Ðông người chiêm ngưỡng mô hình tàu Nhật Tảo sau diễn hành

Đằng-Giao/NV

Dân ta rủ nhau coi lại mô hình tàu HQ10 Nhật Tảo. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – Mùng Bốn, nhằm ngày 19 Tháng Hai, người ta lại tụ tập tại bãi đậu xe khu chợ ABC (góc Bolsa/Magnolia) để chiêm ngưỡng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 do một nhóm cựu quân nhân Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thực hiện để tham gia diễn hành Tết Mậu Tuất hôm Mùng Hai Tết.

Gió càng lúc càng lớn, cờ VNCH và những là cờ trang trí tàu ngạo nghễ bay. Nhiều người với tay chạm vào sườn tàu, như để gần gũi với lịch sử con tàu hơn.

“Đó, vong linh các vị về đây với con tàu đó. Quí vị cứ nói tôi dị đoan đi, nhưng tôi tin ở những điều huyền bí này. Việt Nam là một quê hương của sự linh hiển. Bao nhiêu máu xương đã đổ ra mới giữ được,” ông Trần Nguyên Hiệp, ở Santa Ana, nói.

Có người vừa ngắm mô hình, vừa cầm điện thoại gọi thêm bạn bè. Ông Lê Trọng Dũng, trong bộ quân phục nhảy dù, nói: “Tôi ở Torrence, bữa trước đã thấy cái tàu này, nhưng bữa nay cũng coi lại rồi kéo bạn bè ra cho vui. Anh em lính, có dịp gặp nhau là vui rồi.”

Đang trên đường về, có người phải quay lại để nhìn mô hình HQ 10 thêm lần nữa.

“Gia đình tôi gồm sáu người đang trên đường về Sedona, Arizona. Đi từ sáng sớm, tới xa lộ 101 North rồi, nghe bà chị nói mô hình tàu còn ở đây. Vậy là không nói, không rằng, ông xã tôi quay đầu xe, chạy hai tiếng mới về tới đây,” bà Linda Linh Trương kể. “Mấy đứa con tôi đang nóng ruột muốn về gặp bạn mà cũng không than van gì vì tụi nó cũng thích.”

Chồng bà, ông Nguyễn Văn Ba, nói: “Gia đình tôi rất ái mộ và tri ân những người dám hy sinh cho đất nước. Họ bỏ cả cuộc đời, mình mất thêm mấy tiếng thì có gì là đáng nói.”

Càng lúc, người đến coi càng đông. Người thì chụp hình, người thì nhắc lại sự hy sinh anh dũng của Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà và 75 chiến hữu tại Trường Sa năm 1974.

Cụ Lê Thế Nhiên, cư dân Temecula nói một cách nghiêm nghị: “Tôi mà có tiền thì tôi nhờ mấy ông làm mô hình này, làm lại cái khác bằng kim loại để mà lưu lại cho thế hệ sau này.”

Cụ Phạm Vũ, ở Westminster, chậm chạp chống gậy bước đến gần con tàu rồi nói: “Đây là một bằng chứng cho thấy ‘bọn nó’ có đánh mình đến đâu thì Việt Nam không bao giờ thuộc về Trung Hoa. Bọn bán nước thì cứ lấy nước mà bán chứ không thể nào bán được lòng người.”

Ông Phạm Vũ, 85 tuổi, lụm khụm đi trong gió để xem HQ10 Nhật Tảo. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Ông lớn giọng: “Tôi năm nay 85 tuổi rồi nên tôi biết chắc là cả ngàn năm sau thì giặc Tàu cũng không thể nào khuất phục được người Việt Nam.”
Người đến coi như để có dịp dạy con yêu nước.

Bà Sarah Nguyễn, cư dân Rancho Cucamonga, nói: “Chúng tôi cho con học tiếng Việt, dạy nó phải yêu nước. Hôm nay đưa con lên đây, tôi mong nó thấy cha anh nó anh dũng như thế nào. Một con tàu lớn gấp ba mô hình HQ 10 này mà dám đứng ra chặn cả một quân đội của một nước khổng lồ.”

Có người đến để tưởng nhớ thân nhân.

Bà Lê thị Kim Ánh, cư dân Anaheim, rướm nước mắt nói: “Tôi có người chú tử trận với con tàu này nên hôm nay phải lên tận nơi, như để thắp nén nhang lòng cho chú tôi.”

Ông Lê Tâm Anh vừa gật gù, vừa nói: “Phải chi có cách mà giữ mô hình này lại tới Tháng Chín kéo tàu HQ 10 này lên New York dịp Văn Hóa Quốc Tế thì hay quá. Nếu cộng đồng người Việt trên toàn quốc mà đóng góp thì mình giữ được mô hình này dễ dàng. Làm được vậy, mình có thể tổ chức kéo tàu đi khắp 50 tiểu bang cho bà con thấy tận mắt.”

Cô Lê Tín Hoa Cương, ở Boston, tấm tắc: “Hôm diễn hành Mùng Hai, tôi đã thấy rất thích mô hình này. Hôm nay được đến gần, tôi càng cảm kích công phu của những người thực hiện. Cầu mong có ông triệu phú nào mua hẳn con tàu này mà giữ luôn thì hay quá.”

Bà Nguyễn Thị Ba, cư dân Garden Grove, cho biết: “Hôm nay hai đứa con tôi nghỉ học, tôi đưa nó ra đây để nó thấy (con tàu này) rõ hơn. Ở nhà, ba nó nói về ông (Ngụy Văn) Thà hoài.”

Cô Lưu Thị Bích Quỳnh, ở Vinh, Việt Nam, nói: “Tôi ngưỡng mộ và khâm phục những vị anh hùng này từ lâu, nay có dịp đến đây coi, lòng thấy rất cảm động, dù biết đây chỉ là mô hình.”

Ông Võ Thành Phát, trưởng nhóm thực hiện mô hình, cho hay: “Là cựu Hải Quân QLVNCH, đây là một hãnh diện lớn lao cho tôi và các anh em hải quân. Tôi không ngờ mô hình này lại được nhiều người ưa thích như vậy.”

Ông Võ Thành Phát, trưởng nhóm thực hiện: “Tôi không ngờ công trình của nhóm được nhiều người thích như vậy.” (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Nhìn lại mô hình do chính tay mình và bạn bè hoàn tất, ông tâm sự: “Tôi tin chắc rằng hương hồn các anh em phù hộ cho tụi tôi làm được mô hình HQ 10 này. Gặp quá nhiều trở ngại, nhiều lúc tôi tưởng phải bỏ cuộc.”

Mô hình Hộ Tống Hạm HQ 10 Nhật Tảo dài 56 ft, rộng 12 ft, có tỉ lệ 1/3 so với kích thước thật.

Thực ra, ông muốn làm mô hình dài 86 ft nhưng thành phố Westminster không đồng ý. “Họ nói dài quá là vượt qui định nên tôi phải thu gọn lại,” ông Phát nói. “Nếu biết nhiều người ưa chuộng như vậy, chúng tôi đã làm mô hình kiên cố hơn.”

Ông Phát cho biết một trong những người giúp ông rất đắc lực là “Trung Úy Hạnh (OCS).”

Ông thêm: “Phải nói là nhờ phó Thị Trưởng Phát Bùi giúp đỡ tụi tôi rất nhiều, nhất là mượn được nhà kho chứ không thì chắc phải bó tay.”

Vẫn theo ông Phát, nếu không có gì thay đổi, nhóm ông sẽ dời mô hình về kho trước 8 giờ tối. “Tụi tôi sẽ giữ đến cuối tháng rồi phải tháo gỡ,” ông ngậm ngùi.

Càng về trưa, gió càng lớn, nhưng người đến xem vẫn càng lúc càng đông.

Lá cờ vàng ba sọc đỏ ở đuôi tàu HQ 10 vẫn phần phật bay trong gió.

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/dien-hanh-xong-nhieu-nguoi-van-luu-luyen-mo-hinh-tau-hq-10-nhat-tao/

Advertisements

BẠN ĐƯỜNG

Tâm Phương

Một sáng mùa Thu năm 1965 , Tôi đến Ga xe-lửa Sài-gòn quá sớm nên Nhà Ga chưa mở cửa. Sân Ga nhìn qua dưới lớp sương mù dày đặc chỉ lác đác vài người qua lại dưới ánh đèn vàng mờ nhạt của buổi sáng sớm mát mẻ ban mai .
Ngồi bệt dưới mái hiên ,Tôi tựa lưng vào vách tường nhắm mắt thiêm-thiếp ngủ .

Hơn hai tiếng đồng hồ sau mới thấy Quầy bán vé mở cửa , Tôi chạy đến trước nhất và hỏi Cô bán vé.:

–  Tại sao hôm nay Tàu ra miền Trung trễ vậy Cô ? Cho Tôi cái vé khứ-hồi Sài-gòn Đà-Nẵng .

Cô ta nhìn Tôi mỉm cười nói :

–  Mấy năm nay lúc nào cũng giờ này chứ có sớm trễ gì đâu  .
–  Ủa ! Lúc trước có Tàu khởi hành bốn năm giờ sáng mà .
–  Lâu lắm rồi . Bây giờ phải đợi Tàu rà mìn chạy trước, báo cáo an-toàn rồi mới được phép bán vé . Anh mua vé hạng nào ?
–  Hạng nào rẻ nhất Cô bán cho Tôi .

Cô ta giải thích :

–  Vé hạng ba  rẻ nhất, nhưng phải ngồi chung với những người buôn gánh bán bưng, và có cả mùi thối cá thịt, làm sao Anh chịu nổi hai ngày hai đêm ?

Tôi thành thật nói  :

–  Mua hạng nhì thì không có tiền ăn dọc đường, nếu biết trước thế này , Tôi đã mượn thêm tiền thằng bạn .

Rồi hỏi Cô ta :

–  Chính phủ có giảm vé cho học trò nghèo không Cô ?
–  Anh học lớp mấy, Trường nào ?
–  Đại-học khoa-học, năm thứ tư .
–  Trong danh sách này chỉ có các Trường Chuyên-nghiệp như Y-khoa, Dược-Khoa và Đại-học Sư-phạm mà thôi .

Tôi thở dài, phân vân lưỡng-lự . Cô ta nhìn Tôi có vẻ thương hại hơn là coi thường , tự động xé vé đưa cho Tôi và  mỉm cười nói :

–  Chúc Anh thượng lộ bình an, hãy đến Cửa số 3 đi Miền Trung .

Tôi trả tiền vé hạng ba rồi cầm vé bỏ vào túi áo,  gật đầu chào và nói :

–  Nếu Tôi trở về bình an, Tôi sẽ đến cám ơn Cô .

Khi bước chân lên tàu, đúng là mùi cá thịt muốn nghẹt thở .Tôi tìm chỗ trống gần cửa để có gió cho đỡ mùi hôi .
Đặt cái túi xách đựng mấy bộ áo quần xuống ghế định nằm nghỉ thì Ông già kiểm soát vé đến gần Tôi bảo :

–  Cậu đưa vé cho Tôi kiểm soát  .

Tôi đứng dậy rút tấm vé ra trao cho Ông .  Ông liếc mắt nhìn thật nhanh và nói :

–  Cậu đi ra phìa trước bốn năm toa nữa, đây là chỗ ngồi vé hạng ba .

Tôi quá vui mừng và sững sờ, thì ra Cô bán vé đã làm một điều nhân đức cho Tôi mà Cô không nói trước . Điều này làm Tôi thêm một lần thắc mắc, tại sao trong một Đất nước chiến tranh,một xã-hội loạn lạc, gian-dối lừa đảo cứ đối diện với con người hằng ngày nhưng vẫn có những người xả thân làm điều nhân nghĩa ?

Cô bán vé lương bổng có bao nhiêu ? Thế mà khi trực diện với hoàn cảnh đáng thương tâm của Tôi , Cô cũng động lòng mà ra tay nghĩa hiệp .

Nằm gối đầu lên túi áo quần cố nhớ lại nét mặt Cô bán vé ban sáng ngồi sau tấm kính  trong veo, không biết Cô  cao thấp thế nào nhưng trông rất đẹp lại có bản tánh thương người, chắc chắn Trời Đất sẽ ban cho Cô tương lai tươi sáng . Tôi cầu xin như thế cho Cô .

Tàu khởi hành đã lâu, không biết đến đâu rồi nhưng chắc là cách Sài-Gòn xa lắm . Nằm ở toa hạng nhì, có ghế bọc nệm nên đỡ đau lưng nhưng vẫn  nghe tiếng sình-sịch của máy tàu chạy bằng hơi nước . Thỉnh thoảng hú lên vài hồi còi nghe ghê rợn . Tàu chạy êm nhưng cũng cảm giác rung rinh, không thể ngủ tiếp được .

Tôi nằm suy  nghĩ về thân phận mình , nếu có tấm kiếng-soi thật lớn, Tôi sẽ đứng dậy xem dung nhan Tôi có giống tên ăn mày hay không ? Bởi vì sáng nay chỉ nói chuyện với Cô bán vé vài câu là Cô đã nhìn thấu tâm can của Tôi thuộc thành phần khố rách áo ôm rồi .
Nhớ có lần Bằng nói với Tôi khi hai đứa ngồi làm bài trong Thư-viện :

–  Mày có biết Em gái Tao nhận xét thế nào về Mày không ?
Nó nói : Trông dáng dấp Anh Nhân thì thuộc hạng trung bình thôi nhưng khi Anh mở miệng nói bất cứ điều gì cũng làm cho người đối diện phải chú ý lắng nghe .

