chưa bao giờ thấy) cùng cả thùng rau, khoai.. đi kèm..và còn đón cả gia đình đến thiết đãi một bữa tiệc thịnh soạn tại Hội Trường Nhà Thờ chung với các giáo dân Mỹ xa lạ..

   Ân tình ngày đầu còn mãi dù hơn 30 năm đã trôi qua..

    Năm 1609 các tay thực dân Âu châu, định cư tại Jamestown  (Virginia) đã biết ăn thịt gà tây trong thời gian đói kém, các khai quật khảo cổ đã tìm thấy xương gà tây tại các địa điểm định cư..

   Năm 1620, người Pilgrims từ Tàu Mayflower đặt chân lên Vùng Đất mới : Plymouth, Massachusetts.. Họ đã nuôi Gà tây tại một nông trại ở Plymouth và đã ăn gà tây đúng vào Ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên trên Vùng Đất hứa (1621)..

  Ngày nay, tại Hoa Kỳ, thịt Gà tây được xem là món thịt ăn ‘chính thức, không thể thiếu’ để mừng Lễ Thanksgiving. Từ cuối thế kỷ 19, ngày Thanksgiving có thêm cái tên Turkey Day..

  Năm 1784, khi Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết chọn Bald Eagle (Ưng đầu sói) làm biểu tượng Quốc Gia, Benjamin Franklin đã viết thư phản đối, đòi chọn Gà Tây vì “Gà Tây đáng tôn trọng hơn và là loài gia cầm gốc ngay tại Bắc Mỹ”

  Văn hóa Mỹ chấp nhận danh từ Turkey (thay vì tên một Quốc gia =Thổ Nhĩ Kỳ) đưa vào ngôn ngữ .. Khi bàn chuyện nghiêm chỉnh : talked turkey ; khi hát sẽ hát  “Turkey in the Straw và khi nhảy đầm có điệu Turkey strot..

    Văn hóa Pháp.. kỳ lạ hơn : khen thịt gà tây nhưng tên gọi gà tây lại là để chê bai ? Các chữ ‘dinde’ và ‘dindon’ dùng để chỉ người ‘khuyết tật (déformés), hình dạng xấu= laideur! hay tính cách không tốt như lừa đảo=duperie, ngu đần = bêtise và thô lỗ..Dinde là một phụ nữ ‘ngốc=sotte’ và pretentieuse.. “plumer une dinde (vặt lông gà tây lại có nghĩa là.. tống tiền ! “Dindon” là tay đàn ông ngu=stupide nhưng háo danh=vaniteux !

Dindonner quelqu’un là.. xỏ mũi dắt  thằng ngu đi..

  • Vài hàng lịch sử

Gà Tây là tên chung để gọi một số loài chim thuộc nhóm Meleagris gallopavo.

 (gallo : do gallus= gà trống và pavo= công ; gallopavo = gà giống như công)

Nguồn gốc từ Bắc Mỹ châu, gà tây được nuôi thành gia cầm và trở thành loài chim cung cấp thịt trên khắp thế giới.    Tên gọi của Gà tây tại Âu châu, và cả tên khoa học bằng tiếng latin, đã cho thấy nhiều nhầm lẫn, thiếu chính xác về nguồn gốc và đặc tính của loài chim này khi chúng được đưa từ Tân Thế giới về Âu châu.

  • Gà tây bị nhầm với Guinea fowl (La mã), và Công (peacock) : Nhà phân loại sinh vật Linnaeus đã dùng tên meleagris, là tên của guinea-fowl.
  • Người Âu châu dùng tên Turkey vì cho rằng chúng là loài chim gốc từ phương Đông. Người Anh có lẽ nhận chú gà đầu tiên từ một Nhà buôn gà vịt tại Levant hay Thổ Nhĩ Kỳ nên gọi là turkey cock.
  • Pháp gọi là Coq d’Inde = Gà trống Ấn độ..và chuyển thành Dinde  (sau đó gà trống mới có tên Dindon và gà con thành Dindonneau).
  • Tại Hoa Kỳ và Canada: Turkey còn thêm các tên như Gobblers, Tom..

   Gà tây có lẽ đã được thuần hóa tại Trung Mỹ từ khoảng 2000 năm trước Tây lịch. Khi người Tây Ban Nha đến chiếm thuộc địa tại Trung Mỹ, thịt gà tây được dùng trong các bữa tiệc hoàng gia..
– Tại Anh, năm 1541, gà tây được xếp vào nhóm các chim lớn như hạc, thiên nga..Sau đó từ các thế kỷ 17-18, gà tây thành gia cầm nuôi và thay thế thịt ngỗng thành món ăn truyền thống trong dịp Lễ Giáng Sinh.
-Tại Pháp : Hoàng hậu Marguerite de Navarre (vợ vua Henri II de Navarre) nuôi gà tây từ 1534 tại Lâu đài d’ Arlencon, và dùng thịt đãi Bà hoàng  Catherine de Medicis trong một bữa tiệc (1549)  ‘hạ’ đến 66 chú gà tây ! Năm 1570, Vua Charles IX (Pháp) đãi thịt gà tây trong tiệc cưới của Ông ta. Từ 1630, thịt gà tây đã trở thành phổ biến trên toàn nước Pháp. Từ cuối thế kỷ 17, gà tây được các tu sĩ Dòng Jésuites nuôi tại Bourges rồi lan rộng đến mức gà tây có tên luôn là “jésuites”?

  • Sơ lược về sinh học

Gà tây hoang và gà tây nuôi có nhiều đặc tính sinh học giống nhau :

  • Gà nuôi (và gà hoang)

  Cổ và đầu không có lông; có một dải thịt mọc thòng từ dưới cổ, thả dài như một loại cà-vạt dính liền vào da. Gà trống có thêm lông cứng nơi ngực và có thể xòe đuôi như công, có tiếng kêu đặc biệt (gobbling= glouglouter) .

   Gà trống lớn hơn gà mái, bộ lông có nhiều màu sặc sỡ pha trộn đỏ, tím, xanh lá cây, màu đồng sáng, có tia vàng; trong khi gà mái lông toàn xám và nâu. Bộ lông gà tây có thể có đến 5-6 ngàn lông.Sải cánh 1.25 đến 1.50 m

    Gà trống nặng trung bình 5-11 kg; dàí-1.25 m . Gà mái 3-5 kg, dài 75-95 cm .

   Trong mùa giao phối thường xảy ra những cuộc ‘đấu chọi’ giữa các gà trống để dành gà mái : cuộc chọi nhau’ có gây đến.. giết nhau ! Sau đó gà trống thắng cuộc (vốn đa thê) qua giai đoạn ‘ve vãn’, gạ gẫm, kêu các tiếng gù và.. phe phẩy đuôi..Gà mái tự làm ổ, rất đơn giản bằng lá khô, sau đó đẻ 10-12 trứng, màu kem có đốm đỏ. Gà mái ấp trứng trong 28 ngày. Gà con =poult rời ổ chỉ sau 12-24 giờ.

  • Gà hoang (hơi khác)

   Gà hoang sống thành bầy, bay khá giỏi và khôn hơn gà nuôi; rất thận trọng và bay hay chạy ngay khi cảm thấy gặp nguy, vận tốc khi bay có thể đến 80 km/ giờGà hoang ăn tạp, kiếm ăn từ các hạt rơi trên mặt đất, hay trên bụi leo và cả cành cây nhỏ. Thực phẩm ưa thích là các hạt cứng (dẻ, hazelnut..) và các loại quả berries, hạt thông, rễ cây và sâu bọ , có khi cả động vật nhỏ như ếch nhái, rắn nhỏ và các loại cỏ.

  • Vài giống Gà tây :
  • Các giống gà tây hoang :

Gà tây hoang có thể chia thành nhiều giống phụ, Hoa kỳ có 4 giống chính :Eastern, Osceola, Rio Grande và Merriam. Giống thứ 5, : Gould chỉ sống tại khu vực Nam Arizona xuống đến Mexico..

Goulds Turkey GIFs - Get the best GIF on GIPHY

Gould Turkey

  • Gà tây hoang Rio Grande (Meleagris gallopavo intermedia): Đuôi xòe của gà trống có viền màu vàng hay màu đất sét. Chân tương đối dài. Gặp tại các vùng bụi rậm gần sông, suối phía Tây Texas. Tây Oklahoma, Colorado, Tây Kansas. Được chuyển về thả hoang tại vùng Tây Hoa Kỳ : California, Oregon, Washington.

           Idaho và cả Hawaii . Số lượng khoảng trên 1 triệu con.Image en ligne
 Rio Grande Turkey

  • Gà tây hoang Merriam ( M. gallopavo merriami) : Đuôi xòe có viền trắng, gặp tại  vùng Tây Hoa Kỳ :trong vùng Rocky Mountains, vùng đồng cỏ Wyoming, Dakota.. Số lượng khoảng trên 300 ngàn con.

 Merriam  Turkey 

  • Gà hoang Eastern Wild Turkey (M. gallopavo silvestris): Giống gà người Puritans đã gặp khi đặt chân lên Bắc Mỹ. Lớn đến 1.2 m. Đuôi viền màu nâu chocolat, chân dài và thon. Phân bố khá rộng: trong toàn vùng phía Đông Hoa Kỷ, đến Manitoba, Ontario và Quebec (Canada), xuống tận Florida. Số lượng lên đến trên 5 triệu con.
Turkey Bird GIFs - Get the best GIF on GIPHY

Eastern Wild Turkey

  • Gà tây hoang Osceola hay Florida; chỉ gặp tại Florida; nhỏ, màu xậm; lông cánh sậm và có đốm trắng. Khoảng gần 100 ngàn con.

   Gà tây hoang là một nguồn lợi tức của Ngành săn bắn thể thao Mỹ và Mexico. Lợi tức thu vào đến hàng trăm triệu đô. Tổng số gà tây hoang tại Mỹ được ước lượng vào khoảng 7 triệu con.

FLORIDA OSCEOLA TURKEY

  • Các giống gà tây nuôi :

– Tại Hoa Kỳ và Canada

  Gà tây hoang có lẽ đã được thuần hóa và nuôi thành gia cầm tại Tây-Nam Hoa Kỳ và Tây-Bắc Mexico từ khoảng 600 năm trước Tây Lịch. Georges Washington và Thomas Jefferson đã từng viết về cách thả gà tây vào các trại trồng thuốc lá để gà ăn sâu bọ phá hoại lá thuốc. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, việc sản xuất thịt gà tây đã được tổ chức quy củ hơn. Đến 1874, Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Mỹ (American Poultry Association) đã đặt ra tiêu chuẩn cho 5 giống gà nuôi chính thức : Bronze, Narragansett, White Holland, Black và Slate.   Năm 1920, giống Bronze lớn nhất, được chọn làm giống tiêu chuẩn để được nuôi tại các nông trại và từ 1950, các trại tập trung vào nuôi loại gà lông trắng: nước từ lông chảy ra có màu tương tự như lông (trắng); trong khi đó nước từ gà lông xậm lại có màu đậm..Nước từ lông này tuy không vị nhưng lại thấm vào thịt khi làm lông và người tiêu thụ thích gà trắng hơn vì cho rằng gà trắng sạch hơn.                           Image en ligne
American Bronze Turkey, Female with Male Displaying with Tail Fanned Out

  Gà tây trống được nuôi nhốt tại những trại lớn, chứa đến trên 10 ngàn con. Gà mái nhỏ hơn và lớn chậm nên thường bị hạ thịt sớm.

   Do tình trạng nuôi nhốt công nghiệp, chật hẹp khoảng 4 feet vuông/con, nên gà công nghiệp bị cho ăn thực phẩm trộn thêm thuốc kháng sinh chống bệnh và thêm thuốc an thần (reserpine) để chúng không đánh nhau, tránh bị vỡ mạch máu.     Từ 1970, giống Large White chiếm thị trường tiêu thụ. Gà rất lớn: 40-65 pounds, không thể tự sinh sản do thân hình quá nặng trên đôi chân ngắn, nên phải nhân giống nhân tạo..Image en ligneImage en ligne

Large White Turkey Male               Large White Turkey Female

    Hiện nay 5 Công ty chính đang kiểm soát 50% thị trường gà tây tại Hoa Kỳ gồm : Jennie-O-Foods (gốc tại Minnesota, hiện do Hormel Food làm chủ) đứng đầu thế giới về sản xuất và chế biến các thành phẩm từ gà tây. Công ty Cargill (cũng từ Minnesota) nay hạng nhì có các thương hiệu như Honeysuckle, Black Forest Turkey ham.. Công ty kế tiếp là Butterball Turkey, rồi Wampler Foods..Tổng số gà tây nuôi tại Hoa Kỳ lên đến khoảng 5 tỷ kg, trị giá đến 2.8 tỷ USD.

Canada có một số quy định riêng về chăn nuôi và sản xuất thịt gà tây, hiện xếp hạng 7 thế giới về xuất cảng gà tây (trên 30 triệu kg): phần lớn sang Nga và Philippines, Nam Mỹ. Công nghiệp sản xuất và chế biến thịt gà tây tập trung tại Ontario và Quebec (chỉ chiếm một lượng nhỏ). Gà tây Canada được phân loại thành: gà má i= mi-lourdes (6.5 đến 12 kg); gà trống= lourds, trên 11 kg) ; gà để nướng (dinde à griller) (6.2kg) hay gà tơ = jeune dindon và gà ‘sinh sản hay reproducteurs loại để sinh và ấp ra gà con..

Các giống Gà tây nuôi tại Canada thường như các giống tại Hoa Kỳ thêm vài giống riêng như White Midget, Royal Palm..

Xin đọc về Kỹ nghệ Gà tây tại Canada trên :https://www150.statcan.gc.ca/n1/pub/96-325-x/2007000/article/10670-fra.htm
– Tại Âu châu :   Tại Anh : hai giống gà chính là Norfolk Black  (thịt nạc và lông đen ít được ưa thích hơn) và Cambridge Bronze (khá lớn: trống nặng trên 18 kg, mái từ 7-10 kg).Image en ligneImage en ligne

     Norfolk Black Turkey                    Cambridge Bronze Turkey

   Tại Pháp :  Pháp là quốc gia xuất cảng gà tây khắp Âu châu (khoảng 500 ngàn tấn thịt) người Pháp ưa chuộng một số giống gà tây như
– Le bronzé d’Amérique là giống đưa từ Hoa Kỳ sang từ 1870, được nuôi rất phổ biến tại các trại ở Pháp và Anh (xem giống Bronze – Mỹ trên).
– Le blanc de Beltsville : giống lai tạo giữa Bronzée và Blanche de Hollande, cho thịt rất ngon, đẻ trứng nhiều , Chỉ nặng khoảng 6 kg, rất thích hợp cho việc dùng các lò quay nhỏ, có tính cách gia đình. Tại Pháp, giống này khi cho lai với gà tây đen tạo ra dòng Bétina được thế giới ưa chuộng. Trong số các gà tây’ trắng’ còn có các loài nổi tiếng như Blanc d’ Angleterre; Blanc d’ Autriche.. Dindon blanc de Beltsville

– Le Rouge des Ardennes : chủng.. nhà quê Pháp, bộ lông đỏ, màu đồng khá rực rỡ..  Image en ligne
Dindon Rouge des Ardennes

   Ghi chú : Một câu hỏi thú vị được đặt ra : Chợ thực phẩm có bán trứng gà, trứng vịt, trứng cút..và một số loại trứng riêng của các nhóm dân thiểu số như hột vịt lộn (balut), hột vịt muối.. nhưng không thấy trứng gà tây ?

Các chuyên gia chăn nuôi trả lời : ‘’lý do kinh tế.. lợi hay không !”

