Chuyện những người bạn trong thời điêu linh

chinhhoiuc.blogspot.com

Sống ở đời ta có rất nhiều bạn. Trừ trường hợp những người “không giống ai”, họ cả đời chẳng có đến một người bạn theo đúng nghĩa.

Từ bạn học chung dưới mái trường thời niên thiếu đến khi trưởng thành sẽ nảy sinh nhiều loại bạn: nào là bạn đồng nghiệp, bạn chung sở thích, bạn “vong niên”, bạn “chí cốt”, bạn “nối khố”, bạn “tâm giao”… rồi lại có kiểu bạn “vàng”, bạn “nhậu”… Loại sau hình như chỉ là “bè” chứ không phải là “bạn” theo đúng nghĩa của nó.

Ngạn ngữ Anh có câu rất thâm thúy: “Bạn trong lúc cần mới thật là bạn” (A friend in need is a friend indeed). Hình như trong lúc sung sướng, giàu có người ta thường có ít bạn. Những người tưởng được gọi là “bạn”, nhưng thực ra chỉ kéo bè, kết đảng tạo thành “nhóm lợi ích”. Khi đó, cái được gọi là tình bạn lại phảng phất một sự lợi dụng hoặc nhờ vả qua lại chứ không còn thuần túy là bạn bè.

Ngược lại, trong cơn nguy biến, trong nỗi khổ ải của cuộc đời, ta vẫn có thể tìm được những người bạn đích thực, họ đến với ta không tính toán, không so đo. Tôi đã có những người bạn như thế trong thời điêu linh. Tôi gọi quãng thời gian sau năm 1975 là giai đoạn “điêu linh” vì hầu như mọi người ở miền Nam ai cũng khổ.

Nếu không nếm mùi học tập cải tạo thì cũng “xất bất xang bang” lo kiếm cơm hàng ngày ngoài xã hội. Nếu không là nạn nhân của những đợt “đánh tư sản”, “cải tạo công thương nghiệp”, “đổi tiền”, “đốt sách” thì cũng bị ám ảnh bởi ba chữ “kinh tế mới”. Thế cho nên đó là thời điêu linh, khổ sở từ vật chất lẫn tinh thần.

Riêng những người thuộc “đối tượng” cải tạo như chúng tôi thời đó sống biệt lập với thế giới bên ngoài. Xã hội ngày xưa rộng lớn bao nhiêu thì tập trung cải tạo thu hẹp lại bấy nhiêu. Cuộc sống hàng ngày bỗng trở nên có quá nhiều thay đổi, tầm giao tiếp chỉ thu hẹp lại còn trên dưới một trăm người sống với nhau trong một đội. Nhưng đó cũng là lúc nảy nở một tình bạn chân thực nhất.

Khi được tập trung tại Trảng Lớn (Tây Ninh) tại trại cải tạo mang bí số L1T5, hòm thơ 7590, tôi may mắn được ở chung với 2 người bạn xưa cũng là giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội. Phạm Gia Đoàn trước tôi một khóa ở Thủ Đức và Nguyễn Bình Quyền là đàn em khóa sau. Hai người bạn này lại là hai hình ảnh tương phản: Đoàn thì mập mạp còn Quyền thì ốm tong teo.

Hồi còn ở trường Sinh ngữ Quân đội, Đoàn “Mập” còn có tên cúng cơm là “Nhị thập tứ hiếu” vì anh là người con hiếu thảo trong gia đình. Không là đứa con ngoan sao được khi mỗi đêm vào trường “ứng chiến” thế nào anh cũng đem theo một bịch quần áo để ủi cho đỡ tốn điện ở nhà. Không chỉ là quần áo của anh mà còn có cả quần áo của các thành viên trong gia đình!

Quyền “Ốm” đã có lần bắt gặp Đoàn “Mập” trên đường đến trường thủ sẵn một bịch nylon thật lớn trên xe Mobylette. Khi đi ngang qua đống rác lớn bên vệ đường, anh kín đáo thả một chân xuống và tay kia đẩy bao rác. Quả là một lối “tiết kiệm” tiền đổ rác của người con hiếu thảo! Đoàn “Mập” nhận “danh hiệu” “Nhị thập tứ hiếu” kể từ khi Quyền “Ốm” phát hiện một tấm gương hiếu thảo có một không hai!

Đoàn còn có một kỷ niệm “để đời” với tôi. Hồi năm 1971 hai đứa cùng đi Lackland tu nghiệp khóa giảng viên Anh ngữ tại San Antonio, Texas, anh thường than thở mỗi khi đi “check mail”: “Lâu lâu mới có thư mà chỉ là thư của bố kể chuyện gia đình, chán chết…”  Thấy Đoàn tả oán tôi thương hại ngỏ ý sẽ nhờ bà xã ở Bệnh viện Sài Gòn giới thiệu một cô để thư từ qua lại trong chuỗi ngày xa nhà.

Thật không ngờ, hai anh chị qua lại thư từ “mùi mẫm” sao đó đến ngày về nước vẫn tiếp tục “tâm sự”, và cuối cùng Đoàn thú nhận với tôi sẽ tiến tới hôn nhân với “Cô ba nhà thương”, đám bạn chúng tôi vẫn thường dùng tên này để chỉ người con gái thường liên lạc thư từ với Đoàn khi còn ở Lackland.

Mà đó là đám cưới “thật”. Vợ chồng tôi vô tình đã trở thành “ông mai, bà mối” và đoạn kết thuộc loại “có hậu”: hai chú nhóc ra đời trước khi Sài Gòn “đổi chủ”!

Trong trại học tập, nhóm chúng tôi phân công Đoàn giữ nhiệm vụ “anh nuôi”, “quản lý” tất cả đồ ăn khô của gia đình gửi vào thăm nuôi của cả nhóm. Tôi nghĩ đó là sự lựa chọn đúng đắn. Giao thức ăn cho Đoàn, một người có tài nấu nướng, chế biến, anh em chẳng còn phải bận tâm về những buổi “đại tiệc” vào ngày cuối tuần để “cải thiện” những bữa cơm cải tạo đạm bạc.

Là “đầu bếp chính” của nhóm trong cải tạo nhưng sau này gặp lại ngoài đời thường, Đoàn đã là hiệu trưởng một trường đại học tư tại Sài Gòn. Ở đời “lên voi, xuống chó” là vậy.

Trên đây là những kỷ niệm “đẹp” về Đoàn nhưng phải thành thật nhìn nhận ai cũng có những cái tốt và những cái xấu. Và Đoàn cũng không phải là ngoại lệ vì anh có cái tật…  “nổ như xác pháo”, đó là chữ của Quyền “Ốm”.

Hồi trong trại cải tạo có một người bạn tù tình cờ nói với tôi: “Anh Đoàn hồi còn nhỏ đã đi du học, đến khi về lại Việt Nam quên cả tiếng Việt!”. Quả thật năm cuối trung học Đoàn xin được học bổng AFS (American Field Service) để sang Hoa Kỳ 1 năm trước khi vào Đại học. AFS là chương trình trao đổi học sinh của Mỹ với các nước nhằm giúp học sinh làm quen với hệ thống giáo dục trung học.

Một năm sống ở xứ người khi còn là một học sinh lớp Đệ Nhị chắc chắn không thể nào ảnh hưởng đến việc quên cả tiếng mẹ đẻ. “Thêm mắm thêm muối” là sở trường của những người nấu ăn, có lẽ “anh nuôi” Đoàn cũng bị “méo mó nghề nghiệp” nên mới “nổ” với các bạn tù. Xem ra những vụ “nổ” như vậy không gây “sát thương” nên Đoàn vẫn là người bạn chí tình của tôi.

Lại nói thêm về Quyền “Ròm”, dân trường Tây, Jean-Jacques Rousseau, nên có phong thái giống Tây nhưng tính tình lại nóng nẩy, hình như lúc nào cũng chỉ chực đánh nhau dù dáng người ốm yếu. Quyền có thói quên mân mê nút áo trên ngực mỗi khi có điều gì phải suy nghĩ. Tôi có lần hỏi: “Tao thấy mày cứ mân mê nút áo nên thắc mắc chắc đó cũng là thói quen lúc ở nhà, có “xờ” tí vợ không đấy?”. Quyền đánh trống lảng: “Bậy nà!”.

Phải thành thật nhìn nhận, gương mặt của Quyền lúc nào cũng “cau có, khó chịu”, nhìn ai cũng như muốn “đấm” người ta. Mà chắc chắn nếu có “đấm” được ai thì chỉ một cái đấm trả cũng đủ khiến Quyền gục ngay tại trận.

Hồi mới ở Thủ Đức về trường, Chuẩn úy Quyền chưa được nhận lớp, anh được phân công phụ trách khóa sinh Sinh viên Sĩ quan Không quân. Vì lúc nào cũng “rếch lô” nên khóa sinh thường gọi lén Quyền là “Chuẩn úy Người Dơi”. Không phải vì sức mạnh của Bat Man mà là vì cái thân hình mong manh, lúc nào cũng có thể bay như dơi!

Giảng viên trong trường lại có tên khác dành cho anh: “Quyền Lucky Luke” vì anh có vóc dáng của anh cao bồi trong truyện tranh miền Tây, trông thì nhỏ con nhưng lại làm những chuyện tày trời.

Trước hay sau năm 1975 tính Quyền vẫn không thay đổi. Được cái ở trong cải tạo anh sống hết mình vì anh em nên dù đôi khi có giận anh nhưng không thể nào giận lâu được. Quyền lại có tính hay pha trò nên anh em cũng “chín bỏ làm mười”, sẵn sàng quên đi những bực tức do Quyền mang đến.

Chỉ đến khi sang Mỹ, Quyền mới thay đổi, có lẽ cũng vì tuổi tác. Anh chỉ có một “job” duy nhất từ ngày đến Hoa Kỳ và hiện vẫn làm cho một hãng hàng không tại Houston, Texas. Vốn thông thạo cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp nên Quyền rất được trọng dụng. “Sống lâu lên lão làng” là vậy. Thỉnh thoảng hãng hàng không lại áp dụng chính sách ưu đãi giá rẻ cho nên mỗi khi Quyền có vacation là anh và gia đình đi khắp thế giới với giá đặc biệt dành cho nhân viên.

Lackland, San Antonio, Texas, 1971

Phạm Gia Đoàn (góc trái), Nguyễn Ngọc Chính (góc phải) và Nguyễn Bình Quyền ngồi bên cạnh

Trong cải tạo tôi có đến 4 anh bạn là bác sĩ, chính xác là bác sĩ quân y, nên cũng có “nợ máu với nhân dân”, dù ngày xưa các anh thường tiếp máu cho các bệnh nhân! Khác với những giảng viên Anh ngữ vốn là sĩ quan “trừ bị” từ Thủ Đức, bác sĩ quân y là những sĩ quan “hiện dịch”.

Trường Quân Y là một trong ba trường sĩ quan hiện dịch của Quân lực VNCH bên cạnh trường Sĩ quan Võ bị Quốc gia Đà Lạt và trường Sĩ quan Chiến tranh Chính Trị. Khóa 1 trường Quân Y Trung Ương (École Principale du Service de Santé Militaire) khai giảng từ năm 1951 tại Bệnh viện Bác sĩ Patterson, phố hàng Chuối, Hà Nội dưới quyền điều hành của Y sĩ Trung Tá Phạm Biểu Tâm, một trong những “cây cổ thụ” của ngành y Việt Nam.

Số sinh viên gia nhập Khóa 1 chỉ có 54 người, đa số là tình nguyện thẳng từ các trường Y Dược và một số tuyển lại từ các sinh viên Y Dược đã bị gọi động viên tại các trường Quân Sự Nam Định và Thủ Đức.

Nói đến quân trường, người ta thường nghĩ đến những tuần lễ “huấn nhục” đầy mồ hôi và nước mắt của những tân sinh viên từ môi trường dân sự bước vào quân sự. Trường Quân y cũng khá nổi tiếng về mặt “huấn nhục”, bức tranh dưới đây là của Y Sĩ Đại úy Nguyễn Hữu Thường, Tiểu đoàn 1, Quân y Nhảy dù:

Huấn nhục tại trường Quân y

Nhóm cải tạo của tôi có dược sĩ Lâm “Bột”, gọi như vậy vì anh tuy đã là “Trung úy Bác sĩ” nhưng khuôn mặt cũng như tính tình chẳng khác gì một “công tử bột”. Anh ăn nói nhỏ nhẹ, không bao giờ làm mất lòng ai, chỉ phải cái tội đeo lon của chế độ cũ nên đành phải đi học tập cải tạo để nhìn ra tội lỗi của mình.

Khác hẳn với Lâm “Bột”, bác sĩ Như mà anh em gọi bằng tên cúng cơm “Nhôn Lừ” là một con người đầy cá tính, lại có tài đàn hát, một cây “văn nghệ văn gừng” thường giúp vui cả đội trong những buổi “hát chui” vào cuối tuần, vắng bóng quản giáo và vệ binh.

Những người chưa biết Như thường thắc mắc tại sao anh lại có tên “Nhôn Lừ”. Đơn giản thôi, tên đặt theo lối nói lái. Như có vẻ rất khoái cái tên tiếu lâm này. Về sau, khi gặp nhau ngoài đời, tôi có lần hỏi nhỏ: “Bệnh viện có biết tên cúng cơm “Nhôn Lừ” không đấy?”, anh vui vẻ trả lời: “Làm sao mà biết được, chỉ mấy thằng bạn cải tạo mới biết thôi. Nếu biết chắc mấy cô y tá… chạy xa”.

Bác sĩ thứ 3 là Sơn, cũng là dân trường Tây. Sơn “đô” con nhưng không bao giờ dám cà khịa với bất cứ ai trong đội, khác hẳn với anh chàng Quyền “Ròm”, điếc không sợ súng. Anh phục vụ trong quân y dưới miền Tây, gốc người miền Nam chánh hiệu nhưng anh lại trình diện tại Sài Gòn nên chúng tôi mới có cơ hội “đoàn tụ” tại “Đại học” Trảng Lớn.

Bác sĩ thứ 4 là nhân vật chính trong bài viết này: Đại úy Quân y Phạm Kỳ Nam, đơn vị cuối cùng trước khi “tan hàng” là Quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Đây cũng là nơi Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4, được quân y viện lo hậu sự sau khi ông tự sát vào tối ngày 30/4/1975 (1).

Dĩ nhiên là Quân y viện Phan Thanh Giản rất nhỏ nếu so với Tổng y viện Cộng Hòa tại Sài Gòn mà có người còn gọi là “hàng không mẫu hạm” với 2.400 giường bệnh và gần 3.000 nhân viên. Dân quân y còn gọi nhà thương lớn nhất của quân đội là “Đại học Gò Vấp” vì Tổng y viện cũng như trường Sinh ngữ Quân đội đều tọa lạc tại Gò Vấp. Gọi như thế vì đây cũng là nơi huấn luyện hậu đại học cho hằng trăm quân y sĩ với 7 chuyên khoa.

Lễ mãn khóa Trường Quân Y QLVNCH

Trở lại với bác sĩ Nam, gia đình anh quả là “nặng nợ” với “cách mạng”. Ngày Sài Gòn thất thủ, trong nhà chỉ có 4 người, thế mà lại chia làm hai phe: mẹ và cô em gái ở nhà chỉ lo tới kỳ thăm nuôi vì cả Nam và bố anh đều đi học tập cải tạo.

Thực ra thì Nam còn 2 người em trai nhưng trước năm 1975 đều du học tại nước ngoài. Bố của Nam là thẩm phán trong chế độ cũ nên phải ra tận ngoài Bắc, khá lớn tuổi nên ông chỉ sống được vài năn trong trại cải tạo và nằm lại trên đất Bắc, nơi ông đã ra đi từ năm 1954.

Nam là một thanh niên tràn trề sức sống, hãy còn độc thân nên tôi thấy trong suốt thời gian sống gần anh trong trại cải tạo Nam luôn luôn giữ được một tinh thần lạc quan với những câu chuyện tiếu lâm. Tuy nhiên, đôi lúc anh cũng nghĩ đến tương lai và tưởng tượng ra một ngày nào đó anh sẽ lập gia đình với một cô “bộ đội cái, cái đít như cái lu”!

Đấy chỉ là một câu chuyện vui của Nam trong một buổi tuối cuối tuần được nghỉ lao động, mấy anh em ngồi hàn huyên bên ly nước “chùm bao” thay cho nước trà ngoài đời. Tôi cũng hiểu, người lạc quan chưa chắc là lúc nào cũng vui và người bi quan chẳng phải là lúc nào cũng buồn. “Sông có khúc, người có lúc” nên vui đấy rồi cũng buồn đấy. Con người sinh ra vốn lúc nào cũng bị nhốt trong cái vòng “Hỉ – Nộ – Ái – Ố”, chỉ đi tu mới có thể thoát ra cái vòng luẩn quẩn đó.

Gặp Nam lần đầu người ta luôn bị “ấn tượng” bởi mái đầu bạc của anh. Nam giải thích nửa đùa nửa thật với chúng tôi: “Ngũ Tử Tư ngày xưa chỉ một đêm suy nghĩ mà râu tóc đã bạc phơ, còn tao tóc bạc một cách tự nhiên. Hồi còn sinh viên sĩ quan quân y tóc tao đã bạc chứ đâu cần phải vào trại học tập cải tạo mới bạc…”

Sinh viên Sĩ quan Quân y chuẩn bị diễn hành

Thế cho nên cái tên “Nam Đầu Bạc” đã theo anh từ trường quân y vào đến trại cải tạo. Còn một cái tên nữa chúng tôi đặt cho anh: “Nam Già”. Theo tôi, đây là biệt danh ý nghĩa nhất, chữ “già” nói lên những đặc tính của anh. Tuy chỉ lớn hơn tôi 3 tuổi nhưng ở Nam người ta cảm thấy anh “già dặn” từ cách đối xử đến lối sống, từ cách ăn nói cho đến suy nghĩ.

Trong cải tạo, Nam “Già” vẫn thể hiện tác phong của một người chỉ huy. Không ai bầu nhưng anh mặc nhiên là trưởng nhóm lao động chúng tôi vì giọng nói của anh sang sảng mà cũng vì anh sẵn sàng tranh luận với vệ binh ở chừng mực cho phép của một người tù.

Căn cứ Trảng Lớn có phi đạo nhỏ được lát bằng những tấm vỉ sắt dài khoảng 3m, bề mặt là những vòng tròn nhỏ để thoát nước. Công việc đầu tiên của chúng tôi là gỡ những tấm vỉ sắt đó, khiêng về trại nằm cách khoảng 2 km đường chim bay.

Đầu tiên phải nghiên cứu cách lắp đặt các vỉ sắt để tìm cách tháo ra. Một khi đã nắm được thiết kế ban đầu việc còn lại không kém phần nan giải là làm sao “tha” được những tấm sắt nặng nề này về trại để sử dụng cho những mục đích khác như làm cầu tiêu chung, lót quanh bờ giếng để có chỗ tắm giặt…

Tất cả những công đoạn đó đều do người cải tạo tự mày mò khám phá và thực hiện, quản giáo trên trung đoàn chỉ thỉnh thoảng xuống trại kiểm tra. Những bộ óc trước đây chỉ làm công việc quan trọng hoặc chuyên môn giờ thì được vận dụng vào thực tế trước mắt.

Chúng tôi nghĩ ra cách cứ 6 người khiêng một tấm vỉ sắt trên vai tựa như đạo tỳ khiêng quan tài. Quan tài chắc chắn gọn và nhẹ hơn vỉ sắt. Khi khiêng hòm người ta thường chọn những người có chiều cao ngang nhau nhưng ở trại cải tạo làm gì có sự lựa chọn đó, anh nào cao kều thường là những người chịu đựng nhiều nhất nên thường phải lom khom để sức nặng chia đều cho những người khác.

Hàng ngày sống giữa những người bạn bác sĩ nhưng đến khi ngả bệnh mới thấy thấm thía thân phận của người tù. Dù ngoài đời có là gì đi nữa họ cũng đành “bó tay” không giúp được gì hay đúng ra thì chỉ có những lời khuyên không hơn, không kém. Bác sĩ có giỏi cách mấy cũng chỉ đứng nhìn vì trong tay không có đến một viên thuốc.

Lúc đầu vì không quen với các công việc lao động nặng như khiêng vỉ sắt nên tôi thấy mình đau thắt nơi sống lưng, sau đó thêm biến chứng đi tiểu gắt, mỗi lúc buồn tiểu là một cực hình. Các bác sĩ “cải tạo” sau khi “hội chẩn” nói là tôi bị sạn thận hay còn gọi là sỏi thận.