Tôi cười nói :

–  Thì đúng rồi chứ gì nữa , Tao nói tiếng Huế trọ trẹ, nếu không chú ý nghe, làm sao hiểu được Tao nói gì . Mày có biết lần đầu bước chân đến Sài-gòn, Tao hỏi Ông Xích-lô đi về Phú-nhuận bao nhiêu tiền, hỏi cả chục lần rát cổ họng mà Ông ta vẫn không hiểu .
–  Không phải thế đâu . Ý nó nói là Mày diễn đạt ý-tưởng một cách thành thật, làm người nghe dễ xiêu lòng .
– Ồ ! Vậy thì cám ơn Em gái Mày đã cho Tao lời an ủi .
–  Nó còn nói Anh Nhân mà tán gái thì chắc là đắt Đào lắm .

Nghĩ đến đây Tôi mỉm cười một mình, vì bây giờ tuổi đã ngoài hai mươi nhưng chưa bao giờ nói với người con gái nào một lời tán tỉnh . Ngay cả những Cô biểu-lộ cảm tình với mình mà mình cũng không dám đáp lại thì làm sao có chuyện đắt Đào ? .  Nhất là mặc cảm con nhà nghèo khó, mặt khác đã tự hứa với lòng mình phải gạt ra ngoài những yêu đương vớ vẩn để sớm học xong ra đời giúp Mẹ . Nhưng cho đến bây giờ, ta xem như sắp sửa đi vào lối rẽ cuộc đời . Lần này về thăm Mẹ, ta phải ăn nói làm sao ? .
Có phải chăng vì tình hình Đất Nước, vì chiến tranh, hay Trời Đất không chiều lòng người  ?

Ta lại buồn chán nữa rồi . Không biết lúc này sức khỏe Mẹ ra sao ? . Hôm trước Anh Thảo viết thư nói rằng Anh Thanh mỗi tuần phải đem Mẹ vào Bệnh-Viện một lần để hút nước trong buồng phổi, nên Mẹ yếu lắm, đi đứng không được nữa . Rất may là Anh Thảo chỉ làm việc ở Hậu-cứ, không đi hành-quân nên có thì giờ giúp Chị Thảo săn sóc Mẹ.

Không biết tại sao số kiếp của Mẹ khi về già lại sống khổ cực bệnh hoạn như thế nầy . Thật là Trời Đất không thương xót cho Mẹ .

Nếu bây giờ Tôi có công ăn việc làm, có nhiều tiền giúp Mẹ, thì Mẹ cũng không hưởng thụ được gì trong cuộc đời còn lại với tuổi già  bệnh hoạn như thế này .

Nghĩ đến đây, nước mắt tự nhiên tuôn trào lên hai  má .

Bà Già ngồi đối diện, tay cầm Cuốn Kinh Phật và xâu chuỗi , miệng luôn lâm râm khấn nguyện và tay lần tràng hạt, nhưng thỉnh thoảng mở mắt nhìn Tôi, vì thấy Tôi có vẻ bất bình thường , khi thì cười một mình, khi thì rơi nước mắt .
Có lẽ Bà không còn kiên nhẫn theo dõi, nên chồm người ra phía trước hỏi :

–  Nè xin lỗi, Cậu có chuyện buồn hay sao mà khóc ? .

Tôi ngồi thẳng dậy trả lời :

–  Cháu đang suy nghĩ chuyện này chuyện kia để giết thì giờ với quãng đường quá dài .
–  Vậy tại sao lại khóc ?
–  Khi nghĩ đến chuyện vui thì cười, nghĩ chuyện buồn thì không cầm được nước mắt .
–  Hồi nãy nghĩ đến chuyện buồn gì mà khóc ?
–  Mẹ cháu …. Đã gần bốn năm nay, từ khi vào Sài-gòn học Đại-học, Cháu không  có cơ hội về thăm . Bây giờ anh Cháu viết thư cho hay Mẹ bệnh nặng, không thể đi đứng được nữa nên Cháu phải về .
–  Ôi  ! Người già thì không bệnh này cũng bệnh kia giống như Bác đây, uống thuốc vài hôm là khỏi thôi . Cậu buồn làm chi .
–  Dạ …, Cháu cũng cầu mong như thế . Còn Bác ? Vào Sài-gòn chơi hay có việc gì ?
–  Tôi tháng nào cũng phải mang tiền vào cho hai đứa con gái đang học ở đây. Đứa lớn năm nay ra trường Đại-học Sư-phạm, con út mới vào năm thứ nhất .
–  Bác có bao nhiêu người con ?
–  Chỉ có bốn đứa con gái, bạn bè cho rằng tôi may mắn, thời buổi này không có con trai để phải chứng kiến cảnh con bị thương-tật từ mặt-trận trở về hoặc rủi ro hơn nữa là đến Đơn-vị nhận xác con về mai-táng . Thế nhưng hơn một năm qua Tôi cũng đau lòng thương xót cho đứa con gái đầu của tôi, lấy chồng Sĩ-quan tác chiến, có hai con còn nhỏ dại nhưng Chồng chết mất xác trên chiến-trường Hạ-Lào năm rồi. Bây giờ nó đem con về ở với tôi, trông coi cửa-hàng tạp-hóa .
Đứa thứ nhì cũng lấy chồng tác chiến, nhưng tôi đã bỏ ra số tiền lớn chạy cho nó qua Cảnh-sát tháng trước rồi nên không còn lo-lắng nữa . Không biết số phận hai đứa sau này ra sao ? .
Tôi vẫn thường khuyên chúng nó nên lấy người Thương buôn hay Công-chức, nhưng tụi nó nói Trai tráng  bầy giờ hầu hết đi vào Quân-đội, tìm đâu cho ra Thương buôn hay Công chức ?
Thôi thì phó thác cho Trời Phật, cũng như Ông nhà tôi, chết đã hơn mười năm nay, một mình Tôi gồng gánh nuôi Con cho tới bây giờ . Nay con gái lớn lại rơi vào hoàn cảnh góa bụa như tôi, tội nghiệp nó quá .

Bà lấy khăn lau nước mắt rồi hỏi lại Tôi :

– Còn Cậu thì sao ? . Đã tới tuổi Động-viên chưa  ?
–  Dạ , tới rồi . Nhưng tuần rồi Cháu đã thi vào Hải-quân . hơn năm trăm người dự thi nhưng họ chỉ nhận chín chục, vài tuần nữa mới có kết quả . Không biết như thế nào nhưng nếu đậu thì Cháu phải ra Nha-trang học .
–  Cầu ơn trên cho Cậu vào được Hải-quân, dầu sao cũng an toàn hơn . Nhưng khi nào ra Nha-trang học nhớ ghé nhà tôi chơi nghe .Nhà Tôi có bốn tầng lầu ở đường Độc-Lập, tầng dưới là tiệm tạp hóa rộng rãi lắm .
– Dạ , cám ơn bác .

Tình cờ trên chuyến tàu lửa này Tôi gặp được Bà-già làm người bạn đường rất tâm đầu ý-hợp . Bà rất thích bản tánh thành thật trong lối nói chuyện của Tôi .
Bà kể cho nghe cuộc di-tản của gia-đinh Bà từ Bắc vào Nam năm 54 . Cuộc sống vất vả lúc ban đầu gầy dựng sự-nghiệp . Khi bắt đầu giàu có thì Ông kẹt tuổi Động-viên đi vào Sĩ-quan Thủ-đức .Bà gom góp tiền chạy cho Ông về phục-vụ gần nguyên-quán chẳng được bao lâu thì bị Việt-cộng pháo-kích ban đêm vào Doanh-trại, trúng ngay dãy nhà Ông đang ngủ, cháy rụi trong khoảnh khắc . Ông chết cháy không nhận dạng được mặt mũi, rất thảm thương  .
Khi Bà lấy khăn ra lau nước mắt, Tôi mở lời an-ủi  :

–  Đây là thảm cảnh chung của hầu hết gia-đinh Việt-nam trong thời buổi chiến tranh loạn lạc .  Nếu Bác hỏi bất cứ ai trên chuyến tàu này, chắc chắn Bác sẽ nghe toàn là những chuyện buồn mà không cầm được nước mắt .
– Ừ , Bác cũng nghĩ như vậy .

Tàu bắt đầu giảm tốc độ và hú còi liên tiếp, Bà già buột miệng :

–  Chắc là tới Ga Phan-thiết rồi .
–  Sao Bác biết ?
–  Tôi ngửi thấy mùi nước mắm rồi . Cậu không biết Phan-thiết nổi tiếng nước mắm à ? .  Lát nữa thế nào cũng có người mang nước mắm lên tàu bán .

Đúng như lời Bà nói, tàu vừa ngừng,hành khách chưa kịp xuống thì từng đoàn người lam lũ, tay xách nách mang , miệng rao bán hàng : Ai mua nước mắm thương hạng Phan-thiết không ? . Ai mua Cơm sườn nóng, Cơm gà chiên không ?  . Ai mua Bắp nấu, khoai nấu …Bánh tráng …..Đậu phọng …..v.   v..
Người rao bán không thiếu thứ gì … nghe điếc cả tai …

Bà già mua ba xách nước mắm, mỗi xách hai chai buộc lại với nhau có quai xách rất tiện lợi . Bà nói thông thường  mỗi chuyến đi Bà mua hai xách, lần này Bà mua thêm một xách để biếu Tôi về ăn thử . Tôi từ chối nhưng Bà bắt buộc phải lấy cho bằng được . Không những thế, Bà còn mua hai đĩa Cơm sườn nướng cho Tôi và Bà  . Tôi trả tiền, Bà nhất định không cho . Bà nói :

–  Nghe qua chuyện cuộc đời ăn học của Cậu, Tôi thực sự xúc động vô cùng . Con Tôi cũng đã nói Tôi nghe về Quán Cơm Sinh-viên, do bọn đầu-cơ bóc-lột, lấy tiền Chính-phủ rồi cho Sinh-viên ăn như cho Chó ăn, thật quá ác đức .

Tàu ngừng tại Ga đúng nửa tiếng thì bắt đầu hú còi lăn bánh, Tôi và Bà cũng vừa ăn cơm xong, Bà nói :

–  Tôi già yếu nên mỗi khi no bụng là buồn ngủ . Lát nữa nếu Tôi ngủ thì nhờ Cậu trông coi giùm hành lý, bây giờ bọn trộm cắp trên tàu nhiều lắm .
–  Dạ vâng, Bác cứ yên tâm nằm nghỉ, Cháu trông giùm cho .

Bà xếp lại mấy túi xách hành lý gọn gàng vào một góc rồi dựa lưng nằm ngủ, Tôi lấy cuốn Kiếm-hiệp Kim-Dung ra đọc, thỉnh thoảng ngước mắt nhìn bao quát, nơi Bà nằm ngủ . Trông gương mặt của Bà rất quắc-thước và nhân hậu.
Tôi nghĩ chắc chắn Bà lớn tuổi hơn Mẹ nhiều lắm . Nhưng tại sao Bà còn quá khỏe mạnh so với Mẹ mình . Có lẽ xưa kia Bà có được cuộc sống sung túc, còn Mẹ Tôi  sống đời góa-bụa khi Tôi vừa mới lên ba tuổi . Cuộc đời lam-lũ với ruộng đồng để nuôi sáu con còn nhỏ dại , đứa lớn nhất chỉ mới mười hai . Rồi khi chiến tranh lan tràn qua thôn xóm, Mẹ đem hết tài-sản Ông Ngoại chia cho để nuôi hơn một trăm Bộ-đội Việt-Minh đánh đồn Tây, ròng rã gần hai năm trời . Cho đến khi Hiệp-định Genève 1954 chia đôi đất nước, Bộ-đội rút về Bắc thì tài-sản của Mẹ cũng tan theo mây khói từ đó .
Nghĩ đến đây, Tôi không dám nghĩ tiếp nữa …

Nhìn ra bên ngoài thấy Trời đã tối từ bao giờ, tàu chạy sát ven biển nên gió thổi vào lành lạnh . Thấy Bà nằm co người lại nên Tôi cởi cái áo choàng đắp phủ lên cho Bà . Trông Bà ngủ thật ngon giấc, Tôi nói thầm trong bụng, giá như đây là Mẹ mình thì mình sung sướng biết là bao ! .Thế nhưng bất cứ Bà Mẹ nào cũng cùng chung một Ý-hướng, một tấm Lòng son-sắt : Ráng làm lụng vất-vả để nuôi con ăn học thành tài , mai sau giúp chính bản thân và giúp Quốc-gia Xã-hội .

Tôi đứng lên đi lui đi tới cho đỡ ê-ẩm mình mẩy . Gặp Ông già kiểm soát vé cho hay khuya nay đến Ga Phan-Rang và sáng sớm mai sẽ tới Nha-trang . Tôi nghĩ khi đến Nha-trang, Bà già xuống rồi Tôi sẽ không còn ai trò chuyện cho nửa đoạn đường còn lại . Chắc lúc đó Tôi sẽ ngủ thêm một giấc khá dài …..

Tàu đến Phan-Rang đã hơn nửa đêm, Bà già còn ngủ ngon nên Tôi cũng lấy túi áo quần dựa lưng nằm ngủ . Nhưng thật sự chỉ mơ mơ màng màng chứ có ngủ được gì đâu . Bởi thỉnh thoảng phải mở mắt nhìn về phía Bà già xem có trộm cắp gì không , đó là công việc Bà đã giao phó .

Ngủ chập chờn như thế cho đến lúc Hừng Đông ló dạng phía tay phải nhìn ra biển . Tàu hú lên liên tục những hồi còi báo hiệu sắp đến sân Ga trong khi vận tốc giảm dần … giảm dần rồi ngừng hẳn .
Bà già ngồi dậy vuốt tóc nhìn Tôi mỉm cười nói :

–  Đến Nha-trang rồi . Đêm qua Tôi ngủ ngon quá, chắc là nhờ chiếc áo Cậu đắp cho, hơn nữa Tôi yên tâm có Cậu nên không lo sợ trộm cắp .