Gà tây đẻ ít trứng : Gà thường đẻ mỗi năm đến 300 trứng, trong khi gà tây chỉ đẻ 100 đến 120 trứng/ năm. Gà thường nuôi từ 19 đến 20 tuần là trưởng thành và có thể đẻ trứng. Gà tây mất đến 32 tuần. Gà tây cần khoảng sống rộng hơn vì to và nặng hơn .. Gà tây có thói quen ấp trứng trong khi gà thường.. chỉ đẻ và không ấp .

  • Dinh dưỡng

  Giá trị dinh dưỡng của thịt Gà tây tùy theo phần sử dụng, thường là : đùi (drumstick), ngực, cánh và gan..

USDA Database có những bảng dinh dưỡng chi tiết; xin đọc tại :

          https://fdc.nal.usda.gov/fdc-app.html#food-details/171098/nutrients    Xin tóm lược vài điểm chính (phần breast) thịt tươi :

Nước (74%) ; Protein (25%) ; Chất béo (1%);Carbohydrates (no?)100 gram thịt cung cấp 110 calories, nhiều khoáng chất như Calcium (10mg), Sắt, Magnesium, Phosphorus, Kẽm.. nhiếu vitamins như niacin, B6, pantothenic acid.
   Thịt Gà tây còn được chia thành hai loại :

  • Phần thịt có màu đậm : Dark meat ( thịt đùi, chân = drumstick, giống như dùi trống)
  • Phần thịt trắng’ : White meat ( ngực và cánh)

  Thịt trắng là vùng liên hệ đến hoạt động của gà, và thịt đỏ là phần ít vận động , dự trữ năng lượng).

Thịt đỏ là một nguồn cung cấp chất đạm tốt, giúp bồi bổ cơ thể, chứa nhiều vitamin nhóm B, là nguồn cung cấp sắt, dạng heme (trong myoglobin) dễ hấp thu, rất tốt cho các trường hợp thiếu máu do thiếu sắt. Thịt trắng tuy nạc, ít chất béo và acid béo bão hòa  (thịt đỏ  2g/100g; trắng 0.5g) nhưng ít khoáng chất hơn.Thành phần acid amin trong thịt gà tây khá cân bằng : lysine, leucine, valine và methionine chiếm tỷ lệ khá cao.

  • Vài vấn đề nên lưu ý :
  • Thịt đỏ chứa nhiều purines (150mg/100g) có thể không thích hợp với người bệnh gout.
  • Gan gà tây, món được dân Pháp ưa chuộng không kém gan ngỗng, chứa nhiều Vitamin B12 , nhưng cholesterol rất cao : đến 580mg/ 100g gan (Hiệp hội Tim Hoa Kỳ khuyến cáo : mỗi ngày chỉ nên đưa vào cơ thể tối đa 300 mg cholesterol).

Image en ligneImage en ligne
Gan gà tây                                   Médaillons De Foie Gras De Dinde 

  • Vấn đề tryptophan : có những bài viết cho rằng ; sau bữa ăn thịt gà tây, người ăn có thể bị hội chứng chóng mặt và buồn ngủ (?) (post-meal drowsiness), nhưng chưa có nghiên cứu y học nào kiểm chứng sự kiện này. Vài giải thích cho rằng có thể do tryptophan (một acid amin, thành phần chính của serotonin và melatonin có những tác dụng tạo sảng khoái và giúp giấc ngủ) ?,Thịt gà tây  chứa 279 mg tryptophan/100g, nhưng từ tryptophan để chuyển đổi thành melatonin còn cần nhiều phản ứng sinh học trong cơ thể!
  • Món ngon từ Gà Tây
  • Truyền thống văn hóa :

   Thịt gà tây là món ăn truyền thống: ”món thịt chính tại Hoa kỳ và Canada trong dịp Lễ Tạ Ơn = Thanksgiving và tại Âu châu trong dịp Lễ Giáng Sinh. Tại Mexico, món ‘quốc túy’ là Poblano de guajolote = “Turkey with mole”.

          Poblano de guajolote = “Turkey withe mole”

    Tại Hoa Kỳ, thịt gà tây được bán trên thị thường dưới các dạng ‘nguyên con’ (làm sạch lông, bỏ đầu và chân); cắt miếng hoặc xay vụn..Gà nguyên con đông lạnh là dạng phổ biến nhất. Những món ăn ‘gà’ trong vài trường hợp có thể thay bằng thịt gà tây.   Thịt xắt lát mỏng dùng trong sandwich hay trong dĩa ‘thịt nguội’ = cold cuts (hors d’oeuvres variés).

Cold cuts (hors d’oeuvres variés).    

     Thịt xay vụn dùng thay thịt bò xay (ground) và được xem là tốt cho sức khỏe hơn.

  Các nhà đầu bếp chuyên nghiệp chọn gà tây ‘tươi’ hơn là gà đông lạnh : nhưng trong các mùa lễ, nhu cầu gà tươi tăng cao, khó mua và giá đắt hơn. Gà đông lạnh, tuy lúc nào cũng có nhưng muốn dùng lại phải ‘xả đá=defrost’ củng phải mất thời gian !, gà lớn có khi mất vài ngày!   Cách đun nấu thông thường là : đút lò và  quay trong thời gian kéo dài tùy trọng lượng con gà . Gà thể ướp, ngâm ‘brine’ trước khi quay để tạo thêm hương vị và giữ độ mềm, moist cho thịt (thịt đỏ thường phải đun nấu, quay lâu hơn nên trở thành khô..)

Gà tây đút lò

  • Món ăn và.. phụ tùng kèm theo :

 Tại Hoa Kỳ và Pháp có rất nhiều ‘Sách dạy nấu ăn’ chỉ dẫn cách chế biến Gà tây trong từng dịp Lễ như Thanksgiving và Christmas..cùng những món thông thường hàng ngày khác..

  • Thanksgiving : Tại Hoa Kỳ, món truyền thống là Gà tây nhồi  (stuffed= farci) hay gà tây quay dọn với sốt cranberry và gravy. Các món đi kèm sẽ là khoai tây nghiền, bắp nướng nguyên tai, đậu beans, bí-bầu và khoai lang.. Tráng miệng là bánh pies, làm bằng bí đỏ, thêm táo, và hạt pecans.. (có thể ăn Lễ Giáng Sinh theo cùng kiểu). Nguyên liệu để nhồi rất đa dạng.
Turkey Thanksgiving Day GIF - Turkey Thanksgiving Day Dinner - Discover &  Share GIFs

Thanksgiving : le repas de fête à l’américaine 

  • Giáng Sinh : Tại Anh, Gà tây ăn chung với rau mùa Đông, kể cả khoai tây nướng,  cải nhỏ brussels sprouts và củ parsnips.. Sốt đi kèm là  sốt cranberry (vùng Bắc Anh).. có khi kèm thêm xúc xích, thịt ba chỉ (bacon) quấn gan và .. chiên..

 Nhân nhồi gà tây kiểu Anh  thường thịt heo trộn hành tây băm vụn, rau thơm như sage, tiêu, tỏi..đút lò tên chung là braised turkey.
                  Braised turkey
Pháp có các món đặc biệt  như “Ballotine of turkey.. à la Toulousaine” (Rôti de dinde farci aux saucisses et pistachios = thịt gà tây  cuộn  nhân bên trong thành dạng quả banh rồi nướng hay đút lò) “Dindonneau farci braisé”; Daube of turkey à la bourgeoisie..
          Bourguignon de Dinde

             Ballotine of turkey.

Thịt gà Tây tại Việt Nam

   Thịt gà tây không được ưa chuộng tại Việt Nam vì thịt quá nạc, thiếu ‘vị béo’ và ngọt như “gà mái dầu’ hay ‘gà trống thiến’. Việt Nam có nuôi gà tây từ thời.. Tây (!) , có lẽ đem từ Âu châu, Ấn Độ sang, nhưng rất giới hạn và thu hẹp tại vài địa phương như quanh vùng Hà Nội, Hưng Yên.., ngày nay tại một số tỉnh phía Nam như ngoại ô Sài Gòn, Gò công

  Các giống gà tây nuôi tại Việt Nam hiện nay bị lai tạp qua nhiều thế hệ và những giống được nuôi là Gà tây đen, Gà tây lông trắng (gốc Mỹ, ngực rộng) và Gà tây lông màu đồng. Một vài tài liệu có ghi Gà tây VN còn gọi là Gà lôi (?).Giống mới du nhập là White Holland và từ 2008 có thêm giống “Huba’ nhập từ Hungary.

  Một kỷ niệm khó quên của dân miền Nam (1968-1972 ) nhất là gia đình quân nhân VNCH là gà tây đóng hộp (turkey meat in can) trong chương trình thực phẩm phụ trội mà Chính phủ VNCH cấp phát thêm cho quân nhân (mỗi tháng khi lãnh lương, TMQ có nhận các thùng này hàng tháng). Thịt gà tây đóng hộp không hợp khẩu vị người Việt nên sau khi lãnh thường đem ra bán tại các chợ trời, nhưng sau đó các bà nội trợ đã tìm được phương pháp chế biến tuyệt hay : làm thành món thịt chà bông (người Bắc gọi là ruốc) thay cho thịt heo, rất ngon và.. hộp gà tây thành món hàng rất có giá.

 Gà tây Úc ?  :

   Úc là một lục địa có những con thú kỳ lạ.. không nơi nào có (!) như Kangaroo, Koala, Platypus và Gà tây cũng không ngoại lệ.Gà tây Úc : Dinde australienne; Brosse-dinde australienne; dinde de brousse (gọi theo Tây ) ha Australian Brush Turkey, gweela (tên Úc) ..khác hẳn và không liên hệ với Gà tây  Mỹ và Âu châu ! Tên chính thức là Alectura lathami (Talégalle de Latham), phân bố tại vùng NSW và được đưa vào thả tại đảo Kangourou. Gà Latham đến cả các vùng ngoại ô Brisbane. Bang Queensland cấm săn bắt gà , và phạt rất nặng các vụ vi phạm.. Số lượng Gà tại Úc khoảng 100 ngàn con.

  Gà Latham, rất đặc biệt, đuôi to dạng cánh quạt (không xòe như gà Tây), bộ lông màu đen hay nâu-đen ; đầu và cổ không lông, riêng con đực vào mùa giao phối có những đốm vàng. Bay rất kém nên chỉ bay khi gặp nguy. Gà Latham nhỏ, cỡ 60-75cm, sải cánh 85cm. Gà đực nặng 2-3 kg; gà mái 1.8-2.7 kg.

  Đặc điểm đáng chú ý là không ấp trứng (cỡ 80 gram) nhưng vùi trứng trong ổ làm bằng lá trước khi đẻ và tự điều chỉnh nhiệt độ để giữ trứng tự nở sau 47 đến 52 ngày.

   Năm 1969: hai Sở thú St Louis và Sở thú San Diego đã nuôi và cho sinh sản gà Latham Úc tại chỗ.

Xem thêm tại :

               https://ielc.libguides.com/sdzg/factsheets/autralian-brush-turkey
Image en ligne
Australian Brush Turkey – Gweela

                                                        Trần Minh Quân   11/2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Jasmine Nguyễn trở thành Nữ thị trưởng gốc Việt trẻ nhất lịch sử thành phố Brimbank, Melbourne

SBS

DOWNLOAD 21.01 MB SUBSCRIBE

Jasmin Nguyễn - Tân thị trưởng HĐTP Brimbank, Melbourne

Jasmin Nguyễn – Tân thị trưởng HĐTP Brimbank, Melbourne Source: Brimbank City Council

Tối 17/11/2021, Nữ nghị viên trẻ, ở tuổi đôi mươi Jasmine Nguyễn tiếp tục là niềm tự hào cho cộng đồng người Việt tại Brimbank, khi cô trở thành tân thị trưởng trẻ nhất của hội đồng thành phố này. Trước đó, Anthony Trần cũng đã là thị trưởng trẻ nhất của Maribyrnong, Melbourne.

Tháng 11 năm 2021 có lẽ sẽ là một mốc thời gian đáng nhớ cho những người Việt tại Úc quan tâm đến sự hội nhập sâu vào xã hội chính mạch khi liên tiếp hai nghị viên hội đồng thành phố địa phương ở miền Tây Melbourne được bầu chọn vào vị trí thị trường thành phố.

Cả hai nhân vật đều rất trẻ, ở độ tuổi đôi mươi, đã và sẽ đóng góp tích cực trong thời gian dài cho hội đồng địa phương.

Ngày 10 tháng 11, Anthony Trần 22 tuổi đã nhận tin vui khi trở thành tân thị trưởng trẻ nhất trong lịch sử thành phố Maribyrnong.

Đến ngày 17 tháng 11, Nữ nghị viên trẻ ở tuổi đôi mươi Jasmine Nguyễn tiếp tục là niềm tự hào cho cộng đồng người Việt tại Brimbank, khi cô trở thành tân thị trưởng trẻ nhất của hội đồng thành phố này.

Tiếp tục thêm tin vui trong sự kiện này, nghị viên Thúy Đặng (Dáng Thơ) một nhân vật quen thuộc nhiều năm cống hiến cho các sự kiện và hoạt động cộng đồng ở Melbourne cũng đã chính thức được bầu chọn vào vị trí phó thị trưởng thành phố Brimbank, miền Tây Melbourne.

Xuân Ngọc – SBS Tiếng Việt đã nhanh chóng liên hệ với hội đồng thành phố Brimbank để thực hiện nhanh cuộc phỏng vấn với thị trưởng Jasmine Nguyễn, nhằm đưa đến cho quý vị những thông tin và cảm xúc đầu tiên về tin vui này từ cô Jasmine Nguyễn.

Chúc mừng Jasmine Nguyễn về thành công mới nhất mà các trang báo chí và truyền thông xã hội của người Việt tại Úc đang chia sẻ để chung vui cùng cộng đồng.

Tân Thị trưởng TP Brimbank, miền Tây Melbourne.

Cảm giác của Jasmine lúc xong cuộc họp quan trọng để bầu chọn người đứng đầu hội đồng thành phố ra sao?

Jasmine Nguyễn:

Em muốn nói rằng đây là niềm vinh hạnh lớn khi được bầu chọn trở thành tân thị trưởng của hội đồng thành phố Brimbank.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể người dân ở trong thành phố Brimbank và cộng đồng người Việt tại đây đã luôn ủng hộ cho mình.

Em cũng thấy thật may mắn khi mình được chọn để nhận vinh dự và cũng là trách nhiệm khi được bầu làm thị trưởng thành phố Brimbank.

Càng đặc biệt hơn khi Brimbank từ trước tới nay chưa bao giờ có một thị trưởng là người Việt cả.

Vì vậy, em muốn chia sẻ chiến thắng này đến tất cả các cộng đồng, mà đặc biệt là cộng đồng đa văn hóa tại Úc này.

Ba mẹ của Jasmine phản ứng như thế nào sau khi biết tin em trở thành tân thị trưởng Brimbank?

Jasmine Nguyễn:

Em chưa hề nói gì với ba mẹ em rằng em sẽ ứng cử làm thị trưởng thành phố, trước khi cuộc họp đó diễn ra. Em thật sự không biết là cuộc họp diễn biến sẽ thế nào.

Thế rồi, ngay khi em báo tin vui cho ba mẹ, thì cả nhà có vẻ sốc đấy!

Mọi người cũng lo rằng đây sẽ là một vị trí gánh nhiều trọng trách, bởi vì sẽ có thêm nhiều người dân gọi đến cho em để nhờ hỗ trợ khi họ khó khăn.

Nhưng ba mẹ cũng nói rất tự hào về em, đặc biệt là khi họ tới Úc này đã phải gây dựng lại cuộc sống hoàn toàn từ con số không.

Mẹ em là một người làm việc cực kỳ chăm chỉ, bà cũng là người bền lòng vững chí, chẳng bao giờ từ bỏ việc gì mình theo đuổi.

Ba em thì là một người kiểu như “ăn cơm nhà vác ngà voi” ấy, người của cộng đồng, ông sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi cần.

Em muốn nói cảm ơn cả hai người, ba mẹ em, đã luôn dành tất cả, yêu thương em, che chở và hy sinh tất cả cho em suốt những năm qua.