Nam “Già” cho ý kiến: “Hy vọng đây là hòn sỏi nhỏ, mày ráng uống nhiều nước để kích thích bài tiết, đi tiểu nhiều may ra có thể tống nó ra ngoài. Bệnh này cần được nghỉ ngơi nên trước mắt cứ lên tiểu đoàn khai bệnh để được miễn lao động. Tao chắc trên đó cũng chẳng có thuốc men gì…”

Khi triệu chứng đau thắt vùng lưng càng ngày càng tệ, tôi lên “trạm xá” tiểu đoàn để khai bệnh. Đúng như Nam “Già” tiên đoán, anh y tá trẻ trên ấy cũng chẳng khác gì bác sĩ dưới này, chẳng có thuốc men gì ngoại trừ món “xuyên tâm liên” và… “khắc phục”. Tuy nhiên, anh lại hơn các bác sĩ cải tạo vì có quyền cho phép tôi được miễn lao động 2 ngày.

Tôi biết, ngoài vòng rào trại cải tạo nếu người bị bệnh như tôi kiếm được thuốc lợi tiểu để trị bệnh cũng là chuyện nan giải nên khi được phép viết thư về gia đình tôi chỉ nhắn ráng kiếm thật nhiều râu bắp gửi vào. Tôi không nói uống nước râu bắp lợi tiểu nên chắc hẳn người nhà cũng thắc mắc tại sao chỉ cần râu bắp chứ không cần trái bắp…

Sau vụ sỏi thận tôi lại có thêm biệt danh “Thợ Vịn”, cái tên “Vịn” do Nam “Già” đặt. Chẳng là người bệnh sỏi thận không được làm những việc nặng nhọc nên mỗi khi đi lao động anh em trong toán “mặc nhiên” để tôi “vịn”, nghĩa là một hình thức tham gia cho có lệ chứ không phải làm hùng hục như những người khác. Thật lòng tôi cũng chẳng muốn “vịn” nhưng cứ nghĩ tới những cơn đau thắt lưng đổ mồ hôi hột nên đành đóng vai “thợ vịn”!

Chúng tôi sống chan hòa với nhau trong tình anh em cùng khổ và tìm được nguồn vui trong sự nhường nhịn, chia sẻ như vậy trong suốt gần 3 năm từ Trảng Lớn rồi tiếp đến là Đồng Ban, Trảng Táo quanh quẩn vùng Đông Nam Bộ với núi Bà Đen làm tâm điểm.

Núi Bà Đen có truyền thuyết liên quan đến nửa cuối thế kỉ 18, hồi đó diễn ra những cuộc xâu xé giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn khiến nhân dân khốn khó lầm than. Khi Nguyễn Huệ dấy lên cuộc khởi nghĩa Tây Sơn có một chàng trai tên Lê Sỹ Triệt chia tay người yêu là Lý Thị Thiên Hương lên đường phò Nguyễn Huệ.

Lý Thị Thiên Hương là cô gái xinh đẹp, đức hạnh với làn da ngâm đen, cô ở nhà sống trong vòng vây của cường hào ác bá nhưng vẫn một lòng chung thủy với người yêu. Một hôm, khi bị cưỡng bức, vì giữ tiết hạnh nên người con gái ấy đã leo lên tận đỉnh núi gieo mình tự vẫn.

Thi thể cô được đem về mai táng và nhà chùa đã cho lập đền thờ riêng để người ta cúng bái. Việc hành hương về chùa vào mùa xuân đã trở thành tập tục quen thuộc từ đây tại ngọn núi có tên Bà Đen để tưởng nhớ người con gái có nước da bánh mật.

Núi Bà Đen, Tây Ninh

Chúng tôi lần lượt rời trại cải tạo sau gần 3 năm quanh quẩn dưới chân núi Bà Đen. Người được ra trước nhất là Nam “Già”, nghe đâu bà mẹ ở nhà đã “chạy chọt” để Nam về nông trường Phú Mỹ, Củ Chi. Đến lượt tôi ra trại, qua tin tức bạn bè cải tạo tôi mới biết Nam “Già” làm tại Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, hồi xưa là Bệnh Viện Sùng Chính trong Chợ Lớn.

Bạn tù gặp lại nhau nửa mừng nửa tủi. Mừng vì Nam “Già” đã trở lại phong độ ngày nào trên cương vị một bác sĩ, lại có cả phòng mạch tư trên đường Triệu Quang Phục ở quận 5. Mừng hơn nữa là anh đã lập gia đình với ca sĩ Phương Hồng Quế, thường được gọi là “TV Chi Bảo” hồi trước 1975.

Nam và Quế quen nhau từ những ngày Nam còn phục vụ tại Quân y viện Cần Thơ nơi Quế thường đến hát ủy lạo thương bệnh binh. Họ lập gia đình năm 1979 và có hai người con: Phạm Duy Châu và Phạm Cát Phương.

Quế xuất thân từ “lò” ca nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Đức từ năm 1963, nổi tiếng với những bài ca tụng lính tráng thời chiến tranh. Những bài hát đầu tiên cô xuất hiện trên truyền hình số 9 tại Sài Gòn năm 1968 đã chinh phục khán giả. Những nhạc phẩm mà Phương Hồng Quế thể hiện, nếu không trực tiếp liên quan đến hình ảnh người lính thì cũng gián tiếp đâu đó có bóng dáng người chiến binh. Trong số đó phải kể đến Phố đêm, Tàu đêm năm cũ, Chuyến đi về sáng…   

202+6+linhxanhaback6om_zpsfd36e118

Phương Hồng Quế

Gia đình Phương Hồng Quế có một căn nhà khang trang ngay mặt tiền trên đường Hai Bà Trưng, gần cầu Kiệu. Tại “tổng hành dinh” này, tôi có dịp gặp lại Đoàn “Mập”, Quyền “Ròm” xuất thân trường Sinh ngữ Quân đội, nhóm bác sĩ “Nhôn Lừ”, Lâm “Bột”…

Hóa ra tình bạn trong tù vẫn còn kéo dài ra ngoài đời thường và lại còn có dịp biết thêm những nhân vật mới như Cường vốn là sĩ quan pháo binh Thủy quân lục chiến, nghe tiếng súng nhiều quá, tai bị “nghễnh ngãng” nên có biệt danh Cường “Điếc”; Huệ vốn là sĩ quan hải quân bị… mắc cạn; chú Định, em của mẹ Nam “Già”, vốn là dân Quốc gia Hành chánh, đã từng là phó quận…

Hầu hết những nhân vật vừa kể đều ra chợ trời thuốc tây trên đường Nguyễn Hữu Cầu, bên hông chợ Tân Định và chỉ cách nhà Nam “Già” vài phút đi bộ. “Đổi đời” nên ai cũng chẳng còn câu nệ trong vai anh đứng chợ trời mua và bán thuốc tây, miễn sao có đồng ra đồng vào nuôi vợ nuôi con qua ngày đoạn tháng.

Phải công nhận Nam “Già” vẫn còn rất nhạy bén trong vai trò… lãnh đạo. Anh nghĩ ngay đến việc xếp tôi vào nhiệm vụ dạy Anh văn cho Phương Hồng Quế, rồi Phương Dung người em gái và cả Thu Hiền, người cháu mới học cấp 2. Thế là “Thợ Vịn” trong tại cải tạo trở thành “Thầy Vịn” cho cả gia đình, ngoại trừ bố và mẹ Phương Hồng Quế đã lớn tuổi.

Tôi thực sự cảm động khi nhận được email của Thu Hiền “ngỗ nghịch” ngày nào giờ đây là Holly Nguyen, Giám đốc Tài chính của KKL Ventures ở tiểu bang Washington. Thư của cháu không có dấu nên tôi phải viết lại ra đây:

“… Con muốn thầy biết rằng bé Hiền lúc nào cũng ghi nhớ và quý trọng công ơn thầy…… nếu không được thầy dìu dắt và dạy dỗ thì chắc rằng con sẽ không có được ngày hôm nay!!!

Con rất là vui mừng khi được gặp lại thầy và thấy thầy vẫn tươi vui, phong độ như ngày nào. Chúc thầy luôn được vui vẻ và hạnh phúc. Bé Hiền”.

Tình bạn giữa tôi và Nam còn ảnh hưởng đến thế hệ tiếp nối. Con gái tôi sau khi tốt nghiệp lại về làm việc tại Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình và ngay trong khoa của Bác sĩ Nam. Hóa ra quả đất vẫn tròn, dù ta ở đâu và vào lúc nào cũng có những cơ hội gặp lại nhau, không những là bản thân mà còn là những người thân.

Nhưng, nhận định trên có phần khập khiễng trong trường hợp của Nam khi gia đình Quế quyết định đi Mỹ qua sự bảo lãnh của một người em đi từ năm 1975. Nam không phản đối để vợ ra đi vì tương lai của 2 con nhỏ nhưng bản thân anh lại luôn có ấn tượng không đẹp với cuộc sống ở nước ngoài nên quyết định ở lại.

Và thế là tháng 3/1991 Phương Hồng Quế cùng mẹ và 2 con định cư tại Little Saigon. Khi sang định cư tại Hoa Kỳ Quế mở một tiệm bán hoa, kế đó điều hành một văn phòng du lịch rồi lại mở một văn phòng về chuyên về “loan” (vay tiền) và địa ốc. Ngoài việc kinh doanh Quế vẫn xuất hiện trong các băng đĩa VCD và DVD của Thú Nga Paris, Asia, Vân Sơn…

Năm 1994 tôi có dịp về Little Saigon và thăm Quế cùng gia đình, thầy trò gặp lại nhau buồn vui lẫn lộn. Có một điều tôi thầm nhận xét là người ca sĩ này sống rất có tình trong đời thường. Cháu Phạm Duy Châu nay đã tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa tâm lý và người mẹ đó bỏ lại sau lưng một dĩ vãng vàng son để chỉ còn nhìn trước mặt là tương lai của hai con.

202+7+Little+Saigon

Phương Hồng Quế cùng mẹ và hai con Duy Châu & Cát Phương

(Hình chụp tại Little Saigon, 1994)

Thật bất ngờ, tôi nhận được email từ Quế báo tin Nam đã qua đời ngày 19/10/2012. Tôi đã mất đi một người bạn “thật sự” trong thời điêu linh. Và tôi cảm thấy mình có lỗi khi nhớ lại một câu của ai đó đã nói:

“Tại sao những lời tốt đẹp về bạn lại phải đợi đến lúc người đó qua đời mới được nói ra?”

được dịch từ câu thơ:

Why should good words ne’er be said

Of a friend till he is dead?

Cáo phó trên Báo Người Việt

Phân ưu trên báo Viễn Đông

***

Chú thích:

(1) Trên Diễn đàn Cựu sinh viên Quân y (http://www.svqy.org/nguyenkhoanam.html) tác giả Hoàng Như Tùng (Quân y Hiện dịch Khóa 6, nguyên Chỉ huy trưởng Quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ) trong bài viết Lễ tưởng niệm tướng Nguyễn Khoa Nam có đoạn:

“Vào khoảng 6 giờ sáng QYV Phan Thanh Giản được điện thoại từ dinh tư lệnh cho biết tướng Nam đã tuẫn tiết bằng súng lục Browning.

Tôi tuy đã dự đoán trước việc này nhưng vẫn bàng hoàng, đau thương trước cái chết của người anh hùng. Bằng xe hồng thập tự, chúng tôi rước xác thiếu tướng về để làm thủ tục khai tử, khâm liệm và an táng. Lần này đón thi thể của vị tướng tư lệnh là đủ mặt nhân viên QYV còn ở lại đơn vị. Ai nấy đều xúc động, rưng rưng nước mắt.

BS trực Trần quốc Đông (hiện ở Úc) làm tờ y chứng. Thủ tục khám nghiệm đã xong, QYV xúc tiến tang lễ. Kiểm điểm tư trang của người quá cố chỉ thấy:

– Một cuốn kinh Phật nhỏ đựng trong một túi nylon.

– Một khẩu súng lục hiệu Browning 7.2 mm

– Một thẻ bài kim khí cá nhân.

Ba món này đã được bỏ vào quan tài để làm vật lưu dấu phòng thất lạc thi hài người chết.

Toàn thành phố Cần thơ xúc động vì hai tướng Hưng, Nam tuẫn tiết. Hội Hồng thập tự, do BS Lê văn Thuấn làm chủ tịch, biếu hai quan tài loại tốt nhất, dành cho tướng Nam và BS Nguyễn văn Tựu, y sĩ đại úy thuộc quân đoàn IV, bị VC sát hại đêm 30-4-75.

Thi thể tướng Nam được trang trọng đặt nằm trên một brancard có trải drap trắng. Ông nằm như ngủ, mặt hiền từ trắng xanh, tay chân còn mềm. Bên cạnh là thi hài của bác sĩ Tựu.

Bàn thờ hai vị được thiết lập đơn sơ nhưng trang nghiêm, có nhang thơm nến cháy. Toàn thể nhân viên QYV buồn bã nghiêng mình tiễn đưa vị anh hùng và người thầy thuốc chết vào giờ thứ 25 của cuộc chiến.

Nắp áo quan đóng lại. Anh em sĩ quan, trong đó có tôi, khiêng quan tài tướng Nam và BS Tựu ra xe dân sự tiến về phía nghĩa trang quân đội Cần thơ. Hướng dẫn xe tang và chỉ huy lễ hạ huyệt do thiếu tá dược sĩ Mai bá Vỵ sĩ quan CTCT thi hành. Một bán tiểu đội cơ hữu của QYV phụ trách việc đào huyệt. Rất may tang lễ  được hoàn tất trước khi người của chế độ mới vào tiếp thu BV”.
202+10+Nguy%E1%BB%85n+Khoa+Nam

(2) Đọc thêm về Phạm Kỳ Nam & Phương Hồng Quế qua bài viết “Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Chợ trời”:

http://chinhhoiuc.blogspot.com/2014/03/chuyen-nhung-nguoi-ban-trong-thoi-ieu.html

Advertisements

Một thời viết lách

Ngô Viết TrọngTác giả bắt đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2017. Ông sinh năm 1944 tại Thừa Thiên, Huế, cựu học sinh Nguyễn Tri Phương, Quốc Học. Trước 1975, là cảnh sát quốc gia. Cựu tù cải tạo. Làm rẫy vùng kinh tế mới. Đến Mỹ theo diện HO từ 1993, ông có 12 cuốn sách đã xuất bản. Bài viết mới là tự truyện của một “ông nhà văn kiêm thằng bỏ báo” như bạn hữu thân tình gọi tác giả.

***

Tôi đến đất Mỹ lúc tuổi đã ngoài năm mươi. Sau khi hưởng trợ cấp xã hội được một thời gian, cơ quan xã hội yêu cầu những người chưa tới tuổi 65 muốn được tiếp tục hưởng trợ cấp phải kiếm một việc làm hoặc phải đi học một lớp học nào đó. Trình độ Anh ngữ của tôi quá kém, tuổi tác lại cao nên rất khó kiếm ra việc. Đành phải chọn việc đi học thôi!

Nhưng đi học lại khổ theo nỗi đi học! Trí óc tôi lúc bấy giờ như đã cùn lụt, cứ học trước quên sau. Tôi đã cố gắng hết mình để đọc bài vở, để luyện giọng nhưng vẫn như không. Cái lưỡi lẫn đôi tai của tôi đều bất lực tệ hại. Cũng tú tài, cũng mang danh sĩ quan một thời như ai mà giờ lâm tình cảnh như vậy tôi làm sao khỏi tủi thân! Không còn đói rách, không bị chèn ép, đày đọa như hồi sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhưng tâm trí tôi vẫn chẳng mấy khi được thoải mái.

May sao, tình trạng ấy đã không kéo dài. Không lâu sau đó tôi đã kiếm được một công việc ít cần đến Anh ngữ. Đó là việc dọn rác ở một warehouse xe lunch do một người Việt trẻ làm chủ. Công việc hàng ngày của tôi là dọn dẹp rác ở sân bãi đậu xe. Đây là một sân bãi rộng, đậu gần một trăm xe lunch – xe đi bán đồ ăn trưa ở các công sở, công trường hay trường học. Các xe đi bán sớm, muộn, gần, xa, nhiều, ít khác nhau nên họ cứ đi đi về về lai rai khiến công việc của tôi thường kéo dài suốt ngày. Vất vả nhất là những ngày nắng gắt và những ngày mưa gió lạnh lẽo. Còn may là nỗi vất vả ấy cũng có chút đền bù. Ngoài lương hàng tháng, tôi được độc quyền lượm lon nhôm, vỏ chai ở warehouse đem bán. Món lợi tức phụ này đủ cho tôi đổ xăng nhớt và mua sách báo giải trí. Nhờ có việc làm, tinh thần tôi dần ổn định trở lại. Những ngày nghỉ thỉnh thoảng tôi cũng đi dự những buổi tiệc tùng do những bạn cũ hay những người làm xe lunch mời. Sau mỗi bữa tiệc như thế thường kéo theo một buổi chơi văn nghệ bỏ túi như hát karaokê, ngâm thơ, kể chuyện hài… Dần dần tôi đã làm quen với các buổi ra mắt truyện hoặc thơ của một số văn nghệ sĩ. Lúc bấy giờ Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại mới thành lập ở Sacramento đã nâng cảnh sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng người Việt ở đây rộn ràng phấn chấn lên nhiều. Nguồn sinh khí văn nghệ từ những buổi sinh hoạt này đã khơi dậy trong tôi nhiều cảm hứng. Qua những tác phẩm ấy tôi đã gặp những mẩu truyện, những vần thơ rất gần gũi với mình. Nó cũng tương tự những chuyện tôi từng gặp thời đang ở tù và mười mấy năm sống ở vùng kinh tế mới. Tôi cũng từng gánh chịu nhiều cay đắng, uất ức như mấy tác giả trên, sao không trang trải những nỗi niềm đó với thiên hạ cho lòng nhẹ bớt? Thế là tôi cũng muốn trở thành một văn nghệ sĩ tài tử.

Từ thời học trò tôi đã là một tay nghiện đọc sách. Tôi mê nhất là các loại sách lịch sử và truyện Tàu. Thấy bất cứ cuốn sách lạ nào, kể cả sách truyện tranh, tôi đều tìm cách đọc cho được. Tôi cũng từng thử viết truyện, làm thơ nhưng lơ mơ chưa thành. Nay có cơ hội trở lại với cái thú văn chương đó tôi mừng lắm. Bước đầu tôi sáng tác vài bài thơ, kế đến tôi ghi lại vài đoạn bút ký về những ngày tháng tù tội sau 30/4/1975 gởi đăng trên vài tờ báo địa phương. Nội dung những bài viết này dựa trên những chuyện thật đã xảy ra nên cũng được một số độc giả ưa thích. Sự cổ võ, khích lệ của những người quen biết khiến tôi càng hứng chí. Nhưng suy nghĩ lại tôi không khỏi tự thẹn: Đã quá nửa đời người, sống ở Mỹ trải mấy năm mà chưa nói được tiếng Mỹ, chưa hội nhập được với xã hội mới còn đòi làm nhà văn nhà thơ cái nỗi gì? Lâu lâu viết một bài cho vui theo kiểu tài tử còn được chứ muốn trở thành một văn nghệ sĩ thứ thiệt thì quả là ảo mộng! Chút năng khiếu viết lách đâu đã đủ? Trước hết là làm sao khỏi bận tâm chuyện áo gạo, chuyện bệnh tật… Kế đến là phải có thì giờ. Không có thì giờ để chọn lời lựa lẽ, trau chuốt câu kéo mạch văn sẽ vụng về, rời rạc!

May thay, cuối cùng tôi cũng kiếm được một công việc như ý: nghề bỏ báo! Ở Sacramento lúc ấy có tờ nhật báo Sacramento Bee là nhật báo phổ biến rộng rãi nhất. Người bỏ báo (carrier) thường chỉ làm việc về đêm, ban ngày được rảnh rỗi hoàn toàn. Có điều bất tiện là nghề này quanh năm không có ngày nghỉ, không có phép thường niên. Những ngày thứ bảy, chủ nhật và các ngày lễ lớn công việc lại nặng gấp rưỡi, gấp đôi ngày thường. Do đó, rất trở ngại cho người bỏ báo khi cần việc phải đi đâu xa. Mặc kệ nó, tôi chẳng cần đi đâu nữa! Miễn sao hằng ngày có nhiều thì giờ rảnh để viết lách là thỏa nguyện rồi! Thế là tôi giã từ việc dọn rác để gia nhập nghề bỏ báo.