Tôi vừa thu xếp bịch quần áo, nước mắm bỏ dưới ghế ngồi để lát nữa xách giúp hành lý  Bà già xuống sân Ga vừa trả lời :

–  Bác ngủ ngon nên không có ai kể chuyện đời cho Cháu nghe .
–  Yên tâm đi, chắc chắn chúng ta sẽ có nhiều dịp nữa mà . Vái Trời cho Cậu đậu Hải-quân để đến Nha-Trang học .

Chen lấn đi theo đoàn người vừa Hành khách vừa dân buôn bán, bước xuống sân Ga  là Bà nói ngay :

–  Hai đứa con gái Tôi đến đón rồi kìa .

Nhìn về hướng Bà đi tới thấy hai Cô đang chạy lại, miệng kêu lớn Mẹ ..Mẹ
Khi nhận ra Tôi xách hành lý giùm Bà già thì Họ khựng lại hỏi :

–  Ai đây Mẹ ? .
–  Đây là cậu Nhân, Sinh-viên Đại-học Sài-gòn, người đã giúp Mẹ lên xuống tàu và canh kẻ trộm cho Mẹ ngủ suốt từ Sài-gòn ra đây .

Cô Chị nhanh miệng nói :

–  Cám ơn Anh đã giúp đỡ Mẹ tôi già yếu .
–  Không có gì đâu, Tôi phải cám ơn Bà Cụ kể chuyện đời cho nghe mới phải chứ .

Bà già quay sang Cô em bảo :

–  Con đi mua một đĩa Cơm gà, ít trái cây và nước uống để trưa nay cho Cậu Nhân dùng .

Tôi chưa kịp cản ngăn thì Cô em đã nhanh chân đi rồi . Bà già nói với Cô chị :

–  Cậu Nhân đây có hoàn cảnh rất đáng thương, đã đến tuổi Động-viên, bây giờ về Đà-Nẵng thăm Mẹ bịnh trước khi vào nhập ngũ . Lát nữa về nhà Mẹ kể chi-tiết cho nghe .

Đúng lúc Cô em xách bịch nylon thức ăn trở về, còi tàu bắt đầu hú vang, hối thúc hành khách lên tàu để tiếp tục hành-trình, Tôi chỉ kịp chào từ giã ba Mẹ con và xách bịch đồ ăn chạy lên tàu chứ không kịp hỏi họ tên gì .
Bà già dặn với theo :

–  Đừng quên Niệm Phật nghe Cậu, Tôi đã tặng Cậu Tượng Phật trong túi áo .

Trở lại chỗ ngồi, Tôi lấy bịch áo quần làm gối nằm ngủ tiếp .…
Ngủ mê được vài tiếng, Tôi lại bắt đầu suy nghĩ .  Lần đầu đi tàu lửa gặp toàn là chuyện may mắn, sáng hôm qua Cô bán vé giúp, lên tàu gặp Bà già giúp, trong lòng rộn lên niềm vui khó tả . Không biết đây có phải là do phúc đức Gia-đình mình không ? . Thôi thì cũng tạm tin tưởng như thế .

Tôi thò tay vào túi áo khoác lấy ra Tượng Phật nhỏ bằng Cẩm-thạch và nhắm mắt cầu nguyện rồi lấy truyện kiếm-hiệp ra đọc để giết thì giờ  . …

San Jose cuối Hè 2008

http://www.bienkhoi.com/so-44/ban-duong.htm

H34 Trên Đồi 31

Vĩnh Chánh
Mến tặng và nhớ đến những chiến sĩ QĐ VNCH, nhất là thuộc binh chủng Nhảy Dù, đã tham dự Hành Quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào.Sau một thời gian nằm chờ ở Khe Sanh, vào đầu một ngày N tháng 2, 1971, trong đợt trực thăng vận đầu tiên, Tr. úy Phạm Đồng dẫn đầu trung đội 2 của Đại Đội 33 thuộc TĐ3ND, nhảy xuống một ngọn đồi trọc vô danh mang ám số 31 trên bản đồ, mở đầu cho cuộc Hành Quân Lam Sơn 719. Nhiệm vụ: lập đầu cầu, mở rộng vòng đai an toàn cho các đơn vị kế tiếp đến sau: Bộ Chỉ Huy TĐ3ND của Tr. tá Lê Văn Phát, gồm luôn cả Tr. tá Phan Hy Mai, LĐoàn Phó LĐ3ND cùng ĐĐ 30 chỉ huy công vụ, Pháo Đội B3 của Đ. úy. Nguyễn Văn Đương, và cuối cùng là BCH của Lữ Đoàn 3ND với Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ Đoàn Trưởng với ban tham mưu. Mấy ngày đầu tiên, tình hình êm ru, nhưng qua mấy ngày sau, địch bắt đầu pháo kích lai rai, không chính xác, dò dẫm.


***Hình chụp cuối năm 1970 của Tr. úy Phạm Đồng, trung đội trưởng #2 /ĐĐ 33 / TĐ3ND

Trước khi được không vận ra Khe Sanh, TĐ3ND của Tr. úy Đồng vừa xong cuộc hành quân ở Tây Ninh. Thời gian nghỉ ngơi ở hậu cứ chưa được bao lâu thì đơn vị anh lại có mặt nơi này. Từ ngày Đồng tình nguyện vào ND cuối tháng 9, 1968, trong nhóm 8 Chuẩn úy cùng khoá Thủ Đức bổ sung vào TĐ3ND, nay chỉ còn một mình anh. Đồng cầm trung đội 2 của đại đội 33 từ lúc đầu quân vào TĐ3ND cho đến giờ phút này, đã xuôi ngược từ Nam ra Bắc, rồi lại Đông sang Tây, đã qua bao nhiêu miền đất nước, đã trăn trở trước sự hoang tàn của quê hương và thấm thía bụi đường của nổi niềm người chinh nhân.

Đôi khi Đồng muốn mơ về một ngày yên bình trở lại nhưng vẫn không thể hiểu nên khởi điểm giấc mơ từ nơi đâu – Ở ngay trên chiến trường vừa kịp tan khói súng? Ở trên làng mạc đổ nát còn mang tàn tích của chiến tranh? Hay ở ngay Huế của Đồng, nơi mà anh rời sau Mậu Thân 68 với những ám ảnh kinh hoàng chưa tan, những vành khăn tang chưa nguôi, những đau thương mất mát chết lịm trong tim? Giờ đây, với 25 năm tuổi đời và gần 3 năm kinh nghiệm chiến trường, Đồng cùng 26 mống của trung đội 2 của anh đang có mặt tại Đồi 31 này, nào là Thượng sĩ trung đội phó Đàng, các hạ sĩ quan Biên, Sâm, Muôn, Yến..và các binh sĩ Thông, Chính, Kiều, Chí, Sỹ, Nam, Phi, Quá, Dũng, Vân, Hải, Mão, Ngạt, Xuất, Thuận, Vượng, Kỳ, Phú, Yên… Trong cương vị chỉ huy một đơn vị tác chiến nhỏ nhoi, anh thầm đoán cuộc hành quân này sẽ rất gay go và tự hỏi rồi đây, những ai trong đám người này sẽ để thân xác lại nơi đây và những ai sẽ còn cơ hội trở về lại bên kia biên giới?!

Trong khoảng thời gian ấy, ở một nơi xa hơn, có một Th. Úy Không Quân Bùi Tá Khánh đóng quân tại sân bay Đà Nẳng. Là một hoa tiêu trực thăng, anh phục vụ phi đoàn 219 Long Mã, Không Đoàn 51 của Sư Đoàn 1 Không Quân. Phi đoàn 219, hậu thân của Biệt Đoàn 83 trước đây khi còn trực thuộc vào Phòng 7 Nha Kỷ Thuật của Bộ Tổng Tham Mưu, có trách nhiệm thả người, đưa đón và yểm trợ những toán biệt kích Lôi Hổ, những đơn vị tiền thám đi sâu vào lòng địch, tận trong các mật khu biên giới hay ngay cả phía Bắc vĩ tuyến, để lấy tin tức, gây rối và phá hoại các căn cứ hậu cần của địch. Vì vậy, mọi phi cơ của phi đoàn 219, và nhất là loại trực thăng H34, đều sơn một màu xanh đen, không mang phù hiệu hay bất cứ một dấu vết nào để giữ sự an toàn và bí mật.

Th. Úy KQ Khánh vốn gốc Hà Nội, di cư vào Nam sau 1954 cùng với gia đình. Anh gia nhập Không Quân sau khi hoàn tất trung học và được gởi đi huấn luyện phi hành trực thăng tại Hoa Kỳ. Một tuần sau khi tốt nghiệp và trở về lại Viện Nam, Khánh trình diện Bộ Tư Lệnh Không Quân và được đưa về phục vụ Phi Đoàn 219 từ cuối năm 1969. Như bao nhiêu bạn KQ khác thường xuyên đảm nhận những phi vụ nguy hiểm, anh sớm có khái niệm về chiến tranh rất rỏ ràng, và luôn cố gắng sống đúng với tinh thần làm trai thời loạn. Với ánh mắt cương nghị, vẻ mặt khí khái của một đấng nam nhi sớm si mê sự rộng lớn của không gian và màu xanh thẳm của bầu trời, cao ráo trong bộ đồ phi hành màu đen, anh bình thản đi vào cuộc chiến bảo vệ quê hương với tấm lòng tràn đầy nhiệt huyết của một thanh niên khi tổ quốc lâm nguy. Vào tháng 2, 1971, phi đoàn 219 của anh ứng chiến cho cuộc Hành Quân Lam Sơn 719, anh vừa tròn 22 tuổi, và là phi công phụ trong chiếc trực thăng H34.

Những ngày đầu và cả tuần sau khi đặt chân lên Đồi 31, trung đội 2 của Đồng lo đào hầm, cũng cố vị trí chiến đấu cho đơn vị của mình, và cùng với Đại Đội 33 đảm nhận bảo vệ an ninh, phòng thủ vòng đai lớn cho Đồi 31, bảo vệ bãi đáp trực thăng trên yên ngựa cho những chuyến chuyên chở liên tục của các trực thăng Chinook lặc lè đạn pháo, rồi những khẩu pháo 105 cùng các pháo thủ, xe ủi đất hoàn tất các hầm kiên cố chỉ huy cho Bộ Chỉ Huy LĐ3ND, cho Bộ Chỉ Huy TĐ3ND và cho 6 vị trí đặt súng 105 ly của pháo đội B3.

Ngày N + 9, sau khi bàn giao nhiệm vụ bảo vệ và phòng thủ Đồi 31 lại cho ĐĐ 32 của Đ. Úy Thiếp cùng với Đại Đội Công Vụ 30 của Đ. Úy Toán, trung đội 2 của Đồng cùng ĐĐ 33 dưới quyền chỉ huy của Đ. Úy Lê Thành Bôn, được điều động bung ra 2-3 cây số bên ngoài về hướng Bắc của Đồi 31. Trong khi ấy, ĐĐ 31 của Đ. Úy Ngô Tùng Châu bung về hướng Đông và ĐĐ 34 của Đ. Úy Trương Văn Vân về phía Nam. Nhiệm vụ: lục soát, tảo thanh, sẳn sàng giao tranh và đánh phá lực lượng địch. Trước khi rời Đồi 31, Đồng e dè cân nhắc nhiệm vụ của từng binh sĩ, từng toán khinh binh, xung kích, yểm trợ hay hỏa lực, để có sự hữu hiệu tối đa của từng cây súng M16 cá nhân hay M60 cộng đồng, phóng lựu M79 hay hỏa tiển cầm tay M72 khi cần xung phong, lúc cần bổ xung cho nhau, xé nhỏ các đội hình, coi lại trang bị… Và chính anh sẽ dẫn đầu một trong 2 toán khinh binh đi mở đường.

“Đang chông chênh bên triền núi cách trục chính chừng năm mươi mét, khoảng cách đủ tầm quan sát trên địa thế hẹp và rậm rạp cỏ tranh, sim rừng:

…Ầmmmm… toctoctoc…toctoctoc…toctoctoc

Ngay trên nếp gấp khúc của địa hình, chúng tôi chạm địch ở hướng chính, loạt đạn đầu tiên của họ là một sự phối hợp nhịp nhàng của B40 và AK47, sau đó là âm thanh ồm ồm của trọng liên, trên máy tôi nghe On báo cáo đã có thương vong. Biên và Chính vẫy tôi từ sau một ụ mối, khom người chạy lên theo hướng tay của Chính tôi thấy cụm hỏa lực của họ, khẩu 12ly8 đặt ngay ngã ba của hai dãy đồi gặp nhau khống chế trọn vẹn hướng tiến quân của chúng tôi trên yên ngựa hẹp. Trung đội ba hứng toàn bộ áp lực đó và rất khó xoay sở. Tôi báo lên đại đội vị trí của chúng tôi, tình hình địch, nhận định và đề nghị của mình về trận thế. Họ chưa phát hiện chúng tôi ở bên cánh trái, không có lằn đạn nào quạt xuống sườn đồi, toàn bộ hỏa lực của một chốt mạnh, bắn xối xả dọc theo lườn xâu táo và sườn phải, nơi Trung đội một và ba cũng đang bắn trả dữ dội, tôi ra thủ hiệu cho toàn trung đội nằm im bất động, tránh sự phát hiện của địch. Quá gần để xin sự yểm trợ của phi pháo, và cũng không thể rút lui để dãn khoảng cách, khi mà các chiến sĩ khinh binh của trung đội ba đang nằm trọn trong tầm khống chế của hỏa lực đối phương. Đại đội trưởng quyết định chuyển hướng tấn công chính qua trung đội tôi, hai trung đội còn lại tung hết hỏa lực, thu hút sự chú ý của địch.