Tôi được biết bạn từng tốt nghiệp khóa đào tạo Lãnh đạo hai nguồn gốc của CĐNVTD Victoria, vậy khóa học này giúp gì cho bạn trên con đường chính trị ở địa phương không?

Jasmine Nguyễn:

Chắc chắn là giúp ích rồi! Nói về chương trình khóa lãnh đạo hai nguồn gốc, em tốt nghiệp khóa này từ hồi năm 2017, mà trước đó em chưa hề có hoạt động gì với cộng đồng người Úc gốc Việt tại đây cả.

Em chỉ đi chơi Tết hoặc là học lớp tiếng Việt vào mỗi thứ bảy thôi.

Thế nên em không có nhiều trải nghiệm gì với cộng đồng người Việt mình, nhưng sau khi học xong khóa lãnh đạo hai nguồn gốc, em nghĩ là mình đã có được rất nhiều sự tự tin trong vai trò lãnh đạo, và cảm thấy mình tự hào hơn vì là người Úc gốc Việt.

Thêm nữa em cảm thấy mình rất thích khi trở thành cầu nối vững chắc hơn kết nối hai thế hệ người Việt mình. Thế hệ thứ nhất và thứ hai, với những khác biệt trong văn hóa, khi trở thành người Úc.

Em phải khẳng định rằng khóa học đã giúp em vững tin vươn lên, và em xin nói là nếu không có sự ủng hộ của cộng đồng người Việt và khóa học thì em không có được sự thành công, em rất vui vì điều đó.

Qua đây, em cũng xin khuyến khích các bạn thế hệ trẻ, cũng là người Úc gốc Việt, hãy tham gia vào khóa lãnh đạo hai nguồn gốc, nó thật tuyệt vời!

Khóa lãnh đạo hai nguồn gốc không chỉ giúp em thành công mà còn các gương mặt trẻ khác như anh đã biết đó. Mới đây nhất là Anthony Trần, với cương vị thị trưởng thành phố Maribyrnong, rồi mình có Claudia Nguyễn ở Yarra Council, cộng đồng người Việt mình hoạt động rất mạnh mẽ.

Một người rất trẻ như Jasmine được bầu chọn làm tân thị trưởng hội đồng TP Brimbank, chắc chắn sẽ vừa là cơ hội mà cũng là thách thức để làm được nhiều điều hơn cho địa phương. Jasmine nói thêm về cơ hội và thách thức đó?

Jasmine Nguyễn:

Mọi người đều biết là chúng ta vừa vượt qua một đợt phong tỏa nữa, tiểu bang Victoria thì đã trải qua đến 6 lần như vậy rồi. Khi em trở thành thị trưởng thành phố em muốn nói lên tâm tự của những người trẻ, ủng hộ cho một cộng đồng đa văn hóa.

Em biết rằng thành phố Brimbank đã chịu tác động của đại dịch có thể nói là nặng nề hơn các vùng khác trong tiểu bang Victoria. Em muốn là người kết nối mọi người dân tại Brimbank lại bên nhau với sự bền bỉ chúng ta sẽ vận động được sự ủng hộ bằng ngân sách, qua đầu tư vào thành phố này, bởi vì chúng ta xứng đáng được những điều đó.

Vẫn biết rằng thành phố còn nhiều khó khăn, thách thức và các vấn đề phía trước, nhưng mối quan tâm đầu tiên của em sẽ là dành cho giới trẻ, đặc biệt để giải quyết vấn đề thất nghiệp, và sức khỏe tinh thần của họ

Thời gian qua, đại dịch đã khiến không ít doanh nghiệp địa phương, những người làm trong lĩnh vực nhà hàng, chiêu đãi phải điều đứng. Vì vậy, mục tiêu tiếp đến là em sẽ nhắm vào hoạt động kinh tế, với các sự kiện làm sao để thu hút sự quan tâm của mọi người đến nơi đây.

Thêm nữa, chúng ta có dự án đường sắt chạy tới sân bay Melbourne nên đây là một dự án rất lớn với ga Sunshine. Vì vậy, em muốn thồi hồn, tạo một sức sống mới cho địa phương.

Với vấn đề biến đổi khí hậu, em muốn hội đồng thành phố sẽ có đơn vị hỗ trợ và xây dựng được một cộng đồng thân thiện với môi sinh. Làm sao để ta có được một thành phố bền vững trong sạch, sẽ rất tuyệt vời.

Em cũng hướng đến việc làm sao kết nối được các cộng đồng đa văn hóa, chúng ta đều hiểu rằng giao tiếp là chìa khóa cho việc này, nên em thật sự nhắm vào hoạt động này, và cũng đang làm việc thật nhiều với các lãnh đạo cộng đồng.

Công việc và cuộc sống hàng ngày của Jasmine bây giờ chắc là sẽ khác, có thay đổi nhiều không?

Jasmine Nguyễn:

Em mới chỉ vừa được bầu là thị trưởng thành phố vào tối hôm qua thôi, sáng nay thức dậy, em không thể tin đó là sự thật nữa, rất phấn khích, khó tin quá!

Em thật sự muốn làm hết khả năng, 100% sức lực của mình cho cộng việc này.

Sáng nay, em còn không tham dự được cuộc họp hội đồng nữa cơ, nhưng có lẽ là cho em được một khoảng thời gian để bình tĩnh lại cái đã.

Rồi em sẽ trở lại, hỗ trợ mọi người, sẽ rất bận rộn nhưng đó là công việc này mà.

Mời quý vị nghe chi tiết nội dung cuộc phỏng vấn trong phần âm thanh bên trên.

Nguồn: https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/audio/jasmine-nguyen-tro-thanh-nu-thi-truong-goc-viet-tre-nhat-lich-su-thanh-pho-brimbank-melbourne

Thân Phận Người Phụ Nữ – Kiều Mỹ Duyên

  • Kiều Mỹ Duyên

17/11/2021

20210218_121136.jpg

Phóng viên tiền tuyến Kiều Mỹ Duyên đang hân hoan cùng các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến vui mừng chiến thắng vẻ vang tại cổ thành Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Lời giới thiệu của nhà văn Quốc Nam

Tác giả- Phóng viên chiến trường KIỀU MỸ DUYÊN

Kiều Mỹ Duyên là một tên tuổi rất quen thuộc trong làng báo Việt Nam trước và sau tháng tư đen năm 1975. Nổi tiếng là nữ phóng viên chiến trường xuất sắc trong cuộc chiến Quốc-Cộng hơn 20 năm tại Miền Nam Việt Nam, Kiều Mỹ Duyên cộng tác với một số nhật báo ở Sài-Gòn, đặc biệt là nhật báo Hòa Bình. Tác giả quyển bút ký chiến tranh độc đáo “Chinh Chiến Điêu Linh”.
Kiều Mỹ Duyên từng du học Úc Châu với học bổng Colombo Plan vào cuối thập niên 60. Qua Mỹ, Kiều Mỹ Duyên tốt nghiệp Đại Học Cal State Fullerton.

Hiện Kiều Mỹ Duyên là CEO của Ana Real Estate & Ana Funding Inc., Board of Directors của YCMA Orange County. Đồng thời, Kiều Mỹ Duyên cộng tác với các đài truyền hình SBTN, SET, VNAT, v.v. và nhiều đài phát thanh tại hải ngoại. Kiều Mỹ Duyên cũng là đặc phái viên của đài SBS (Úc Châu).  

PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG KMD.jpg

Phóng viên chiến trường KIỀU MỸ DUYÊN tại Căn Cứ Hỏa Lực 42 ở Pleiku.

(Hình do Đại Úy Hồ Đắc Tùng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/44 thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh chụp ngày 18/5/1972)

THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ

KIỀU MỸ DUYÊN

Bỏ lại sau lưng những người thân yêu, cha mẹ anh em, bà con và tất cả người thân, tôi vượt biên một mình cùng với bằng hữu, tôi trên chiếc thuyền mong manh chở 47 người, người lớn vả trẻ con, được tàu Mỹ cứu mạng định cư ở California. Trong một thời gian rất ngắn, có người học và thi đậu nha sĩ mở phòng nha, có người học tiếp tục ra bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, thương gia. Ai cũng vừa học vừa làm, vì học bổng chỉ đủ cho một ngày hai bữa và sách vở, người nào cũng đi làm để dành dụm gửi về Việt Nam. Người Mỹ giang tay đón người tị nạn. Người Mỹ cho nhà người tị nạn ở và chăm sóc như người thân. 

Những năm sống với gia đình người Mỹ, tôi được chăm sóc chu đáo, đó là điều hạnh phúc. Tôi rất nhớ ơn những gia đình người Mỹ mà tôi đã tá túc trong thời gian đầu khi định cư ở Hoa Kỳ. Mấy tháng đầu, tôi cũng được gia đình ông bà Việt Đinh Phương (chủ báo Trắng Đen) cưu mang, sau đó vào đại học thì ở với gia đình người Mỹ. Gia đình thứ nhất là người Mỹ gốc Do Thái, kỹ sư hãng Boeing. Sau đó gia đình bà Pat Ducray, người vợ Mỹ gốc Anh, chồng Mỹ gốc Pháp. Tôi vừa đi học vừa đi làm, đi biểu tình quyết liệt, chỗ nào có phản chiến là chúng tôi đến, cái thời ăn không đủ no nhưng vui vô cùng.

Mơ ước của tôi là làm ký giả cho báo Mỹ, vì thế tôi học báo chí, tôi học miệt mài, học say mê. Lúc vào trường mắt tôi không đeo kính cận, đến khi ra trường phải đeo kính nếu không thì tôi không thấy đường đi. Viết bằng tiếng Anh mỗi ngày cho báo nhà trường, bài viết rất công phu, sửa tới sửa lui, vất vả vô cùng, lúc đó tôi cũng viết cho báo Việt Nam, thích thú được viết, được nói, được nói những điều mà bằng hữu tôi ở Việt Nam không dám nói.

20210825_151046.jpg

Ký giả Kiều Mỹ Duyên trong phòng phát thanh


Tôi có nhiều bạn ở khắp nơi trên thế giới cũng nhờ làm truyền thông: báo, radio, và tivi. Tôi tham gia trong hội từ thiện quốc tế, vừa làm việc từ thiện vừa làm truyền thông nên tôi may mắn có nhiều dịp được đi đây đó, năm nào cũng đi. Mỗi lần đi họp xong, còn dư vài ba ngày tham quan danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử. 

Lúc nào tôi cũng nhớ lời ba tôi dặn:

– Sống thế nào để thêm bạn bớt thù

Người nào tôi gặp, tôi cũng nghĩ là lần cuối cùng, biết đâu ngày mai mình không còn nữa, làm sao gặp được những người mình đã gặp hôm nay?

Tôi là người phụ nữ lạc quan, lúc nào cũng cười vì tôi muốn đem vui tươi đến cho những người xung quanh. Nụ cười dễ gây thiện cảm hơn là mặt mày nhăn nhó, than thở, bi quan.

Ttôi thường nói với chính mình:

– Nếu ngày mai mình vào quan tài thì bây giờ cũng phải vui, cũng phải cười, phải lạc quan.

Có những người Mỹ mà tôi gặp lúc nào họ cũng lạc quan. Nếu tôi hỏi:

– Anh chị khỏe không?

Họ trả lời reo vui như ngày đại hội:

– Khỏe lắm. Vui lắm.

Nhưng sau đó họ ôm ngực ho sù sụ hoặc nói chuyện một chút mới biết họ vừa ở bệnh viện ra. Có lẽ lối giáo dục của người Mỹ dạy họ vui vẻ, yêu đời, yêu người, yêu sự sống, và lúc nào cũng lạc quan .

Trời California nắng ấm rực rỡ, người về thăm California từ khắp nơi trên thế giới, đường phố tấp nập người qua lại, nhất là các tiệm ăn, 24/24 giờ lúc nào cũng có thực khách. 

Tôi viết bài này trong lúc còn mấy ngày nữa là đến lễ Tạ Ơn. Cha Mẹ là người đầu tiên tôi muốn tạ ơn trong cuộc đời này. Người nào hạnh phúc được còn có cha mẹ, đưa cha mẹ đi ăn, mua quà tặng cho cha mẹ, hạnh phúc đi bên cạnh cha mẹ của mình, không có cha mẹ làm sao có con? Hầu hết những người con trân quý tình phụ tử, mẫu tử. Mỗi người trong chúng ta chỉ có một người mẹ, một người cha, khi cha mẹ qua đời rồi muốn cũng không được, chỉ lặng lẽ nghe những bản nhạc về cha mẹ, để bùi ngùi tưởng nhớ đến cha mẹ của mình.

Nước chảy xuống không bao giờ chảy lên, không có ai thương con bằng cha mẹ thương con, cho nên tình mẫu tử quý báu nhất trên trần gian này, không thể tìm đâu được? Con thương cha mẹ, lúc nào cũng thương đâu có đợi tới ngày lễ từ phụ hay hiền mẫu, cha mẹ đau thì con chăm sóc. Cha mẹ nằm bệnh viện thì con vào thăm và đi lễ cầu nguyện cho cha mẹ của mình, thì bao giờ cũng được Ơn Trên phù hộ. Con cái bất hiếu với cha mẹ thì cháu con sau này cũng sẽ cư xử như thế.

Hồi còn nhỏ tôi mơ ước nhiều lắm, nhưng cho đến bây giờ chưa có giấc mơ nào thành hiện thực. Tôi mơ thành lập nhiều cô nhi viện, nuôi trẻ con mồ côi, yêu thương chúng như con ruột của mình, làm thế nào những đứa trẻ bơ vơ có mái ấm gia đình như làng Hòa Bình ở Gò Vấp do người Đức thành lập, mỗi tuần có những gia đình giàu lòng nhân ái vào đem một vài em về nhà mình nuôi dưỡng cuối tuần, rồi đầu tuần đem vào cô nhi viện. Các em được sống trong gia đình có ông bà, cha mẹ, anh chị em, dù ngắn ngủi chỉ có cuối tuần, nhưng cũng để lại nhiều kỷ niệm trong cuộc đời các em. 

Kiều Mỹ Duyên bên trẻ em mồ côi ở Việt Nam.jpg

Kiều Mỹ Duyên thăm các em mồ côi ở Thủ Đức, Việt Nam


Tôi mơ những đứa trẻ của những gia đình nghèo ở đồng quê hẻo lánh được đến trường học, học tới nơi tới chốn, mùa đông các em có áo ấm, mùa hè các em đủ gạo ăn, và khi bệnh có bác sĩ chăm sóc và có thuốc men đầy đủ. Tôi mơ những cụ già được chăm sóc đầy đủ, có đời sống an vui trong tuổi già. Tôi mơ chùa, nhà thờ, và những nơi tôn nghiêm được mở rộng và được chăm sóc cẩn thận. Hàng ngày thiện nam tín nữ đi lễ bái, nghe kinh kệ, và cầu nguyện cho mình và cho người.

Sống sao cho vui vẻ, người chết không có tiếng nói, người chết nằm một chỗ không biết vui buồn, cho nên chúng ta còn sinh hoạt được thì cứ vui, giúp ai điều gì thì tận tình giúp đỡ họ.

Nhiều người khuyên tôi:

– Già rồi đi đám ma nhiều quá không tốt.

– Một đời người chết một lần, đâu có ai chết hai lần. Tôi đến để cầu nguyện một chút và chia buồn với thân nhân của họ.

–  Ở nhà cầu nguyện, vào chùa, hay đến nhà thờ cầu nguyện cũng được, tại sao phải đi đến nhà quàng, đi đám ma ảnh hưởng đến tinh thần.

Tôi chỉ cười cười rồi lại tiếp tục tới đám tang. 

Tôi kính phục những người tu hành, suốt đời những vị chân tu sống cho người khác, tín đồ hay thân nhân của tín đồ đau bệnh và có mất, họ đều đến cầu nguyện.