Từ đó, cứ một hai giờ khuya tôi đến một warehouse báo để nhận báo rồi đem phát tận nhà cho những khách hàng được liệt kê sẵn trong một danh sách do warehouse ấy cung cấp. Tiền công tính theo số lượng báo đã giao nhiều hay ít. Vì muốn kiếm được một số tiền tương đương với việc dọn rác, tôi phải gắng nhận bỏ nhiều báo. Do đó, công việc tôi lúc nào cũng vất vả, gấp gáp. Hằng ngày, tôi phải giao báo xong trước 6 giờ sáng để nhiều khách hàng kịp đọc trước khi đi làm. Thời gian còn lại trong ngày tôi có thể chở vợ đi chợ, chở con cái đi học và lai rai viết lách. Thay thế món lợi tức phụ “lượm lon chai”, việc bỏ báo lại cho tôi một món lợi tức phụ khác vào dịp lễ Noel và Tết Tây – một khoản tiền “tip” cũng kha khá.

Thật ra đó chỉ là cái nhìn chung chung. Vì ham có nhiều thì giờ để viết lách tôi đã hấp tấp khi quyết định thay đổi việc làm. Bước vào thực tế tôi mới rõ cái thời huy hoàng của nghề bỏ báo đã hết. Nó đã trở thành một nghề “ăn lưng đọi làm lọi lưng” và đang trên đà tuột dốc.

Hồi ấy, tiền công bỏ một tờ báo khoảng 11, 12 xu trong khi một gallon xăng giá khoảng một đồng. Mười năm sau công bỏ một tờ báo chỉ nhích lên khoảng 13, 14 xu trong khi một gallon xăng đã tăng lên gần ba đồng. Trước kia khách hàng mua báo rất nhiều. Càng về sau, khi ngành internet càng phát triển, khách hàng mua báo càng giảm xuống. Họ chuyển sang theo dõi tin tức trên internet vừa nhanh vừa sớm vừa đầy đủ hơn. Khách hàng càng thưa thớt tất nhiên việc giao báo càng mất công hơn.

Một sự thay đổi khác, trước kia khi bỏ báo nếu bị khách hàng phàn nàn báo thiếu, báo rách hay báo ướt liền có người của warehouse đi bỏ bổ khuyết ngay, carrier không thiệt hại gì. Sau này hễ carrier nào bị khách hàng phàn nàn bất cứ lý do gì warehouse đều khấu trừ của carrier ấy 2 đồng mặc dù tờ báo chỉ có giá trị 25 xu hay 45 xu. Nhiều carrier nản quá, lần lượt bỏ đi tìm nghề khác. Cuối cùng chỉ còn hạng yếu kém ngôn ngữ, đặc biệt là trường hợp của tôi còn quá tiếc rẻ “thời gian rảnh để viết lách” đành phải bám nghề.

Về mặt an ninh, tôi cũng phạm một lỗi lầm đáng kể. Ban đầu tôi cứ tưởng việc bỏ báo chỉ cực bởi vụ thức khuya dậy sớm thôi. Vào cuộc rồi tôi mới biết nghề này không phải chỉ cực khổ vì chuyện thức khuya dậy sớm mà còn rất dễ gặp nguy hiểm nữa. Ông HO Triệu Văn Tú đã bị đâm chết khi đang bỏ báo. Một người khác bỏ báo xong trên đường về nhà buồn ngủ quá đâm xe vào một gốc cây mà chết.

Chuyện bị cướp xe thường xảy ra đều đều… Nhưng lỡ rồi, việc dọn rác đã có người thay, mình rút lui thì càng lâm vào ngõ bí! Tôi đành tự trấn an có người có ta ngại nỗi gì? Đã làm việc trong bóng tối mình cứ luôn đề phòng là xong! Họa hoằn lắm mới xảy chuyện rủi ro một lần, chẳng lẽ mình cũng mang số con rệp?

Nhưng dè dặt cẩn thận mấy tôi vẫn không sao thoát khỏi sự quấy nhiễu của đám vạc ăn sương. Để giữ mình, lúc nào tôi cũng phải lấy tinh thần “nể tình Mỹ đen” làm phương châm ứng xử. Khi bị chận xin một điếu thuốc lá, khi bị xin một đồng bạc, khi lại bị xin một hai tờ báo. Lần nào cũng dùng dằng mất khá nhiều thì giờ. Dĩ nhiên khi đã “phải” cho vài tờ báo sau đó tôi phải ráng chạy xe trở về warehouse xin tờ khác để bỏ bù cho khách hàng. Vì thế, cứ thấy bóng người xuất hiện là tôi đã hoảng. Tôi sợ luôn cả những người đi thể dục buổi sáng…

Đề phòng con người đã đành, carrier còn phải đề phòng luôn cả những con chó nữa. Chuyện carrier bị những con chó lạc quấy nhiễu kể không xiết. Tôi cũng một lần bị nó cắn vào chân, phải đi khám bác sĩ, chích thuốc ngừa.

Chuyện gây ấn tượng mạnh nhất trong tôi là 2 lần bị cướp xe.

Thói quen của carrier là luôn nổ máy xe trong thời gian bỏ báo cho đỡ mất thì giờ. Đêm đó khoảng 2 giờ khuya, tôi ngừng xe trước nhà một khách hàng . Khi bước lại gần bậc cửa để quăng tờ báo tôi chợt thấy một bóng người đang chạy vụt lại xe tôi. Chưa kịp hô hoán tiếng nào chiếc xe của tôi đã phóng chạy. Tôi sững sờ giây lát rồi đành gõ cửa nhà khách hàng mượn phone báo tin sự việc cho warehouse biết đồng thời nhờ họ báo cào với cảnh sát.

Nhiều ngày sau đó tôi phải vất vả dùng các phương tiện tạm để tiếp tục làm công việc. Chừng nửa tháng sau cảnh sát gọi báo cho tôi biết chỗ để đến nhận xe về. Cuối cùng, tiền thuê thô xe, tiền trả chỗ đậu, tiền sửa chữa xe bị hư hại do kẻ cướp phá phách cộng lại cũng mất hết vài tháng lương bỏ báo.

Sáu tháng sau, một đêm khác cũng khoảng 2 giờ khuya, xe tôi lại bị cướp một lần nữa. Lần này tôi mới rời xe được mấy bước bỗng thấy một chiếc xe chạy ngược chiều sà lại sát xe tôi. Tôi giật mình quay lại nhưng một tên cướp từ xe kia đã phóng lên ngồi vào ghế tài xế của xe tôi. Với phản ứng tự nhiên, tôi mở được cánh cửa sau của xe nhưng tên cướp vẫn phóng xe chạy. May tôi buông tay kịp, nếu không, ít lắm cũng gãy tay dập mặt! Nay nhớ lại chuyện đó tôi vẫn còn rùng mình.

Gần một tháng sau chiếc xe ấy cũng được “hoàn cựu chủ” và tôi lại phải gánh chịu một khoản phí tổn tương đương khoản phí tổn lần trước!

Thế mà mọi người còn cho như vậy là còn tôi có phước vì cả hai lần của mất mà thân vẫn an. Họ khuyên tôi nếu gặp lại những trường hợp như thế tốt nhất là “xuôi tay cho mệ nuốt” để tránh tai họa.

Ngoài vấn đề an ninh bản thân bị đe dọa, tôi cũng còn gặp nhiều chuyện cười ra nước mắt, xin kể vài vụ sau đây:

Mới bước vào nghề bỏ báo được mấy tháng tôi đã gặp một trận lụt. Chiếc xe tôi đi cũ kỹ, móp méo nhưng máy xe lại rất tốt. Hôm ấy mưa rất lớn, trời có bão. Các đài truyền thông, truyền hình đều thông báo ai không có việc cần thiết không nên ra đường. Với tinh thần trách nhiệm, tôi vẫn lái xe đến warehouse làm việc. Khi ra ngoài thấy cây cối nghiêng đổ nghênh ngang, nước lên lênh láng, nhiều đoạn đường bị ngập, tôi đã chột dạ. Nhưng tôi vẫn tiếp tục đi. Tới warehouse tôi thấy báo cũng vừa chở tới. Lúc đó chỉ mới có vài ba carrier. Đã có báo, làm xong sớm nghỉ sớm chứ ngần ngại gì nữa? Tôi cẩn thận bọc từng tờ bằng bao nylon cho khỏi ướt rồi xuất hành. Trời vẫn tiếp tục mưa gió và nước vẫn tiếp tục lên.

Tới địa điểm bỏ báo tôi mới thấy những lối vào nhà khách hàng đều khác hẳn ngày thường. Những nhà hơi thấp đều có chất quanh bao cát để ngăn nước. Nhiều đoạn đường nước lên cao gần lút bánh xe. Tôi rất lo sợ vì xe tôi có thể bị tắt máy giữa đường. Nhưng may, chiếc xe méo mó của tôi vẫn hiên ngang vượt qua mọi trở ngại. Khi bỏ báo cho khách hàng cuối cùng xong, tôi mừng lắm. Cũng lúc đó tôi mới để ý đến thân thể mình đang ướt đẫm từ trong ra ngoài dù tôi vẫn mặc áo mưa. Khi lái xe về tới nhà, tôi sung sướng quá, vội tắt máy, vô nhà rửa ráy sơ sài, thay áo quần rồi lên giường đắp mền ngủ một giấc.

Tới chiều thì mưa gió đã ngừng, nước đã hạ. Tôi chợt nhớ có một chút việc cần phải ra ngoài. Khi đề máy xe tôi ngạc nhiên thấy nó cứ kêu rẹt rẹt mà không chịu nổ. Thế là tôi phải nhờ thợ máy đến coi. Người thợ coi xong cho biết máy xe đã bị hỏng hoàn toàn vì bị ngâm nước lâu quá. Anh ta nói “Khi mới về nếu ông cứ để máy tiếp tục nổ một hồi cho các cơ phận khô ráo thì đâu đến nỗi!”. Sự thiếu hiểu biết về máy móc của tôi đã làm chiếc xe máy còn rất tốt trở thành chiếc xe phế thải.

Mấy hôm sau tôi nhận được một giấy khen của tòa báo kèm cái check “25 đồng tiền thưởng”. Hôm bão lụt ấy ngót một nửa số carrier đã không đi giao báo. Số còn lại hầu hết giao báo rất trễ. Tôi là người duy nhất bỏ báo đầy đủ, không bị khách hàng nào phàn nàn! Mỗi lần nhớ lại cái phần thưởng “đặc biệt” đó tôi không khỏi tức cười!

Một chuyện khác, tôi vốn có tật riêng là hay mắc tiểu vô trật tự. Ban đầu, nhờ bỏ báo ban đêm, tôi đã lợi dụng bóng tối để giải quyết nỗi rắc rối của mình. Nhưng cầm dao lâu ngày cũng đứt tay, có một lần tôi đã bị một khách hàng bắt quả tang. Tuy được thông cảm bỏ qua nhưng từ đó tôi không dám sử dụng quái chiêu ấy nữa. Tôi đã nghĩ ra một cách giải quyết khác kín đáo hơn. Bình thường, trong khi bỏ báo, gặp lon nhôm chai nhựa tôi đều lượm bỏ vào xe. Lúc cần thiết, tôi tắt đèn ngồi trong xe tiểu vào một cái lon. Xong việc lại bật đèn, quay kính xe xuống đổ nước ra đường. Không ngờ lần kia có một viên cảnh sát đậu xe dọc đường mà tôi không để ý.  Có lẽ thấy tôi tắt đèn ngồi trong xe hơi lâu, ông ta đã âm thầm theo dõi. Chưa đổ xong lon nước thì chiếc xe cảnh sát đã trờ tới. Khổ nỗi cái lon tôi dùng lại là cái lon bia! Tôi phải ấm ớ giải thích một hồi, may có sẵn một đống vỏ lon trên xe làm chứng việc mới ổn. Sau vụ này tôi luôn cảnh giác với cảnh sát và biết được họ vẫn luôn tắt đèn đậu xe ở những nơi khó ngờ hoặc chạy xe ban đêm không bật đèn nữa…

Lại một lần khác, khi đang bỏ báo tôi bị đau bụng bất ngờ. Trong khu vực route báo tôi không quen nhà nào nên không biết đi tiêu nhờ vào đâu. Nhà tôi xa quá, đành phải liều nín nhịn để tiếp tục làm công việc. Nhưng rồi không may tức nước vỡ bờ. Tôi đang khốn khổ với cái quần dơ dáy, gắng bỏ cho xong những tờ báo cuối cùng thì một khách hàng nữ xuất hiện vừa nhặt báo vừa vẫy gọi tôi:

-Boy, boy, come here!

Khách hàng mua báo đa số chẳng biết mặt mũi người bỏ báo lớn nhỏ trẻ già thế nào nên vẫn gọi là “boy” cả. “Boy tôi” lúc bấy giờ đang ở hàng ngũ sáu bó, thuộc lớp “boy ông nội ông ngoại” rồi. Vì trong mình đang dơ dáy quá, tôi giả lơ như không nghe. Nhưng người đàn bà vẫn tiếp tục miệng kêu “boy, boy” tay vẫy lia lịa. Sợ bà ta có thể hiểu lầm mình đã làm điều gì mờ ám sinh rắc rối, tôi đành phải quay lại. Tới gần tôi mới biết bà ta gọi tôi lại chỉ để tặng 10 đồng tip. Tôi nhận tiền, cám ơn rồi vội phóng đi ngay. Không biết bà ta có cảm nhận được “nỗi khổ” của tôi lúc đó không…

Vụ làm khổ tôi lâu nhất là vụ xe lấy rác đình công. Trong khu vực tôi bỏ báo, xe rác vẫn thường lấy rác mỗi tuần một lần như các nơi khác. Thùng rác thường chứa đồ hư, đồ bỏ đã mốc meo, đôi khi có cả thịt cá, xác súc vật… nên rất dễ sình thúi. Vì thế, khi các thùng rác đã được trưng ra đường thì chẳng ai muốn lại gần. Kể cả những người hay đi bộ thể dục đến ngày lấy rác họ cũng phải nghỉ để tránh. Nhưng bọn bỏ báo chúng tôi thì không thể tránh được! Lần đó chúng tôi dính phải vụ công nhân lái xe rác đình công đấu tranh đòi tăng lương! Ngày đầu ngày thứ hai còn gắng chịu được, sang ngày thứ ba thứ tư  chúng tôi phải mang khẩu trang để xông trận! Mùi rác nó lợm tởm đến độ bỏ báo xong về nhà nuốt cơm cũng không vô! Hơi thúi bốc khắp vùng đến nỗi những kẻ hay lang thang về đêm thời gian đó cũng biệt tăm. Đã có vài carrier chịu không nổi đành liều bỏ việc. Cũng may tình trạng dở khóc dở cười đó chỉ kéo dài đúng một tuần lễ!

*

Từ khi bước vào nghề bỏ báo, nhờ rảnh nhiều nên tôi đã viết được nhiều hơn. Những việc xảy ra trong thời gian bỏ báo ấy đã nhiều lần trở thành những đề tài ngộ ngộ để tôi khai thác. Khi đưa một truyện lên báo xong, hôm sau thế nào tôi cũng được trực tiếp nghe những người trong cuộc nhận xét, bình phẩm.

Trong đám đồng nghiệp của tôi có khá nhiều dân trí thức. Nhà giáo, viên chức hành chánh, sĩ quan cấp tá, cấp úy trong quân đội VNCH đều có đủ. Chính nhờ lĩnh hội được những lời nhận xét, bình phẩm trực tiếp này mà tôi đã bổ khuyết, sửa chữa được khá nhiều sai sót. Họ cũng gợi ý, bổ túc giúp tôi hoàn thành những truyện ký trong tù, những truyện ngắn xã hội. Có người còn khuyến khích tôi ra một cuốn sách để kỷ niệm. Đó cũng là điều mong ước của tôi. Những lời khuyên ấy đã khiến tôi càng hứng chí. Mới viết được tám chín truyện tôi đã ướm thử độ dày của nó. Qua nhiều lần ướm đi ướm lại, thấy nó vẫn còn quá mỏng, tôi càng thấy nôn nóng.

Trong lúc loay hoay tìm kiếm đề tài, tôi sực nhớ đến môn học lịch sử – môn sở trường của tôi.

Từ thuở nhỏ tôi đã ham đọc sách sử ký. Tôi đã tìm đọc hầu hết các bộ chính sử của Việt Nam của các sử gia xa xưa như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ… cho đến các bộ sử của các sử gia gần đây như Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn… Ngoài ra, thấy bất cứ cuốn sách nào liên quan đến các nhân vật lịch sử tôi đều tìm cách đọc cho được. Do đó, những nhân vật phi thường, những chiến công lừng lẫy… và cả những vết tích ô nhục trong sử Việt hầu như còn in đậm trong trí óc của tôi. Tại sao không khai thác những điều hiểu biết ấy?

Ai cũng biết một số điển tích tự nó đã chứa sẵn những ý nghĩa sâu sắc, cao xa. Nó có thể là một tấm gương cao đẹp của một bậc anh hùng vì nước quên thân. Nó cũng có thể là một hành vi đê tiện của một tên bán nước hại dân bị người đời nguyền rủa. Tô vẽ, khơi sáng lại những tấm gương cao đẹp hoặc xấu xa ấy để thiên hạ noi theo hoặc xa lánh cũng bổ ích cho đời lắm chứ! Thế là tôi thử phóng tác vài truyện ngắn lịch sử.

Không ngờ những truyện sử này còn được nhiều độc giả hoan nghênh, lưu ý hơn cả những truyện tôi viết trước đó. Được chú ý nhất là truyện “Chú Tiểu Chùa Cổ Pháp” viết về nhân vật Lý Công Uẩn. Những truyện này chính là nhân duyên nối kết tôi với anh Tô Hòa Dương, một người anh tinh thần, người sau này đã hết lòng giúp đỡ tôi trên con đường sáng tác văn học.

Nhờ thêm mấy truyện sử này, tôi đã nâng tập truyện tương lai lên khoảng 250 trang. Thế là hết lo chuyện “nửa đường đứt gánh”, mừng ơi là mừng! Tôi bèn chọn tựa đề của một truyện ngắn đắc ý nhất để làm tựa đề tập sách: “Vết Hằn Mùa Xuân.”

Sau đó tôi nhờ người vẽ bìa, lay out, trình bày cuốn sách để đem đi in. Ban đầu tôi chỉ có ý định in khoảng ba trăm cuốn. Mình yếu tài chánh, nhà cửa lại chật, nếu in nhiều không tiêu thụ hết biết chứa vào đâu? Khi hỏi nhà in, họ tính một cuốn khoảng năm sáu đồng khiến tôi đâm hoảng. May sau đó họ lại cho biết nếu in số lượng lớn hơn thì tiền công in sẽ được giảm xuống. Sau khi bàn nghe mấy người bạn góp ý hơn thiệt, tôi quyết định in luôn một ngàn hai trăm cuốn. Biết mình còn cơ hội khác nữa không? Phải liều bị đòn thôi!

Chi phí trước sau cho việc in cuốn sách đầu tiên của tôi  ngót nghét 3.000 đồng!

Đã lỡ chi một số tiền khá lớn so với hoàn cảnh eo hẹp của gia đình, tôi phải lo tìm cách gỡ gạc ít nhiều. Sách chưa in xong tôi đã nhờ Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị VN ở Sacramento và một số bạn bè giúp đỡ. May mắn là hội CTNCT đã sốt sắng nhận lời đứng ra tổ chức một buổi ra mắt sách. Các báo Việt ngữ ở địa phương cũng sốt sắng hỗ trợ các phương tiện cổ động, giới thiệu tác phẩm. Tuy vậy, tôi vẫn luôn bồn chồn lo lắng mất ăn mất ngủ suốt thời gian ấy.

Đầu năm 2001, tập truyện Vết Hằn Mùa Xuân của tôi đã được ra mắt độc giả ở Sacramento. Buổi ra mắt sách đã thành công ngoài dự tính. Hơn hai trăm đồng hương đã tham dự ủng hộ. Số tiền mua sách thu được cũng khá, sau khi trừ chi phí cho cuộc tổ chức, số còn lại cũng vượt trên một nửa số tiền vốn đã bỏ ra. Sự thành công này là một niềm khích lệ lớn giúp tôi thêm tự tin để hăng hái tiếp tục viết lách.