Trao đổi chớp nhoáng với Biên, Chính, Muôn và Thượng sĩ Đàng, chúng tôi đồng loạt khai hỏa tám trái hỏa tiễn M72 và cắp súng lao lên. Muôn dũng mãnh như một con hổ dữ, cây M60 trên tay anh đẩy dồn địch vào thế bất ngờ hoảng hốt sau một chùm tiếng nổ uy hiếp của M72, địch quay ngoắt nòng 12ly8 sang trái kết hợp với cây RPD cố gắng kháng cự, chúng tôi lại gặp hên, có lẽ họ không tiên liệu được trên sườn dốc dựng đứng lại có một cánh quân đang hành tiến một cách kín đáo, họ đã để trống hỏa lực, và có lẽ các xạ thủ này quen bắn máy bay hơn là đối kháng với bộ binh, nên đến khi Muôn xông lên gần tới, nòng 12 ly8 quay vội vàng, lại phải chúc mũi bắn xuống, không đạt được hiệu quả tác xạ. Họ cũng can đảm không kém khi phải đứng lên trước làn đạn điêu luyện của Muôn và tốc độ xung phong dũng mãnh của các chiến sĩ khinh binh với sự dẫn dắt của Biên, Chính, Thông, Chí. Cây trung liên nồi RPD cũng lâm vào tình thế tương tự. Họ không còn cơ hội để sửa chữa sai lầm tai hại đó. M60 trên tay Muôn đốn gục tổ xạ thủ, trọng liên của địch, cùng lúc Chính thẩy chính xác một trái lựu đạn M67 vào ngay ổ RPD, cơ phận địch sống sót nhốn nháo rút lui gặp ngay sự truy kích của Trung đội ba đang “ thừa thắng xông lên”, chốt đã bị bứng gọn, Trung đội ba lại được dương về phía trước áng ngữ mặt tiền trận địa và chúng tôi tổ chức phòng thủ tạm thời, để phòng địch phản kích, để tải thương và chuyển chiến lợi phẩm về căn cứ.

Không có chiến thắng nào lại không đổi bằng máu xương người lính, và vòng nguyệt quế nào lại không man mác chia ly, Biên bế Chí trên tay ràn rụa nước mắt, máu anh thấm đẫm áo hai người, Chí ngã xuống khi đang cùng với Thông cố chiêu hàng người lính địch bị thương, anh ta ôm ghì khẩu AK trong hầm chiến đấu, Chí chĩa súng thủ thế và ra lệnh:

– Bỏ súng xuống, tôi sẽ đưa anh lên băng bó!

Đáp lại vòng tay đầy tình người của Chí là một băng đạn AK hất ngược anh trở lại. Chí chết khi hai mắt vẫn còn mở lớn. Nếu muốn giết anh ta trong cơn thất thế, Chí đã làm việc đó dễ dàng, hà cớ gì lại phải phơi người trước mũi súng, Chí ơi, Chí làm sao hiểu được tại sao những chiến binh bên kia lại quá nhiều căm thù?”

Tôi buồn bã nhìn đống chiến lợi phẩm, Biên thẩy xuống trước mặt tôi cây 12ly8 bên cạnh khẩu súng cối 82 và RPD,B40…ánh mắt anh thoáng nhiều trách móc, Chí là em kết nghĩa của Biên, đã nhiều lần Biên nói với tôi để Chí đoạn hậu, hay thử M60 cũng được, hai anh em tôi một đứa khinh binh được rồi, tôi lại rất ngại phải xáo trộn đội hình khi phải đưa người này lên đưa người kia xuống, đã đành không phải ở Tiểu đội hỏa lực là an toàn hơn ở Tiểu đội Khinh Binh, tỷ lệ thương vong ở hai vị trí này khi lâm trận là một chín một mười, có khi địch tập trung hỏa lực khống chế cây M60 nếu họ phát hiện, thì cũng gian nguy không kém, và hai Tiểu đội hỏa lực cũng phải xung phong theo đội hình Trung đội khi tấn công, chứ không phải chỉ thuần túy yểm trợ. Tấm lòng người anh của Biên muốn thu xếp cho người em một chỗ ít nguy hiểm hơn mình đã không được toại nguyện, Chí đã vĩnh viển ra đi, sự hi sinh của anh khắng định tính cách của người lính bên này chiến tuyến. Chúng tôi chiến đấu không hận thù và cuộc chiến đấu của chúng tôi mang đầy nhân tính. (1)

Theo lệnh của Phòng 3 Quân Đoàn 1, Phi Đoàn 219 được đặt dưới sự trưng dụng của Sư Đoàn ND trong suốt cuộc hành quân Lam Sơn 719. Ngoài những phi vụ thường lệ hàng ngày, nay Phi Đoàn 219 đảm nhiệm thêm việc yểm trợ trực tiếp cho Nhảy Dù, từ các phi vụ đặc biệt nhảy toán cho đến các phi vụ tiếp tế lương thực súng đạn hoặc tản thương cho các đơn vị tác chiến ND hành quân bên ngoài các căn cứ hỏa lực 29, 30 và 31. Do đó, mỗi ngày Phi Đoàn 219 tăng phái một phi đội gồm 2 hoặc 3 chiếc H34 nằm trực chiến ban ngày tại Khe Sanh, nơi đặt bản doanh tiền phương của Sư Đoàn ND, và cứ đến chiều thì bay về nghỉ đêm tại Phú Bài. Có lẻ “hot” nhất vẫn là các phi vụ tản thương các binh sĩ ND bị thương khi hành quân lục soát xung quanh các căn cứ hỏa lực và đụng độ với cọng quân. Vì chuyện bay tiếp tế hoặc tải thương này vẫn xẩy ra hầu như hàng ngày, nên Khánh coi như pha, bình thảng đi vào những vòm trời đầy nguy hiểm. Phi đội của anh cứ luân phiên trực chiến ở Khe Sanh/ Phú Bài 4 ngày rồi trở về Đà Nẳng. (2)


***Hình chụp giữa năm 1970 của Th. úy phi hành Bùi Tá Khánh / H34 / Phi Đoàn 219

Ngay sau lần chạm địch đầu tiên vào buổi sáng, ĐĐ 33 tiếp tục tiến bước, vượt qua tuyến đầu của địch, đến mục tiêu kế tiếp, trong thế các trung đội sẳn sàng yểm trợ cho nhau. Cùng lúc, hàng loạt đạn pháo từ pháo đội B3 trên Đồi 31 liên tục nhả đạn bắn vào ngọn đồi trước mặt.

“Đợt pháo kích theo lời yêu cầu vừa chấm dứt, hai chiếc HU1A của KQVNCH nối đuôi bay quành trở lại, phối hợp nhau gởi xuống mục tiêu những quả rocket dài ngoằn xé gió. Chúng tôi biết mình phải làm gì sau đợt không kích đó.Tôi đọc thấy thoáng âu lo trên khuôn mặt từng chiến sĩ. Kể cả tôi, cũng không thể trốn tránh thực tại hết sức căng thẳng của trận chiến. Vừa vượt qua cái chết buổi sáng đã phân vân với số mệnh buổi trưa. Ai đã đi qua chiến tranh, đã đánh chừng mươi trận mà vẫn còn sống để chờ đợi trận đánh thứ mười một chưa biết mất còn, mới chia xẻ được cái cảm giác hồi hộp, nặng nề của người lính trước trận đánh. Huống chi quanh đây, không kể hai tân binh mới ra trận lần đầu chưa biết hòn tên mũi đạn, từ quan tới lính, người nào cũng dự vài ba chục trận, vài ba chục lần quẳng cái bản chất thằng người tham sanh úy tử xuống đất, ôm súng lao lên theo tiếng thét xung phong của đồng đội. Có muốn hèn cũng không thể hèn được, có muốn dừng lại cũng không thể dừng lại được. Cái cảm giác xung trận nó vô cùng kỳ lạ, nó cuốn hút người ta lao vào bất kể tới đâu… Cứ phỉnh phờ cái lo lắng, cứ giả vờ hồn nhiên cười cợt, mà sao trong những đôi mắt kia chợt tối nỗi bâng khuâng.

Có phải Biên đang nghĩ đến đàn con quây quần trong ánh đèn vàng vọt, căn nhà nhỏ trong trong trại gia binh có ai đang thao thức nguyện cầu, có phải Muôn đang nhớ về người tình chơn chất, lời hẹn thề chưa ngút một tuần trăng. Có phải Chính đang rối bời mẹ già tóc bạc, phận làm con biền biệt chốn biên cương. Ô kìa ông Đàng! Mười hai năm quân ngũ đã hằn lên vết tích, tuổi thanh xuân qua trên khổ lụy quê nhà có làm anh ít nói, hay đang lặng im trên chính về nỗi ước mơ còn xa vời vợi, mảnh vườn quê chim hót nắng mai. Và Sĩ, Thông, và Kiều, và…hai mươi sáu cái nón sắt rằn ri màu lá, che kín hai mươi sáu cõi riêng tư. Đã điên đâu mà vui mừng hăng hái, có phải là đồ tể đâu mà say máu bắn giết, chẳng qua, họ đã dấy động can qua thì chúng tôi phải chiến đấu để tự vệ, để dành cái quyền sống làm người theo cách đã chọn lựa…

Ngay khi các toán trinh sát xuất phát chừng một trăm mét, trận địa đang im lắng bỗng rộ lên hàng loạt tiếng súng cối và tiếng đạn đi xé gió, khoảng năm hoặc sáu khẩu 82 ly của địch xa về hướng Tây, tác xạ tập trung vào vị trí đại đội, dù không chính xác cho lắm, nhưng pháo kích kiểu vãi đậu như thế này, quả thật cũng làm chúng tôi lúng túng. Phía trước mặt, hỏa lực bắn thẳng của họ cũng bắt đầu lên tiếng, hòng chặn đứng mũi tiền kích đang cố gắng bám vị trí.

Trong khi chúng tôi chật vật vì súng cối địch, thì vị trí của họ cũng tả tơi dưới hàng loạt đạn pháo của B3 từ Đồi 31 và từ Pháo đội C3 của Căn cứ hoả lực ở Đồi 30 trong tầm hiệu quả, đang bắn yểm trợ.

– Lỡ rồi! Chơi luôn Một Hai Ba!

– Một nhận!

– Hai nhận!

– Ba nhận!

– Tụi nó ở dưới khe suối cạn và đỉnh đồi bên kia!

– Chờ thằng Phở bắc nấu xong tô nào chơi tô đó, Phú Bổn lên với Phú Ông, Một và Hai theo luôn trái phải!

– Hai nhận!

Biên đã bắt tay được với Chính, Thông, Sỹ tôi vắn tắt lịnh tấn công sau đợt pháo chuyển làn tác xạ, cần phải nhanh chóng giải quyết trận địa nếu không muốn làm bia cho địch pháo kích.

Đúng lúc những loạt đại bác dồn lên sườn đồi bên kia, chúng tôi đánh ép xuống thung lũng với nòng súng cắm lưỡi lê sẵn sàng cận chiến.Từ triền dốc thoai thoải, Biên và Chính phối hợp nhau dẫn đồng đội tiến lên từng điểm ẩn nấp dưới làn đạn địch, Thông băng thật nhanh lên phía trước, bắn ghìm sát mặt đất vừa dứt một băng đạn lá đã tấp vào được một gốc cây ven bìa suối, ống quần rách toạc vì vướng gai buổi sáng chưa kịp thay, lòng thong miếng vải phất lên phất xuống không đủ che cái mông ốm nhách, xám xịt, anh chàng quay lại toét miệng định cười, đã vội nằm hụp xuống, tay giữ nón sắt, co gọn người tránh làn đạn vuốt cỏ cây ngã rạp bên cạnh, anh rút chốt trái lựu đạn ném về phía trước, bắn rẽ quạt cho Chính, Sỹ và Tiểu đội Khinh binh tiến lên hàng ngang, bám được bìa rừng là nắm chắc tám mươi phần trăm chiến thắng, là hạn chế tối đa thương vong. Và địch cũng hiểu như vậy nên họ tổ chức phản kích dữ dội, liệu thế đơn vị chốt tại bờ suối không chống đở nỗi, khoảng chừng một Trung Đội địch từ trên đỉnh đồi tràn xuống cứu viện, quyết không cho chúng tôi vượt qua.

Đến đây tôi chợt hiểu, chúng tôi đã được chỉ huy và theo dõi chu đáo từ Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, Lữ Đoàn, khi cánh quân địch nhớn nhác tràn xuống chưa tới lưng chừng đồi đã phải khựng lại rồi tan tác dưới từng loạt pháo nổ chụp thần sầu của B3. Từng mảnh người tung lên rồi đổ gục. Ha ha chưa biết ai chơi “Công đồn đã viện” thiện nghệ hơn ai đấy nghe ông bạn. Liêu Thăng, Mộc Thạnh đã bị chém đầu thì Vương Thông còn hơi sức đâu mà đấm đá. Hàng ngũ địch hoảng loạn, hỏa lực của họ tức khắc rối bời không che phủ nhau được như trước.

Đúng lúc đó, Đại đội phát lệnh xung phong toàn đơn vị.

– Xung phong!