Càng già tôi càng tin tưởng vào tôn giáo một cách tuyệt đối, tôi cũng rất tin vào sự màu nhiệm của cầu nguyện, và tôi thường xuyên cầu nguyện.

Ông bà mình thường nói thân phận phụ nữ khổ cực hơn đàn ông, cho nên có nhiều phụ nữ nói với chúng tôi:

–  Kiếp sau sẽ không làm phụ nữ, cố gắng ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức, làm việc phúc đức để kiếp sau làm đàn ông. Làm đàn ông hạnh phúc hơn phụ nữ nhiều, phụ nữ mang nặng đẻ đau, phụ nữ làm việc vất vả như đàn ông, về nhà còn chăm sóc con cái nhà cửa. Như vậy phụ nữ vất vả gấp mấy lần đàn ông?

Là phụ nữ hay đàn ông cũng vất vả như nhau. Thôi thì kiếp sau đừng làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo, hoặc làm chim bay khắp bốn phương trời. Trời lạnh thì bay về nơi có nắng ấm, nơi nào cũng là nhà, tối ngủ trong bụi cây, sáng thức dậy hát líu lo cho người vui vẻ và hạnh phúc cho đời.

Giấc mơ người tị nạn là quay về cố hương, nhưng than ôi, quê hương chưa thật sự thanh bình, người tị nạn hưu trí ở khắp nơi trên thế giới có về Việt Nam ở được không? Nếu ở quê nhà mà câm không nói gì, thấy cảnh bất bình mà nhắm mắt làm ngơ thì không phải là con người có sự công bình, nhưng nếu thấy cảnh bất bình lên tiếng thì nhà tù mở rộng, đừng nghĩ người tị nạn bây giờ có quốc tịch Mỹ, Anh, Pháp, Úc về Việt Nam nói gì thì nói, nhà tù vẫn chờ đợi quý vị đó?

KIỀU MỸ DUYÊN

Nguồn: https://vietbao.com/a310230/than-phan-nguoi-phu-nu

Cuối Bờ Xa Cách – Trần Hoài Thư

Tác Giả: Trần Hoài Thư

Photo : Có thể bạn chưa biết? Hầu hết các sĩ quan cao cấp trong QLVNCH trực tiếp tham gia trận chiến An Lộc 1972 đều tử trận hay bị bắt làm tù binh trong cuộc chiến: 1. Chuẩn tướng Lê Văn Hưng – Anh hùng tử thủ An Lộc, Tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh, kiêm tư lệnh mặt trận tiền phương An Lộc. Ông tuẫn tiết vào ngày 30/04/1975 sau khi Sài Gòn sụp đổ, bằng cách dùng súng lục bắn vào tim tự sát, tại văn phòng Tư lệnh phó bộ chỉ huy của Quân đoàn 4. 2. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ – Tư lệnh phó sư đoàn 5 bộ binh, kiêm phó tư lệnh mặt trận tiền phương An Lộc – Người đã dùng súng M72 bắn cháy chiếc T54 đầu tiên của QĐNDVN ở An Lộc. Ông tuẫn tiết vào ngày 30/04/1975, bằng cách dùng khẩu Beretta 6.35 bắn vào đầu tự sát ở bộ tư lệnh sư đoàn 5 tại Lai Khê. 3. Đại tá Trương Hữu Đức – Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 5 Thiết giáp VNCH. Ông tử trận ngày 13/4/1972 tại An Lộc, do bị đạn pháo QGPMN bắn trúng trực thăng. 4. Đại tá Hồ Ngọc Cẩn – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 15 bộ sinh sư 9 VNCH. Ông bị bắt ngày 30/04/1975 vì không chịu buông súng đầu hàng và bị tòa án binh xử tử ngày 14/08/1975 tại sân vận động Cần Thơ. 5. Đại tá Lý Đức Quân – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 sư 5 bộ binh. Ông bị tử trận không lâu sau khi trận chiến An Lộc kết thúc do trực thăng bị trúng đạn pháo phòng không của QGPMN. 6. Đại tá Mạch Văn Trường – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8 sư 5 bộ binh. Ông bị bắt ngày 30/04/1975 khi đang giữ chức vụ Tư lệnh sư đoàn 21 bộ binh với quân hàm Chuẩn tướng. 7. Đại tá Phan Văn Huấn – Liên đoàn trưởng Liên đoàn 81 BCND, ông bị bắt ngày 30/04/1975. Khi đang giữ chức vụ chỉ huy trưởng Lữ đoàn 81 BCND.

Cho tới bây giờ, tôi mới thấy rằng tôi là một tên bất nhân nhất thế gian. Một tên vô tâm độc ác. Không, anh đừng vội ngạc nhiên. Cũng đừng thắc mắc tại sao tôi lại tự sỉ vả tôi như thế. Cho dù từ trước tới nay, tôi chưa dám giết một côn trùng, sợ máu như sợ một thứ gì ghê gớm. Hãy bình tâm, cho tôi thú tội. Dù sao đi nữa, anh là kể đến với tôi chiều nay, buồn cùng nỗi buồn to lớn của tôi, thương hại cùng nỗi cô đơn khủng khiếp của tôi. Anh hãy để tôi được quyền coi anh là một vị linh mục, và tôi sẽ quì xuống để nói ra những gì đã dần mòn cắn rứt con tim tôi suốt mấy năm trời. Tôi đang bị cái hình phạt khủng khiếp ấy bủa xuống, như một ám ảnh tàn khốc nhất của kiếp người. Càng lúc càng độc hại. Ừ trước khi thổ lộ, xin mời anh uống thêm một cốc rượu nữa. Và cho phép tôi cùng nâng ly. Tâm hồn tôi yếu đuối lắm. Nếu không có chất men độc địa này, chắc tôi không đủ can đảm thú tội đâu. Tôi xin anh hiểu mà thương tôi…À, anh thấy gì không? Mua thu đang trở về. Trời ngập gió heo may. Đường ngập lá vàng. Mặt trời màu tái xanh bệnh hoạn . Cảnh trời cũng lây cả một màu bệnh hoạn, đến tận đáy lòng mình. Cây ngô đồng đã đổi màu xanh thành vàng chết, và kìa, lá vàng từng trận rơi xuống như chia buồn cũng cõi thế…

Hình ảnh ấy đã làm chết điếng hồn tôi. Ở đó, có một chút gì của thoi thóp, của run rẩy, của sương khói, của bệnh hoạn, và của ngăn cách. Hình ảnh ấy đã nhắc nhở tôi những kỷ niệm, những hình bóng. Thật vậy, từ lâu tôi yêu những cái gì quá đỗi mỏng manh, như môt làn hương gió. Không hiểu sao, tôi lại yêu đến độ thê thiết như vậy, Nhất là đàn bà. Tôi yêu hạng người có dáng gầy như liễu, có bờ ngực bệnh hoạn, có một cái gì toát ra một vẻ thánh thiện, hay không thực tựa chừng một ảo ảnh…

Có lẽ vì những kỷ niệm xưa cũ. Từ ấu thơ, tôi sống như một vì sao côi cút, và trong xã hội, tôi chẳng khác một con chó ghẻ không hơn không kém. Tôi đã có những đêm bỏ nhà bỏ cửa trốn đi, ngủ nhờ ở vỉa hè thành phố, tôi đã có những ngày đói khát theo lũ bé đánh giày nương tựa. Tôi chưa biết thế nào là môt người mẹ như trăm ngàn đứa bé trên quả địa cầu này đã biết. Nhưng, tôi thề rằng tôi có cô hiệu trưởng của trường cô nhi để tìm đến những lúc tủi thân tột cùng. Đôi mắt của cô trời ơi, khi khép lại, để cầu nguyện thì chẳng khác một đức Thánh mẫu. Cái dáng gầy hao của cô, trong buổi sớm mai, từ văn phòng đến ngôi giáo đường, thì chẳng khác một hình bóng vô cùng thánh khiết, nhất là vào những sáng sương mù dày đặc, thì lại càng đẹp đến não nùng. Lúc ấy, trí óc bé nhỏ của tôi, hình dung ra một bà Tiên. Chính cô là một bà Tiên trở về để an ủi, vỗ về lũ trẻ mồ côi bất hạnh. Chính đôi mắt cô là cả một biển bao dung, và hình ảnh cô là cả một hình ảnh của từ bi độ lượng. Hình ảnh ấy, như một cơn mơ. Đến và đi như một làn hương quí. Quả vậy, tôi còn nhớ như in, hình ảnh ấy đến với tôi trong khi tôi nổi sốt. Tôi chỉ thấy lờ mờ gương mặt dịu hiền, đôi mắt ngoan đạo. Tôi chỉ thấy mập mờ cái dáng mềm yếu, rất là mỏng manh rất là xa vắng, như chừng tan loãng ra ngay. Và đó là lần đầu tiên tôi được nếm thế nào là hạnh phúc. Đó là lần đầu tiên tôi được bắt gặp hình ảnh một người mẹ hiền. Và đó cũng là lần đầu tiên tôi nhỏ xuống má những giọt lệ vì sung sướng quá.
Để rồi từ đó, hình ảnh của cô hiệu trưởng trở nên thân mật với tuổi thơ. Tôi bắt đầu thấy mình nhớ nhung, cũng như thèm khát được nhìn hình ảnh của cô. Có nhiều đêm, tôi lẻn trốn ra ngoài phòng, tìm đến nhà của cô – gần đó, và nép người dưới vườn hoa rậm rạp để nhìn cô đánh đàn dương cầm. Tôi muốn chết trân trước mái tóc dài óng ả chảy suốt cả bờ vai xuống tận nền. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao tôi lại thích như vậy. Tuổi thơ của tôi thật kỳ lạ. Nhưng nếu sống trong hoàn cảnh của tôi, người ta mới hiểu và tha thứ.

Có lẽ, trong những ngày dài như cả thế kỷ trong viện mồ côi, cuộc sống của tôi chỉ thấm nhập bởi những bài kinh thánh, bởi những lời cầu nguyện, bởi những ước mơ xa vời. Nhất là trong nỗi bất hạnh, tủi thân của một vì sao lạc loài, tôi không còn biết gì hơn là ngưỡng vọng một hình ảnh rất dịu dàng mà gần gũi, rất thánh khiết mà bao dung như cô hiệu trưởng. Ở người cô, dường như toát ra một cái gì tuyệt dịu mà tôi không làm sao diễn tả được. Không biết, đó là cái đẹp không? Không biết đó là đức thánh mẫu không? Mà sao tôi mãi mãi bị cái hình bóng của cô theo đuổi hớp hồn. Mà sao, tôi chỉ yêu thích mỗi một hình bóng ấy. Một hình bóng như sương như khói, bệnh hoạn xanh xao, một hình bóng không bị ô nhiễm bởi cuộc thế.

Và năm 20 tuổi, tôi bắt gặp hình bóng ấy qua một người con gái ngoan đạo. Nàng tên là Liên Hạ. Dĩ nhiên là tôi yêu nàng rất tha thiết. Dĩ nhiên đối với tôi, nàng là tất cả. Tôi đã từng bỏ công lặn lội theo nàng hàng giờ, từ ngôi trường nữ trung học, hay từ ngôi nhà của nàng, đến tận nhà thờ thành phố. Tôi đã từng núp đằng sau cánh cổng giáo đường, ôm ngực ôm tim nhìn ngóng nàng đang quì gối trước bục  thờ Chúa Hài đồng. Tôi đã từng bị gương mặt thanh tú, đôi mắt vô lượng, bờ ngực gầy, cái dáng mong manh ấy làm chết điếng, bỏ ăn, bỏ ngủ. Nhưng tôi thề tôi không nghĩ đễn nỗi ô trọc, đến thân xác. Tôi chỉ nghĩ nàng là một thần tượng cao cả của tôi một ngôi vị miên viễn tuyệt vời nhất của tôi. Nhất là trong bầu không khí vừa âm u, vừa thần linh dưới vòm nhã nhạc thánh ca ấy. Ở đó, chan hòa một bầu trời vô lượng, vô biên, mà nàng, quì gối cúi đầu, viền mi khép trĩu, áo lụa thanh khiết như hình ảnh cô hiệu trưởng. Khi ấy, con tim tôi được xoa dịu lại và tâm hồn tôi tràn ngập một tình cảm vô cùng trong sạch. Tôi yêu nàng trong kính nể. Tôi nghĩ đến nàng trong tâm tư trinh trắng của tôi. Ở nàng là một con người khác, không phải con người trần tục. Nàng chính là cõi mộng, cõi chiêm bao, mà tôi gởi gắm vào, nương nhờ đến trong dòng sông lênh đênh tuổi trẻ.

Trời ơi, tôi không thẻ nào quên được những chiều nàng đi lễ. Ngôi giáo đường ở bên cạnh bờ biển, bên cạnh ngôi nhà tôi nương nhờ với chức dạy kèm trẻ. Và khi tiếng chuông nhà thờ được ông lão kéo đổ từng hồi, thì tôi như một nhấp được một cốc rươu hành phúc nhất. Tôi chạy ra ngoài cổng, rồi đứng dưới hàng dương trước giáo đường. Tôi dấu con tim hồi hộp cùng cực để đợi chờ nàng bước qua. Gió lộng, biển xanh và áo trắng của nàng ẩn hiện như nàng yêu dấu. Tôi thề là tôi không hề liên tưởng đến sự dục vọng của xác thịt, cho dù, gió biển đã làm tà áo của nàng bay phất phới, và nắng chiều soi những đường nét thân thể của nàng. Tôi chỉ thấy ở dáng người nàng được tỏa ra một cái gì cao cả quá, hiền lành quá, tinh khiết quá. Như bờ ngực gầy của nàng, như bước chân nhỏ nhắn của nàng…

Và từ nỗi đam mê ấy, tôi bắt đầu làm thơ, vẽ tranh. Tôi đã làm những bài thơ đầu tiên nói về Liên Hạ, nói về một người con gái như sương như khói chẳng hạn:

Em qua đời tôi,
bằng thánh ca trong giờ lễ đạo
bằng đôi mắt như một ma soeur
bằng bước đi không còn vướng bụi
bằng tiếng chuông chiều vang vọng ba ngôi.

Thơ tôi còn non. Nhưng tôi vẫn tiếp tục làm cả trăm bài bằng một nỗi say mê kỳ lạ. Nhan đề cho tập thơ đầu tiên là Liên Hạ, và tôi vẽ một lô phụ bản, toàn là hình ảnh một người con gái, thật cao, thật mỏng, ngực thật lép, với mái tóc buông xóng xõa xuống hai gọt chân trần. Hơn nữa, tôi cho nàng bay lên không trung, như chạm vào một cõi chim muông, sương mù, những ngọn đèn cầy… Trên mỗi một phụ bản, tôi vẫn thường trích ra những câu thơ hay mà tôi góp nhặt được. Chẳng hạn hai câu thơ sau đây:

Em đi dáng mỏng như là gió
phơi tuổi vàng ta trên ngọn cây…
( Thơ Hoàng gỗ Quí)

Đó tình yêu của tôi là thế. Bây giờ, tôi có thể thú thật đây là cơn mộng du không hơn không kém. Bởi vì, ngày ấy, tôi sống hoàn toàn bằng một cơn mộng. Tôi không dám xa vào thực tế. Tôi không dám thổ lộ tình yêu.