Thiết tưởng cũng nên nói sơ lược vài dòng về việc xuất bản sách tiếng Việt ở đất Mỹ. Khác với ở VN, xuất bản một cuốn sách tiếng Việt ở Mỹ, rất hiếm có tác giả nào thu lại được vốn nếu chỉ gởi nhờ các nhà sách bán. Ai không có một chỗ dựa “thiết thực” mà xuất bản một tác phẩm tức là đã chấp nhận một sự hi sinh. Những người đủ khả năng thì hi sinh một chút cũng không sao, hi sinh để thỏa mãn niềm vui riêng, hi sinh để giải tỏa tâm tình… Ở Mỹ có người Việt nào sống nổi bằng công việc sáng tác văn chương thuần túy đâu? Để thu lại được ít nhiều số vốn đã bỏ ra, các tác giả phải được sự ủng hộ của độc giả qua các buổi ra mắt sách. Nhưng muốn tổ chức một buổi ra mắt sách không dễ dàng gì. Trước hết, phải có một bộ sậu ít nhất cũng bốn năm người phối hợp cùng nhau làm việc. Trong số đó ít nhất cũng phải có một người có tài tổ chức điều hành tổng quát, phải có một người ăn nói lưu loát nắm vững được nội dung tác phẩm ra mắt để giới thiệu với độc giả. Và cũng cần có một địa điểm thuận tiện cho độc giả đến dự. Phần đông số văn nghệ sĩ vẫn xuất bản sách được là nhờ họ may mắn có sẵn một công việc làm ăn khác. Thuận lợi nhất là người làm việc ở các ngành truyền thông, báo chí, tác phẩm của họ dễ dàng được rao truyền rộng rãi. Hoặc ít nhất, người viết sách cũng phải có nhiều bạn bè thuộc hạng mạnh thường quân hoặc hạng có uy tín với đồng hương tiếp tay. Những người này có thể tạo phương tiện giúp tác giả đi ra mắt sách bất cứ nơi nào thuận lợi.

Hoàn cảnh của tôi chật hẹp hơn nhiều. Nghề bỏ báo không có ngày nghỉ. Muốn đi đâu năm bảy ngày phải cậy người bỏ báo thế. Phải trả tiền công gấp ba tiền công của mình vẫn chưa chắc kiếm ra người giúp. Nếu người bỏ báo thế sơ suất, lôi thôi chuyện gì carrier cũng có thể bị mất việc. Khi liều lĩnh tổ chức một cuộc ra mắt sách ở xa, dù thành công về mặt tài chánh đi nữa phần thu vào cũng khó bù đắp nổi phần chi ra. Suy tính như vậy nên tôi đành thủ phận “gà què ăn quẩn cối xay”.

May một điều, tôi vốn hiền lành chất phác, ăn ở rất ít mất lòng ai. Khi sinh hoạt trong cộng đồng tôi cũng được nhiều người mến chuộng. Do vậy, các hội đoàn, đoàn thể ở địa phương đã nhiều lần giúp tôi tổ chức các buổi ra mắt sách. Nhờ bà con thương, lần ra mắt nào cũng tương đối thành công. Lúc này hai tiếng “nhà văn” đã quen gắn liền với tên tuổi tôi. Đối với tôi, được kèm hai tiếng “nhà văn” đáng hãnh diện ấy cũng có chút khá tức cười. Thực tế tôi vẫn là một anh bỏ báo lam lũ phải chạy hộc gạch đêm này qua đêm khác để kiếm sống.

Thật khó quên những hình ảnh trái nghịch ngộ nghĩnh trong những ngày ra mắt sách ấy. Buổi khuya tôi là một anh bỏ báo lôi thôi lếch thếch, lượm từng cái lon hoặc ngửa tay nhận vài đồng tiền tip của khách hàng, buổi chiều tôi lại thành một nhà văn mặc veston đàng hoàng, trịnh trọng đóng vai chính trong một buổi sinh hoạt văn hóa! Cũng truyền thông báo chí phỏng vấn, cũng văn nghệ ca nhạc rềnh ràng như ai! Cảnh đó lâu lâu tái diễn một lần – cũng là kỷ niệm đẹp đấy chứ! Vì những hình ảnh trái nghịch ngộ nghĩnh đó, các đồng nghiệp của tôi vẫn hay gọi đùa tôi là “ông nhà văn – thằng bỏ báo”! Cách gọi đó cũng làm tôi thích thú. Tiếng “thằng” ở đây không có ý chế diễu, khinh lờn mà chỉ hàm ý thân thương, đùa bỡn đầy khích lệ. Thực tế khách hàng mua báo không hề biết mặt mũi carrier ra sao, lớn nhỏ thế nào nên khi cho tiền tip hay dặn bảo điều gì họ đều gọi “boy, boy” ráo trọi. “Boy” diễn ra “thằng” đâu có sai lệch mấy!

*

Như trên đã nói, chính những truyện sử đầu tiên của tôi đã giúp tôi gặp được một người bạn tri kỷ, một người anh tinh thần tuyệt vời, đó là anh Tô Hòa Dương.

Anh Tô Hòa Dương là con trai của nhà văn Bình Nguyên Lộc. Sau khi đọc các truyện ngắn lịch sử đầu tay của tôi, anh hết sức khen ngợi. Anh bảo tôi viết truyện sử rất hấp dẫn và khuyên tôi nên chuyển hướng viết về thể loại tiểu thuyết lịch sử.

Tiểu thuyết lịch sử là thể loại tiểu thuyết viết về các nhân vật hay các sự kiện quan trọng đã xảy ra thật trong lịch sử. Nội dung các tác phẩm này thường tái hiện bối cảnh xã hội của một thời kỳ đặc biệt nào đó, hoặc khơi sáng công lao của một vị anh hùng chống ngoại xâm hay dẹp nội loạn, hoặc tán dương lòng tiết liệt của một bậc anh thư, hoặc vạch trần cái ác, cái xấu của một chế độ cai trị, một bạo chúa, một gian thần v.v… Ngoài mục đích phục vụ văn học nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử còn có thể tải theo một thông điệp khác. Nói chung, viết tiểu thuyết lịch sử là vẽ lại những bức tranh của quá khứ, trong đó hai thái cực thiện và ác, chính và tà thường được tô đậm nét để người đời nhìn vào mà noi theo hay xa lánh.

Theo anh Dương, thể loại tiểu thuyết lịch sử hiện nay rất cần thiết cho việc giáo dục công dân. Nó có thể trở thành nhịp cầu đưa độc giả đến gần với chính sử – một môn học thuở nhỏ chúng ta vẫn ít ưa vì nó khô khan khó nuốt. Một vị anh hùng, một bậc anh thư, một nghĩa cử cao thượng, một hành động hi sinh vì dân vì nước trong tiểu thuyết lịch sử nếu được diễn tả sống động có thể gợi ý khiến độc giả phải tìm hiểu sự thật qua chính sử. Khi đã gần gũi với chính sử, đã biết được sự hi sinh xương máu to lớn của các bậc tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nước, chắc chắn lòng yêu nước của ta sẽ bị khơi động, sẽ mạnh mẽ, thiết tha thêm! Người càng hiểu biết lịch sử nước nhà thì tinh thần yêu nước càng sâu đậm.

Người Tàu đã sử dụng những tiểu thuyết lịch sử của họ như một phương tiện để xâm nhập văn hóa vào các nước khác. Các tiểu thuyết lịch sử của họ như Tây Du Ký, Đông Châu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng, Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Thủy Hử v.v… đã được phổ biến rộng rãi khắp Việt Nam. Từ các rạp hát cố định đến các gánh hát lưu diễn cũng chuyên diễn các tuồng Tàu… Nó ảnh hưởng mạnh đến nỗi có nhiều người Việt, nhất là trong giới bình dân, có thể kể chuyện về Hàn Tín, Quan Công, Nhạc Phi, Võ Tòng rất rành rọt mà lại không biết gì về Trưng Trắc, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… Đó là một điều đáng buồn cho người Việt mình. Nước ta không thiếu anh hùng, liệt nữ từng xả thân vì nước vì dân, tạo nên không biết bao nhiêu trang sử hiển hách, tại sao chúng ta không khai thác điều đó? Tại sao không tái hiện, không điểm tô, mỹ thuật hóa những trang sử đó để dễ đưa tên tuổi những anh hùng liệt nữ của ta thâm nhập vào lòng quốc dân?

Những ý tưởng của anh Tô Hòa Dương nêu ra đều quá đúng. Để đáp ứng tinh thần đó, tôi đã cố gắng rất nhiều trong việc nghiên cứu và sáng tác.

Năm 2002 tôi khai sinh được tập tiểu thuyết lịch sử đầu tiên: “Tình Hận” (tái bản năm 2005 đổi thành “Lý Trần Tình Hận”). Tập truyện này nói về những cuộc tình cực kỳ éo le giữa các nhân vật nổi tiếng của họ Lý và họ Trần đã diễn ra trong giai đoạn chuyển tiếp ngai vàng giữa hai họ này. Tiêu biểu là cuộc hôn nhân đầy bi kịch giữa vị vua cuối cùng của nhà Lý (Lý Chiêu Hoàng) và vị vua mở đầu cơ nghiệp nhà Trần (Trần Cảnh).

Năm 2003 tôi xuất bản tập truyện ngắn “Ngõ Tím” viết về chuyện tù, chuyện vùng kinh tế mới.

Năm 2004 tôi cho ra đời tập tiểu thuyết lịch sử thứ 2: “Công Nữ Ngọc Vạn”. Công nữ Ngọc Vạn là con gái của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau khi kết hôn với vua Chân Lạp là Chey Chetta 2, bà đã khéo léo thuyết phục vị vua này thu nhận và biệt đãi di dân người Việt. Sự sai lầm của ngài đã tạo điều kiện cho di dân Việt đâm chồi mọc rễ trên phần đất Thủy Chân Lạp (vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh). Chính đám di dân này đã trở thành hạ tầng cơ sở vững chắc để về sau giúp các chúa Nguyễn trên bước đường Nam Tiến. Kết quả là toàn bộ vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh, trong đó có vựa lúa lớn nhất Đông Nam Á gồm các vùng châu thổ sông Cửu Long và châu thổ sông Đồng Nai đã được thu về cho Tổ quốc Việt Nam!

Năm 2005 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ 3: “Dương Vân Nga: Non Cao & Vực Thẳm”. Truyện viết lại cuộc đời thăng trầm của một giai nhân đa tình đã làm hoàng hậu hai triều vua. Khi vị vua đầu Đinh Bộ Lĩnh bị ám sát, hoàng hậu vì yêu một viên tướng giỏi là Lê Hoàn, bà đã không ngần ngại đem cơ nghiệp của chồng – tức là ngai vàng mà người con trai nhỏ của bà đang ngồi – dâng cho viên tướng này. Thế là viên tướng này trở thành vị vua mới, bà lại được phong làm hoàng hậu một lần nữa. Tuy vậy, vị vua mới đã không quên tìm cách tiêu diệt hết dòng họ vị vua cũ – trong số đó có cả con trai của bà – để phòng hậu hoạn! Vực thẳm của Dương Vân Nga chính là ở điểm này.

Năm 2006 tôi cùng ba bạn văn khác ra tập truyện “Khuấy Bụi Thời Gian”.

Năm 2007 tôi khai sinh được tập truyện dài xã hội “Thăm Thẳm Trời Xanh” là tập truyện đắc ý nhất của tôi.

“Thăm Thẳm Trời Xanh” dày ngót 500 trang, viết về nỗi oan khiên tày trời của một cô giáo sau cuộc đổi đời 1975. Chồng cô là một sĩ quan VNCH không may bị thương vào cuối cuộc chiến, được đưa về điều trị ở bệnh viện Cộng Hòa. Vì vướng bận công vụ cùng mấy đứa con dại, cô chưa kịp đi thăm chồng thì miền Nam sụp đổ. Sau đó tin tức về người chồng của cô cũng biệt mù luôn. Cô giã từ nghề giáo, ôm ba đứa con trở về sống với cha mẹ chồng ở xã Thiện Trường. Nhưng lúc đó cha mẹ chồng cô cũng lâm tình trạng kiệt quệ. Vì áp lực của chính quyền, cô phải tham gia làm việc với Hợp tác xã nông nghiệp ở địa phương. Cô luôn bị cán bộ hợp tác xã kỳ thị, chèn ép. Dù phải thức khuya dậy sớm làm việc hết mình nhưng cô vẫn không sao đủ nuôi nổi lũ con. Nhờ có chút vốn do chính cha mẹ ruột giúp, cô giáo liều đi buôn mong kiếm thêm chút ít. Nhưng vốn tính thật thà, cô đã bị sa bẫy công an, vừa bị sạch vốn vừa bị làm nhục. Cô định tự tử nhưng rồi nghĩ đến lũ con thơ nên lại phải ráng sống. Cha mẹ chồng cô đã lần lượt qua đời. Một thời gian sau bất ngờ người chồng của cô trở về trong khi cô đang đi làm với hợp tác xã. Lúc đó cô mới rõ chồng cô đã bị cụt cả hai chân. Sau đêm ở lại nhà, nửa đêm anh biến mất chỉ để lại một mảnh giấy với mấy lời mắng nhiếc cô vợ không đoan chính. Cô không thể tìm lại được chồng để thanh minh đành nuốt nước mắt chịu khổ mà sống để nuôi các con. Một thời gian sau, nhờ một người bạn cũ đang cặp bồ với một cán bộ lớn giúp đỡ, cô đã đem các con vượt biển thành công. Sống ở quê người, cô đã gắng quên chuyện cũ để xây dựng tương lai cho các con. Khi các con đã trưởng thành, cô đề nghị với các con hợp tác để về VN tìm lại người cha bất hạnh của chúng. Không ngờ các con của cô đều tỏ ra hững hờ. Thất vọng quá, cô định tự lo một mình với sự giúp đỡ của một người bạn ở Việt Nam. Thế nhưng khi cô đi khám sức khỏe để về quê tìm chồng thì người ta phát hiện cô đã mắc bệnh ung thư gan thời kỳ cuối. Cô đành uất nghẹn kêu trời vì không còn cơ hội nào để giãi bày nỗi oan với người chồng nữa…

Tôi cho đây là tập truyện đắc ý nhất của mình vì ngoài những tình tiết đã lược thuật trên, tôi còn ghi lại được những sinh hoạt khá trung thực (do những người trong cuộc kể lại) về cái Hợp Tác Xã Nông Nghiệp ở chính quê tôi. Chính quyền xã đã vì cố tranh cho được cái danh “tiên tiến” mà làm toàn những việc “trời ơi” gieo rắc không biết bao nhiêu cảnh đói rách, đau khổ cho dân…

Năm 2009, tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ tư: “Trần Khắc Chung”. Năm 1306 vua Trần Anh Tông đã gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Vua Chiêm đã dâng châu Ô và châu Rí (Thừa Thiên ngày nay) để làm sính lễ. Nhưng chỉ một năm sau thì vua Chế Mân qua đời. Vua Anh Tông nghe tục Chiêm Thành thường hỏa thiêu hoàng hậu cùng vua khi vua mất nên rất sợ công chúa Huyền Trân cũng sẽ bị hỏa thiêu. Vua Trần bèn sai Trần Khắc Chung sang Chiêm lập mưu cướp công chúa về. Chung vốn là một viên quan có tài nhưng thiếu đạo đức nên nhiều người không ưa. Vì thời gian sang Chiêm lo tính việc này hơi lâu nên những người ghét Trần Khắc Chung lên án ông đã lợi dụng dịp này để làm chuyện mờ ám. Không ngờ chuyện đó về sau càng được thêu dệt để trở thành huyền thoại một cuộc tình lãng mạn Khắc Chung – Huyền Trân. Thật ra đó là một nỗi oan lớn của Huyền Trân công chúa! Không thể có chuyện một người đàn bà mới sinh đẻ, chồng mới chết chưa được mấy tháng đã chạy theo trai! Một chuyện hoàn toàn bịa đặt. Tôi đã nghiên cứu các tài liệu chính sử, đã đối chiếu về tuổi tác và sự liên hệ giữa Trần Khắc Chung với Huyền Trân công chúa để chứng minh điểm này hầu minh oan cho công chúa.

Năm 2010 tôi lại ra tập truyện ngắn “Lãng Đãng Hồn Xưa”. Cũng viết về chuyện tù, chuyện xã hội.

Năm 2011 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ năm: “Chế Bồng Nga: Anh Hùng Chiêm Quốc”. Tái hiện lại một thời kỳ oanh liệt của dân tộc Chiêm, một bộ phận không thể tách rời của nước Việt ngày nay. Lịch sử đã chứng minh đa phần dân Việt ở miền Trung đều có pha trộn ít nhiều dòng máu Chiêm trong huyết quản. Hiểu được điều đó, ta cũng nên coi lịch sử Chiêm Thành chính là một phần của lịch sử Việt Nam vậy. Thể hiện tinh thần đó cũng là một cách chận đứng âm mưu xúi giục chia rẽ giữa các thành phần dân tộc để thôn tính nước Việt của giặc Tàu.

Năm 2013 tôi ra tập tạp bút “Xưa Và Nay” gồm các đoạn hồi ký, các bài tiểu luận “đọc chuyện xưa xét việc nay” và một số truyện ngắn.

Năm 2014 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ sáu: “Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng”. Tập truyện này tái hiện cuộc khởi nghĩa chống giặc Đông Ngô rất bi tráng của vị nữ anh hùng họ Triệu. Người Tàu vốn có tinh thần tự cao tự đại, luôn coi khinh các dân tộc khác, hay dùng các tiếng Di, Địch, Man, Rợ để gọi các dân tộc ấy. Ngoài ra, người Tàu còn hay xuyên tạc về đức hạnh, về hình hài của các lãnh tụ các dân tộc chống lại họ. Người Tàu đã gọi xách mé Bà bằng cái tên “Triệu Ẩu” – đồng nghĩa với “Mụ Triệu”. Họ đã miêu tả Bà giống như một quái nhân vô đạo: nào hung dữ giết hại chị dâu, nào vú dài ba thước… với mục đích hạ uy tín của Bà đối với dân Việt. “Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng” ngoài việc khơi sáng cuộc khởi nghĩa oai hùng của Bà Triệu còn tìm cách để hóa giải những điều xuyên tạc vô lý của người Tàu đối với vị nữ anh hùng này!

Hầu hết các tiểu thuyết lịch sử của tôi đều được anh Tô Hòa Dương góp ý bổ túc, điểm xuyết thêm. Anh đã không ngại bỏ công viết một số lời tựa hoặc bài giới thiệu những tác phẩm đó với độc giả bốn phương.

Tính đến năm 2014, tôi đã sáng tác được 12 tác phẩm gồm các truyện ký trong tù, truyện xã hội, truyện lịch sử và tiểu luận. Trong số này có 7 tập truyện dài gồm 6 tiểu thuyết lịch sử và 1 truyện dài xã hội. Hai tập tiểu thuyết lịch sử Lý Trần Tình Hận và Công Nữ Ngọc Vạn được phổ biến khá rộng, đến cả trong nước.

Nhưng lẽ đời có lúc lên dốc tất phải có lúc xuống dốc. Cảnh sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng người Việt ở Sacramento rộn ràng phấn chấn được một thời gian rồi cũng xìu xuống. Nhiều văn nghệ sĩ đã lần lượt gác bút. Các cuộc ra mắt văn thơ càng về sau càng thưa thớt người tham dự…

Khi tôi ghi lại đoạn bút ký này thì người anh tinh thần của tôi – anh Tô Hòa Dương – không còn nữa. Tôi cũng đã giã từ nghề bỏ báo. Trước kia hầu như tôi luôn chật vật với công việc. Đêm lo bỏ báo, ngày lo chở con đi học, chở vợ đi chợ, thế mà tôi lại sáng tác khá đều tay. Gần như mỗi năm ra được một tác phẩm.

Bây giờ tôi đã hoàn toàn rảnh rỗi, vậy mà ba bốn năm nay tôi vẫn chẳng ra thêm được một cuốn sách nào! Một phần do số độc giả từng ủng hộ, khuyến khích tôi trên con đường viết lách nay đã tiêu mòn khá nhiều. Kẻ đã vào lòng đất, kẻ đã vào nhà dưỡng lão, kẻ đã di chuyển đi nơi khác… Lớp hậu bối thì chẳng mấy ai còn quan tâm tới dòng văn chương tiếng Việt! Phần khác là ngành Internet đã cung cấp những phương tiện đọc và nghe quá thuận lợi khiến độc giả càng xa rời cái thú cầm một quyển sách để đọc như trước. Đó là một thực tế mà những người viết lách phải đối diện! Viết được gì cũng đành để đó đã. In sách lúc này có mà ốm đòn! Tôi lúc này đọc nhiều hơn viết. Thỉnh thoảng tôi đọc lại chính những tác phẩm của mình. Cũng là dịp để tôi bổ túc, sửa chữa lại những khiếm khuyết trong các tác phẩm đó. Tôi mong khi đất nước Việt Nam thanh bình trở lại, các tác phẩm của tôi sẽ được trở về với cố quốc, đóng góp một phần nhỏ trong công cuộc xây dựng lại nền văn hóa dân tộc.