Tiếng thét rền vang vách núi, đoàn quân băng băng trên triền dốc lao xuống, vượt qua lửa đạn, vượt lên chông gai xông tới, tiếng quân reo át tiếng đạn thù. Xung phong! Xung phong, đạn xủi mặt đất, đạn xuyên tàng lá, đạn nổ bùng lửa đỏ, đan veo véo bên tai, người trước ngã người sau xông tới, khản cổ theo tiếng reo đồng đội, tim đập muốn vỡ tung lồng ngực. Hây Sỹ, sao nằm đó? Ê Kiều! Mày cũng nằm đó sao? Tụi nó chết rồi! Hây! Phi? Bị thương rồi hả? Đưa máy đây! Xung phong. Xung phong. Tôi quàng vội chiếc máy truyền tin, dặn Phi nằm đó, Trung đội 4 sẽ lên kéo về. Hai nghe Hai nghe! Lên luôn nhận năm, được 3 hầm có cả cối! Nằm xuống Trung Úy! Chính húc luôn cái nón sắt vào mặt xô tôi ngã rạp đúng lúc làn đạn cắt lá rụng tả tơi trước mặt, không hề gì, cái hầm này nằm dưới đám rễ cây, nảy giờ chơi đủ…

Vậy thôi, chiến tranh không còn chỗ cho sự khoan nhượng khi mà giọt máu của Chí còn nóng hổi trên trận địa, không còn thời gian để lưỡng lự khi cái chết và sự sống gần nhau trong gang tấc. Thêm Sỹ và Kiều, trong một ngày mất luôn 3 mạng người không thể thay thế, không thể so sánh khi đã cùng nhau miệt mài trên những nẻo đường đất nước. Các sĩ quan ở Tổng cục chiến tranh chính trị và Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu có thể xoa tay hài lòng trước sự chênh lệch về tỷ số thương vong của hai phía, đếm xác địch và ta để thống kê chiến thắng. Vâng, mười hai xác địch tại trận địa, vắt vẻo trên miệng hầm trong một tuyệt vọng thoát thân, chôn vùi trong hố chiến đấu bị bắn sập trong cố gắng kháng cự, tan xác dưới hố đạn pháo binh…So với hai Chiến sĩ ta tử trận. Tỷ lệ chênh lệch lớn lao đó cũng không thể xoa dịu nỗi đớn đau của người lính bên xác đồng đội. Bên những khuôn mặt mới đây còn nói nói cười cười, còn chia nhau mẩu thuốc quân tiếp vụ cong queo trong túi áo…hay thậm chí mới đây còn…đm thằng này thằng nọ.

Tôi giở poncho nhìn mặt Kiều và Sỹ lần cuối, máu người chết trận sủng thâm màu áo lính, hai người lãnh nguyên mấy mảnh cối 82 nổ trên tán cây, chụp xuống khẩu đại liên đang mải mê nhả đạn…

Chúng tôi phải bố trí lại hỏa lực khi cây đại liên của Kiều đã bị hỏng chưa kịp thay thế. Trung đội 1 không có thương vong, Trung đội 3 lại dính thêm một chết, hai bị thương, vị chi từ sáng tới giờ, hắn ba, tôi ba, đổi lại trên hai mươi xác địch với từng đó súng ống, chưa kể súng cộng đồng. (1)

Cho lệnh trung đội nằm dưỡng tại chổ 15 phút, Đồng lo tản thương 2 người lính bị thương của mình cùng 3 thi thể Chí, Kiều và Sỹ cho trung đội 4 chuyễn về phía sau. Cổ họng khô gắt khiến hơi thuốc hít vào trở nên đắng nghét, Đồng thả điếu thuốc xuống đất và dí dôi giày trận lên tàn thuốc, rồi cầm bi đông nước hớp vài hớp nhỏ cầm chừng. Giờ đây, trung đội 2 còn 23 người, kể cả Đồng, bố trí rải rác sau các thân cây xung quanh anh.

“Hai giờ chiều, mặt trời đã ngả về Tây, cơn nắng chói khô khốc chợt rộ lên luồng gió nóng, ngay sau khi căn hầm cuối cùng tại bờ suối bị Thông và Muôn tiêu diệt, Trung đội cấp tốc tiến lên phía trước, di chuyển thật nhanh trên một địa hình trống trải dưới hỏa lực vỗ mặt của địch, tuyến tấn công phải mở rộng hai cánh. Chúng tôi cũng chẳng phải Tề thiên Đại Thánh hay mình đồng da sắt gì để khơi khơi xông thẳng vào lửa đạn, từng khoảng cách rút ngắn giữa địch và ta cũng đồng nghĩa với từng phút giây bọt bèo sống sót. Là từng giây phóng mình thật nhanh từ điểm ẩn nấp này lao qua điểm ẩn nấp khác, gò mối, gốc cây, bụi cỏ, tảng đá, hay thậm chí chỉ là một nhánh lá mong manh. Đạn địch xủi dưới gót chân, đạn vỡ tung vỏ cây trước mặt…Là bắn, là bắn, bắn hết khả năng của vũ khí, để tiếng đạn mình át tiếng súng thù, để chỉ còn bên tai tiếng nổ dòn của M16, tiếng gà nòi ấm cũng của M60…Cọc cùm…cọc cùm M79 gõ nhịp. Lưng chừng đồi cỏ cây ngã rạp, vỏn vẹn chừng một trăm mét nữa là xong, là phận ai nấy biết, nhưng không tài nào, tiến lên được nữa. Chúng tôi bị chận đứng ngay trên vị trí một Trung đội của họ bị tiêu diệt trước đó, xác người rải rác chung quanh những vết nổ của đạn pháo.

Bây giờ đến lượt pháo địch nổ giữa chúng tôi, cộng với hỏa lực dày đặc từ đỉnh đồi bắn xuống không ngóc đầu lên được chứ đừng nói nhổm người dậy. Tôi rủa thầm, ở đâu ra mà nhiểu 12ly8 bắn rán mặt, đụng sơ sơ từ sáng tới giờ, cả 3 tuyến đều có phòng không. Gió lại trổi mạnh, cũng may, nhờ thế mà những trái 82 ly bị đẩy dạt khỏi mục tiêu, dù không xa, nhưng cũng hạn chế được ít nhiều thiệt hại, cũng có thể họ chưa tính hết sức gió trong yếu tố tác xạ. Giờ này mà có vài phi tuần gõ xuống đỉnh đồi chừng chục trái năm trăm pounds, bới tung hầm hố nó lên thì đỡ vất vả biết bao?

-Một, Hai, Ba đây Phú Bổn! Một nghe đích thân! Hai nghe đích thân! Ba nghe đích thân!

-Cho cóc nhái sẵn sàng! Các Đích thân gặp Phú Bổn ngay.

Tôi ngạc nhiên, đang đánh chác thế này co về thủ sao được trên một vị trí quá nguy hiểm mà ổng lại ra lệnh sẵn sàng mìn và chiếu sáng? Phân vân thì phân vân, cũng phải tìm gặp ổng rồi mới tính. Giao máy cho Thượng sĩ Đàng chỉ huy trung đội, tôi lần mò trở lại chừng hai mươi mét. Cả bộ chỉ huy đại đội mặt mày đen thui vì khói, than, chẳng hơn gì chúng tôi.

-Vắn tắt cho các anh rõ! Lệnh Sư đoàn phải nuốt xong cục xương này mới được nghỉ. Tập trung mìn chiếu sáng lên phía trước, theo lệnh trên máy, đồng loạt ném và xung phong ngay, các anh thấy gió chuyển hướng mạnh về phái tụi nó chứ?

-Đốt tụi nó?

-Phải làm nhanh, gió đổi hướng lại chạy không kịp đó! Rõ chưa?

-Về làm nhanh!

Trước khi quay về Trung đội, tôi liếc nhìn cuộn poncho gói xác, đưa mắt hỏi Thượng sĩ nhất Xá: Ai đó? Trung sĩ Tâm, Pháo binh Đề lô.

Lẩm nhẩm một lời cầu nguyện vô bổ, chết chi trẻ quá Tâm ơi! Tôi băng mình trở lại tuyến chiến đấu, chuyển đạt nhanh chóng mệnh lệnh tác chiến.

-Một, Hai, Ba, đây Phú Bổn! Xong chưa? Một xong! Hai xong! Ba xong!

-Đánh!

Tôi phất tay cho Trung đội đồng loạt ném hết cơ số mìn chiếu sáng về phía trước. Tách tách tách…xòe xòe…tách tách xòe xòe lốp bốp lốp bốp, ngọn lửa lùng bùng lên dữ dội rồi lan nhanh về phía trước, râu tóc mặt mày khét lẹt. Thế thượng phong ngàn năm một thuở, lửa lửa, lửa cuộn lên theo tiếng quân reo, lửa tràn lên theo cỏ tranh dòn dã, khói cuồn cuộn mịt mù, khói làm màn che cho quân ta tiến tới, bốc trong bão lửa xông lên. Lưỡi lửa liếm một vòng cung hình bán nguyệt, thắt gọn vị trí địch trong trận hỏa công dữ dội, những căn hầm được ngụy trang kỹ lưỡng bằng cỏ tranh tiệp màu bỗng chốc trở thành mồi ngon cho ngọn lửa, hầm đạn nổ tung tóe, cả ngọn đồi nhanh chóng ngập tràn biển lửa, địch quýnh quáng tung hầm tháo chạy, có tên lưng còn bốc khói. Trận Xích Bích là đây! Các chiến sĩ khinh binh tràn lên đỉnh đồi chiếm lĩnh trận địa, thanh toán nhanh chóng những ổ kháng cự yếu ớt, địch làm sao chống lại nổi khi trước mặt là lửa táp, là khói thuốc theo luồng gió ngược, lùa vào mồm vào mũi, tối tăm mặt mày chưa kịp dụi mắt ngáp gió lấy hơi đã gục ngã trước lưới đạn càn quét quyết liệt của quân ta đang tràn lên theo lửa cuốn. Đại đội khai thác tức khắc hiệu quả chiến thắng, thúc cả ba Trung đội đánh bung sườn đồi, đuổi địch chạy có cờ xuống thung lũng.

Trận đánh thật đẹp và hùng tráng, trong bối cảnh ráng chiều chưa tắt, ánh nắng xuyên qua khói lửa rải xuống chiến trường những giải vàng lóng lánh, thấp thoáng bóng quân ta dọc ngang đỉnh đồi, như thấp thoáng hồn sông núi cựa mình muốn vượt qua định mệnh. Tiếc quá, không có một phóng viên chiến trường nào ghi lại được trên băng nhựa phút giây ngất trời ngạo nghễ đó, để mai này, trên những ký sự truyền hình được chiếu ra rả từ hai phía suốt mấy chục năm năm, cuộc chiến trên quê hương đau đớn chúng ta không phải chỉ là cuộc chiến của người Mỹ và phía bên kia.

Lửa cháy để lộ nguyên một đỉnh đồi với hầm hào chi chit của cấp đại đội cọng. Thế mà trước đó, khi hai chiếc HU 1 A bay lòng vòng trên đầu, họ vẫn ém kỹ hỏa lực mạnh mẽ này không khai hỏa, mãi cho đến khi chống đỡ dưới áp lực công kích của chúng tôi, mới lên tiếng. Dưới hỏa lực pháo kích ngày càng dữ dội, Đại đội nhanh chóng chuyển tất cả thương binh tử sĩ về phía sau cùng với súng ống của địch, không đủ thời gian thu nhặt, nên ngoài những vũ khí cộng đồng bắt buộc phải chuyển về như cối 12ly8 và 82 ly không giật mà địch còn để lại nguyên vẹn, các vũ khí cá nhân AK, B40, phải tháo gỡ tùng bộ phận, nòng súng liệng một nơi, cơ bẫm quẳng một ngã,

Trong số địch tử thương, có hai người là cấp chỉ huy, trong căn hầm bị Trung sĩ Yến, Tiểu đội trưởng Tiểu đội hỏa lực số hai bắn sập bằng M72, có cả máy truyền tin Trung cộng, hai xác chết đeo hai cây K59 còn mới.

Và thật đau đớn, ngay khi nhận được lệnh di chuyển khỏi vị trí, chúng tôi vĩnh viễn mất người chỉ huy thân thiết, tài giỏi. Thượng sĩ nhất Xá băng ngược đội hình, chạy lên tìm tôi:

-Trung úy! Đại úy chết rồi! – Sao? Sao?

Tai tôi lùng bùng, không tin điều mình đang nghe.

Tôi theo ông Xá chạy quành về Bộ chỉ huy Đại đội, trên vết nổ còn bốc khói của một trái 82, Đại úy Lê Thành Bôn, Đại đội trưởng Đại đội 33 Tiểu đoàn 3 ND đã anh dũng hi sinh, hai tay ông còn nắm chặt ống liên hợp trên hai chiếc máy truyền tin vỡ nát, bên cạnh hai người lính truyền tin hy sinh cùng lúc. Tôi biết, trong những mệnh lệnh mà ông truyền đạt trên máy, yếu tố hạn chế thiệt hại cho thuộc cấp là ưu tư hàng đầu của người sĩ quan nhân hậu, đằm thắm và tài ba nhất tiểu đoàn. Nếu không có ông, mấy ai đã nghĩ ra trận hỏa công thần sầu đem chiến thắng về cho đơn vị với thiệt hại tối thiểu”. (1)

Trong buổi chiều cùng ngày, ĐĐ 33, bấy giờ do Tr. úy Đồng tạm thời nắm chức vụ đại đội trưởng, được lệnh cấp tốc rút về lại Đồi 31. Lý do: dành khoảng trống mục tiêu cho 1 pass B52 thả trước nữa đêm vào khu vừa giao tranh. Cuộc rút quân hoàn thành tốt đẹp qua những nghi binh phù phép biến ảo bởi sương mù đang dần xuống, dù địch bám sát trận địa và liên tục pháo vào những vị trí vừa bị mất, nghĩ rằng quân ND vẫn còn cố thủ tại đó. Trong cùng thời gian, pháo đội B3 ND vẫn tiếp tục phản pháo chính xác và bắn cận phòng cho ĐĐ 33.