Nhưng thực tế là một cái gì khủng khiếp. Đó là một đêm không trăng, khi tôi một mình ra bờ biển trước nhà. Thường thường, mỗi đêm tôi vẫn có thói quen lang thang như thế. Bởi tôi muốn thoát khỏi căn nhà âm u tù tội mà tôi phải chịu giam mình bởi nhu cầu cơm áo. Bởi tôi coi cõi tịnh lieu  vĩ đại của biển cả là một nơi để tôi suy nghĩ, và sáng tạo. Nhưng, một đêm , ừ một đêm thật tàn nhẫn, tôi đã bắt bặp cái hình ảnh mà tôi cho lầ thánh thiện, trinh khiết là ma soeur ấy đang làm những gì mà loài người trần tục vẫn làm. Tôi đã sững sờ chôn chân trên mặt cát. Trước mắt, nàng và ai đó. Hai người đang bấu víu nhau. Trong khi tiếng sóng vang động cả cõi đêm như thể nhịp đập của con tim tôi. Và tôi đã chạy như một tên cuồng. Tôi chạy trong bầu trời gầm thét, và trên đầu tôi dễ chừng có tiếng sét đánh xuống. Phải, thực tế. Cơn mộng. Tôi đã thấy hai bờ vực đó, và hiểu được tê tái những gì mà tôi đã rồ dại lao mình vào. Cho dù, tôi vẫn tự nói với chính tôi nghe: Không, không thể được Liên Hạ không thể hèn mạt, ghê tởm như thế được. Nhưng lập tức cái bóng đen kia lóe sáng với hai thân thể. Và tôi cứ chạy, chạy mải miết. Ảo tượng, cơn mộng du của tuổi trẻ của tôi đã chết từ đêm đó.

Kể từ đó, tôi không đến như thường lệ. Vị Linh mục ngạc nhên trước sự thay đổi này. Ông ra gặp tôi ở bờ biển, trong một buổi chiều biển động. Ông hỏi:

    – Cha nhận thấy dạo này con không đến nhà thờ.

Tôi trả lời bướng bỉnh:

    – Con không đến bởi vì con không thích.

Vị linh mục nhìn tôi, nửa ngạc niên, nửa sợ hãi như thể tôi là một kẻ điên. Sau đó, ông nói:

    – Con cho phép Cha đi dạo với con?

Nhìn ông, tôi cảm thấy ân hận. Và chúng tôi bước trên bờ cát ướt. Sóng biển gào thét, ào vào bờ xa hơn mọi khi. Bãi biển vắng lặng đến rợn người. Bầu trời một màu mây ảm đạm, với những chớp sáng lóe lên đều khắp, gầm gừ trong tiếng động của biển. Tôi nhìn những cặn bã còn sót lại trên cát trắng, miệng muốn nôn.
Vị linh mục gợi câu hỏi đầu tiên:

    – Cha đoán không lầm là con vừa trải qua một câu chuyện đau buồn?

Tôi không trả lời.
Ông nắm vai tôi:

    – Cha là người của Giáo hội, là vị Cha tinh thần của các con. Con hãy nói cho Cha biết. Con nên nhớ rằng, Chúa có mặt khắp mọi nơi, mọi người.

Tôi cắn môi mới khỏi bật khóc:

    – Cha có bao giờ thấy giấc mơ của Cha bị sụp đổ? Cha có nghĩ rằng trên bãi cát trắng phau này, sau khi nước biển rút đã để lại bao nhiêu cặn bã. Cha có hiểu…

Vị Linh mục ngắt ngang lời tôi nói.

    – Con hãy bình tĩnh lại.

Tôi nắm bàn tay Cha:

    – Cha có ở trường hợp, hoàn cảnh như con Cha mới hiểu. Con sinh ra trong viện Mồ Côi. Con lớn lên trong cảnh tù tội, và bây giờ con là nạn nhân của xã hội. Con không tin điều thiện ở con người. Con chỉ thấy một loài người cấu xé, giành giựt, lấy nỗi đau đớn của kẻ khác là một trò vui. Con chỉ thấy giống cái, giống đực…

Tôi hét lên và bỏ chạy. Trong khi đó tiếng nói của vị Linh mục đuổi theo sau, khi mất khi còn trong tiếng sóng biển gào thét:

    – Chúa phù hộ cho con. Rồi con sẽ trở về với Chúa…

Có lẽ tôi điên đến nơi. Tuổi trẻ có những giây phút mê cuồng rồ dại. Tuy nhiên là nỗi mê cuồng rồ dại hữu lý. Bởi vì chính hắn là nạn nhân. Bởi vì hắn không biết nương tựa vào đâu nữa. Anh hãy tha thứ cho tuổi trẻ của tôi. Cũng như Chúa hãy tha thứ cho sự phạm thượng này. Chúa cũng hiểu trên quả địa cầu này, Chúa không ban ơn trọn vẹn.
Và cũng chính sự mê cuồng, thất vọng tái tê mà tôi ghê tởm tất cả. Tôi bắt đầu dẹp bỏ cơn mộng, niềm tin để sống một nếp sống cuồng loạn, Tôi đã uống rượu đập ly, tôi đã lăn xả vào các thân thể nóng hổi đàn bà. Nhất là loại đàn bà có hình dáng mảnh mai, gầy ốm. Trong trí não của tôi luôn luôn dục dã tiếng nói trả thù. Tôi hành hạ, đày đọa. Tôi chẳng khác một tên cuồng bạo. Nhưng định mệnh lại không buông tha tôi. Vài năm sau, tôi lại quen người con gái thứ hai. Nàng giống Liên Hạ như đúc. Có nghĩa là bờ ngực gầy, dáng người mong manh như cành liễu. Có nghĩa là ở người nàng toát ra một nỗi bệnh hoạn âm u. Thoạt đầu, những lá thư trao đổi, rồi dần dà đưa đến chỗ hẹn hò. Tôi đã giăng cãi bẫy mà nàng không hay. Và tôi xin mấy ngày phép để trở về thành phố. Nàng đứng đợi tôi ở sân bay. Tôi huyên thuyên mời mọc nàng vào từng quán tối.  Tôi khẩn cầu nàng bỏ học bỏ hành. Trong tâm tưởng của tôi bây giờ là phải hưởng thụ trong mấy ngày phép. Và ngày cuối cùng, tôi mời nàng đi thật xa, về ngọn đồi hiu quạnh. Nàng ngần ngừ, nhưng sau đó, khi thấy đôi mắt van lơn của tôi, nàng cầm lòng không đậu, bằng lòng. Và chúng tôi ra đi. Tôi còn nhớ rõ buổi sáng mùa thu ấy, ngọn đồi mang một màu vàng úa bởi những cơn mưa lá vàng rơi rụng. Tôi còn nhớ, dưới chân đồi biển cả xanh biếc một màu và những cơn sóng bạc đầu vỗ mạnh vào bờ đá, với những tiếng gào thét hung dữ. Tôi vẫn còn nhớ là nàng bé nhỏ, bệnh hoạn nương cậy vào tôi khi trèo lên các sườn đá cheo leo. Tuy vây đôi mắt nàng long lanh một màu hạnh phúc. Nàng cười nói huyên thuyên như con sáo nhỏ. Nàng kể về những ngày, những đêm nhớ nhung thê thiết. Nàng nhắc đến con đường từ nhà ra bưu điện, một bóng hình nàng cô độc giữa một hàng sao cúi đầu, vàng úa. Chính trong những lá thơ nàng gởi nàng vẫn viết về con đường ấy. Con đường bệnh hoạn như cuộc đời của nàng: bệnh hoạn liên miên. Và không hiểu sao nàng lại yêu nó đến ngây ngất. Lời nàng dịu dàng bên tôi, và tôi nghe bằng một tâm trạng cay đắng. Tôi liên  tưởng đến cái đêm trên bãi biển. Tôi nhớ lại cơn mộng du tuổi trẻ với kết cuộc là phũ phàng, thất vọng ê chề. Và tôi nhắm mắt. Tôi cũng không hiểu nổi cõi lòng của tôi nữa. Tôi dịu dàng bảo nàng ngồi dưới một gốc cây phong. Tôi dịu dàng bảo nàng hát. Và nàng vừa nhặt một chiếc lá chết vừa cất tiếng hát. Bài hát về mùa thu, về số phận mong manh của những chiếc lá cuối mùa. Tiếng hát của nàng cũng đầy nước mắt trong khi trên cao, lá từng  chiếc từng chiếc rụng xuống như mưa, và tiếng gió thổi xao xuyến một lúc… Quả là tiếng hát kỳ diệu. Nó cất lên bằng cả một con tim yếu đuối. Nó tỏa ra bằng nước mắt bệnh hoạn. Và nàng đã  hát  bằng tất cả nỗi lòng tha thiết nhất, Mùa thu. Thu đi cho lá vàng bay. Tại sao nàng nức nở. Tại sao bờ vai yếu mềm của nàng run rẩy tội tình. Tại sao bờ ngực của nàng thoi thóp. Nàng đã trao trọn vẹn tâm sự thầm kín nhất, u ẩn nhất cho ai. Cho tôi hay cho Trời Cao. Cho Định mệnh. Phải, tôi biết, sau này, nàng đã trao cho Định mệnh. Bởi vì, vô tình tôi thấy nàng mang theo trong chiếc sắc tay học trò những viên thuốc trợ tim màu hồng, mà nàng vẫn dùng như suốt đời con gái. Tôi cựa tim đau đớn. Tôi sợ cũng nên. Nhìn nàng tôi thấy má tái xanh. Tôi thương nàng quá. Rõ ràng lúc này là lúc tôi cảm thấy nàng vô tội. Tôi nhìn lên trời cao. Màu lá vàng ngợp ngàn. Màu mây trắng mong manh sương khói. Và tiếng biển gào thét vang động dưới đồi. Bỗng dưng tôi thấy lại bộ áo đen tuyền của vị linh mục. Trong tiếng gió, tiếng sóng có cả lời réo gọi của vị Cha xứ:

    – Cầu Chúa phù hộ con. Rồi con sẽ trở về với Chúa…

Tôi mới thấy một điều là trên đầu tôi Chúa hiển hiện. Bằng cõi lòng bao la, khoan dung và tha thứ. Trên quả đất này, Chúa luôn luôn mở rộng vòng tay, ban xuống những ơn mưa móc. Cho mỗi mùa một vẻ đẹp. Cho con tim con người tình yêu. Cho lá vàng rơi rụng, cho mây trời thôi trôi về biển khơi. Cho tôi một người con gái. Không hiểu sao, tôi ôm choàng lấy nàng, và hôn như mưa trên tóc nàng, má nàng, môi nàng. Tôi hôn như hôn một thứ tuổi trẻ ngọc ngà nhất mà từ lâu tôi đã đánh mất. Đó là lúc tôi vừa nếm được hương vị của ái tình và vừa thổ lộ niềm ân hận, tạ lỗi. Nhưng hỡi ơi, nàng đã ngất xỉu rồi. Cái hôn lần đầu, sự luyến ái lần đầu trong đời người con gái bệnh hoạn đã làm nàng trở bệnh. Căn bệnh tim của nàng lại tái phát vì sự xúc động. Trời ơi, tôi ôm nàng trong vòng tay của tôi, hốt hoảng cực độ. Tôi lay nàng, tôi nắn nót, xoa bóp nàng. Nhưng nàng vẫn còn nằm yên đấy, má tái xanh và ngực thập thò yếu ớt. Sau đó, nhớ lại vài kinh nghiệm ở chiến trường, tôi bắt đầu làm vài động tác hô hấp nhân tạo, và lấy chai dầu thoa khắp thân thể. Lúc này là lúc tôi yêu nàng cực độ. Lúc này là lúc tôi khám phá được hạnh phúc cũng như tình yêu. Nhưng cũng lúc này, tôi biết tôi sợ. Vì, cơn mộng du của tôi đã hóa ra một cơn mộng du đẫm đầy nước mắt. Như người con gái đang ngất xỉu trên đám lá vàng khô này.

oOo

Để rồi từ đó, tôi tự cắn răng không dám liên lạc với nàng nữa. Tôi biết tôi không xứng đáng với tình yêu của nàng. Tôi biết, với cuốc sống trận mạc của tôi chỉ làm nàng hãi sợ, nhuốm bệnh thêm lên. Vì, tưởng tượng mỗi đêm, nàng nghe tin từ đài phát thanh báo về một mặt trận lớn có tôi tham dự thì nàng sẽ như thế nào? Cũng như đọc một bản tin trên tờ báo, hay một lời phân ưu nhỏ mọn thì nàng sẽ như thế nào. Điều đó; ai cũng biết. Bởi thế,  tôi cắn răng chấm dứt mối tình đang độ nồng cháy nhất của đời tôi. Khi từ giã thành phố, nàng bảo nàng không đưa, và tôi cũng khuyên nàng như vậy vì sợ nàng lại chịu thêm một nỗi xúc động mới. Nhưng ngày cuối cùng, ngồi trên xe ca, tôi lại thấy nàng đứng ở ngã tư, nhìn tôi trong khi chiếc xe lăn bánh. Nàng mặc áo vàng, tựa như màu úa trên ngọn đồi vĩnh cửu. Sau đó, nàng vừa chạy vừa bưng mặt khóc. Còn, tôi  thì nhào ra cửa xe, giữ chặt lan can xe mà cay con mắt. Xe càng lúc càng xa dần. Bánh xe nhẹ nhàng, lăn như nhịp điệu của một bài hát. Người đi qua đời tôi. Người đi qua đời tôi. Là chia biệt. Người áo vàng xa khuất. Thành phố từ giã. Còn lại một mình tôi. Người đi qua đời tôi, bằng xót xa, bằng đắng cay… bằng tất cả tấm lòng trinh trắng, nhưng tôi không bao giờ nếu giữ nổi….

oOo

Rồi một ngày mùa thu năm sau, tôi được phép trở về thành phố cũ. Tình yêu bão bùng ngày trước bây giờ nhường lại cho một tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối. Tôi trở về, để nghe tin nàng đã chết vì một trận đau tim kinh khủng. Đó là điều nàng vẫn hay kể trong những lá thư gởi cho tôi trước đây. Và điều ấy đã đến thật sự. Bạn tôi lại kể thêm, là sau khi tôi đi khỏi, nàng càng lúc càng vàng võ, càng sợ người đời. Chừng như nàng có một mặc cảm phạm tội. Nhưng tôi biết, chính nàng là nạn nhân của tôi. Chính tôi đã mang cho nàng cái vết thương dậy thì. Chính tôi đã tập cho nàng làm chinh phụ. Trời ơi, tôi không thể ngờ được. Nàng đã chết. Lần trở về, có tôi thất thểu trên ngọn đồi Thu, có tôi một mình trên mỏm đồi cao, nhìn về phương trời, trong khi lá thu rơi rụng như mưa và mây trắng vẫn bay qua không hề dừng lại. Một đám mây trắng thật tinh khiết dịu dàng trôi thật thấp, thật thấp, rồi vô tình trôi qua không luyến tiếc, không xót thương. Chỉ có trong tiếng gió là tiếng hát về mùa thu. Về mùa bệnh hoạn. Tiếng hát vĩnh cửu của người con gái Đà nẵng…
Nguồn: http://saigonecho.com/index.php/van-hoc/tuy-but/13640-cuoi-bo-xa-cach

24 giờ ở Liên Đội Chung Sự! – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI VNCH (BIÊN HOÀ) – dòng sông cũ

Ngày 13 Tháng 8 năm 1971, trưa hầm hập nóng. Cái nóng của Sài Gòn, hừng hực mái tôn, như chảo lửa đun… sôi. Chiến tranh… khói… khói… lãng đãng mặt người. Trong căn nhà trọ trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, mình nằm chịu trận như một con cá mắc cạn, ngóc lên mà thở trong cuộc chiến khốc liệt nầy… thì nhận được thơ anh. Bức thơ nhầu nhĩ, bì thơ là một tờ giấy, người viết chỉ việc viết vào mặt sau, xếp lại, rồi đề địa chỉ ở mặt trước, có in tem sẵn, dán lại, gởi đi cho nó gọn mà những người lính từ mặt trận thường dùng để gởi về thân nhân là ba, má, vợ hay người yêu hoặc mấy đứa em thơ ngây còn ở hậu phương. Thơ anh viết từ ngọn núi Ba Hô nào đó, khoảng 17 cây số đường chim bay về phía Tây Bắc Quảng Trị, án ngữ đường 9 Nam Lào. Ai kiểm soát độ cao nầy là kiểm soát đường chuyển quân phía dưới. Và muốn tấn công, xâm nhập vào Quảng Trị thì phải tìm cách nhổ sạch quân trú phòng ở đỉnh Ba Hô! Anh nói những ngày ở đây thật là gian khổ và ác nghiệt nhưng gian khổ nhứt là đi lấy nước vì địch quân rình bắn sẻ. Anh nói: Gió Lào mùa nầy ác nghiệt cũng không kém mấy thằng Bắc Quân bên kia núi rình bắn lén. Bầu trời trên đầu, ngày lại ngày, không một đám mây, không mưa… khô khốc! Nước!