Ngô Viết Trọng

Sài Gòn chuyện đời của phố: Nhớ tiếng rao xưa

Một Đời Lận Đận Chiến Tranh

Nguyễn Thừa Bình
Chúng ta, ngay cả con cháu chúng ta sinh ra và lớn lên vào thời nhiễu nhương Pháp cai trị ác nghiệt; Việt Cộng gây tang thương đã phải sống trong hai hàng nước mắt một đời người bi lụy. Tôi được kể cho biết mình phải chạy giặc Pháp, Việt Minh từ khi mới một tuổi mấy tháng, và sau đó mình biết mình theo cha mẹ tản cư nay chỗ nầy, mai chỗ kia đâu cũng vùng lửa đạn. Biết nghe tiếng súng bắn nhau, thấy người giết người dã man từng ngày, tôi biết tôi cái chết không khó chút nào và sự đói khổ thì không bút mực nào tả cho cùng trên đất nước tôi từng ngày.

Pháp xâm lăng Việt Nam cho nước Pháp đã đành. Người Việt Nam với nhau chỉ cái học thuyết ngoại lai, không tưởng cộng sản mà tàn sát nhau hơn hận thù máu xương truyền kiếp? Tháng năm bềnh bồng theo vận nước nổi trôi, tôi phiêu dạt từ nơi sanh quán Hương Thủy, Thừa Thiên từ chưa tới một tuổi đã phải vô Phan Thiết, vào Sài Gòn, ra Quảng Ngãi, Ðà Nẳng về Nha Trang, lên Quảng Ðức… Ðất nước, chiến tranh chấm dứt, người thắng cuộc Việt Cộng gọi là “giải phóng” tưởng đời an cư lạc nghiệp. Ai ngờ vỡ vụn tan tành mọi hang cùng ngõ cụt đất nước, chết chóc, điêu tàn, lầm than, khốn cùng! Tôi bị bắt làm tù gọi là “học tập cải tạo” từ Biên Hòa ra Yên Bái, lên Hoàng Liên Sơn, qua Lào Cai về Vĩnh Phú, vào Thanh Hóa về Hàm Tân của Thuận Hải mới lập. Thuận Hải lúc bấy giờ Việt Cộng làm ra vật đổi sao dời gộp lại cả ba tỉnh của nước Việt Nam Cộng Hòa là Bình Tuy, Bình Thuận và Ninh Thuận. Bình Thuận có thị xã Phan Thiết của tôi, tôi sống từ tuổi sắp “thôi nôi” năm 1942 đến hồi qua Mỹ năm 1992.
Một ngày và nhiều ngày rất xa xưa hồi nào đó, tôi được nghe ba má tôi kể cho nghe chuyện của tôi lúc bấy giờ chừng hơn một tuổi. Một lần ở Xóm Lụa thuộc Phú Long, cách thị xã Phan Thiết chừng bảy cây số, nằm về phía Bắc, cả nhà dắt dìu nhau chạy trốn Tây đi patrouille, tôi bị bỏ lại một mình khóc gần chết trên một cái đòn bào thợ mộc, vắng tanh người. Chừng hơn hai tiếng đồng sau đã xa nhiều cây số, kiểm điểm lại mấy thằng con, mới biết tôi không được mang theo, má tôi hớt hải chạy về giữa lằn đạn và toán lính Pháp đi “patrouille”. Thấy điệu bộ má tôi, mấy người lính Lê Dương Légionnaire nực cười, dễ dãi cho má tôi về bồng tôi chạy.

Tôi đã sống với Việt Minh, Việt Cộng trong trường hợp như vậy, má tôi chắc chắn đã bị họ bắn nát thây rồi vì cho là “gián điệp”. Cũng phải công nhận, Tây vẫn còn nhân tính hơn Cộng Sản Việt Nam nhiều, nhiều lắm. Từ tản cư Xóm Lụa về, gia đình tôi trở lại căn nhà cũ nằm bên nay đường với nhà hàng Manchaud của một người Pháp cụt tay không biết tên. Khu nhà hàng Manchaud nầy, về sau được ông Lưu Bá Châm là Tỉnh trưởng làm ra vườn bông Cộng Hòa. Nhà tôi lúc đó nằm ngay đằng sau tiệm vàng Thành Kim của chú Sáu Kim từ Ba Hòn về sau năm 1954 mua lại của chú Quảng Ích. Chú Quảng Ích sau đó vào Sài Gòn mở tiệm điện Thái Sanh trên đường Cộng Hòa. Không nhớ năm nào vì còn quá nhỏ, nhưng tôi nhớ rất rõ chuyện những chiếc máy bay bay từ ngoài biển hướng vào Sài Gòn trên mấy căn nhà sau nầy là các tiệm bán xe đạp Lê Chánh Ngữ, Tân Lập, đại lý nước mắm Vĩnh Hương, nhà hàng Khánh Long. Ba má tôi cũng như bà con chung quanh bảo “máy bay Ðồng Minh thả bom”. Chúng tôi, mấy đứa nhỏ được người lớn la ơi ớí tìm về nhốt trong nhà, sợ trúng bom. Mới mấy tháng trước là lính Pháp say sưa la hét thì bây giờ là lính Nhật mập, lùn xí xô xí xào dạo phố. Chẳng bao lâu, đến sau nầy nghe kể lại, tôi còn nhớ lờ mờ những người lính Nhật tự mổ bụng ngay bên nầy, bên kia dốc cầu Quan khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng. Một hành động hara-kiri theo tinh thần võ sĩ đạo của các Samurai là những thị vệ của các lãnh chúa Nhật ngày xưa làm cho người Việt chứng kiến cũng khiếp đảm, sợ hãi. Một sáng, hồi tưởng lại, chừng như vào năm 1949 tôi theo mấy người lớn coi “Việt Minh bị Pháp bắn chết” nằm trước tiệm cơm Kim Sơm sau nầy.

Trước đó, nhà cô Ba Ghết nằm ngay đầu đường Nguyễn Thái Học cũng đã bị Việt Minh quăng lựu đạn sập, vì cô Ba Gết là vợ một ông quan Hai người Pháp? Từ đó, danh từ Việt Minh đã đi vào trí óc trẻ con của tôi cùng với sự chết chóc, đổ nát, sợ hãi. Tôi không nhớ rõ năm nào, có lẽ cũng vào năm 1949, ba má tôi nghe lời đứa cháu rể theo Việt Minh đã bỏ thị thành ra vùng ngoại ô Phú Lâm, cách Phan Thiết sáu cây số về phía Nam. Ở đây, đêm thường có những du kích Việt Minh là những người địa phương về tuyên truyền, bắt người, thủ tiêu, nộp tiền. Ban ngày, thỉnh thoảng lính trên đồn Ngả Hai đi “patrouille” bắn cắc bụp làm sợ sệt người nông dân tay lấm chân bùn. Tôi có con gà con nuôi cắc ca cắc củm đẻ ra trứng đang ấp, bị mấy anh Việt Nam đi lính Tây hốt trọn ổ, giận lắm! Một lần, có anh chĩa súng vào tôi hét to “Việt Minh đâu, không nói tao bắn”. Tôi sợ són đái, ú ớ “em không biết, em không biết”. Tôi sợ là phải, vì anh Hai của tôi theo Việt Minh từ mật khu Ba Hòn về nhà xin thuốc quinine trị sốt rét và ít áo quần, đồ ăn… đang núp trong vườn khoai mì kế đó. Ảnh đang bị ho, ho dữ lắm, cũng may cái ho của ảnh cũng biết sợ Tây mà không lên tiếng, không thì cũng đi đời nhà ma, đâu còn năm 1954 về với gia đình ở Ðức Long, Phan Thiết mà sống tới già. Ðầu năm 1950, một ông anh chú bác lại của tôi theo Việt Minh nửa đêm len lén về nhà bị lính Pháp phục kích bắn chết mà không ai dám nhìn, dám khóc . Bác Hai của tôi như vậy trong hơn một năm trời mà đã mất đi hai thằng con trai và một thằng rể cũng vì theo Việt Minh. Nỗi đau biết chừng nào, bác giữ trong lòng. Tôi có ở Phú Lâm ba năm từ bảy tuổi đến mười tuổi thì về lại thành phố, nhưng ở phường Ðức Long mới nghiệm ra, người lính Quốc Gia khó tiêu diệt được Việt Cộng.
Ðiều dễ hiểu, người lính Quốc Gia đánh giặc còn cái bụng và cái đầu; người Việt Nam Cộng Sản thì cuồng si, sắt máu, không nhân bản. Rõ ràng, người nhà quê có thể bị người chính quyền Quốc Gia bắt và xử theo luật, nhưng Việt Cộng thì sẳn sàng thủ tiêu “giết lầm hơn tha lầm”. Ban đêm, lính Việt Nam Cộng Hòa đâu đủ bảo đảm an ninh cho khắp thôn cùng xã tận? Ban đêm, du kích Việt Cộng lén lút về bắt cóc, giết người, hăm dọa biết đâu mà đỡ, không theo trước sau cũng chết! Tội nghiệp người dân ở nhà quê sống giữa hai lằn đạn thù, không thích Việt Cộng mà phải theo Việt Cộng. Năm 1952 gia đình tôi trở về Phan Thiết, nhưng không về lại dưới dốc cầu Quan mà về ở phường Ðức Long, khu mả lạn gần ngả ba đồn chữ Y. Về đây khuất mặt khuất mày mấy anh du kích, gia đình tôi được yên ổn, tôi bắt đầu đi học lớp Năm. Ðến một ngày vào năm 1959 bác Quế, Công An phụ trách phuờng Ðức Long bị Việt Cộng bắn chết tại nhà đúng một giờ khuya. Nhà bác bên kia đường nhà tôi, cách chừng hai trăm mét. Khu Phố 1 nhà bác ở và Khú Phố 7 nhà tôi ở đều bàng hoàng, hãi hùng. Về sau, tên Nguyễn Văn Cầm ở xóm Câu về hồi chánh nói cho biết, chính y đã bắn bác Quế chết ngày đó. Không thấy “sát nhân giả tử” gì hết trơn. Người Quốc Gia hiền quá, mất nước một phần cũng vì đó. Cầm vẫn sống an bình với vợ, con và làm ngư dân đi biển đánh cá như mọi người ngay tại xóm Câu, Ðức Long. Năm 1962 ở Lại An, nghe tin hai người bạn của tôi cùng học một trường Phan Bội Châu là anh em ruột một nhà bị giết chết trong vòng chưa hết một tuần lễ. Anh đi lính Quốc Gia và em thì theo Việt Cộng đều lọt vào ổ phục kích bên ta và bên nó. Cha mẹ nhìn hai con, đứa trong quan tài chưa kịp chôn, đứa mất tay chưn còn nằm đó, khóc gào như điên như cuồng nỗi đau xé ruột. Năm 1963 sau khi thi đậu Tú Tài I, thằng bạn cùng lớp, rất thân với tôi tên Nguyễn Văn Hùng ở Tân Phú Xuân, Thiện Giáo đã bỏ mẹ đơn chiếc nuôi cho khôn lớn ăn học, bỏ bồ mới quen ở Ðức Long, bỏ phố Phan Thiết thường nghêu ngao “Con đường tình sử còn đây, đèn khuya mắt đỏ còn đầy dấu xưa…” vào rừng chết mất thây. Từ sau những năm 1962, khúc đường Rừng Lá thuộc quận Hàm Tân tỉnh Bình Tuy của Quốc Lộ 1 thường bị Việt Cộng “đắp mô”, giựt mìn, phục kích, không an ninh chút nào. Về Phan Thiết, tôi phải đi ghe từ cầu Chà Và nơi bến Lê Quang Liêm ở Chợ Lớn mất gần hai đêm hai ngày nắng, mưa, say sóng, nhọc nhằn, nhưng an toàn hơn đi đường bộ nhiều. Năm 1965, một lần theo ghe bà Ðương chở gạo Sài Gòn về Phan Thiết thì ghe bị lủng lổ ngoài khơi Vũng Tàu, nước chảy vào đáy càng lúc càng nhiều, dù tất cả người trên ghe thay nhau chuyển nước ra biển một cách cực lực đã hết sức rồi và gạo cũng đã quăng đi rất nhiều cho nhẹ ghe bớt. Trong cơn thập tử nhất sinh đó, nỗi ám ảnh kinh hãi nhất là cái chết chìm khủng khiếp ngoài biển khơi mênh mông. Chư vị thần thánh, trời đất, Phật, Chúa, ông bà…bất kể ai là đạo gì hay không có đạo gì cũng kêu cứu vang rền, ngồi đứng không yên, khóc than thảm thiết dù ác quỷ có dữ cách mấy chắc cũng phải động tâm! Tôi với ông anh lấy dây cột chung lại với nhau cùng mấy giấy tờ tùy thân để khi chết thì chết chung và may còn cơ hội người ta biết mà nhận. Chịu qua một đêm hãi hùng, trưa ngày hôm sau may có chiếc tàu của Hải Ðoàn Xung Phong 28 đóng ở Thương Chánh, Phan thiết thấy mà cứu được. Nghe nói, tàu vào Vũng Tàu lảnh lương về phát cho anh em. Chiếc ghe bà Ðương được kéo vào bến cảng La Gi, Bình Tuy. Một bữa ăn do bà chủ ghe đãi mấy anh em hải quân, đãi mấy người làm công trên ghe, ngay chúng tôi vài người đi ké cũng được ăn lây cơm đãi. Tất cả sau đó, chắc chừa bà chủ ghe, tài công và vài người thợ trên ghe ra, chúng tôi theo tàu hải quân về Phan Thiết an toàn. Hú hồn!

Tháng 12 năm 1967, sau đúng hai tháng ra trường Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, chúng tôi nhận nhiệm sở đầu tiên tại Quảng Ngãi. Ở đây, không ngày nào không nghe những trận đánh lớn, nhỏ đâu đó giữa quân đội Quốc Gia và lính Việt Cộng mà tiếng súng, tiếng bom thường nghe trong thành phố. Một trưa mùa Hè năm 1968, Việt Cộng quăng lựu đạn tại rạp hát Kiến Thành làm chết, bị thương nhiều thường dân. Mấy chiếc xe GMC quân đội chở những người bị nạn máu me chảy ròng ròng xuống dọc đường và người thì không ai còn nguyên vẹn. Những người đứng nhìn, có một vài chị hơi lớn tuổi một chút khi nhìn thấy đoàn xe đó chạy trên đường Phan Bội Châu đến bệnh viện đã té xỉu đến nỗi phải đi cấp cứu. Tôi, lần đầu tiên trong đời mới thấy con người đầy máu me, không toàn thây sao khủng khiếp quá sức! Giữa năm 1969, tôi thuyên chuyển ra Ðà Nẳng, trọ nhà ông chú ở kiệt Bảo Trác đường Trưng Nữ Vương. Khu nầy thường đêm trúng đạn pháo 122 ly của Việt Cộng và dân bị chết nhiều, chết thảm. Có gia đình bảy người chết cả, không còn ai chôn ai, khóc ai. Nhà ông chú tôi làm bánh mì, có người mới mua bánh mì đó thì cũng chết đó chưa kịp ăn. Một anh bạn Ðại Ðội Trưởng CSDC nói cho nghe, lính anh ta khiêng xác một người bị pháo kích mà cái đầu đã đứt lìa khỏi cổ cứ rớt xuống đất, cứ phải lượm lên mấy lần. Chiến tranh tàn nhẫn đến chừng nào! Năm 1968, được phép về Phan Thiết ăn Tết, tôi chứng kiến quê mình bị Việt Cộng vi phạm lệnh “hưu chiến” đã đánh vào thành phố lúc giao thừa.

Các con phố trên đường Thủ Khoa Huân bên hông ty Cảnh Sát Tỉnh Bình Thuận, đường Hải Thượng Lãn Ông, đường Trần Cao Vân ngay khu chợ Gò và đường Bà Triệu dưới dốc trường Nữ Tiểu Học Phan Thiết, sát Tiểu Khu Bình Thuận bên phường Phú Trinh; Phía trong Ngả Bảy từ rạp hát Ánh Sáng đi vào đường Khải Ðịnh, khu vực chung quanh phòng Cảnh Sát, trước gọi là Nhà Cò bên phường Ðức Nghĩa. Nơi nơi khói đạn mịt trời. Chết chóc, tang thương, nước mắt với nước mắt! Anh Bảy ở Ðức Long gần nhà tôi, người lính Cảnh Sát can cường đã bị bắn chết trên đường Hải Thượng Lãn Ông khi chở đồng đội đến bệnh viện đang lúc giao chiến. Ảnh chết đi để lại chị Bảy với 3 đứa con dại, đứa lớn nhất chưa tới 5 tuổi. Ra lại Quảng Ngãi chưa hơn một tuần thì anh Nguyễn Văn Truyện, trưởng Phân Chi Cảnh Sát Tư Nghĩa bị du kích Việt Cộng bắn B.40, chết tại chỗ. Phân Chi Cảnh Sát Tư Nghĩa cách xa thị xã Cẩm Thành không hơn hai cây số. Cuối năm 1971, nghe tin thằng bạn Ðặng Văn Nghê, người cùng xóm, cùng làng, cùng học một trường Phan Bội Châu ở Phan Thiết mới gặp nhau đó trong trường Bộ Binh Thủ Ðức đã chết cháy trong một lần “trực thăng vận” xuống Hòa Tân, Gò Công. Nó không đậu Tú Tài I phải đi Ðồng Ðế. Trung Sĩ hơn hai năm không sao, vào Thủ Ðức học khóa 5/70 Sĩ Quan Ðặc Biệt, mới ra trường tháng 10 năm 1971 chưa nóng lon Chuẩn Úy trên vai là đã chết liền. Tội nghiệp ba má nó chỉ có hai đứa con, một trai là nó và một gái là em nó, khóc ngày khóc đêm thương con tới già. Cuối năm 1971 tôi nhận chức Phụ Tá Ðặc Biệt của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Quảng Ðức, một tỉnh miền núi đa số là người Thượng, nghèo nàn, thưa dân, giáp ranh với tỉnh Mondulkiri của Cambodia ở phía Tây. Ðầu năm 1973 một người lính Thám Sát Ðặc Biệt của tôi tên K’Lar bị Việt Cộng bắn chết trong rừng, được đồng đội đem về nhà. Xác nằm đó, người vợ mang thai sắp đẻ, thân nhân và bà con lối xóm khóc than thảm thiết. Tôi cháy cả ruột gan, nước mắt cứ chảy dài, chua xót. Ðầu tháng 11 rồi đầu tháng 12 năm 1973 Việt Cộng đánh Bu Bông, Bu Prang không xong, xuống đánh Kiến Ðức. Lính Ðịa Phương Quân Ban Mê Thuột xuống, Khánh Hòa lên, lính Sư Ðoàn 23, lính Biệt Ðộng Quân tăng viện làm cư dân thành phố núi non, rừng rú không lớn hơn vòng đai chiến đấu của một tiểu đoàn phải hoảng hồn, mất vía rằng chiến tranh thảm khốc đã đâu đây rồi. Cuối tháng 4 năm 1972, Ðại Tá Phan Ðình Niệm Tỉnh Trưởng Quảng Ðức được Bộ Quốc Phòng cử giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh thay thế Ðại Tá Lê Ðức Ðạt tử trận tại Tân Cảnh, Kontum.