Sau khi toán tiền thám do Th. Sĩ Đàng về lại Đồi 31 bằng một con đường khác và ngắn hơn đường đã xữ dụng trong ngày, đã lục soát kỹ và không có dấu vết của địch ẩn núp chờ đợi phục kích, bấy giờ Tr. úy Đồng mới cho phép từng trung đội một từ từ rời vị trí chiến đấu và rút về căn cứ hỏa lực 31. Khi toàn đại đội 33 đã rút trọn vẹn về vị trí an toàn, địch vẫn liên tục pháo kích vào vị trí “không người” mãi tới sáng hôm sau.

Trong đêm, độ chấn động của những trái bom năm trăm pounds được rải xuống từ B 52 chỉ đủ làm rung nhẹ cánh võng… Nghĩa là cách xa Đồi 31 ít nhất cũng trên mười cây số. Chứ không chỉ 2 hoặc 3 cây số là nơi ĐĐ 33 vừa giao tranh và địch đang có ý đồ tái chiếm. Để rồi mấy ngày sau nữa, khi nhận thấy có những nguy cơ xuất phát từ đó uy hiếp Đồi 31, Bộ tư lệnh hành quân đã cho đổ bộ hai đại đội của TĐ6ND xuống những ngọn đồi mà trước đây ĐĐ 33 đã chiếm được và đã triệt thoái, với tình thế khác hẳn. Ở đó, địch đã trở lại với quân số nhiều hơn và đã dọn sẵn một trận dịa pháo kích tập trung, chính xác. Chúng tôi ở trên đồi 31, quan sát cuộc đổ bộ của đơn vị bạn bằng mắt thường, lòng xót xa theo những cụm khói bốc lên của đạn pháo địch…Mở đầu cho những thách thức cam go trong những ngày tới.

Bản thân Đồi 31 là một “căn cứ hỏa lực dã chiến”, có giá trị chiến thuật trong một giai đoạn ngắn. Thường thường trong mỗi một cuộc hành quân, đôi khi LĐND lập hai hoặc ba căn cứ như thế, bỏ căn cứ này lại lập căn cứ khác tùy theo nhu cầu chiến thuật. Do đó về phần công sự, là những vật liệu tại chỗ, không có lấy một cuộn kẽm gai, không có bãi mìn ngoài những trái claymore, như những vị trí đóng quân đêm bình thường, lực lượng phòng thủ không bao giờ vượt qua một Đại đội (không kể Đại đội chỉ huy công vụ của Tiểu đoàn có một phần quân số trong căn cứ, nhưng không có trách nhiệm phòng thủ).

Đại đội 33, TĐ3ND, lui về đảm trách phòng thủ căn cứ sau khi đã bị tiêu hao phần nào trong trận đánh ở ngoại vi Đồi 31. Với dưới bảy mươi tay súng nay phòng thủ một tuyến rộng lớn bao gồm vị trí của Pháo đội B3 TĐ3PBND của Pháo đội trưởng Đ.úy Nguyễn Văn Đương, với 6 ụ pháo 105ly, đồng thời phải bảo vệ Bộ chỉ huy TĐ3ND và Bộ chỉ huy Lữ đoàn 3ND đang trú đóng trong căn cứ. Đó là tất cả lực lượng cố thủ đồi 31. Các đại đội 31, 32 và 34 đang hành quân lục soát bên ngoài, cách xa chừng hai đến ba cây số. ĐĐ 3 Trinh Sát Nhảy Dù bố trí ở một vị trí khác bên ngoài vòng đai.

Riêng Trung đội của Đồng, ngoài tuyến phòng thủ, được giao ở mặt Bắc nhìn xuống một triền đồi thoai thoải, còn có nhiệm vụ bảo vệ bãi trực thăng nằm chếch bên ngoài cứ điểm.

Là một đơn vị tinh nhuệ ND, ĐĐ 33 tự tin ở khả năng chiến đấu của đơn vị, và đủ sức cố thủ cứ điểm trong thời gian cần thiết, chứ không phải lâu dài, trước các cuộc tấn công cổ điển tiền pháo kết hợp với đặc công đột kích, nếu được yểm trợ đầy đủ, hữu hiệu và kịp thời, từ không quân VNCH, không quân Đồng Minh, hỏa lực từ Đồi 30, Căn Cứ Hỏa Lực A Lưới và quan trọng nhất là ngay chính từ Đồi 31: Pháo đội B3 .

Trận chiến đấu trên đồi 31, phải nói cho đúng, trước hết là trận chiến của các chiến sĩ PB Nhảy Dù. Phòng tuyến của trung đội 2 của Đồng rất gần những vị trí pháo, và cũng rất gần với Bộ chỉ huy Pháo đội, chỉ cách nhau một con đường nhỏ bao quanh vị trí, con đường gập gềnh cát bụi nối với bãi tiếp tế bằng những chuyến xe GMC tới lui chở đạn và thực phẩm. Chiếc xe đó giờ đã nằm im bên sườn đồi, mình lỗ chỗ vết đạn…

Hình ảnh những chiến sĩ Pháo binh tả xung hữu đột giữa trận đối pháo mang khí phách của một chàng dũng sĩ giữa trùng vây quân địch, nòng súng vừa thoắt bên Đông đã hiệu chỉnh về Tây, vươn cao mạn Bắc rồi nhanh chóng ghìm xuống phương Nam, quành quả tới lui tất bật giữa mưa pháo quân thù, lực bất tòng tâm, trần thân trong nắng lửa vẫn kiên cường trong trận xa luân chiến không cân sức, dù trên mình đã mang nhiều thương tích. Không một ngôn từ nào diễn đạt được hết nét kiêu hùng bất khuất đó của các pháo thủ Pháo đội B3. Nón sắt trên đầu, áo giáp che thân, những khuôn mặt căm đanh uất hận vươn theo nòng pháo, mà tiếng đạn rời nòng nào có khác tiếng gầm phẫn nộ của một chúa sơn lâm giữa bầy sói lang.

Mức độ pháo kích của địch càng ngày càng dồn dập. Không kể những khẩu đội 82 ly tập trung dày đặc xung quanh căn cứ thay phiên nhau suốt ngày thì thụt, mà pháo binh tầm xa của địch như 122ly, 130ly cơ động, thay đổi vị trí nhanh chóng và hầu hết đều nằm ngoài tầm tác xạ tối đa của 105ly cũng như 155ly của phe ta. Pháo địch bắn như trống múa lân, sáng trưa, chiều tối, không kể giờ giấc, bắn không e dè sự phát hiện vị trí như trước. Pháo đội B3 đã phải quần thảo với địch gần như hai mươi bốn giờ trên hai mươi bốn giờ không nghỉ, suốt trong thời gian địch bắt đầu tạo áp lực lên căn cứ, cho đến khi kết thúc trận chiến.

Những vị trí pháo binh cố định của ta lần lượt bị pháo binh địch tập kích trúng, với khả năng hạn chế tại mặt trận, mặc ai bị thương, mặc ai nằm xuống, các pháo thủ vẫn đứng dậy, dựa lưng vào nhau, cố gắng sửa chữa, thay thế các cơ phận bị hư hỏng để duy trì sức chiến đấu của đơn vị. Nhờ thế, những vị trí 82ly quanh quẩn lần lượt bị vô hiệu hóa, có khi vắng tiếng cả hai ngày không bắn được một trái. Thay vào đó, mức độ bắn phá của 122 và 130 lại tăng lên.

Việc tải thương, tiếp tế cũng là một vấn đề nan giải, khi tuyến phòng thủ đã quá mỏng, và càng mỏng hơn nữa khi quân số tiêu hao dần vì pháo địch. Không lần nào không có thương vong vì súng cối địch, và ít nhất cũng đã có hai chiếc trực thăng vĩnh viễn nằm lại bãi đáp vì trúng đạn phòng không khi gần đến vị trí, và một phi hành đoàn đang còn kẹt lại. Đó là những phi vụ trực thăng gan dạ, khi mà lưới lửa phòng không đã phục sẵn trên các đường tiếp cận nhằm mục đích khóa chặt nẻo vào từ mọi hướng, thì chuyến bay các trực thăng của phe ta quả thật là vô cùng mạo hiểm, “một đi không trở lại” tựa như tráng sĩ Kinh Kha, đã bao nhiêu lần những chiếc trực thăng đột ngột cất lên từ một lũng núi mù mù sương sớm, hoặc lướt nhanh trên ngọn cây qua một đỉnh rừng, hay bay nghi binh thật xa để rồi luồn theo khe núi, đáp thật nhanh xuống bãi, mang đến cho Đồi 31 tất cả nhu cầu không thể thiếu của mặt trận, thậm chí luôn cả báo chí và thư riêng. Như một chút hương yên bình quý báu từ hậu phương trên đất Mẹ.

Đây là thư đầu tiên của Phượng mà Đồng nhận kể từ HQ Lam Sơn 713. Đồng gặp nàng trên ghế trường Luật Sài Gòn khi tên Phượng đã vô tình nhắc nhở Đồng về màu đỏ thắm quyến rũ của phượng vĩ xứ Huế. Là màu đỏ anh luôn tha thiết nhớ thương. Đó cũng là màu chiếc beret hiên ngang trên đầu anh.

“Tôi soi ngọn đèn pin lò dò từng chữ và chợt buồn nhận ra, em vẫn không hiểu gì về tôi trong khi mỏi mòn một nhịp cầu Ô Thước. Lá thư Phượng thật dài nhưng chẳng có gì để đọc. Kể cho tôi làm gì những ồn ào phố thị, kể cho tôi làm gì những khúc luân vũ đã làm mắt em say. Sài gòn của em vẫn thế và giảng đường của em vẫn thế. Em không nói bên chiếc ghế tôi ngồi đã có ai quấn quýt? Nhưng tôi biêt đó không còn là thế giới của tôi, và chiến tranh dường như chưa bao giờ lai vãng dưới những tàng cây bốn mùa dim mát. Không biết những tin tức từ mặt trận có làm sân trường đại học bớt tươi màu áo, mà sao những vô tình của em và bạn bè đối với cuộc chiến càng làm tôi xa cách vô cùng. Tôi không định trả lời thư cho Phượng, biết có còn trở về để thêm chi nhiều vương vấn, những giọt nước mắt chính danh đã lan tràn trên đất nước, còn khơi thêm làm gì chút sầu muộn người dưng.

N + 15, phi hành đoàn H34 của Tr. úy Chung Tử Bữu và Th. úy Bùi Tá Khánh cùng với Mê Vô Em vào phiên trực cho phi đội của anh. 2 chiếc H34 nhận lệnh cất cánh từ phi trường ĐN bay thẳng đến Khe Sanh. Chiếc H34 thứ hai do anh Yên làm phi công chính.

“Ðúng giờ hẹn, chúng tôi ra phi cơ làm tiền phi, check nhớt, xăng, load những cơ phận sửa chữa dự trữ, đồ nghề và anh em kỹ thuật 219 rồi cất cánh, trực chỉ Ðông Hà, Quảng Trị. Khoảng quá trưa thì chúng tôi ra đến Khe Sanh. Vừa đến nơi, không màng ăn trưa vì nóng lòng muốn cứu đồng đội nên chúng tôi quyết định phải vào ngay Đồi 31 chứ không thể đợi lâu hơn được. Trong khi anh Bửu vào trình diện với Bộ Chỉ Huy Tiền Phương SÐ Dù để đặt kế hoạch cho chuyến bay thì tôi và Mêvô Em đi check lại máy bay. Xăng vẫn còn đầy bình trước, dư sức bay không cần phải refuel.

Một lát sau từ phòng briefing ra, anh Bửu vắn tắt cho anh em biết về phi vụ quyết tử này. Chuyến vào chúng ta sẽ chở theo Th.úy Vinh và một tiểu đội Tác chiến Điện tử Dù của anh ta cùng với 18 chiếc máy “sensor” vào tăng phái cho căn cứ 31 dùng để phát giác đặc công địch, chuyến ra sẽ rước phi hành đoàn của Tr. úy Nguyễn Thanh Giang về. 15 phút trước khi lên vùng, pháo binh Dù sẽ bắn dọn đường mở một hành lang dọc theo quốc lộ 9, dập vào những địa điểm được ghi nhận có phòng không địch vì tình hình lúc này rất gây cấn, địch tập trung lên đến cấp tiểu đoàn phòng không gồm đủ loại từ 37 mm, 12ly8 và lần đầu tiên còn nghe đâu có cả SA7 nữa.

Về không trợ thì có 2 chiếc Gunship của phi đoàn 213 do Tr. uý Thục bay lead trước mở đường.

Trước đó trong lúc briefing, anh Bửu đã được nói chuyện trực tiếp với anh Giang từ trong đồi 31 và được biết, ngày hôm qua khi bay vào vùng anh Giang đã dùng chiến thuật “lá vàng rơi”, từ trên cao cúp máy auto xoáy trôn ốc xuống, nhưng vì phòng không địch quá dày đặc nên khi gần đến đất, phi cơ anh bị trúng đạn rớt xuống gãy đuôi nằm bên cạnh vòng rào phòng thủ ngoài cùng của Lữ Ðoàn 3 Dù. Phi hành đoàn vô sự, chỉ có copilot là Th. úy Võ văn On bị xây xát nhẹ ở cổ, tất cả chạy thoát được vào trong căn cứ Dù. Nhưng trước khi bỏ phi cơ, Mêvô Trần Hùng Sơn không quên vác theo cả cây M60 trên cửa máy bay nữa.