Đại đội 1, Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến của anh nằm trên đỉnh Ba Hô đó. Anh không biết ngày về vì hành quân liên miên như vậy và đóng chốt ở đây không biết đến bao lâu mới có đơn vị khác đến thay?   ****

Thơ anh đến, chưa kịp trả lời, thì 21 tây, xác anh đã về tới. Người anh bà con bạn dì, trên chiếc xe Honda, mượn của thằng bạn học khác, chở mình lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Chạy trong cái nắng đổ lửa của Sài Gòn mà không nghĩ gì hết. Không tin gì hết. Đầu óc như cứng lại, khô khốc, đặc quánh lại… như cơn gió Lào vi vút, u u… thổi ngoài kia của dãy Trường Sơn.

Xe qua tượng Thương Tiếc, quẹo vào con đường vòng cung. Phía trên đồi là Nghĩa Dũng Đài sừng sững, rồi ngừng lại ở tiền sảnh của Nhà Quàn Liên Đội Chung Sự Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa! Không có ai chỉ dẫn. Như linh tính của tình anh em ruột thịt, mình đến ngay chiếc quan tài hình chữ nhựt màu xanh biển thẫm, đã phủ quốc kỳ. Đầu hòm có một chữ Hán không hiểu nghĩa là gì? Anh bà con đi chung đang học năm thứ hai Văn Khoa nói: “Chữ Thượng nghĩa là trên. Đầu nó nằm đây nè!”

Mặt trước quan tài có đính một tờ giấy. Trên đó viết vài hàng chữ: Cấp bậc: Thiếu Úy. Họ tên: Đoàn Xuân Hòa. Sanh ngày 14 tháng 9 năm 1949. Đại đội Phó, Đại đội 1, Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến. Tử trận ngày 15 tháng 8 năm 1971 tại Quảng Trị.

Nằm kế bên anh là Chuẩn Úy Lê Định, sanh năm 1952, sanh quán Huế, cùng chung đơn vị. Phía sau lưng anh là khoảng hai mươi chiếc quan tài nữa, chia làm hai hàng, có một vài cái thuộc Sư Đoàn 5, còn bao nhiêu đều là lính Đại Đội 1 với anh. Sau nầy, nghe kể lại, ngày 15 tháng 8 một trận đánh khốc liệt đã xảy ra trên đỉnh Ba Hô giữa bộ đội quân chánh quy Bắc Việt và Đại Đội của anh. Đại Đội bắn hết đạn, bị tràn ngập. Trận đánh xáp lá cà bằng lưỡi lê đã diễn ra và kết thúc bằng phi cơ phản lực đến ném bom. 24 chiến sĩ Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng Cảm Tử tử trận! 24 chiến sĩ ngã xuống và bao nhiêu vành khăn tang đội lên đầu của thân nhân tử sĩ? Nào ai biết được con số chính xác. Nỗi đau người lính không còn đau nữa, đã đền xong nợ nước, mà nỗi đau của cha mẹ, vợ con, anh em của người chiến sĩ thì còn đau mãi đến tận bây giờ!

Quanh quẩn bên chân anh, nhang tàn rồi thắp nhang khác, nến tàn rồi đốt ngọn nến khác. Một cọng chân nhang, cắm vào đó một điếu thuốc thơm! Mời luôn những người đồng ngũ của anh mỗi người một điếu! Hà tiện chi nữa! Hết thuốc, lại dốc hết tiền trong túi ra, xuống câu lạc bộ nhà quàn mua cho anh hút trước khi xác thân các anh về với đất. Phía sau tiền sảnh là một căn phòng tối lù mù, chiếu sáng bằng những ngọn đèn tròn, vàng vọt. Rồi có tiếng trực thăng sơn chữ thập hồng, phầm phập xuống bãi đáp. Hai người lính cứu thương, quân y, bước ra, chuyển từ trong trực thăng xác một người lính thuộc Sư Đoàn 5, phù hiệu ngôi sao trắng và số 5 màu đỏ máu trên tay áo!

Xác tử sĩ nằm trên băng ca, một tay thòng xuống, còn đòng đưa theo nhịp đi của hai người lính đang khiêng… chứng tỏ anh vừa mới chết, xác hãy còn nóng hổi, chưa lạnh, nên chân tay hãy còn dịu nhỉu. Quần áo trận của anh vẫn còn ướt sũng và vấy đầy bùn đất! Xác anh được mang vào phòng và những người lính Quân Nhu thuộc Liên Đội Chung Sự xúm lại làm phần việc của mình trong im lặng. Trước hết dùng kéo cắt quần áo trận ra để tắm rửa cho tử sĩ lần cuối. Cái vòi nước xịt vào khuôn mặt giờ hơi tai tái nhưng vẫn còn lật qua lật lại được theo tia nước. Sau đó là lau khô xác, hớt tóc cho ngắn gọn, dùng phấn và son tô lại khuôn mặt, môi người tử sĩ để thân nhân nếu có lên nhìn mặt cho đỡ tủi. Mặc cho người lính vừa ngã xuống một bộ ka ki vàng còn hồ cứng. Công đoạn cuối cùng là đổi cáng. Hai chiếc thẻ bài đeo trên ngực tử sĩ được rứt ra. Một sẽ giao lại cho thân nhân và một gắn trên đầu hộc tủ, một trong khoảng ba trăm cái của phòng lạnh, để biết mà mở ra cho thân nhân lên nhận diện Năm giờ chiều thì Ba, Má dẫn mấy đứa em từ Mỹ Tho lên. Lúc đó thấy Má đi không nổi nữa. Chân như khuỵu xuống; phải tựa vào vai Ba mà bước! Mấy đứa em còn nhỏ quá nhìn quanh… ngơ ngác. Thấy Má như vậy, nước mắt mình bây giờ, trưa tới giờ có khóc được giọt nào đâu, mới trào ra như suối:

“Ảnh nằm đây nè! Má!”

Má chỉ kêu: “Con ơi!” Rồi khóc! Nghe thảm làm sao! Ba chỉ im lặng, không nói gì, mặt nhăn nhúm lại!

Đêm xuống, Ba, Má và mấy đứa em vô nhà khách nghỉ để bình minh, rạng sáng mai đưa xác anh về quê cũ. Mình không ngủ được, mặc chiếc áo ba-đờ-xuy cho đỡ lạnh. Trên đồi, gió nhiều quá, thổi u…u. Mình ngồi bó gối, dưới chân anh. Nhang tàn thắp khuya. Thuốc tàn lại đốt. Tiếng con vạc sành bám trên nóc sảnh lâu lâu lại rơi xuống, đập cánh xè xè, nghe như hơi người chết từ những chiếc quan tài chập chờn ánh nến, thoát ra.

Nhìn lên đồi cao nơi mộ ông Tướng Đỗ Cao Trí đèn thủy ngân sáng choang. Nhìn xuống dưới, những hàng bia mộ người chết trận… lặng im… chìm trong tối. Dọc đường từ nhà quàn vào khu gia binh của Liên Đội Chung Sự, những mảnh ván quan tài đang đốt dở, cháy leo lét trong gió. Những mảnh ván quan tài đang cháy dở là do việc thân nhân mướn những người thầu tư nhân rửa xác tử sĩ lại để còn nhìn mặt lần cuối. Hòm cũ bỏ đi, sau đó xác được đặt vô cái hòm kẽm mới, hàn chì lại để ngăn mùi tử khí không thoát được ra ngoài, có người nằm lại nghĩa trang cùng đồng đội, có người được mang về quê an táng.

Ba không muốn khui nắp quan tài anh ra nữa, không phải sợ tốn tiền. Mà ba sợ ảnh chết như vậy chắc không còn nguyên vẹn gì… mà nếu Má nhìn thấy thì làm sao chịu cho nổi!

Hai là hy vọng người tử sĩ nằm đó không phải là xác của con mình. Một hy vọng hão huyền là có thể ngày nào đó anh sẽ về, gặp lại Ba, gặp lại Má chăng? Rõ ràng hy vọng đó chỉ là ảo vọng; dù vậy Ba vẫn còn ráng nắm níu, ráng mà bám víu theo?!

Sáng hôm sau, một bán tiểu đội lính, 6 người, ông Trung Úy già, Trưởng Hậu Cứ Tiểu Đoàn chỉ huy và chiếc GMC mười bánh đến! Những người lính kê vai, vác, đưa chiếc quan tài lên xe! Và anh về quê cũ. Tiếng kèn đồng nghe u uất. Trước đầu xe có tràng hoa cườm và băng vải tím.

Người yêu anh, chị Loan, y tá Bệnh Viện Lê Hữu Sanh của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, nức nở: “Anh Hòa ơi! Anh Hòa ơi!” lúc di quan! Tình nồng thắm của anh chị như bọt nước đã đành tan theo vận nước sau đó.

****

Lại theo xác anh. Xe qua những đường phố Sài Gòn nhộn nhịp. Người lính tử trận… lẳng lặng đi qua. Có người dừng lại, chào kính xác người chiến sĩ. Có người dừng lại, ngả nón cúi đầu! Đa số vẫn tiếp tục đi. Và xe chở xác vẫn đi!
  Mang anh về lại quê nhà, Mỹ Tho… nơi, anh vì nước phải bỏ nó mà đi chỉ mới có 4 năm!

Mình không nghĩ được gì hết! Cuộc chiến tranh nầy ai gây ra ư? Tại sao vậy? Làm sao cắt nghĩa được tham vọng của một lũ điên? Chỉ biết một điều là một thanh niên mới vừa xong trung học là lên đường nhập ngũ, từ Mỹ Tho ra tận Miền Trung gió Lào khô khốc thổi, rồi ngã xuống ở Đỉnh Ba Hô nào đó của Quảng Trị để ngăn chận Bắc Quân tràn vào thị xã.

Ngày 25 tháng 8, ôm tấm di ảnh của anh, thằng em kế, thứ năm, nối bước theo sau, trên hai tay là chiếc gối nhỏ, màu vàng viền đỏ, màu cờ, có cặp lon trung úy và chiếc bảo quốc huân chương đệ ngũ đẳng kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, đưa anh đến huyệt mộ! Thòng dây đưa quan tài anh xuống kim tĩnh mà mấy ông thợ hồ vừa mới xây xong, xi măng chỉ vừa kịp khô nước.

Ba loạt tiếng M-16 bắn chỉ thiên, chào vĩnh biệt người chiến sĩ.

Lại tiếng kêu khóc của người yêu anh ở giờ hạ huyệt: “Anh Hòa ơi! Anh Hòa ơi!”

Đất lấp lại! Và năm ấy mình vừa 20 tuổi. Ngày chôn anh, ngày 25 tháng 8, là ngày sinh nhựt của mình!

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/cat/item/397-24-gi-lien-d-i-chung-s-doan-xuan-thu

Phương Toàn – Thím Tư Đối…

Phương Toàn

Đằng Vân: Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang

Không mấy ai ở trong lính mà không có biệt danh, nhứt là ngành Không Quân. Như tui đây thì sự thánh thiện toả ra đầy trên mặt mũi tay chân, nên có tên là Cha Tuyên Uý (Chaplain). Thằng Lê Văn Nãi quá đẹp trai mà lại bị chúng nó kêu là Thím Tư Nãi!

Khoá SQKQ 69A có rất nhiều nhân tài, nhưng ít ai qua mặt nổi Thím Tư, Thím thông minh, văn chương lưu loát. Thím lại xinh gái và nhất là thím có tài xuất khẩu thành thơ. Có nghĩa là ai hỏi câu gì, dù chuyện trên trời dưới biển, chỉ vài giây là thím trả lời trôi chảy.

Sau đây là một vài phút với Thím:
– Chào Thím Tư.
– Dạ có em.
– Nghe nói thím Tư trên thì thông thiên văn, dưới thạo địa lý, giữa thì biết lòn…g người, thím Tư cho em hỏi:
– Tại sao thằng Phong lùn nó lùn?
– Tên nó là Phong Lùn thì nó phải lùn chứ còn tại sao nữa?
– Bái phục, bái phục, Thím cho em hỏi tại sao xe tăng nó chạy bằng bánh xích?
– Câu hỏi rất hay, rất có ý nghĩa. Tại vì không có bánh xích thì xe tăng nó chạy không được.
– Chí lý, chí lý!! Thím Tư cho em hỏi tại sao trực thăng nó không có cái kèn?
– Nó gắn kèn bóp cho tía mày nghe ở trên trời à? Hỏi vớ vẩn.
– Em xin lỗi Thím Tư, tại em ngu quá, không nghĩ ra, em bận nghĩ đến chuyện bóp kèn nên làm Thím Tư giận.

Thím Tư cho em hỏi: Hai người uống trà với nhau, Tàu họ gọi là gì?
– Trung quốc chớ không phải Tàu, Trung Quốc gọi là “Đối ẩm”.
– Bác học, bác học. Thế hai thằng giành gái với nhau thì gọi là gì ?
– Mấy thằng Không Quân gọi là tình địch, nhưng chữ Nho gọi là “Đối thủ”.
– Em vái bác, bác thật là Trạng Quỳnh tái thế. Vậy chữ đối có nghĩa là gì hở bác ?
– Chiết tự ở chữ Nho ra, chữ đối có nghĩa là phản lại, là chống lại, là chổng đầu xuống đất, đưa đít lên trời.
– Thím Tư hay quá cỡ, có khi nào chữ đối không có nghĩa là phản lại hả Thím Tư?
– Tao chưa gặp.
– Chẳng hạn như chữ đối trong chữ “con cá đối” đó Thím Tư.
– Chữ đối đó là danh từ, tao không nói tới, thằng ngu.
-Thím Tư cho em hỏi, vậy ” Đối ngài” là gì hả Thím Tư.
– Ê, thằng Bắc kỳ Di cư, trong Nam đâu có ai nói “Đối Ngài” bao giờ, bộ ngoài Bùi Chu có chữ đó hả?
– Thưa không phải Thím Tư, đó là ngôn ngữ trong Nam cơ mà. Số là ai lo việc bên ngoài thì gọi là đối ngoài, ngoài có dấu huyền đó Thím Tư, chứ không phải dấu nặng, có dấu nặng có vẻ Tàu Tàu làm sao ấy. Thí dụ Thím Tư lo việc bao giàn bên ngoài thì gọi là Thím Tư Đối Ngoài (dấu huyền). Thằng Phong Ngọng nó phát âm trại ra là Thím Tư Đối Ngài vậy đó.

Một giây im lặng ….

Hình như bà xã Thím Tư vấn kế sao đó, Thím Tư nổi doá văng tục:
-Tổ cha mày Chaplain, tao “Đái Ngồi” hồi nào mà mày theo phá tao hoài vậy, thằng thầy tu hổ mang kia.

Phương Toàn

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1201115953&first=1620&last=1679

Chuyện 18 ông La Hán – Bao Bất Đòng

Thực hiện: Jennifer W. Nguyen.

Tác giả: Bao Bất Đồng

Trận Phước Long 1975: Qua Hồi Ký… – dòng sông cũ
Trận Phước Long (13 tháng 12, 1974-6 tháng 1, 1975) – dòng sông cũ

Phần chú thích

Hình trên: Tháng 3 năm 1975 tại phi trường Biên Hòa, các chiến sĩ thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đang chuẩn bị cho cuộc trực thăng vận tái chiếm Phước Long.