Trung Tá Cao Văn Chơn thay thế. Trung Tá Chơn làm Tỉnh trưởng được chừng một tháng, dân gọi là ông Tỉnh Một Tháng. Ông Tỉnh Một Tháng đã ra lệnh cho “chính các ông đơn vị trưởng của Cảnh Sát Ðặc Biệt, của Phòng 2, của Thám Sát Tỉnh vào Ðạo Nghĩa xác định tọa độ xuất hiện mũi công tác B.8 của Phạm Trị”. Một chỉ thị không cần thiết, không đáng, để làm chết một ông Thiếu Tá Trưởng Phòng 2 cùng một Trung Sĩ với mấy người lính của Phòng 2 nữa. Cái chết lẽ ra là tôi với mấy người lính của tôi, nhưng tôi dừng xe lại để tiếp xúc mật báo viên, cho xe Thiếu Tá Tư qua mặt đi trước, mà trúng ổ phục kích của Việt Cộng trên dốc Quảng Chánh , Ðạo Nghĩa không tới hai phút sau. Chết cũng có số là vậy. Sáng ngày 28 tháng Giêng năm 1973, Hiệp Ðịnh Paris vừa mới ký, Việt Cộng ra xã Nghi Xuân tuyên truyền. Trung Tá Nguyễn Hữu Thiên, Tỉnh Trưởng Quảng Ðức chỉ thị tôi giải quyết. Tôi với Kỳ, Ðội Phó Thám Sát Ðặc Biệt đi hai xe với vài lính Thám Sát Ðặc Biệt, Biệt Ðội Cảnh Sát Ðặc Biệt đến Nghi Xuân gần một tiếng đồng hồ sau. Nơi đây, lính Chi Khu Khiêm Ðức có Chi Khu Phó là Ðại Úy Thiện với lính Việt Cộng đang chuyện trò một cách tự nhiên. Bên Việt Cộng có vũ khí cá nhân đầy đủ, cả máy truyền tin. Nguy rồi, tôi nghĩ. Tìm cách, tôi đã “dụ” chúng về được thị xã Gia Nghĩa và chở thẳng vào F. Ðặc Biệt, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Quảng Ðức lập biên bản, cho ăn, không nhốt. Chúng gồm có một Ðại Ðội Trưởng, một Ðại Ðội Phó, một Truyền Tin và ba khinh binh với vũ khí 6 AK, 3 B.40, 1 K.54, 1 máy truyền tin, 10 lựu đạn nội hóa. Sợ vi phạm Hiệp Ðịnh Paris, các ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Hữu Thiên lánh mặt, ông Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia, Trung Tá Cao Khánh Sang nói “bắt về làm gì?” Tôi nghĩ, chúng nó đã vi phạm, không ngừng bắn tại chỗ “an in-place cease fire”, không ở nguyên vị trí “remain in-place” và vũ khí đầy đủ. Có gì, mình sẽ giao cho Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên “The Four-Party Joint Military Commission” hay Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát “The International Commission of Control and Supervision”. Ðêm đó, không quan tâm gì đến Hiệp Ðịnh Paris mới ký chưa ráo mực, Việt Cộng đã đánh vào xã Ðạo Nghĩa, và đánh toàn nước Việt Nam. Thành ra, tôi lẽ ra bị tội lại có công và được huy chương Anh Dũng Bội Tinh đầu tiên trong năm 1973 của Tiểu Khu Quảng Ðức. Sau khi mất Ban Mê Thuột giữa tháng 3 năm 1975 và cuộc triệt thoái quân từ cao nguyên về, từ miền Trung vào, Việt Nam Cộng Hòa như chim vỡ tổ. Quân không đánh giặc, chính quyền không làm việc cùng chạy với dân một cách hỗn loạn. Quảng Ðức tôi còn đang yên bình thịnh trị cũng rủ nhau mà chạy gọi là di tản vào trưa ngày 23 tháng 3 năm 1975. Tôi chạy riết suốt đêm qua hôm sau mặt trời mới mọc thì thấy xác chết một em bé nằm chèo queo bên đường. Lòng bối rối, nhưng phải ngậm ngùi bỏ đi. Gặp Thiếu Tá Phạm Cừ, Chỉ Huy Phó Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Quảng Ðức, Trung Úy Tống Kim Lương, Chủ Sự Phòng Hành Chánh của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Quảng Ðức, Thượng Sĩ Phan Văn Lựa, xử lý thường vụ chức vụ Phụ Tá Ðặc Biệt Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Quận Kiến Ðức…tôi rủ “chúng ta xẻ rừng băng qua sông Ða Dưng”. Một đoạn đường dài chừng 2 cây số dốc, đồi, rừng rú, chúng tôi đi hơn một tiếng đồng hồ là tới bờ sông, định ăn lương khô lót dạ rồi vượt sông. Nhìn xa xa bên kia sông thấy bóng dáng nhiều người mặc áo quần đen đi qua đi lại, đoán là Việt Cộng, chúng tôi hối hả quây ngược trở lên con đường Liên Tỉnh Lộ 8 đã đi suốt đêm qua. Liên Tỉnh Lộ 8 do Pháp xây dựng từ năm 1914 chạy từ Quảng Ðức qua Lâm Ðồng xuống Phan Thiết, vì bỏ hoang nên phủ đầy cây cỏ, hố hốc, loang lổ, hư hỏng. Không ngờ, khi trở lại con đường hồi sáng đi xuống nhanh như vậy, mà khi trở lên chỉ đi được một chặng, rồi ai nấy cũng không còn sức mà đi được một bước, bò được một bò, thêm đằng trước mặt mình đi, rừng đang cháy mịt mùng!? “Thôi, cùng nhau mà lết tới đâu hay đó, có chết thì chết chung”, ai cũng nói như vậy. Phép lạ, chúng tôi cũng qua được từng tấc cỏ cháy mới vừa tắt lửa. Tới đường khoảng 3 giờ chiều, tôi thấy còn nhiều người hớt ha hớt hải đi như sợ không còn kịp. Thiếu Tá Phạm Cừ chận ông Phước, người phát lương của Quảng Ðức xin nước uống. Nước đâu không thấy, thấy bùn đen như “lục tào xá” dính đầy miệng. Ði được vài bước, Toán trưởng đội Thám Sát Ðặc Biệt tên Nguyễn Hồng từ đâu trong bụi rậm xuất hiện, kêu nhỏ và ra dấu cho chúng tôi chạy vào chỗ anh ta đang núp và đang liên lạc truyền tin với cố vấn Mỹ. Chừng mười phút sau, một chiếc trực thăng vần vũ trên không và hạ xuống chỗ chúng tôi đang chờ. Chiều ngày hôm đó, ngày 24 tháng 4 năm 1975, chúng tôi về Bảo Lộc an toàn. Bạn bè tôi không may, phải đi nhiều ngày, phải chịu nhiều khốn đốn. Thiếu Úy Hiền, người phát lương cho Bô Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Quận Ðức Lập không may bị chết trôi ở “Piste Kinda”. Chúng tôi được Ðại Úy Hồ Hối đang là Ðại Ðội Trưởng Cảnh Sát Dã Chiến ở đây dắt về nhà ăn ở để chờ chạy tiếp. Bảo Lộc, thị xã của tỉnh Lâm Ðồng nhỏ, thưa dân, không giàu có gì, người ta cũng chộn rộn tìm đường mà giong, hoặc qua Ðà Lạt, hoặc về Nha Trang, hay xuống Phan Thiết, dù tứ bề tìm không ra bóng dáng một mén du kích Việt Cộng nào.

Ngày 28 tháng 3 năm 1975, Ðại Úy Hồ Hối tìm cho chúng tôi một chỗ ngồi trên chiếc C-7 Caribou về Nha Trang. Nha Trang lúc bấy giờ đủ hạng người và đông vô kể. Họ chạy ngược chạy xuôi tìm đường bộ, đường hàng không, đường biển về Cam Ranh, về Vũng Tàu, về Sài Gòn…hỗn độn không thể tưởng. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, tôi theo đoàn di tản của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Khu 2 từ 1 giờ trưa đến hơn 10 giờ đêm mới tới được Cầu Ðá Nha Trang, dù đường ngắn khoảng 5 cây số. Xe đủ loại, người đủ hạng hằng ngàn, hằng ngàn kín mít đường Duy Tân tới Cầu Ðá sát bên Hải Học Viện. Lúc bấy giờ dù xe có cán chết ai đi nữa, người có nằm chết, bị thương đâu đó đi nữa, cũng bị người ta dẫm đạp mà lo “tẩu vi thượng sách”. Nơi Cầu Ðá, người đông không làm sao đông hơn được nữa đang từ từ di chuyển theo dòng người cuốn đi. Ngoài kia không xa, con tàu hải quân neo đó chờ người nhảy lên. Không thể cưỡng lại và bị cuốn theo khối người đông hơn kiến, tôi cũng như người ta phải đạp lên những túi nylon bọc xác người chết từ xà lan Ðà Nẳng chở vào bỏ đó đã mấy hôm mà Ty Vệ Sinh Nha Trang chưa chôn và cũng chẳng có ai chôn vào những ngày nầy. Nương theo dòng người đẩy đưa, đến mép cầu tôi lập tức nhảy thật mau, thật mạnh mới bám được lưới bên hông tàu, nếu không thì tõm xuống biển phía dưới như biết bao người đã phải chịu số phận thảm thương. Nỗi đau ám ảnh cả một đời người là cảnh một người cha quăng con lên tàu, con rớt xuống biển, người cha cũng nhảy xuống biển chết theo. Chiếc tàu đậu một đầu gần, một đầu xa Cầu Ðá. Tôi may ở phía gần tàu mà nhảy lên được. Xa đằng kia, người ta gần như bị rơi xuống biển gần hết, nếu có biết bơi đi nữa cũng khó vẫy vùng, vì người với người bám víu nhau. Chừng 1 giờ khuya, tàu rời bến. Khoảng 3 giờ đêm, nhiều lần nghe tiếng la thất thanh “cứu tôi, cứu tôi”, nghe nói từ một người xách cái Samsonite. Có người vô cớ xúi dại “có chất nổ, quăng nó xuống biển”. Và, ông ta đã bị quăng xuống biển thiệt. Một oan hồn tức tưởi chết đi cho những người hồ đồ còn sống.

Chừng 3 giờ chiều ngày 5 tháng 4 năm 1975 về tới Cát Lái, đến nhà bà già vợ ở Tân Ðịnh khoảng 6 giờ chiều cùng ngày. Tôi mừng biết chừng nào gặp lại ba đứa con, đứa lớn nhất mới bốn tuổi. Vợ tôi, đã ra Vũng Tàu tìm tôi từ sáng sớm chưa về. Sau khi trình diện, tôi được Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia đưa về Quận Nhất và được ông Trưởng F. Ðặc Biệt Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Quận Nhất cho tăng cường toán an ninh phường Trần Quang Khải với ông Thiệt, trưởng F. Ðặc Biệt Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thị Xã Cam Ranh cũng chạy “di tản” vào đây như tôi. Hằng ngày thấy cảnh bà con sắp hàng, nhốn nháo trước tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ để tìm đường chạy khỏi Việt Nam, tôi nghĩ “đâu đến nỗi nào phải làm như vậy”. Rồi mới thấy họ làm như vậy là đúng, vì mấy ngày sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tổng thống mới thay thế Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Trần Văn Hương là Ðại Tướng Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng Việt Cộng. Ở đâu tôi không biết, chứ ở vùng trời Ða Kao, Tân Ðịnh lúc bấy giờ đang âm u, có những hạt mưa lất phất rơi, rơi như những giọt nước mắt đau buồn của người miền Nam Việt Nam khóc cho vận nước suy vi, tan vỡ! Sáng ngày 26 tháng 6 năm 1975 tôi đi “trình diện học tập cải tạo” tại trường Trung Học Pétrus Ký. Ở đây chừng một tuần lễ, một đêm khuya, chúng chở chúng tôi trong những chếc GMC, Molotova bịt bùng đến trại giam Tân Hiệp Biên Hòa. Ở đây, một chiều tối nửa tháng sau, mấy tay sai Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “lùa” chúng tôi băng đường làng qua trại An Dưỡng Biên Hòa. Nơi đây gặp lại bạn bè đông lắm, ngày nào còn “Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng.

Nhất trạo giang sơn tận địa duy”, bây giờ nhìn nhau cười trừ, ngâm câu thơ Thế Lữ “Than ôi! Thời oanh kiệt nay còn đâu”. Thời gian không lâu, ai ai cũng thấm thía lời nói xưa“Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” vi đắng đời lao lý. Như chừng 29 hay 30 tháng 8 năm 1975, một tiếng nổ lựu đạn sát “láng 27” của tôi làm chết anh nhạc sĩ Minh Kỳ tức Vĩnh Mỹ và người bạn cùng quê Phan Thiết của tôi tên Ung Văn Giàu bị thương chưn thành phế nhân. Tôi tính ra đời mình đã biết bao nhiêu lần “thập tử nhất sinh”. Một lần má tôi tự đẻ tôi ra ngoài vườn sau nhà ở Phú Bài, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên cắt rún bằng miếng mẻ chai cũ trong gốc chuối và băng rún bằng tấm vải rách không được sạch sẻ chút nào tưởng chết như không. Một lần ở Phan Thiết năm tôi lên 5 tuổi bị bệnh sởi, sáu, bảy đứa nhỏ quanh xóm cũng bị bệnh sởi chết hết trơn, mình tôi còn sống. Một lần chạy giặc Tây bị bỏ lại ở Xóm Lụa, quận Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, Tây để má tôi về bồng tôi chạy đi không bắn. Một lần đi ghe từ Chợ Lớn về Phan Thiết nhờ tàu hải quân cứu thoát, không thì chết chìm đời nào ngoài khơi Vũng Tàu. Một lần thoát chết vì phục kích của Việt Cộng ở xã Ðạo Nghĩa, quận Kiến Ðức, tỉnh Quảng Ðức theo lệnh ông Tỉnh Trưởng Trần Văn Chơn “đi xác định tọa độ Việt Cộng xuất hiện”. Một lần trong trại tù “học tập cải tạo” ở Biên Hòa chạy gấp về “láng 27” họp bàn kế hoạch cho ngày 2 tháng 9 chỉ trước một phút vụ nổ lựu đạn vừa kể ở trên. Mấy lần ngợp thở, đứt hơi vì bệnh suyễn phải đi cấp cứu ở trạm xá trại tù “học tập cải tạo” K. 5 và K.1 Tân Lập, Vĩnh Phú ngoài Bắc. Mấy lần ở trại tù “học tập cải tạo” Thanh Lâm, tỉnh Thanh Hóa và K.2 trại Z.30C Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải cũng bệnh suyễn làm nghẹt thở tưởng chôn xác trong tù như hằng ngàn, hằng ngàn bạn bè mình rải thây ma khắp rừng sâu, núi thẩm Bắc, Trung, Nam. Thân tù “học tập cải tạo”, tôi bềnh bồng nỗi chết không rời từng ngày từ trại An Dưỡng tỉnh Biên Hòa ra Liên Trại 1 tỉnh Yên Bái, lên Văn Bàn tỉnh Hoàng Liên Sơn, qua trại Trung Ương Số 1 Lào Cai Tỉnh Lào Cai, về Tân Lập tỉnh Vĩnh Phú, vô Thanh Phong, Thanh Lâm tỉnh Thanh Hóa, vào Z.30C Hàm Tân tỉnh Thuận Hải ròng rã chín năm tròn mới cầm được tờ “giấy ra trại”. Từ đó, tôi mới nghiệm ra một điều, con người sự sống chết ắt đã có số mệnh an bài? Tù ra, xã hội miền Nam tôi thấy bị người ngoài Bắc đói khát vào ăn cướp bằng mọi thủ đoạn làm cho bần cùng cũng như bị những tay “đốt đuốc soi rừng” ngu dốt, khát máu cai trị một cách bất nhân, vô đạo “trời không dung, đất không tha, người người đều oán giận”. Người ta bỏ nước ra đi, đi hết, đi đến nỗi “cột đèn đi được cũng đi”, dù ra đi một sống chín chết. Thành phần “ngụy”, “chế độ cũ” không còn con đường sống là cái chắc, chưa nói sự bức tử là thưòng xuyên. Ðất nước tôi đó, tan hoang!

Bây giờ cũng đã qua cuộc chiến Pháp- Việt chấm dứt năm 1954; Mỹ cũng đã rút ra khỏi Việt Nam từ năm 1973, và người ngoại quốc họ nghĩ “chiến tranh ý thức hệ” Việt Nam không còn nữa sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nếu như vậy, tôi nghĩ chỉ là nói theo sự thể nó xẩy ra trước mắt, chứ không nói theo đầu óc vẫn còn vướng bận của những người trong cuộc như chúng tôi. Nói cuộc chiến những người Việt Quốc Gia Miền Nam Việt Nam chống quân Cộng Sản Miền Bắc Việt Nam là một cuộc chiến ý thức hệ là một sự sai lầm thiếu suy nghĩ. Ðơn giản, miền Nam chống quân miền Bắc là để bảo vệ sự toàn vẹn và yên bình cho lảnh thổ của mình phía Nam. Miền Bắc sắt máu lùa dân vào cuộc chiến nhất quyết đánh thắng miền Nam Việt Nam cho được chẳng qua chỉ là tay sai làm công cụ “cõng rắn cắn gà nhà” cho Tàu, cho Nga mà thôi. “Ý thức hệ” gì!? Còn nói cuộc chiến của những người miền Nam Việt Nam chống quân xâm lược miền Bắc Việt Nam đã chấm dứt từ khi Sài Gòn thất thủ thì thật đơn giản quá sức. Ai cũng thấy, cái cặn bã chiến tranh là bọn Việt Cộng, kẻ thù của dân miền Nam Việt Nam, ngay cả miền Bắc Việt Nam vẫn còn đó thì cuộc chiến chống Cộng làm sao nói là hết? Tôi qua Mỹ còn một tháng nữa là đúng 23 năm, lòng vẫn còn chiến tranh với Việt Cộng như thuở nào cũng vì đồng bào tôi trong nước ngày nay vẫn cùng khổ, chưa thấy thế nào là “an cư lạc nghiệp” mà đất nước lại còn bị cắt xén cho đàn anh Ba Tàu… Ai cam tâm làm ngơ!? Có điều “lực bất tòng tâm”, muốn không phải là được. Tin tưởng hồn thiêng sông núi, chắc chắn một ngày không còn xa, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ bị dẫm nát và chôn vùi như Liên Bang Xô Viết và các nước Cộng Sản Ðông Âu từ những năm 1989 đến 1991 như “những thiên kỳ quái nhất của lịch sử loài người”./.

NGUYỄN THỪA BÌNH
Giữa Thu 2015

Mùa hè đã chết

KIM CHI

Điểm hẹn của chúng tôi là một quán ăn sân vườn khá lịch sự ở đường Lê Quý Đôn, quận 3. Đã lâu lắm rồi chúng tôi mới có buổi chiều vui nên đứa nào cũng mạnh dạn bỏ chồng con ở nhà để được tự do ra quán với quyết tâm “không say không về”.

Cách đây 40 năm, nhóm 5 đứa con gái chúng tôi cùng học chung lớp 12B4. Tôi thường gọi là 12 Bê Bối. Bê bối vì thỉnh thoảng cúp cua đi ra Rex xem phim. Buổi sáng rạp Rex chiếu thường trực, giá rẻ, phù hợp với túi tiền học trò. Xem phim xong lại rảo qua quán kem Mai Hương, mỗi đứa kêu một trái dừa đầy kem, ngồi nhâm nhi và ngắm nhìn người cùng người đan tay nhau dạo phố. Tuy bê bối vậy nhưng học hành lại không tệ. Tất cả đều giỏi Toán và tiếng Anh. Tôi có thêm tài lẽ là làm thơ. Tụi bạn quen làm toán nên chê thơ tôi là thơ con cóc. Vậy mà một hôm con cóc lại nhảy lên trang thơ văn của Nhật báo Đông Phương với bài thơ tựa đề là “Phú Ca”. Cả lớp xôn xao: Phú Ca là ai? HQ505 là gì? Tôi lắc đầu: bí mật nhé, chuyện chỉ mình Chi biết mà thôi.

Cả bọn cùng vào Đại học. Mùa hè năm 1975, mùa hè không rộn rã tiếng ve, không rợp trời hoa phượng đỏ. Mùa hè đó đã thành cuộc chia tay giữa chúng tôi với giảng đường Đại học. Xếp lại những chiếc áo dài trắng tinh khôi, cất đi những bài thơ tình lãng mạn, tuổi trẻ bước vào đời với bao bộn bề lo toan. Khi có dịp gặp nhau thì mỗi đứa là một nỗi buồn: đứa lên xe xuống ngựa; đứa gãy gánh giữa đường; đứa vượt biên không tin tức, đành phải lấy ngày nó ra đi làm ngày cúng giỗ; đứa may mắn theo gia đình xuất cảnh qua Mỹ, hằng năm họp lớp lại nôn nao trở về.