Rút kinh nghiệm, hôm nay anh Bửu bay Rase Motte sát ngọn cây theo hướng Ðông-Tây đi vào. Trên đường bay dọc theo quốc lộ số 9, tôi còn nhìn thấy những cột khói bốc lên nghi ngút, chứng tỏ pháo binh Dù bắn rất chính xác và hiệu qủa. Gần đến LZ anh Bửu đổi hướng lấy cấp Ðông Nam-Tây Bắc để đáp xuống. Vừa ló ra khỏi rặng cây, tôi đã thấy chiếc Gunship của trung uý Thục bay vòng lại, cùng với tiếng anh la lên trong máy “Bửu coi chừng phòng không ở hướng Tây”. Từ trên phi cơ nhìn xuống, giữa màu xanh trùng điệp của rừng cây nhiệt đới, ngọn đồi 31 đỏ quạch nổi bật với những đốm bụi đất tung lên từng cơn vì đạn pháo kích quấy phá của cộng quân Bắc Việt.

Không nao núng, anh Bửu vẫn điềm tĩnh tiếp tục đáp xuống. Khi phi cơ còn cách mặt đất độ 15 thước thì trúng một tràng đạn phòng không, phi cơ phát hoả, bùng lên một đám khói bao trùm cả phi cơ, MêVô Em la khẩn cấp trong máy – Đáp xuống, đáp xuống anh Bửu ơi, máy bay cháy.

Cùng lúc anh Bửu cũng cao tiếng báo động cho chiếc wing đang bay cũng gần đó -Yên ơi, tao bị trúng đạn rồi, đừng xuống nữa – trong khi vẫn bình tĩnh đáp xuống. May mắn là đạn trúng vào bình xăng phụ đã hết xăng, chỉ còn ít hơi đốt, nên phi cơ không bắt cháy như phi cơ đại uý An ở Bù Ðốp hôm nào. Vừa chạm đất, theo phản xạ tôi cùng anh Bửu nhanh tay tắt gió, xăng, điện rồi nhảy ra khỏi phi cơ. Mọi người chạy ngược lên đồi về phía hàng rào phòng thủ thứ nhất của Đại Đội công vụ Dù cách khoảng 100 thước. Tôi còn tiếc chiếc xách tay quần áo nên phóng vào trong phi cơ để lấy. Một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt, một binh sĩ Dù bị trúng đạn ngay giữa trán, nằm ngửa chết ngay trên ghế. Trên sàn tàu, đống máy “sensor” vẫn còn nguyên vẹn. Tôi chỉ kịp vớ lấy cái xách tay rồi phóng chạy lên đồi theo những tiếng kêu gọi của binh sĩ Dù – trên đây nè thiếu uý, tụi tôi bắn yểm trợ cho – Tôi lom khom chạy trong khi tiếng đạn nổ lóc chóc trên đầu. Lên đến nơi tôi thở như bò rống. Không quân mà hành quân dưới đất thì phải biết là mệt đến đâu. Tôi nhớ mãi hôm đó là ngày 22 tháng 2 năm 1971.

Vừa ngồi nghỉ mệt, tôi vừa nhìn xuống bãi tải thương nơi chiếc phi cơ đang đậu hiền lành, thì cũng vừa lúc địch điều chỉnh tác xạ, một quả đạn đạn súng cối rơi trúng ngay tàu nổ tung, bốc cháy khói đen mù mịt cả một góc trời. Tôi nhìn con tàu xụm xuống, lòng quặn lên. Con tàu thân thương đó đã gần gụi với mình lâu nay, giờ thành một đống sắt vụn.

Một lát sau, theo chỉ dẫn của anh em binh sĩ Dù, chúng tôi men theo giao thông hào lần về đến bộ chỉ huy Lữ Ðoàn 3 Dù. Gặp lại phi hành đoàn anh Giang, On, Sơn anh em chúng tôi mừng rỡ thăm hỏi rối rít. Chúng tôi được giới thiệu với các sĩ quan trong ban tham mưu Lữ Ðoàn 3. Ðầu tiên là Đại tá Thọ lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 3, Th.tá Ðức trưởng ban 3, Đ.úy Trụ phụ tá ban 3, Đ.úy Nghĩa sĩ quan liên lạc KQ, Tr. úy Chính sĩ quan Không trợ Dù, Th.úy Long phụ tá ban 2. Về phía pháo binh thì có Tr.tá Châu Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3PB Dù và Đ.úy Đào Văn Thương trưởng Ban 3 TĐ3PB Dù. Ðại tá Thọ mừng anh em “mới đến” mỗi người một điếu Havatampa và một shot Hennessy để lấy lại tinh thần. Tôi ngạc nhiên vô cùng, đi đánh giặc, nằm ở tuyến đầu ác liệt vậy mà mấy “ông” Nhảy Dù vẫn thản nhiên hút sì-gà Cuba và uống cognac như máy! Quả các xếp ăn chơi cũng dữ mà đánh giặc cũng chì thật. (4)

N + 15: Địch vẫn pháo kích không ngừng, ngoại trừ khi có phản lực hoặc trực thăng chiến đấu trên vùng. Hầu như mọi nơi trên Đồi 31 đều trúng pháo, có nơi trúng ba bốn lần, đất cày sâu, loang lổ, đá bụi văng tứ phía. Thật không rỏ vì sao có người thì chết ngay khi lãnh trọn một quả vào ngay hầm mình, người thì bị thương chưa kịp cứu thì bị trúng thêm, kẻ khác thì cuộn mình lại như con cuốn chiếu, ôm đầu che tai, đôi khi che luôn cả mặt khi pháo rớt lia chia xung quang hầm, thầm nghĩ không biết khi nào đến phiên mình.

“Ngày tháng cứ qua theo tầm bay lửa đạn, cả trăm trái pháo mỗi ngày băm nát ngọn đồi vô danh bỗng chốc trở thành cõi chết, cái chết cứ lần hồi gậm nhấm từ Đông qua Tây, từ Nam lên Bắc, từ những hầm hố kiên cố ở trung tâm cứ điểm đến dãy chiến hào chỗ sâu chỗ cạn bao bọc ngoại vi, tất cả bỗng trở nên bình đẳng trước sức công phá dữ dội của đạn pháo, mặt trận bỗng nhiên nghiêng hẳn về một phía, chúng tôi ngồi đây, ngày và đêm thúc thủ trước tiếng súng địch. Hàng ngũ cứ thưa dần, thà rằng cứ lao thẳng vào mũi súng, thà rằng đối mặt với quân thù, thà rằng chết trong tiếng hò reo xung trận, có đâu cứ len lỏi mãi dưới hầm hào mà cũng chỉ đợi chờ cái chết…

Chiều nay, Đồng đã nhìn thấy địch quân điều quân lui tới, qua lại thấp thoáng dưới bóng cây bên những triền núi xa xa, và biết đâu chừng đã mon men gần căn cứ, tuy các Đại đội bạn ở bên ngoài vẫn chưa có phát hiện nào về sự xuất hiện của địch. Mọi việc vẫn phải làm thật nhanh và thận trọng, xuất phát, lục soát, rải quân… Công việc quá bình thường của một Trung đội tác chiến mà sao giờ này lại quá nặng nề. Mà không nặng nề làm sao được khi quân số tiêu hao ngày một trông thấy. Rời Sài Gòn Đồng dẫn theo hai mươi sáu thanh niên, mặt mày tươi như trên đường đi học, rồi lại còn được bổ sung thêm qua trực thăng tiếp liệu hai chàng lục tỉnh mới cáu cạnh, và Nghĩa, một Chuẩn úy mới ra trường, vị chi là hai mươi chín mống.

Nghĩa, người Sài gon, nhà ở đâu miệt Khánh Hội, Hàm Tử, cũng có mẹ già và em gái, cũng mang cái hồn nhiên của tuổi trẻ vào mặt trận như ngày Đồng mới ra trường. Hồi đó, Đồng còn được may mắn học nghề với Trung úy Dũng tại ven đô, hành quân an nhàn quanh hảng bột ngọt An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Nhị Bình, sáng lai rai cà phê và pháo, chiều về còn cóc với ổi đưa cay. Có đâu như Nghĩa, giày trận còn bóng nếp quân trường, đã được ném ngay vào cõi chiến trường dữ dội.Tôi đã không còn dịp bàn giao Trung đội cho Nghĩa như ngày nào Trung úy Dũng đã giao trách nhiệm cho tôi. Nghĩa đã hy sinh không lâu sau đó.

Chưa tới nữa tháng, Trung đội chỉ còn lại mười tám ngoe, kể cả tôi. Đã thêm hai cái chết đau đớn của Binh nhất Mão và tân binh Xuất cứ dai dẳng ám ảnh tôi. Gom góp, nhặt nhạnh lại không đầy cái nón sắt, đó là xác Mão sau khi căn hầm của anh hứng gọn một trái công phá. Còn Xuất thì cứ trào ra những bụm cơm sấy trộn lẫn máu trong cơn hấp hối, máu và cơm, cơm và máu lẫn với những bọt khí ào theo vết thương vỡ banh lồng ngực, mảnh đạn như một lưỡi rìu phạt ngang người, khi anh ngồi bên miệng hầm nhìn bâng quơ những đỉnh núi, tay bốc từng bụm gạo sấy thẩy vào miệng. Tôi cũng ngồi cách Xuất năm vị trí trong cùng một phiên gác chiều, và chỉ kịp la lên “Xuống hầm! Pháo kích!” nhưng không còn kịp nữa, có lẽ tiếng gạo sấy khô khan vỡ rao rào trong miệng đã làm Xuất không nghe được tiếng pháo địch rời nòng, viên đạn quá tầm rơi ngoài sườn đồi lại tai quái gởi ngược về một mảnh lớn nhất. Khi chúng tôi đến thì Xuất đã như thế, môi anh còn mấp máy điều gì, tôi đã cố cúi sát người để chỉ nghe thều thào hình như tiếng “Mẹ ơi”…và Xuất đi hẳn.

Số bị thương mỗi ngày gia tăng. Giàn Hạ sĩ quan chỉ còn lại thượng sĩ Đàng và trung sĩ Yến, tôi kể như giảm cấp số làm Tiểu đội trưởng, chỉ huy một Tiểu đội Khinh binh và một tiểu đội hỏa lực. Mà nào phải chỉ Trung đội chúng tôi? Hai trung đội kia cũng lâm vào tình trạng tương tự, giật gấu vai cũng không đủ quân để trải kín tuyến phòng thủ vốn dĩ được thiết lập cho một Đại đội mạnh, đầy đủ quân số. Một tuyến dài như thế, lại phải duy trì ba vọng gác đêm, hai vọng gác ngày, chia đều chi mỗi người cũng ôm hơn năm tiếng mỗi ngày trực gác.Kể cả tôi cũng chia xẻ ba giờ đốc canh ca thứ nhứt, trong tình trạng căng thẳng kéo dài, mặt mày ai nấy hốc hác thấy rõ.

Đồng không dám nói thay những người lính của mình, nhưng anh hiểu họ, hiểu nỗi lo âu căng thẳng mà tất cả cùng chia sẽ, như anh chàng Ngọt đó, giữa lúc đạn pháo ầm ỳ trải lên trận tuyến, bỗng nhiên hắn ta nhảy vọt lên nóc hầm tuột phăng quần chỉa cu ra phía trước, miệng la lớn một hơi dài như tiếng hú của một con thú bị thương… “Con c…”Yến phải liều mạng nhảy lên cặp cổ lôi xuống. Chúng tôi gần như ai cũng đang “chạm giây” như thế mà có lẽ sự nổ bùng của chiến trận là liều thuốc cuối cùng để giải thoát, sự giải thoát tận cùng trên hai nghĩa trắng đen trần trụi.

Mọi người đều biết được lực lượng của địch không còn xa căn cứ, và có lẽ họ đang ở lại tuyến xuất phát để chờ đợi giờ “G”, khi mà mọi tần số trên máy truyền tin đều tràn ngập ngôn ngữ xa lạ của quân thù.

Trước mặt Đồi 31 có một hẻm núi, từ trên đồi nhìn xuống chỉ nhận biết con người nhờ sự di động, nếu anh ta đứng yên thì không thể nhìn thấy, hẻm núi có một khoảng trống giữa hai lùm cây rậm rạp, thế là địch chơi trò cân não. Không kể ban đêm là lúc chúng tôi không thể quan sát, còn ban ngày có mặt trời lên là có người băng qua khoảng trống đó, mặc kệ không biết bao nhiêu bom đạn được điều chỉnh chính xác xuống mục tiêu, dứt tiếng súng là có người băng qua, dòng ngưới cứ tưởng như bất tận, rồi đêm đêm, từng vệt đèn và tiếng động ầm ỳ của chiến xa dội lên căn cứ, dội lên mỗi người lính nỗi lo âu thật sự về khả năng chống chiến xa của đơn vị, khi mà những trái M72 chưa một lần chứng minh hiệu quả trước vỏ thép xe tăng, và khi mà cả căn cứ đã trần trụi, ngon lành như một đùi thịt nướng sau các trận pháo kích liên tục của đối phương. Chúng tôi không có lấy một chướng ngại vật, không có lấy một hàng rào kẽm gai, hay một trái mìn chống chiến xa để an lòng phần nào lực lượng phòng thủ.

Và chúng tôi cũng chẳng phải chờ đợi lâu hơn nữa. Mấy ngày sau, cuộc tấn công thật sự đã bùng lên trước khi ngày chưa đứng bóng.” (3)

N + 15. Phi Đoàn 219 đã được báo cáo đầy đủ về chiếc H34 thứ hai của Tr. úy Bửu cùng chung số phận với chiếc H34 đầu tiên của Tr. úy Giang rớt trên Đồi 31 với 2 phi hành đoàn nằm ụ tại nơi này.