Đêm qua, Bao Bất Đồng sờ lên đầu bỗng thấy đầu rối beng, sờ vào tim bỗng thấy tim đau nhói, sờ xuống bụng chợt thấy bụng ngậm ngùi. Sợ bị tẩu hỏa nhập ma, nên một mình một đao, nên một thân một ngựa đến gõ cửa nhà một hán tử đầu bạc. Gọi là đầu bạc, bởi xuân xanh chưa xấp xỉ lục tuần mà tóc đã trắng phau như sợi tuyết, mà râu đã lê thê tới quá cằm. Lại cao nhòng như cây tre, lại gầy guộc như cây mía. Nhưng đôi mắt thì thần quang lấp lánh, nhưng thanh âm thời sang sảng như chuông đồng. Xưa, là tay bút tài tử của phóng sự chiến trường. Trước, là tay viết sử trong Bộ Tổng Tham Mưụ Sau mười mấy năm tù ngục, người vừa mới đến Úc theo diện đoàn tụ gia đình. Sau ba tuần rượu, Hán tử luận : – Trong cuộc chiến tranh giữ nước vừa qua, anh hùng không chỉ có ngũ đại tướng quân Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vĩ, Phạm Văn Phú và Lê Văn Hưng. Mà còn hàng vạn những chiến binh vô danh đứng rợp trời dọc theo suốt chiều dài của Quân Lực. Tỷ như cái chết cực kỳ anh dũng của…18 ông La Hán. – Thập bát La Hán ? – Phải. Đó là 18 dũng sĩ của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Khi tướng Dương Văn Minh đọc bản văn đầu hàng thì họ đang múa súng tại rừng Tân Uyên. Khi xe tăng VC húc đổ cánh cửa dinh Độc Lập thì họ đang đánh vỡ mặt bọn du kích ở mật khu Biên Hòa. – Hách thật ! – Sáng ngày mùng 2 tháng 5, họ rút tới bờ sông Đồng Nai, định bơi qua phía bên kia để chơi một cú chót thì bị bao vây, bị bắt. Trước khí phách ngất trời của những người lính Biệt Cách, trước thần oai lẫm liệt của những ông La Hán thời đại, kẻ địch vừa sợ toát mồ hôi, vừa phát hoảng dựng tóc gáy. Nên chúng đem xử bắn hết rồi ném xác xuống sông ! – Thảm lắm thay ! Thảm lắm thay ! – Đồng bào quanh vùng, phần vì cảm thương cho các chiến sĩ đã vị quốc vong thân, phần vì ngưỡng phục phong thái bất khuất của những đại anh hùng, nên đã vớt xác anh em và chôn dọc theo bờ sông. Hỡi ơi, khi sống thì đứng trên đầu sóng ngọn gió, lúc chết thì chẳng có được một mảnh gỗ đề tên.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù và những ngày tháng tư đen 1975. – dòng sông cũ

Tựa như những câu thơ…

“Lính Biệt Cách Dù không trích nghĩa trang
Yêu cô đơn nên mến lá thu vàng
Ghét nghi lễ nên âm thầm nằm xuống…

hoặc : “Một mai anh chết trong rừng thẳm
Muôn lá vàng rơi niệm xác thân”.

Bao mỗ thở dài : – Họ thuộc Biệt đội nào ? Hán tử trợn mắt : – Mày cũng biết Biệt-Cách Dù à ? – Bẩm, xưa tại hạ với Liên Đoàn 81 cũng có một chút duyên. Hán tử nghẹn ngào : – Theo bản tin Biệt Cách Dù từ Hoa Kỳ, họ thuộc về ba toán thám sát. Thứ nhất là Biệt đội 1 của Trung-úy Trần Bá Long, thứ nhì là Biệt đội 2 của Trung-úy La Cao, thứ ba là Biệt đội 4 của Trung-úy Nguyễn Văn Quý. Hán tử chép miệng : – Cựu Đại-tá Phan Văn Huấn, đương kim gia đình trưởng Biệt-Cách Dù đã liên lạc với các chiến hữu ở Việt Nam để bằng đủ mọi cách phải tìm cho ra các nấm mồ của 18 đại dũng sĩ này. Tin giờ chót cho biết rằng đã tìm được một hố chôn tập thể tám người, rằng đã truy cứu được tên tuổi, rằng đã thông báo với thân nhân và đang chuẩn bị tìm nơi an táng. – Cảm động quá ! Cảm động quá ! – Than ôi, vật đổi sao dời, thấm thoát mà cũng đã hơn hai mươi năm. Trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh đã có hàng vạn chiến sĩ ta đã hy sinh cho tổ quốc, trong đó có hàng ngàn tử sĩ mà xác thân còn gửi đâu đó ở hốc núi, xó rừng, bên lau sậy, ven suối. Không có được một tấm bia đá, không có được một nén hương thơm. Hỏi sao mà hồn phách được siêu thoát, hỏi sao mà nấm xương khô được nguyên vẹn. Tựa như lời ai điếu : “Anh hùng hữu hận diệp diệp tiêu” Nghĩa là “Người anh hùng mang nỗi uất hận, trong khi bao lá cây xào xạc rụng xuống”. Thôi thì, xin được chắp tay cúi đầu trước Anh Linh của Thập Bát La Hán.

Bao Bất Đồng

Nguồn: Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Web page created by Jennifer W. Nguyen-

Hải chiến Hoàng Sa, kiểm chứng sự kiện ngày 19 tháng 1 năm 1974, HÀNH QUÂN TÁI CHIẾM ĐẢO QUANG HÒA – Thềm Sơn Hà

Thềm Sơn Hà

hải chiến hoàng sa, kiểm chứng sự kiện ngày 19 tháng 1 năm 1974, hồ văn kỳ thoại, phạm mạnh khuê, hà văn ngạc, 402, 407, HQ 16, HQ 4, HQ 5, HQ 10, kronstadt 271, 274, T43 389, 396, hải kích, vĩnh lạc, cam tuyền, duy mộng, quang hòa.

HÀNH QUÂN TÁI CHIẾM ĐẢO QUANG HÒA
Cuộc hành quân được dự trù khởi sự vào lúc 06:00 H ngày 19/1/1974.
Lực lượng trên biển của địch trước giờ đổ bộ như sau: (HSTT_trang 302)• 02 chiến hạm Kronstadt (271 và 274) trang bị đại bác 100 ly, 2 đại bác 37 ly, vận tốc 24 gút.
      • 02 chiến hạm loại T43 cải biến (389,396) trang bị 1 đại bác 100 ly, 4 đại bác 37 ly, vận tốc 17 gút.
      • 02 tàu đánh cá võ trang đại bác 25 ly.
      • 01 tàu chuyển vận loại trung.
– Hồi 05:00H: HQ 5 báo cáo có thêm 2 chiến hạm địch đến vùng. Hiện có 7 tầu Trung Cộng (trang 296 THĐ 47-2004).
– Hồi 05:00H: HQ 5 báo cáo có thêm 2 chiến hạm địch đến vùng. Hiện có 8 tàu Trung Cộng (trang 296 THĐ 47-2019)
– Hồi 05:00H: HQ 5 báo cáo về TTHQ/Biển có thêm 02 chiến hạm địch đến vùng hồi 18 1915H/01/74 Hiện có 08 chiếc tàu Trung Cộng (trang 356 THNK/HQ/THĐ 47-2018).

Hải chiến Hoàng sa, kiểm chứng sự kiện ngày 18 tháng 1 năm 1974 – Thềm Sơn  Hà – Bến cũ

NHẬN XÉT:  hình như có sự không hợp lý trong bài viết THĐ 47 và THNK/HQ/THĐ 47 vì từ khuya cho đến rạng sáng ngày 19-01 chỉ có 6 tàu Trung Cộng, nhưng đột nhiên trước giờ đổ bộ lại thấy xuất hiện thêm 1 tàu chuyển vận.
Như vậy thì tàu chuyển vận đến vùng lúc nào?

THĐ 47-2018: hồi 05:00H, HQ 5 báo cáo có thêm 2 chiến hạm địch đến vùng. Hiện có 8 tàu Trung Cộng (trang 296 THĐ 47-2018) trùng hợp với ghi nhận của TTHQ/HQ, vì dựa trên THĐ 47 trong đêm 18 rạng 19 địch chỉ có 6 chiến hạm, nếu thêm 2 chiếc tàu chuyển vận tổng cộng sẽ là 8.
Tuy nhiên THNK/HQ/THĐ 47 lại ghi nhận hồi 05:00H: HQ 5 báo cáo về TTHQ/Biển có thêm 02 chiến hạm địch đến vùng hồi 18 1915H/01/74. Hiện có 08 chiếc tàu Trung Cộng. (THNK/HQ/THĐ 47 trang 356)   
   Nếu như HQ 5 đã báo cáo trong chiều ngày 18/01 thì lập lại để làm gì? Và như vậy thì tổng số chiến hạm hiện diện cũng vẫn là 6 không thể là 8.

Thực sự đây chính là 2 tàu chuyển vận Trung Cộng vừa đến vùng để chuẩn bị đưa 400 quân lên đảo Quang Hòa như TTHQ/HQ đã ghi nhận cộng thêm 2 Kronstadt, 2 T-43, 2 tàu đánh cá võ trang đã có mặt từ trước như thế s nâng tng s lên 8 chiếc.

Chính Đại tá Khuê đã nhận định tình hình tổng quát trước khi quân ta đổ bộ lên đảo: “Trung Cộng đã đổ bộ tăng viện và cố thủ kỹ càng trên các đảo Duncan và Drummond.” (TTHS- trang 302)

Và đây cũng là lý do vì sao ĐĐ Thoại lập tức gọi vô dinh Độc Lập và cuối cùng ông miễn cưỡng ra lịnh đổ bộ lúc 06:00H (xem bài Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ-Thoại và hải chiến Hoàng Sa).
___________________________________________________________________________________
TTHQ/HQ
Lúc 05:15H:
Đại tá Ngạc báo cáo thêm hai tàu Trung Cộng đã tiến vào khu vực từ hướng bắc với vận tốc 20 knots và tham gia cùng các tàu khác đến vùng lúc 1915 H ngày 18/01. 2 tàu TC neo ngoài khơi đảo Quang Hòa. Tổng cộng có 8 tàu TC. • 2 chiến hạm TC đổ bộ 400 quân lên hướng Đông Bắc đảo Quang Hòa.
Đại tá Ngạc lo ngại nếu trận chiến bùng nỗ, lực lượng Việt Nam sẽ bị thiệt hại nặng vì ngoài việc phải chống trả chiến hạm địch, thêm vào đó ông còn phải đổ bộ quân và lực lượng này sẽ cần sự yểm trợ.
Tuy nhiên, mặc dù có sự không cân xứng về hỏa lực, tầm đạn và vận tốc, các chiến hạm VN sẽ cố gắng thi hành lịnh đổ bộ. Lực lượng đặc nhiệm sẽ làm những gì có thể được để tránh đụng độ trước khi nhận được lực lượng tăng viện, nhất là không quân.
Ông yêu cầu phi cơ được phái đến tăng viện có mặt ở khu vực trong giờ đổ bộ.
– lúc 06:00H: V1DH ra lịnh Đại tá Ngạc tái chiếm đảo Quang Hòa.
– Lúc 06:30H: HQ 4 đổ bộ toán Biệt hải 27 người lên bờ phía Nam.
Lúc 07:30H: HQ 5 hoàn tất đưa toán Hải kích 22 * người lên bờ ở phía Tây Nam, nhưng toán này chịu áp lực nặng nề từ lực lượng địch trên đảo và bị bao vây bởi càng nhiều lính TC và có thể bị bắt.
Để đối phó Tư lệnh/HQ ra lịnh:
  •
Đại tá Ngạc tiếp tục cho lính tiến vào, lập phòng tuyến, giữ bình tĩnh, không để địch tiến lại gần và không để bị địch bắt.
  •
Tư lệnh/V1DH chỉ thị lực lượng đặc nhiệm thi hành chiến thuật cài răng lược trên đất liền lẫn trên mặt biển.- Lúc 08:00H: lực lượng đổ bộ báo cáo hiện địch quân đang có một Trung đội trước mặt và một Đại đội ở sau lưng họ. Quân địch được trang bị với súng đại liên và tiểu liên. Toán đổ bộ sau cùng lên phiá Tây Nam gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của địch và phải rút lui.
PHÓ ĐỀ ĐỐC HỒ VĂN KỲ-THOẠI
Lần đầu tiên duy nhất chỉ có ĐĐ Thoại vị Sĩ quan chỉ huy cuộc hành quân, qua vài câu ngắn ngủi trong bài viết bằng Anh ngữ đã xác nhận:
Sáng sớm 19/01, Ngạc đổ bộ Hải kích lên đảo Cam Tuyền và Quang Hòa. Tuy nhiên, cuộc hành quân đó đã thất bại vì lực lượng Trung Cộng đã có mặt trên đảo và đông hơn chúng tôi.” (Hồ Văn Kỳ-Thoại ‘Naval Battle of The Paracels’ Cornell University_2014)
Mặc dù có sự lẫn lộn khi ghi nhận Hải kích đổ bộ lên đảo Cam Tuyền, nhưng đã xác nhận sự thật là quân TC đã đổ bộ lên đảo Quang Hòa trước quân ta vì thế đã đưa đến thất bại.

TÀI LIỆU BỔ TÚC
••• Hải quân Hoa Kỳ: điện văn số 7937 nhóm ngày giờ Z 190140Z JAN 74 từ DAO SAIGON báo cáo lúc 05:15H, hai tàu Trung Cộng ở phía ngoài đảo Quang Hòa.
Lúc 08:30H toán đổ bộ của ta bị bao vây bởi 2 Đại đội TC đã đổ bộ từ 8 chiếc tàu. 
••• Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ: lúc 05:15H ngày 19/01, lực lượng VNCH quan sát 2 tàu TC neo ngoài đảo Quang Hòa và đã đổ bộ khoảng 400 lính. Khoảng một giờ sau đó, VNCH đổ bộ 74 quân lên đảo và cuộc chiến bắt đầu. (tài liệu do TTHQ/HQ cung cấp cho cơ quan DAO của Hoa Kỳ)
•••
CIA: Chánh quyền Nam Việt Nam báo cáo khoảng 75 Thủy quân Lục chiến đã đổ bộ lên đảo và đã bị bao vây bởi ít nhất hai đại đội línhTC. Trước khi Nam Việt Nam đổ bộ có ít nhất hai tàu TC và có lẽ nhiều hơn nửa bỏ neo phía ngoài đảo, hai hoặc ba phản lực cơ TC đã bay ngang khu vực. (DOC_0006007651 The President’s Daily Brief 19/01/1974_ LTG:ghi nhận không chính xác về quân số và đơn vị)
THĐ 47
– Hồi 05:30H, Vùng I Duyên hải chỉ thị Hải đội trưởng thi hành kế hoạch đã phổ biến đêm qua.
(THĐ 47- trang 302)
– Hồi 06:50H: HQ 5 đổ bộ toán Hải kích lên Tây-Tây Nam đảo Duncan. (THĐ 47-trang 296)
– Hồi 07:00H: HQ 4 đổ bộ Trung đội Biệt hải gồm 27 người lên bờ Nam đảo Duncan trong khi HQ 5 đổ bộ Trung đội Hải kích gồm 22 người lên bờ Tây Nam đảo Duncan.
Cũng trong thời gian này, tàu Trung Cộng 402 và 407, đổ bộ tăng cường khoảng 2 Đại đội lên bờ phía Đông Bắc đảo Duncan (quân số này đã được lấy từ tàu chuyển vận neo tại Đông Nam đảo Drummond). Một Đại đội Trung Cộng tiến về phía Biệt hải, Đại đội còn lại tiến về phía Hải kích. Trung đội Biệt hải tiếp tục tiến sâu vào bờ khoảng 250 thước và dựng quốc kỳ Việt Nam ngay trước mặt lính Trung Cộng đang dàn hàng ngang cách đó 3 thước. Đôi bên đứng ghìm súng có gắn lưỡi lê và nói chuyện với nhau, nhưng không ai hiểu gì vì ngôn ngữ bất đồng. Lúc này địch điều động quân có ý định bao vây để bắt sống ta. Nhận thấy địch có nhiều ưu thế, với quân số đông hơn, ở vị trí trên cao và được yểm trợ của toán quân trú phòng trong công sự phòng thủ; trong khi ta, với quân số ít hơn, ở vị trí bất lợi dưới thấp, rất trống trải, nên Trung đội Biệt hải phải rút xuống bìa san hô hồi 07:45H. (THĐ 47-trang 302/303)
Hồi 07:26H: Tư lệnh Vùng I Duyên hải ra lệnh cho Hải đội trưởng:
      • Tránh khiêu khích, giữ đầu cầu và thiết lập ngay hệ thống phòng thủ, không cho địch lại gần và phải thật bình tĩnh.
      • Cố giữ thế cài răng lược trên đất liền và trên mặt biển để loại yếu tố Không quân của địch.
(THĐ 47-trang 303)
Hồi 07:30H: HQ 5 báo cáo đã hoàn tất đổ bộ toán Biệt hải lên đảo. Hiện đang bị áp lực địch càng ngày càng mạnh. Biệt hải bị bao vây. (THĐ 47-trang 296)
– Hồi 07:37H: HQ 4 báo cáo tầu chuyển vận Trung Cộng bắt đầu đổ bộ lên Duncan. Trên đảo có cờ Trung Cộng. (THĐ 47-trang 297)
THNK/HQ/THĐ 47
– Hồi 05:25H: HQ 5 ra lịnh nhiệm sở tác chiến toàn diện. (PT)- Hồi 05:30H: TTHQ/Biển: Đà Nẵng chỉ thị Hải đội trưởng thi hành kế hoạch đã phổ biến đêm qua.- Hồi 06:25H: VIDH: TLP/VIDH chỉ thị xin 2 F5 sẵn sàng tại phi đạo để yểm trợ Hoàng Sa khi có lệnh.