Chiều nay nhóm chỉ còn lại 4 đứa, cùng vào quán khi nắng chiều sắp tắt. Tiếp viên đưa ra tờ thực đơn. Tôi nói: uống bia nhé? Cả đám rộn lên OK, bia chứ sao, đã nói rồi mà. Tôi lướt mắt qua các món ăn, tôi có hoa mắt không? món gì thế này? Ve Sầu Chiên Bơ! Tôi hỏi cô tiếp viên của quán và được cô khẳng định đúng là con ve sầu thường râm ran trên cành phượng mỗi khi hè về. Tôi và bạn nhìn nhau nghẹn lời. Tại sao phải chiên bơ ve sầu? Nó ngon lắm sao? Tôi đã từng nghe dân nhậu ăn dế, nhện và cả bọ cạp,  tôi sợ nhưng không buồn. Riêng ve sầu, nó là tuổi thơ, là mùa hè của tôi và bạn, là nổi nhớ lặng thầm tôi khắc khoải gửi về Phú ở nghìn trùng xa, nơi có con tàu HQ505 lênh đênh trên biển. Nhìn những con ve sầu nằm im trên dĩa, ngụm bia chợt đắng ngắt trong miệng và tôi bỗng dưng muốn khóc quá chừng.

https://c1.staticflickr.com/3/2511/32636545610_88c16c879f_b.jpg

Ngoài đường nắng đã tắt, hoàng hôn buông xuống. Tôi và bạn bè đang ngồi giữa hoàng hôn đời người. Tóc đứa nào cũng có vài sợi bạc. Ký ức về một thời hoa mộng đã dần nhạt phai. Bốn mươi năm trôi qua, nổi nhớ về những mùa thi vùi đầu trong sách vở, những ngày hè rong chơi tưng bừng phố xá, những chùm me non chuyền tay nhau dưới gầm bàn …đã không còn nguyên vẹn.  Tất cả như bọt biển vỡ vụn khi con tàu lướt sóng rời xa bến vắng.

Tôi và bạn lại cụng ly nhau, không say không về nhé. Nói cái khẩu hiệu ấy cho vui thôi, chứ không về thì đi đâu bây giờ? Chồng và con đang chờ ở nhà. Có đứa cắt lời: thôi đừng nhắc, để uống cho ngon. Trời ạ, nói cứ như một tay bợm nhậu thứ thiệt. Chúng tôi ngồi với nhau, uống cùng nhau tận đêm. Chúng tôi đã nói với nhau những gì, tôi không nhớ. Tôi chỉ nhớ trước khi rời quán, tôi đã nhìn những con ve sầu nằm im lìm trong dĩa, trên bàn. Tôi thấy thấp thoáng trong đó có Phú, có bạn bè lớp 12B4, có giảng đường Luật  khoa, có những bài thơ tình con cóc, có cả tôi đang chông chênh bước giữa đường đời. Và tôi  đau đớn nhận ra: mùa hè của tôi đã chết!!!

KIM CHI

http://www.bienkhoi.com/so-59/mua-he-da-chet.htm

Tình… Tuyệt

 

Năm nay thời tiết nóng hơn mọi năm. Nhiệt độ lên đến ba mươi chín độ C và có chiều hướng còn lên cao hơn nữa. Trời đang nắng bỗng tối sầm lại rồi đổ cơn mưa lớn làm cho nước ngập trắng các con đường. Mọi người nói thời tiết lạ và lo sợ một điềm xấu sẽ xảy đến. Chiến tranh xâm lăng được khởi xướng từ phương Bắc mỗi ngày mỗi tăng mạnh và kèm theo những trận pháo kích bừa bãi vào xóm làng làm cho cuộc sống của đồng bào miền Nam thêm khó khăn. Người ta lo sợ cuộc chiến sẽ tàn với sự chiến thắng của Việt Cộng.

Trời tạnh mưa thì cũng đã hơn bốn giờ chiều. Trâm chạy xe qua nhiều con đường ngập nước để đến quán café theo lời mời của người bạn trai là người yêu của bạn Trâm từng là dân Dalat từ khi được sinh ra. Trời Sàigòn sau cơn mưa là mọi người lại tuôn ra đường. Phố xá bừng lên nhộn nhịp ngược xuôi buôn bán trước khi màn đêm phủ xuống; mặc dù sự di chuyển vẫn còn khó khăn do nước ngập chưa rút hết.

Trâm rẽ vào con hẻm nhỏ có quán café. Những khuôn mặt của những chàng trai thời chiến tranh ngồi đăm chiêu bên những ly café và những điếu thuốc lá như không muốn màng đến những gì đang diễn ra ngoài kia. Trâm đưa xe cho người giữ xe của quán. Người bạn Trâm quen ngồi với một gã thanh niên nhìn cũng khá bảnh bao – tươi cười đứng lên đón Trâm. Hai người có lẽ cũng vừa mới đến vì Trâm thấy hai cái phin café vẫn còn đang rớt từng giọt chậm chạp xuống ly. Anh chàng đi theo người mà Trâm quen kiêu hãnh nhếch môi cười. Trâm lúng túng và mặt đỏ bừng lên đứng chôn chân tại chỗ. Người Trâm quen liền kéo ghế mời Trâm ngồi đồng thời kêu cho Trâm ly cam tươi. Anh chàng nhìn Trâm như thích thú ra điều “cũng được đấy”. Trâm cảm thấy mình bị xúc phạm nên ngồi phịch xuống ghế, tay chống cằm và ngó người Trâm quen đang bỏ nhũng viên đá nhỏ vào ly café của anh. Trái tim của Trâm đập mạnh và dồn dập như vừa mắc cỡ vừa bực tức. Tại sao con gái chỉ phản ứng duy nhất một cách là đỏ mặt? Trâm cố lấy lại sự bình tĩnh và quyết tâm sẽ cho anh chàng một bài học, nếu anh chàng vẫn còn cố tỏ ra… kiêu hãnh.

***

Tôi quen Trâm trong một buổi chiều mưa Saigon. Người bạn tình cờ gặp tôi đứng tránh mưa bên đường liền rủ tôi đi theo trong khi anh đã có cuộc hẹn gặp Trâm. Anh bạn nói:

– “Theo tôi đi uống café và tôi sẽ giới thiệu một người đẹp của xứ lạnh cho .”

Anh là bạn cùng quê Dalat với tôi. Trâm là cô gái đẹp và hiền. Nghe anh bạn nói Trâm cũng là người Dalat nên tôi nói với Trâm:

– “Tôi cũng có tuổi thơ êm đềm ở thành phố ấy.”

Trâm cười gượng gạo:

– “Nhà em ở đường Quang Trung.”

– “Khi nãy vừa gặp Trâm tôi đã ngờ ngợ nhận ra Trâm. Ngày trước Trâm còn nhỏ nên không để ý chứ tôi vẫn thường nhìn thấy Trâm mỗi ngày trên đường đến trường.”

Trâm mở lớn mắt lộ vẻ thích thú khi nghe tôi nói nhưng Trâm không nói thêm mà hai má lại ửng hồng. Tôi nhìn kỹ Trâm hơn. Mái tóc dài vẫn là mái tóc đẹp của ngày xưa. Trâm năm nay có lẽ cũng khoảng mười bảy mười tám tuổi và nét trẻ trung của người con gái thuộc gia đình trung lưu có đời sống vật chất và tinh thần thuộc hàng có hạng của thành phố. Mẫu người như Trâm rất thành thật và nếu làm vợ thì cũng rất chung thủy. Tôi như bị hút mất hồn vía vì vẻ đẹp dịu dàng và quý phái của Trâm. Tôi muốn kiểm lại ký ức của mình nên hỏi:

– “Mấy năm trước Trâm hay đi dạo đồi cù vào mỗi cuối tuần với… một người?”

– “Đúng rồi, anh nhớ đúng quá. Đó là người giúp việc nhà và đi theo em để… không bị người khác làm phiền em. Thế… lúc đó anh cũng đi dạo đồi cù và… anh đi với ai?”

Tôi hình dung lại trong chốc lát những hình ảnh quen thuộc của ngày còn ở thành phố hoa.

– “Dạo đó tôi mới vô đại học. Cuối tuần tôi thường cùng mấy người bạn đi vòng bờ hồ, vừa mát lạnh vừa có dịp nhìn ngắm các cô gái xinh đẹp của thành phố. Riêng với Trâm thì tôi… không dám, vì có một người to lớn như hộ pháp luôn theo sát bên Trâm.”

– “Đi dạo mà phải có người đi kèm nên em cũng không mấy hứng thú. Ba em không muốn ai làm phiền đến em.”

***

Cuộc nội chiến Nam Bắc Việt Nam đã chấm dứt và tôi vui mừng biết bao. Công lao của tôi cuối cùng cũng đã được đền bù mặc dù tôi tham gia vào việc làm cho chế độ Saigon rối loạn đến phải bị sụp đổ chưa được bao lâu. Tôi vui mừng vì từ nay đất nước sẽ thống nhất và hòa bình đến trên quê hương. Nhưng, tôi buồn vì tôi đã mất Trâm. Ba của Trâm là vị thương gia có tiếng tăm của thành phố nên khi biết tôi là thành viên trong tổ chức đấu tranh ông đã buộc Trâm phải chấm dứt chuyện tình cảm với tôi. Sau đó ít lâu tôi bị bắt quả tang khi đang in truyền đơn kêu gọi đồng bào đứng lên lật đổ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Hôm tôi bị đưa ra xử ở tòa án Sàigòn, lúc đó là đầu giờ chiều. Tôi đã đứng lặng yên với niềm kiêu hãnh và thách thức ở chỗ dành cho bị cáo. Pháp đình Saigon do thực dân Pháp xây dựng lên để xử những người yêu nước, thì, tôi là người yêu nước nên tôi phải đứng đây. Trong khi chờ đợi những người xét xử sẽ tuyên án, tôi ngửa mặt nhìn lên trần nhà. Vòm tòa pháp đình uốn cong cong nhìn có vẻ lạnh lùng trang nghiêm… như để đe dọa đối với những người yếu bóng vía. Nhưng, với tôi thì không có chế độ nào có thể làm cho tôi phải sợ cả. Linh tính như có người đang nhìn chằm chằm phía sau lưng, tôi quay nhìn lại phía sau và bắt gặp đôi mắt thật buồn của Trâm đang nhìn tôi. Gương mặt của Trâm buồn sầu não quá. Ánh mắt của Trâm như khẩn cầu tôi hãy xin tòa khoan hồng và hứa sẽ không tái phạm. Tôi nhìn Trâm không chớp mắt, rồi nở một nụ cười hãnh diện ngầm cho Trâm biết là tôi sẵn sàng chấp nhận bản án dù có nặng đến đâu. Tôi là người yêu nước và đang hành động vì đồng bào và, vì tình yêu của Trâm và tôi.

***

Ngày tôi trở về thăm lại quê hương tôi được gặp lại người bạn cùng thành phố Dalat ngày trước. Anh kể:

– “Trâm bây giờ không còn trẻ nữa. Mặc dù con đường đất từ ấp Thái Phiên vào nhà Trâm xa gần cả chục cây số vậy mà vẫn có nhiều người lui tới. Có người đã lớn tuổi, và cũng có người trẻ hơn Trâm; tất cả đều là những người đàng hoàng và có công ăn việc làm chắc chắn. Với bản tính hiền và hiếu khách, cộng thêm gương mặt đẹp với nước da trắng mịn, hàm răng trắng muốt và đều như hạt bắp nên mỗi khi cười càng thêm duyên dáng. Trâm vẫn còn sở hữu mái tóc dài và đen như sóng lượn bên vai như ngày trước bạn gặp Trâm. Một hôm tôi tình cờ gặp lại Trâm một mình đứng bên bờ hồ. Trâm mời tôi về nhà. Nhà của Trâm tọa lạc trong khu vườn cây cối xanh tươi và sát bìa rừng. Ba của Trâm – người chống đối cuộc tình của Trâm và bạn – nay đã già. Ông giờ chỉ nuôi chim cảnh và phụ trông coi khu vườn cây ăn trái. Đến mùa trái cây chín lái buôn từ các nơi đến thu mua, đó là những lúc người ta nói Trâm vui nhất trong năm.

Chuyện Trâm không lấy chồng – chứ không ế chồng – mỗi người nói một cách. Nhưng, tôi biết Trâm… vẫn còn yêu bạn nên nàng không – chưa – lấy chồng. Mấy năm gần đây nhà cầm quyền thành phố muốn chiếm đất của gia đình Trâm.Trâm kể với tôi: Có những đêm em không ngủ được vì lo sợ cho lần bị cướp thứ hai mà, lần này thì ba và em sẽ không còn có thể tạo dựng lại cuộc sống như hiện tại, nên từ cửa sổ nhà em nhìn thấy những con thú nhỏ đến uống nước bên con suối gần nhà mà ao ước sao cho được như ngày trước. Càng về khuya, sương trắng càng đục, đục như sữa làm che mờ cả ánh trăng. Những lúc đó em cảm thấy cô đơn nên càng nhớ về những ngày êm đềm trong một thành phố thật nhiều hoa và thật thơ mộng. Càng làm em nhớ đến một buổi chiều mưa ở quán café trong con hẻm nhỏ năm nào. Cuộc sống thanh bình của hai cha con em đang bị đe dọa. Hai cha con em không thể nào chống lại đám người của nhà cầm quyền này được. Có nhiều người đàn ông vào đây xin cưới em nhưng em đều từ chối. Gần đây có một người có dáng dấp… giống anh ấy. Người thanh niên mà em quen trong một buổi chiều mưa năm nào trong quán cà phê… có anh. Người thanh niên đó thông minh, can đảm, và mạnh khỏe nhưng lại ngu muội khi chống lại quê hương và đồng bào mà cứ tưởng mình là vị anh hùng yêu nước. Em phải thành thật nói ra đây là em vẫn còn yêu anh ấy nhưng em cũng không muốn ba em phải sống cô đơn khi mà ngày xưa ba đã cho em quá nhiều thứ. Có thể anh sẽ cho là em… lãng mạn và không thực tế. Nhưng, quả thật trái tim em chỉ ghi hình ảnh của một người thôi. Người xin cưới em nói sẽ can thiệp được để nhà cầm quyền thành phố không đụng đến mãnh đất của hai cha con em. Nhưng, em đã từ chối. Em đã có cách giải quyết chuyện tình  cảm cũng như cuộc sống của ba và em.

Hôm đó ba của Trâm nhìn ra tôi. Ông vui mừng và hỏi thăm nhiều. Ngày mẹ Trâm mất vì quá đau buồn và sợ hãi do bị cái gọi là, đánh tư sản mại bản. Ông một mình một bóng với sức vóc còn khá tráng kiện, ông đã đến đây khai phá cả khu rừng để dựng lên cơ nghiệp. Ông dành tất cả tình thương cho Trâm. Trâm có hỏi tôi về bạn nhưng tôi nói từ sau ngày mất nước thì mỗi người mỗi ngã. Tôi biết tin bạn bỏ nước ra đi sau khi đã được chứng kiến những trò cướp của và trả thù dã man đối với đồng bào miền Nam nên bạn bị thất vọng.”

Người bạn đã cùng tôi trở lại quán café cũ nằm trong con hẻm mà ngày xưa tôi đã tìm được tình yêu nơi Trâm cũng tại quán này. Thật tình cờ, lúc chúng tôi vào quán thì trên màn ảnh nhỏ hiện ra những hình ảnh của các cô nữ sinh trước khi miền Nam bị mất. Kèm theo những hình ảnh đó có tiếng hát phụ họa của nữ danh ca Thanh Thúy. Người bạn tôi có lẽ vì quá xúc động nên anh nói:

– “Lần đầu tiên tôi được nghe nhạc phẩm:  Nỗi Buồn Hoa Phượng do Chị Thanh Thúy

trình bày trước năm 1975… với những hình ảnh quá đẹp quá thơ mộng của các cô nữ sinh Saigon một thời mà nay không còn nữa.”

Mắt vẫn không rời khỏi màn hình, anh nói tiếp mà không nhìn tôi:

– “Tôi là người lãng mạn – rất lãng mạn – và, tôi đang tưởng tượng hình ảnh Chị Thanh Thúy mặc chiếc áo dài tha thướt đang đứng trình bày nhạc phẩm này trước những nữ sinh của Gia Long, của Trưng Vương, của Võ Tánh Nha Trang… Các cô nữ sinh miền Nam năm xưa thường mặc áo dài và với cái nón lá trên đầu; hình ảnh đó thật đẹp, thật thơ mộng, thật sang trọng và, nó chỉ có được dưới chế độ của Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Các cô nữ sinh miền Nam năm xưa là những người luôn tôn kính Thầy, Cô, và quý trọng tình đồng môn. Ngược lại Thầy, Cô, cũng thương yêu học trò và trân trọng công việc truyền dạy để học trò trở thành người có ích cho xã hội.”

Người bạn vẫn không quên việc tôi đã góp phần làm sụy đổ một chế độ thật nhân bản và thật đẹp. Anh nói tiếp như gián tiếp kể tội tôi:

– “Chúng tôi bị mất tên Saigon làm cho chúng tôi buồn khổ. Nhưng, các Thầy, Cô, còn bị mất luôn cả tên trường nữa thì sự buồn khổ phải được nhân đôi. Tôi có đọc một bài… hình như là bút ký của cô cựu nữ sinh trường Võ Tánh Nha Trang tên là Điệp Mỹ Linh khi cô trở về thăm lại Thầy và trường cũ. Thầy Bửu Thà của cô buồn than  : “Chừ không còn là Trường Trung Học Võ-Tánh nữa mô!” Một câu than thở ngắn gọn nhưng như có những mũi kim ghim ngập vào tim Thầy.

Các cô nữ sinh bây giờ, đặc biệt là nữ sinh Hà Nội chỉ biết quý trọng tình… đồng tiền. Thỉnh thoảng tôi được nhìn thấy cảnh các cô bay lên đá song phi vào mặt, vào ngực, và xé luôn quần xé luôn áo bạn học cùng trường chì vì… “mày giựt khách của tao thì tao phải trừng phạt mày”. Nữ sinh dưới chế độ đỉnh cao trí tuệ của loài người mà anh đã từng góp công sức… phải “đi khách”  thêm mới sống nổi vì các đỉnh cao đã ăn hết không chừa một thứ gì cho người dân. Đã “đi khách” thì phải kiêm luôn làm du đãng nữa mới đúng sách vở của chế độ cộng sản. Ngoài ra Thầy, Cô của chế độ thì kiếm đủ mánh khóe để làm tiền và, man rợ hơn nữa là… đổi tình lấy điểm.”

Tôi cố kềm dòng nước mắt cho đừng chảy ra. Tôi đau đớn khi nghe anh trách tôi về những việc mà tôi đã sai lầm khi tin vào một chủ nghĩa man rợ mà cứ tưởng đó là chủ nghĩa đẹp nhất mà loài người đang tìm kiếm, trong đó có tôi.Tôi thật đau đớn khi nghe người bạn thốt ra câu nói rất bình thản:

– “Tôi là người lỗ mãng – rất lỗ mãng – nên, có những lúc thấy quê hương rồi sẽ bị đổi tên nên tôi thường chỉ vào tấm hình, chỉ vào tượng của Hồ Chí Minh và chửi : Đụ má mày Hồ Chí Minh. Chỉ vì mày mà dân tộc Việt mới ra nông nổi như ngày nay. Tôi xin lỗi anh và cũng xin anh cho phép tôi được một lần lỗ mãng với tên này, trước mặt anh. Vì tôi là tên đàn ông lỗ mãng nên thường gọi Hồ Chí Minh là thằng và thích chửi cha nó cũng như đụ mẹ nó. Nếu anh sợ thì anh cứ đứng lên và đi đi. Tôi không sợ bọn chúng đâu.”

Tôi ôm đầu và gục mặt nhìn xuống chân. Tôi thật không ngờ người bạn rất trí thức của tôi ngày nào mà nay lại có thể chửi tôi những lời tục tằn như những tên vô loại đang có mặt đầy dẫy trong xã hội. Tôi biết anh chỉ thốt ra câu này trước mặt tôi thôi. Tôi vô cùng xấu hổ và ân hận nên chỉ biết ngồi im lặng như chấp nhận những lời chửi tục tằn đó. Chúng tôi từ giã nhau để ngày hôm sau tôi sẽ đến thăm gặp lại Trâm.

***

Tôi đến quá trễ. Căn nhà to lớn với khu vườn cây ăn trái đã  bị cháy rụi hoàn toàn với hai xác người trong ngôi nhà. Và, vì hai cái xác đã hoàn toàn cháy thành than, hơn nữa cũng vì không còn thân nhân nên không có đám tang.

Tôi đứng im lặng thật lâu trước những tang thương của người tôi yêu và với dòng nước mắt tuôn chảy không ngừng. Tôi chợt hiểu câu nói của Trâm khi nói với người bạn tôi “Em đã có cách giải quyết chuyện tình  cảm cũng như cuộc sống của ba và em”. Làm sao trong cuộc sống dưới chế độ dã man này, chế độ mà tôi đã bị dối gạt; có thể tìm được một người phụ nữ có trái tim nhân hậu và sắt đá như Trâm?

Nhìn căn nhà nay đã tàn rụi, tôi nói thầm như đang nói với Trâm: “Trâm ơi, em hãy tha thứ cho anh. Anh đã quá nông nỗi mà gây ra bao đau thương và oán hận cho đồng bào. Anh hối hận quá rồi Trâm ơi. Trong tận cùng trái tim anh mãi mãi cũng chỉ có một hình ảnh duy nhất của Trâm thôi. Trâm yên nghĩ bình an và chờ anh ngày sum họp, Trâm nhé.”

Tôi vừa nhớ đến câu nói nổi tiếng của vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa mà tôi từng in truyền đơn chống đối.

Tôi bước đi với cái đầu nhìn xuống đường. Tôi đang khóc. Tôi khóc cho một mối tình rất đẹp và rất lãng mạn bị đứt đoạn khi vừa chớm nở chỉ vì tôi đã quá ngu dại tin vào những lời xảo trá của người cộng sản.

ToPa ( Hòa Lan )

Topa – Tình… Tuyệt

Ngôn ngữ Sài gòn xưa: Vay mượn từ tiếng Cờ hoa

Nguyễn Ngọc Chính
Ngôn ngữ Sài gòn xưa: Vay mượn từ tiếng Cờ hoa

Đây là bài nghiên cứu về những chữ vay mượn trong ngôn ngữ Sài Gòn xưa. chúng ta nói về tiếng Anh và bước vào một nền văn hóa đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua (1945-1975)

… Nước Mỹ còn được gọi là Hoa Kỳ hay Huê Kỳ (cờ hoa). Danh xưng này đã xuất hiện trong văn chương Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ 19 qua thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ”. Vũ Trọng Phụng trong Vỡ đê, xuất bản năm 1936, có đoạn viết : “…Dung tìm bao diêm ở ô kéo, đốt một cây đèn Hoa Kỳ lên, tắt phụt ngọn lửa ở đèn dầu xăng. Nhìn ra sân, thấy trời tối om, Dung bèn bỏ bao diêm vào túi…”.

Nguyễn Công Hoan trong Nhớ và ghi về Hà Nội giải thích  “…Đèn Hoa Kỳ là đèn của bọn Mỹ sang ta buôn dầu hoả. Muốn bán được dầu hoả, nó phải làm đèn cho người mua dầu dùng (…). Dầu của Mỹ, viết tắt là Socony (Standard Oil Company of New York), cạnh tranh với dầu của Anh viết tắt là Shell.

Bất cứ ở thành thị hay nông thôn, hễ có đại lý dầu Mỹ, là ở gần đó, có ngay đại lý dầu Anh. Và trái lại. Nhà bán dầu Mỹ có biển sơn màu vàng, nhà bán dầu Anh có biển sơn màu đỏ. Những nơi bán dầu xăng ô tô, Anh Mỹ cũng cạnh tranh như vậy. Ở Hà Nội, còn có xe dầu đi bán ở phố, cũng sơn màu của hãng… Trụ sở của Ủy ban Khoa học Kỹ thuật ở phố Trần Hưng Đạo, số 39, là trụ sở cũ của hãng dầu Shell của Anh, nên quét vôi màu đỏ. Ngày trước ta gọi là nhà dầu Shell (…).

Royal Dutch Shell (người bình dân gọi là hãng dầu “con sò”) đã thực hiện một chiến dịch “tiếp thị” ngoạn mục là “biếu không” đèn Hoa Kỳ cho người Việt vốn chỉ quen dùng dầu lạc hay nến (bạch lạp) để thắp sáng mà không quen dùng dầu hỏa. Dĩ nhiên, khi đèn Hoa Kỳ đi vào đời sống của người Việt thì cũng là lúc mọi người làm quen với việc dùng dầu hỏa để đốt đèn.

Nhãn hiệu Shell lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1891 qua logo “con sò” trên thùng dầu hỏa mà Marcus Samuel và các cộng sự chuyển đến vùng Viễn Đông. Nhất Thanh trong Đất lề quen thói (1968) giải thích thêm : “Cuối thế kỷ XIX người Tây đem dầu lửa, cũng gọi dầu hôi, vào dùng và bán (…). Hãng bán dầu đã chế ra thứ đèn nhỏ, ngọn lửa vừa bằng ngọn đèn dầu chay, đèn được cho không kèm theo mỗi thùng dầu bán ra, để làm quảng cáo; không rõ lúc ấy dầu lửa từ xứ nào nhập cảng, mà cái đèn kia được gọi là đèn Hoa-kỳ; ngày nay tại nhiều nhà nó vẫn là bạn cố tri bên cạnh cái thuốc lào”.

Như vậy, thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ” (còn gọi là đèn “hột vịt” tại miền Nam), đốt bằng dầu hỏa (còn gọi là dầu lửa hay dầu hôi), đã xuất hiện từ rất lâu, trước khi có cuộc Chiến tranh Việt Nam. Người ta còn dùng từ ngữ dầu Tây để gọi dầu hỏa khi mới du nhập vào Việt Nam. Ngày xưa, loại dầu này được đựng trong thùng sắt tây như trong bức tranh Bán dầu Tây của Henri Oger năm 1909. Loại thùng sắt này sau khi đựng dầu được tái chế thành thùng gánh nước hoặc cắt ra làm các vật dụng khác như đồ chơi cho trẻ em bằng thiếc.

Một trường hợp tiếng Anh khác đã du nhập vào Việt Nam từ lâu là trò chơi của trẻ con: “Oẳn tù tì” dịch từ “One, Two, Three”. Hầu như mọi người Việt đều đã từng ra cái búa, cái kéo hoặc cái bao sau khi đọc câu “Oẳn tù tì. Ra cái gì ? Ra cái này!”. Hai người chơi và có một trong 3 lựa chọn, cái búa thì đập cái kéo, cái kéo thì cắt cái bao và cái bao lại bao được cái búa.

Về mặt giáo dục, tiếng Anh du nhập miền Nam qua hai thời kỳ, dưới hai dạng ngôn ngữ: tiếng Anh của người Anh (British English) và tiếng Anh của người Mỹ (American English). Thời Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), tiếng Anh song song với tiếng Pháp, được chọn làm sinh ngữ chính và phụ, tùy theo sự lựa chọn của học sinh từ bậc Trung học (lớp Đệ thất trở lên). Tài liệu giảng dậy tiếng Anh vẫn lệ thuộc vào chương trình của người Pháp nên chịu ảnh hưởng của British English (còn gọi là Ăng-lê – Anglais). Một trong những sách học tiếng Anh phổ biến trong thời kỳ này là bộ L’Anglais Vivant của nhà xuất bản Hachette (Pháp).

Đệ nhị Cộng hòa (1963-1975) là thời thịnh hành của American English tại miền Nam. Điều này cũng dễ hiểu vì sự có mặt của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Vào giai đoạn này, người ta bắt đầu sử dụng những sách giáo khoa theo trường phái American English như English for Today, English 900, American Streamline… Ngôn ngữ Sài Gòn xưa chịu ảnh hưởng sâu đậm của tiếng Mỹ trong thời kỳ này và có những vay mượn rất lý thú.

OK (okay) có lẽ là một từ nổi bật nhất trong tiếng Mỹ được sử dụng rộng rãi tại miền Nam và nhiều quốc gia trên thế giới… Tại miền Nam, còn phát sinh từ ngữ OK Salem, một từ ghép thường được dùng bởi giới bình dân, ít học như gái bán ba (bar), dân xích lô hoặc trẻ đánh giày. Một hình ảnh phải nói là rất xấu trên đường phố thời đó: trẻ con thường chạy theo các chú GI (Government Issues – ám chỉ lính Mỹ vì dùng đồ chính phủ cấp phát) để chìa tay xin thuốc lá hay kẹo chewing-gum (kẹo cao su)… miệng thì OK Salem rối rít.

https://i1.wp.com/www.webewebbiers.com/vietnam/images/ednored%20photos/Gear/eq2.jpg

Thuốc hút Salem có vị bạc hà (menthol), rất thịnh hành khi lính Mỹ đến Việt Nam, họ mua từ PX (Post Exchange – một hình thức Quân tiếp vụ, chỉ bán cho quân nhân Hoa Kỳ) và tuồn hàng ra thị trường chợ đen (black market). Người Sài Gòn chê Salem là loại thuốc dành cho… phụ nữ, thuốc dành cho đàn ông “sành điệu” phải kể đến Pall Mall, Lucky Strike, Philip Morris, Camel, Winston…

Salem được giới ăn chơi Sài Thành “chiết tự” thành Sao Anh Làm Em Mệt trong khi Pall Mall được giới lính tráng biến thành cụm từ Phải Anh Là Lính, Mời Anh Lên Liền… Có điều thuốc Salem tại Mỹ được phát âm là “xê-lầm” nhưng khi sang đến Việt Nam lại biến thành “xa-lem”!

Number one cũng là một cụm từ được dùng thường xuyên tại miền Nam với ngụ ý… số dzách hay số một. Người bình dân dùng number one thay cho good chẳng hạn như trong câu tiếng Anh “bồi”: “You number one GI !”. Phản nghĩa với number one sẽ là number ten, hoặc tệ hơn nữa là “nâm-bờ ten tháo giường” được Việt hóa từ “number ten thousand” (số mười ngàn). Ai dám bảo là dân Việt không có óc khôi hài?

Cao bồi là thuật ngữ đã đi vào ngôn ngữ miền Nam khi hàng loạt các loại “phim miền Tây” (Western movies) hay còn gọi là “phim cao-bồi”, được chiếu tại các rạp xi nê. Cowboys vốn là những chàng trai chăn bò, có người hành động một cách nghĩa hiệp “trừ gian diệt bạo” nhưng cũng có những kẻ “đầu trộm đuôi cướp” trong bối cảnh Miền Tây Hoang dã (the Wild Wild West) tại Hoa Kỳ thời lập quốc. Bên cạnh các cowboys còn có sự hiện diện của sheriff với ngôi sao trên ngực, họ là những cảnh sát do dân trong thị trấn bầu lên để thực thi luật pháp.

Phim cao bồi đầu tiên tại Mỹ thuộc loại phim câm (silent film) mang tên The Great Train Robbery được sản xuất vào năm 1903. Những phim cao bồi nổi tiếng thời Sài Gòn xưa phải kể đến Gunfight at the O.K. Corral (năm 1957 với các tài tử Burt Lancaster, Kirk Douglas), Rio Bravo (1959 với John Wayne, Dean Martin, Ricky Nelson), The Misfits (1961 với Clark Gable, Marilyn Monroe, Montgomery Clift), The Good, the Bad and the Ugly (1966 với Clint Eastwood, Lee Van Cleef), Little Big Man (1970 với Dustin Hoffman, Faye Dunaway)…

Từ ngữ cao bồi sau khi du nhập vào miền Nam lại có những biến thể về ý nghĩa. Người lái xe cao bồi được hiểu là lái ẩu, ăn mặc cao bồi là diện những bộ quần áo lố lăng, khó coi…

Tôi còn nhớ, ngày xưa thường hát Học sinh hành khúc của Lê Thương với những lời ca tụng một thế hệ học sinh của tương lai đất nước :

Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau.

Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao…”

Thế nhưng bài hát này đã được ai đó, chắc là mấy cậu học trò “rắn mắt”, cải biên thành:

Học sinh cao bồi mặc áo sơ mi ca rô

Học sinh là người hủ tiếu ăn hai ba tô…”

Chả là học sinh chỉ có đồng phục quần xanh-áo trắng nên anh nào mặc áo ca rô thì bị “chụp mũ” là học sinh cao bồi. Còn cái vụ hủ tiếu mà ăn tới “hai, ba tô” thì phải “xét lại”, có thể vì “bí vận” nên câu trước “áo sơ mi ca rô” câu sau có vần “hủ tiếu ăn hai ba tô” chứ học sinh làm gì có tiền mà ăn nhiều đến thế.

Tiện đây cũng xin nhắc lại chuyện phim ảnh của Sài Gòn xưa. Để diễn tả một một sự kiện có tính cách kinh dị, người ta còn dùng từ ngữ “hít-cốc”, xuất xứ từ cái tên của đạo diễn Alfred Joseph Hitchcock, “ông vua phim kinh dị” của nền điện ảnh Hoa Kỳ với khoảng 50 bộ phim kéo dài suốt 6 thập kỷ.

Người Sài Gòn đã có dịp xem rất nhiều phim hít-cốc “toát mồ hôi lạnh” như The Man Who Knew Too Much (1956, với James Stewart và Doris Day – trong phin này Doris Day hát bài What Will Be, Will Be – Que Sera, Sera và đoạt giải Oscar âm nhạc hay nhất); Vertigo (1958, với James Stewart, Kim Novak); Psycho (1960, với Anthony Perkins, Janet Leigh); The Birds (1963, với Tippi Hedren, Rod Taylor)…

Một trong những tác động xấu của người Mỹ đến miền Nam trong cuộc chiến vừa qua là hiện tượng xì-nách ba (snack bar) mọc lên như nấm sau cơn mưa tại Sài Gòn. Khác hẳn với snack bar nguyên thủy ở Hoa Kỳ, thường được hiểu là nơi bán các loại thức ăn nhẹ (snack) như hot dogs, hamburgers, french fries, potato chips, corn chips… còn kèm theo đồ uống.

Sang đến Việt Nam, xì-nách ba trở thành nơi lui tới của những người lính Mỹ xa nhà để uống rượu giải sầu và được phục vụ bởi các cô gái bản xứ. Họ thường là gái quê, ít học và có chút nhan sắc, ăn mặc “thời thượng” với chiếc mini jupe ngắn cũn cỡn. Gái xì-nách ba, hay còn gọi là gái bán ba, thường chỉ ngồi uống nước ngọt hay nước trà với khách nên lính Mỹ gọi đó là Saigon Tea có giá từ 1 đến 2 đô la một ly. Các cô làm ở xì-nách ba không hẳn là gái điếm vì không phải cô nào cũng “đi khách”.

Cũng từ các cô gái bán ba phát sinh ra loại tiếng Anh “giả cầy” kiểu “broken English”. Người ta nghe loáng thoáng trong câu chuyện giữa các cô “đấu hót” với lính Mỹ “Hello GI, you buy me Saigon tea” (Chào anh lính, anh mua cho em ly Sài Gòn ti nhé) hay còn rùng rợn với câu “No star where”, một cụm từ trấn an mà các cô dịch thẳng từ tiếng Việt: Không sao đâu !

Lính Mỹ còn đưa vào Việt Nam một số thuật ngữ được dùng từ hồi chiến tranh Triều Tiên. Để gọi người đà bà lớn tuổi họ dùng mama-san, đàn ông thì gọi là papa-san còn con nít là baby-san. Cũng vì thế, trong câu chuyện ở snack bar người ta thường bắt gặp những từ này khi các cô gái bán ba muốn nói về gia đình mình. Mama-san còn được dùng để chỉ người điều hành snack bar, tương tự như tài-pán, người phụ trách điều động gái nhảy tại các dancing thời Pháp thuộc.

Kinh doanh xì-nách ba là một nghề hái ra tiền tại Sài Gòn bên cạnh những dịch vụ như tắm hơi (steam bath), mát-xa (massage) nhưng cũng chính các nghề này đã khiến cuộc sống trong xã hội mất đi sự lành mạnh, đưa đẩy một số phụ nữ vào con đường tội lỗi.

Tuy nhiên, người ta cũng hiểu đó là những hệ quả không thể nào tránh khỏi của một đất nước trong tình trạng chiến tranh.

Xã hội miền Nam bên cạnh nghề thu hút một số người làm việc tại các quán ba còn có một giai cấp cao hơn, họ làm việc cho các hãng thầu tư nhân của Mỹ như hãng RMK được thành lập từ đầu thập niên 60 với các công trình xây dựng xa lộ Biên Hòa, quốc lộ 4 tại Phụng Hiệp… hoặc các cơ quan trực thuộc chính phủ Hoa Kỳ như USAID.

Nói chung, họ là những người đi làm sở Mỹ với mức lương cao nhưng phải đạt một trình độ tiếng Anh khả dĩ trong công việc hàng ngày. Những người có trình độ cao hơn thì làm thông dịch viên, ngay như Trường Sinh ngữ Quân đội cũng có những khóa đào tạo thông dịch viên đồng hóa với cấp bậc trung sĩ để về phục vụ tại các tiểu khu có cố vấn Mỹ.

Năm 2011, tại Little Saigon, đã có một buổi họp mặt “Cựu nhân viên sở Mỹ” nhân dịp Giáng sinh. Gần 400 cựu nhân viên đã đến dự cuộc hội ngộ này, đa số là những người đã từng làm việc tại Tòa đại sứ, Tổng lãnh sự Mỹ, các cơ quan chuyên môn như DAO, CIA, MACV, USAID, USIS cùng những nhân viên hãng thầu RMK của tư nhân.

Cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 là thời kỳ Sài Gòn chịu ảnh hưởng từ của phong trào hippy (hippie) của Mỹ. Người ta thấy xuất hiện những từ ngữ có liên quan đến hippy như hoa hippy, hippy bụi đời, hippy choai choai, hippy yaourt… Những kiểu thời trang hippy cũng xuất hiện: váy ngắn (mini jupe, miniskirt), quần ống loe (quần chân voi), áo dài hippy thì ngắn cũn cỡn mặc chung với quần ống loe còn con trai thì tóc dài đến độ nhìn từ xa không thể nào phân biệt được giới tính…

Văn hóa hippy bao gồm từ phong cách ăn mặc “bụi” đến những tư tưởng phóng khoáng, chống lại những quy ước cứng nhắc của xã hội. Có thể nói, phong trào hippy là biến tấu của chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) theo kiểu “yêu cuồng, sống vội” với Jean Paul Sarte, Françoise Sagan từ văn hóa Pháp.

Cuối thập niên 60, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đã nở rộ tại Mỹ với khẩu hiệu “Make love not war”. Biểu tượng của phong trào hippy là hoa không lá (còn gọi là hoa hippy), đó là hình tượng của Power Flower (sức mạnh của hoa) được bắt đầu từ năm 1965 tại khu Berkerly, California. Người ta còn nhớ mãi hình ảnh một cô gái hippy đã gắn hoa trên họng súng của một quân nhân thi hành nhiệm vụ giữ trật tự trong một cuộc biểu tình phản chiến.

Ở Sài Gòn, các người đẹp gắn hoa hippy lên tóc, cài lên tai, dán lên mắt kính để làm duyên. Người ta còn vẽ hoa lên xe hơi, lên xe Honda, thậm chí đôi lúc còn thấy hoa hippy xuất hiện trên cyclo, xe ba gác, xe bò. Cô em gái tôi có một chiếc áo khi ủi đồ bị than rớt cháy thủng một lỗ, thế là cô gắn luôn một cái hoa hippy, trước là để “ngụy trang” sau là chạy theo… thời trang!

Tôi còn nhớ, Trường Sinh ngữ Quân đội vào cuối thập niên 60 có một Chuẩn úy mới từ Thủ Đức về. Anh Thịnh là một chuẩn úy trẻ, có học vị cao nhưng lại rất lè phè trong lối sống. Hằng ngày anh đến trường bằng chiếc xe hơi bỏ mui (decapotable) được trang trí bằng những bông hoa hippy. Thế là anh chuẩn úy trẻ có tên “Thịnh Hippy” kể từ đó.

Có thể nói, phong trào hippy cũng lan rộng đến người lính qua chuyện về “Thịnh Hippy” nhưng nói chung, những người lính trận mỗi khi có dịp đi phép về thành phố chắc chắn không thể chấp nhận lối sống hippy của các thanh niên, thiếu nữ tại chốn phồn hoa đô hội.

Những người hằng ngày phải đương đầu với súng đạn làm sao có thể “thông cảm” với những người hằng đêm đi “bum” tại các phòng trà, dancing. Một đằng thì phải hy sinh tính mạng để “tham chiến” còn một đằng thì lại ăn chơi để “phản chiến”…

Nguyễn Ngọc Chính

(Hồi ức một đời người)

http://thoibao.com/ngon-ngu-sai-gon-xua-vay-muon-tu-tieng-co-hoa/