– Hồi 06:40H: chiến hạm đến phía Nam đảo Quang Hòa, lực lượng địch tập trung tại phía Đông Bắc.
– Hồi 06:45H: VIDH: HQ/Biển chuyển HQ 5 yêu cầu dùng cài răng lược với chiến hạm TC để loại vấn đề Không quân địch.
– Hồi 06:50:
      • HQ 5 đổ bộ toán Hải kích lên Tây-Tây Nam đảo Quang Hòa (PT).
      • VIDH thông báo HQ 4 không trợ Quân đoàn 1 cho biết F5 không có khả năng yểm trợ Hoàng Sa vì quá xa.
– Hồi 07:25H: VIDH: HQ 5 báo cáo 2 toán Biệt hải đổ bộ lên Quang Hòa gặp áp lực mạnh càng lúc càng đông, có thể bị bắt sống. 
– Hồi 07:26H: VIDH chỉ thị HQ 5:
      • Đổ bộ hết Hải kích và Biệt hải.
      • Đứng nguyên tại chỗ. Tránh hành động khiêu khích. Lập hệ thống phòng thủ.
      • Cố giữ thế cài răng lược trên đất liền và trên mặt nước.
– Hồi 07:30H: TTHQ/Biển: HQ 5 báo cáo đã đổ bộ 2 toán Biệt hải lên đảo, hiện đang bị áp lực lúc càng đông. Biệt hải bị bao vây. Toán HQ 4 đã lên đảo, đang bị áp lực.
– Hồi 07:37H: HQ 4 báo cáo tàu chuyển vận Trung Cộng bắt đầu đổ bộ.
– Hồi 07:43H: HQ 4 báo cáo trên đảo cũng có cờ Trung Cộng.
– Hồi 07:51H: HQ 4 báo cáo toán Biệt hải đã không chịu nỗi áp lực đang rút dần ra biển.
– Hồi 07:55H: TTHQ/Biển: khuyến cáo của TL/HQ cho HQ 5 ‘không cho địch tới gần, phải làm ngay công sự tại chỗ và phải thật bình tĩnh’.
– Hồi 08:01H: HQ 4 báo cáo HQ 5 tiếp tục cho xuồng cao su tiến về phía Tây đảo.

Hải chiến Hoàng Sa, kiểm chứng sự kiện ngày 17 tháng 1 năm 1974 – Thềm Sơn  Hà – dòng sông cũ


                                            DIỄN TIẾN LIÊN QUAN ĐẾN CUỘC ĐỔ BỘ
TTHQ/HQ
– Lúc 06:00H: V1DH ra lịnh Đại tá Ngạc tái chiếm đảo Quang Hòa
– Lúc 06:30H: HQ 4 đổ bộ toán Biệt hải 27 người lên bờ phía Nam.
Lúc 07:30H: HQ 5 hoàn tất đưa toán Hải kích 22 * người lên bờ ở phía Tây Nam, nhưng toán này chịu áp lực nặng nề từ lực lượng địch trên đảo và bị bao vây bởi càng nhiều lính TC và có thể bị bắt.
Để đối phóTư lệnh/HQ ra lịnh:
 •
Đại tá Ngạc tiếp tục cho lính tiến vào, lập phòng tuyến, giữ bình tĩnh, không để địch tiến  lại gần và không để bị địch bắt.
 •
Tư lệnh/V1DH chỉ thị lực lượng đặc nhiệm thi hành chiến thuật cài răng lược trên đất liền lẫn trên mặt biển.THĐ 47
– Hồi 05:30H, Vùng I Duyên hải chỉ thị Hải đội trưởng thi hành kế hoạch đã phổ biến đêm qua.
(THĐ 47- trang 302)
– Hồi 06:50H     – HQ 5 đổ bộ toán Hải kích lên Tây-Tây Nam đảo Duncan. (THĐ 47-trang 296)
– Hồi 07:00H: HQ 4 đổ bộ Trung đội Biệt hải gồm 27 người lên bờ Nam đảo Duncan trong khi HQ 5 đổ bộ Trung đội Hải kích gồm 22 người lên bờ Tây Nam đảo Duncan.
Cũng trong thời gian này, tàu Trung Cộng 402 và 407, đổ bộ tăng cường khoảng 2 Đại đội lên bờ phía Đông Bắc đảo Duncan
(quân số này đã được lấy từ tàu chuyển vận neo tại Đông Nam đảo Drummond). Một Đại đội Trung Cộng tiến về phía Biệt hải, Đại đội còn lại tiến về phía Hải kích……………. nên Trung đội Biệt hải phải rút xuống bìa san hô hồi 07:45H.  (THĐ 47-trang 302/303)

THNK/HQ/THĐ 47
– Hồi 05:30H: TTHQ/Biển: Đà Nẵng chỉ thị Hải đội trưởng thi hành kế hoạch đã phổ biến đêm qua.
– Hồi 06:25H: V1DH thông báo HQ 5 TLP/V1DH chỉ thị xin 2 F-5 sẵn sáng tại phi đạo để yểm trợ Hoàng Sa khi có lệnh.
– Hồi 06:40H: Chiến hạm đến phía Nam đảo Quang Hòa, lực lượng địch tập trung tại phía Đông Bắc.
– Hồi 06:50: HQ 5 đổ bộ toán Hải kích lên Tây-Tây Nam đảo Quang Hòa (PT).
– Hồi 07:25H: VIDH: HQ 5 báo cáo 2 toán Biệt hải đổ bộ lên Quang Hòa gặp áp lực mạnh càng lúc càng đông, có thể bị bắt sống. 
– Hồi 07:26H: VIDH chỉ thị HQ 5:
      • Đổ bộ hết Hải kích và Biệt hải.
      • Đứng nguyên tại chỗ. Tránh hành động khiêu khích. Lập hệ thống phòng thủ.
      • Cố giữ thế cài răng lược trên đất liền và trên mặt nước.
– Hồi 07:30H: TTHQ/Biển: HQ 5 báo cáo đã đổ bộ 2 toán Biệt hải (LTG: thực sự 1 toán Hải kích và 1 toán Biệt hải) lên đảo, hiện đang bị áp lực lúc càng đông. Biệt hải (LTG: thực sự đây là toán Hải kích trên HQ 5) bị bao vây. Toán HQ 4 đã lên đảo, đang bị áp lực.
– Hồi 07:37H: HQ 4 báo cáo tàu chuyển vận Trung Cộng bắt đầu đổ bộ.
– Hồi 07:51H: HQ 4 báo cáo toán Biệt hải đã không chịu nỗi áp lực đang rút dần ra biển.
– Hồi 07:55H: TTHQ/Biển: khuyến cáo của TL/HQ cho HQ 5 ‘không cho địch tới gần, phải làm ngay công sự tại chỗ và phải thật bình tĩnh’.
__________________________________________________________________________________

NHẬ
N XÉT VỀ GIAI ĐOẠN ĐỔ BỘ
Như dẫn chứng phần trên, lúc 05:15H, Đại tá Ngạc báo cáo phát hiện 2 tàu chuyển vận TC đổ bộ 400 quân lên phía Đông Bắc đảo Quang Hòa. Trước tình trạng bất lợi, ĐĐ Thoại gọi điện thoại vô Dinh Độc Lập với ý định thuyết phục TT Thiệu thay đổi lịnh tái chiếm đảo Quang Hòa của TL/HQ, nhưng TT Thiệu vẫn còn ở Đà Lạt. (xem bài PĐĐ Hồ Văn Kỳ-Thoại)
Đây là lý do vì sao ông chần chờ đến 06:00H mới ra lịnh Đại tá Ngạc tái chiếm Quang Hòa.
Sau đó HQ 4 và HQ 5 đổ bộ Biệt hải và Hải kích lên bờ đã bị lính TC bao vây.

Dẫn chứng từ THĐ 47 và THNK/HQ/THĐ 47 biện minh cho lệnh đổ bộ quân lên đảo rất hợp lý, vì ta không biết trước kế hoạch của địch, đây chỉ là sự trùng hợp một cách rất ư là ngẫu nhiên ‘ta đưa quân lên đảo, đồng thời địch cũng đổ bộ’.

 Tuy nhiên lý luận trên của Đại tá Khuê không đủ thuyết phục và không hợp lý vì đã bị ĐĐ Thoại phản biện cuộc hành quân đó đã thất bại vì lực lượng Trung Cộng đã có mặt trên đảo và đông hơn chúng tôi’.
Và đã mâu thuẫnvới ngay cả nhận định của chính ông‘Trung Cộng đã đổ bộ tăng viện và cố thủ kỹ càng trên các đảo Duncan và Drummond.’
 THĐ 47 lẫn THNK/HQ/THĐ 47 đều cho là lúc 06:50H HQ 5 đổ bộ toán Hải kích lên Tây-Tây Nam đảo Quang Hoà, tuy nhiên THNK/HQ/THĐ 47 có ghi chú là viện dẫn từ PHÚC TRÌNH (PT).
Căn cứ theo phúc trình của HQ 5 thì đây chỉ là theo kế hoạch dự trùtoán hải kích trên HQ 5 đặt chân lên đảo lúc 07:45H.
Ngoài ra THĐ 47 cho là lúc 07:00H khi HQ 5 và HQ 4 đổ bộ lên đảo Quang Hòa, cũng trong thời gian này, tàu Trung Cộng 402 và 407, đổ bộ tăng cường khoảng 2 Đại đội lên bờ phía Đông Bắc đảo Duncan. Và tiếp theo lúc 07:30H  HQ 5 báo cáo đã hoàn tất đổ bộ toán Biệt hải lên đảo. Hiện đang bị áp lực địch càng ngày càng mạnh. Biệt hải bị bao vây.
Trong khi THNK/HQ/THĐ 47 ghi nhận:
lúc 06:40H: Chiến hạm đến phía Nam đảo Quang Hòa, lực lượng địch tập trung tại phía Đông Bắc.
– lúc 07:30H  HQ 5 báo cáo đã đổ bộ 2 toán Biệt hải lên đảo, hiện đang bị áp lực lúc càng đông.  Biệt hải bị bao vây. Toán HQ 4 đã lên đảo, đang bị áp lực.
(Có điểm trùng hợp là TTHQ/HQ, THĐ 47 và THNK/HQ THĐ 47 đều ghi nhận lúc 07:30H HQ 5 hoàn tất đưa toán Hải kích lên đảo.)
– lúc 07:37H: HQ 4 báo cáo tầu chuyển vận Trung Cộng bắt đầu đổ bộ lên Duncan. Trên đảo có cờ Trung Cộng.

Như vậy thì Trung Cộng đổ bộ quân lên đảo vào lúc nào 07:00H hay 07:37H?
Trong khi báo cáo lúc 06:40H xác nhận khi chiến hạm ta đến phía Nam đảo Quang Hòa, lực lượng địch đã tập trung tại phía Đông Bắc.
Dẫn chứng từ THĐ 47 và THNK/HQ/TH Đ47 đã cho thấy sự thật qua việc ghi nhận các sự kiện trái ngược nhau.

Nếu lúc 07:30H HQ 4, HQ 5 đổ bộ lên đảo bị áp lực, Biệt hải bị bao vây thì làm gì lại có chuyện lúc 07:37H tàu chuyển vận TC bắt đầu đổ bộ.

TTHQ/HQ ghi nhận sau khi HQ 5 hoàn tất đưa quân lên đảo lúc 07:30H, toán Hải kích đã bị lính TC bao vây và có thể bị bắt. Đây là điểm chính yếu đã mang đến sự thất bại như chínhĐĐ Thoại xác nhận: “Sáng sớm 19/01, Ngạc đổ bộ Hải kích lên đảo Cam Tuyền và Quang Hòa. Tuy nhiên, cuộc hành quân đó đã thất bại vì lực lượng Trung Cộng đã có mặt trên đảo và đông hơn chúng tôi
Trước tình trạng diễn ra bất lợi, để đối phó Tư lệnh/HQ đã trực tiếp can thiệp, ông ra lịnh cho cả ĐĐ Thoại lẫn Đại tá Ngạc: • Đại tá Ngạc tiếp tục cho lính tiến vào, lập phòng tuyến, giữ bình tĩnh, không để địch tiến  lại gần và không để bị địch bắt.
 •
Tư lệnh/V1DH chỉ thị lực lượng đặc nhiệm thi hành chiến thuật cài răng lược trên đất liền lẫn trên mặt biển.
Tuy nhiên  ghi nhận của THĐ 47 và THNK/HQ/THĐ 47 lúc 07:26H lại cho đây là lịnh của ĐĐ Thoại gởi cho Đại tá Ngạc.
Chỉ đến khi Đại tá Khuê phổ biến tài liệu THNK/HQ/THĐ 47 lần đầu tiên mới hé lộ sự can dự của TL/HQ: “lúc 07:55H TTHQ/Biển chuyển khuyến cáo của TL/HQ cho HQ 5 ‘không cho địch tới gần, phải làm ngay công sự tại chỗ và phải thật bình tĩnh’.
Quân ta đang bị địch bao vây, trong tình trạng nghiêm trọng và bất lợi với trách nhiệm của một vị Tư lệnh Hải quân sao ông không RA LỊNH mà lại KHUYẾN CÁO, trong khi TTHQ/HQ ghi nhận một cách chính xác  là chính TƯ LỆNH HẢI QUÂN RA LỊNH cho ĐĐ Thoại và Đại Tá Ngạc lúc 07:30H.
                Và làm thế nào toán đổ bộ có thể “giữ thế cài răng lược trên đất liền” khi lực lượng địch quân trên đảo đông hơn gấp 10 lần.
___________________________________________________________________________________

……. CÒN TIẾP………………………………………………………………………………

Nguồn: http://themsonha.blogspot.com/2021/11/hai-chien-hoang-sa-kiem-chung-su-kien.html