“Buổi chiều cùng ngày, vùng rừng núi trời tối thật nhanh, chúng tôi dùng tạm bữa cơm dã chiến với ban tham mưu Lữ Ðoàn rồi chia nhau ngủ ké với anh em Dù. Tôi được ngủ chung một hầm với anh Nguyễn Quốc Trụ, một sĩ quan trẻ xuất thân khóa 20 trường Võ Bị Ðà Lạt. Anh cũng là anh ruột của Tr. uý Nguyễn hải Hoàn, một hoa tiêu chánh trong phi đoàn tôi. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng hơn vì đối với cộng sản Bắc Việt, sự hiện diện của căn cứ 31 trên hệ thống đường mòn HCM như một lưỡi dao đâm thẳng vào yết hầu của chúng. Vì thế cộng quân đưa thêm quân vào tạo áp lực nặng nề lên căn cứ 31 với ý định đánh bật căn cứ này ra khỏi sinh lộ của chúng.

Hai hôm sau, vẫn không có chuyến bay tiếp tế nào vào được vì địch quân luôn di động dàn phòng không của chúng khiến KQVN và HK không phát huy được ưu thế của mình. Mỗi sáng, chỉ có 2 phi tuần F4 đến ném bom vài khu vực khả nghi chung quanh đồi 31 và thỉnh thoảng mới có một đợt B52 rải thảm ì ầm xa xa vọng đến rồi mọi sự lại chìm vào rừng núi trùng điệp. Ngược lại, quân Bắc Việt tập trung bao vây, tăng cường pháo kích suốt ngày nhằm quấy rối và làm tiêu hao lực lượng Dù” (4)

N + 18.
Hôm nay là ngày 25 tháng 2, 1971.

Cuộc tấn công của địch bắt đầu từ rạng sáng. Địch pháo kích như điên vào căn cứ, cùng lúc tung hàng đợt quân từ hướng Bắc đánh vào Đồi 31. Tiếng súng nổ rân, khói lửa mịt mù. Tiếng la hét trong máy thật hổn loạn. 3 toán tiền đồn của ĐĐ 34 bị tràn ngập bởi bộ binh địch, cùng lúc phía ĐĐ 32 cũng đang bị xe tăng địch tấn công hàng ngang ngay trước vị trí.

“Các Đại Đội ngoại vi thúc thủ trước quân số quá đông đảo của đối phương trong khi còn phải chật vật đối phó với chiến xa đang tràn lên như chỗ không người, nên Đại Đội 32 được lệnh rút nhanh về căn cứ 31 để bảo toàn lực lượng, riêng Đại Đội 34 rút về chân đồi phía Đông.

Thế nhưng, trước khi ĐĐ 32 về đến căn cứ thì chiến xa địch đã lổm ngổm bò lên vị trí của Muôn, và phần việc của trung đội 2/ ĐĐội 33 của Đồng đã tới. Tôi nhìn thấy tổ tiên đồn bắn trúng đích một chiếc, cụm lửa vàng khè lóe lên, phủ trùm khói đen trên mục tiêu. Khói tan, chúng tôi tưởng như nằm mơ, chiếc xe tăng vẫn chậm rãi tiến tới, nòng đại bác trên chiến xa vẫn khạc lửa dữ dội vào tuyến phòng thủ căn cứ. Muôn cố gắng bắn thêm hai trái nữa vẫn vô hiệu, anh xách súng dẫn đồng đội lăn xuống triền đồi khi thêm sáu chiếc tăng nữa cùng với bộ binh địch hò hét áp đảo tràn lên vị trí, chúng tôi hướng tất cả hỏa lực bắn che cho Muôn và một vài toán của Đại đội 32 rút về căn cứ, cùng lúc đó hai chiến đấu cơ A 4 Skyhawk và một phi tuần trực thăng võ trang Cobra của Mỹ xuất hiện, oanh tạc mạnh mẽ vào đội hình tấn công của địch.

Tất cả hỏa lực của đơn vị của tôi, cùng với một khẩu đội B3 trực xạ cận phòng và các tuyến tiên liệu được các pháo đội khác ở căn cứ A Lưới, Đồi 30 bắn yểm trợ đã tạo nên một hàng rào lửa vững chắc, chặn hết lực lượng xung kích của Bộ Binh địch ngay tại vị trí cũ của Muôn, xác địch ngã trên triền đồi, lăn xuống vực thẳm, ngổn ngang như những khúc gỗ từ một khu rừng vừa đốn vội, chưa bao giờ chúng tôi phải bắn nhiều như thế, hai khẩu M60 đã thay nòng liên tục, quạt từng giây đạn quét phủ lên mặt trận, phải nói Yến bắn đại liên thật tài, chân hai càng được xếp gọn, nòng súng tựa hờ lên công sự tạo một tầm chuyển dịch rộng lớn và dễ dàng cho xạ trường, để từ đó phủ gọn tuyến tiếp cận của địch dưới tầm khống chế của con gà nòi dũng mãnh.

Mất sự hướng dẫn của Bộ Binh, chiến xa địch khựng lại, như muốn chỉnh lại đội hình cho một đợt xung phong khác với hơn mười chiếc đã ở trong tầm quan sát của chúng tôi. Ngay lúc đó hai chiếc Skyhaw nối đuôi sà xuống sau trái khói chỉ điểm, từng trái napal hừng hực xé gió quăng xuống mục tiêu chính xác, dũng cảm, mặc cho hỏa lực phòng không đạn chi chit phủ kín đường bay. Trận địa địch bùng lên trong cánh rừng xăng đặc, hai chiếc xe tăng tiền kích ngập trong khói lửa bốc cháy dữ dội, lính xe tăng nhảy ra khỏi xe, người cháy phừng như ngọn đuốc, lăn lộn, quơ quào rồi ngã gục theo tiếng nổ bung của chiến xa trúng đạn. Lên tinh thần, Khinh binh Thông cùng với ba chiến sĩ khác băng vọt ra khỏi chiến hào, chạy nhanh xuống lưng chừng đồi, cõng về được hai thương binh của ĐĐ 32 và một của trung đội mình từ tổ tiền đồn rút về, nửa đường thì bị trúng đạn. Hạ sĩ Nhất Muôn đã tử trận tại vị trí đó. (3)

N + 18, Từ sáng, tất cả hai nhóm phi hành đoàn 6 người của cả hai chiếc H34 được lệnh ra nằm sẳn tại các giao thông hào gần bãi đáp chờ nguyên cả một phi đội gồm 3 chiếc H34 của phi đoàn 219 mang tiếp liệu vào đồng thời tải thương binh Dù và bốc luôn cả 6 người cùng một lúc.

“Sáng ngày 25 tháng 2 năm 1971, Tôi và anh Bửu cùng vài thương binh Dù nấp chung với nhau trong một hầm trú ẩn. Ðến trưa khi chúng tôi bắt đầu nghe tiếng máy nổ xa xa thì cũng là lúc địch khởi đầu trận “tiền pháo” dồn dập lên đồi 31. Qua lỗ châu mai từ trong hầm cứu thương nhìn qua bên kia đồi đối diện, cách nhau một cái yên ngựa, tôi thây rõ hai chiếc xe tăng T-54 của cộng quân tiến lên xếp hàng ngang, cùng với quân tùng thiết dày đặc chung quanh nhắm đỉnh đồi chúng tôi mà nhả đạn. Những tia lửa từ nòng súng phụt ra, tôi và anh Bửu thụp đầu xuống cùng nhìn nhau như nhắc nhớ câu mà anh em trong phi đoàn thường nói với nhau mỗi khi lên đường hành quân “Trời kêu ai nấy dạ!”.

Ngoài kia, trong từng giao thông hào binh sĩ Dù chống trả mãnh liệt, nhất là những pháo thủ pháo đội B trên Căn Cứ 31, với những khẩu pháo đã bị hỏng bộ máy nhắm vì pháo kích của địch, họ phải hạ nòng đại bác để bắn trực xạ thẳng vào xe tăng địch bên kia đồi và trong những loạt đạn đầu tiên đã hạ ngay được 2 chiếc T54. Nhưng để trả giá cho hành động dũng cảm này, nhiều binh sĩ Dù đã nằm xuống, có người nằm chết vắt trên những khẩu pháo của họ.” (4)

Trở về lại với trung đội 2, ĐĐ 33, các binh sĩ ND vẫn còn chiến đấu tại tuyến phòng thủ. Tình hình tồi tệ, tuyến phòng thủ thưa dần. Trước mặt là một lực lượng địch nhiều hơn gấp mấy chục lần, có luôn cả chiến xa dẫn đường.

“Trung đội đã chiến đấu, trước hết và duy nhất chỉ là vì sự sống còn của bản thân, phải lấy hết sức mình đương cự lại những bước chân của tử thần đang lần lượt gọi tên từng mạng sống, không còn con đường nào khác, không ai là anh hùng, không ai là dũng sĩ, không ai muốn “anh dũng hy sinh” mà vẫn phải chết như rơm như rạ.

Trận chiến vô cùng ác liệt, tất cả các sự kiện đã, đang và tiếp tục được mô tả, gần như diễn ra cùng một lúc, dồn dập, chồng chéo lên nhau, đan chặt vào nhau rồi như bị một sức mạnh vô hình xé bung ra trăm ngàn mảnh, mà Đồng, dù đã tận mắt chứng kiến, đang là một chiến binh trực tiếp chiến đấu trong những giờ phút gian nguy đó, vẫn không tài nào lột tả hết được tất cả mọi diễn biến hung bạo, tàn khốc của chiến trận..

Lợi dụng lúc thưa tiếng súng, tôi nhổm dậy luồn theo giao thông chạy dọc tuyến Trung đội, kiểm điểm lại lực lượng. Toán tiền đồn sáu người chỉ về được ba, hai người chết tại vị trí, Muôn đã để nỗi ước mơ bình thường của mình vỡ vụn từ sau lưng ra trước ngực trên đường về. Rồi ngay tại tuyến, một vị trí khác lại bị trúng đạn từ chiến xa địch khiến một chết; cái chết của người lính tử trận giống nhau từ thiên cổ, không phân biệt bên này hay bên kia chiến tuyến, cũng đen điu đau đớn, cũng co quắp quằn quại, tay bấu chặt lấy mặt đất như không đành lìa nỗi bọt bèo của cuộc sống…

Trong khi phía chúng tôi, áp lực địch tạm thời giảm nhẹ tuy họ vẫn còn ở đó, thì phía bên kia, tuyến phòng thủ của Trung đội 3 lại vô cùng nguy khốn. Toán tiền đồn năm người của trung đội, do một binh nhất khinh binh chỉ huy, tại một chỏm đồi thấp hướng Tây Nam căn cứ vừa bị tràn ngập, sau khi đã chiến đấu đến người lính cuối cùng, ngoan cường, đẩy lui bốn đợt xung phong của địch, tôi đã nghe trong máy tiếng gào khàn khàn tuyệt vọng lồng trong tiếng súng vang trời của những người quyết tử của truyền thống một đổi năm, mười nếu chẳng may thất thế. Không cường điệu chút nào khi tuyên dương họ như những anh hùng đã chết trong vinh quang, danh dự khi địch tràn lên vị trí bằng không biết bao nhiêu xương máu đánh đổi.

Ngay tại vị trí này, địch nhanh chóng bố trí một cụm hỏa lực mạnh mẽ gồm 2 cây 82 ly không giật và một 12ly8 vừa phòng không, vừa bắn trực diện, khống chế trọn vẹn vị trí của Trung đội 3. On la chói lói trên máy để xin lệnh Đại Đội…nó bắn quá chịu hông nổi, sập bốn hầm chết hết rồi. Đại đội lại gọi tôi, hỏi có tăng cường cho 3 được không? Tố báo cáo tình hình trên tuyến của mình và đoán chắc hướng tấn công chính là ngay tại nơi đây, khi phía trước mặt không phải là năm hay sáu chiến xa, con số đã trên mười chiếc đếm được và vô số bộ binh địch đang lúc nhúc dưới những cành lá ngụy trang.

Pháo địch vẫn rót tràn đều lên vị trí, san bằng, sạt phẳng mọi thứ. Có điều bây giờ chúng tôi không còn lo lắng, vì không còn phân biệt được đâu là pháo phe ta, đâu là “cà nông” phe địch trừ khi nó nổ , mà đã nổ rồi thì phận ai nấy biết, đỉnh đồi trở nên bằng phẳng, và hình như đã thấp hơn phần nào so với khi chúng tôi vừa mới đến, nhờ thế chỉ cần quay lưng nhìn về phía thằng 3, chúng tôi cũng nhận rõ vị trí lợi hại của cụm hỏa lực đó, một vài trái bắn hụt lao vèo qua phía chúng tôi rồi mất hút nổ xa xa, họ bắn liên tục nên họ quên một điều là cùng chiến đấu với chúng tôi còn có pháo đội B3. Tôi khom người chạy lên vị trí khẩu trọng pháo, chỉ cho trung Sĩ Nhất khẩu đội trưởng vị trí 82 không giật của địch. Và nòng pháo từ từ hiệu chỉnh, tôi nín thở theo cái gục đầu chầm chậm của khẩu pháo 105 ly hướng về mục tiêu…và “Bắn”. Người hạ sĩ pháo thủ giật cò, viên đạn rời nòng trực chỉ khâu đội địch Ầm…chúng tôi nhảy lên reo hò sung sướng khi nhìn thấy rõ ràng khẩu 82 ly không giật của địch tung bắn lên trời sau tiếng nổ chính xác. Chỉ một viên đạn thôi, các chiến sĩ pháo binh đã triệt tiêu hiểm họa đó.

Tuyến của chúng tôi nằm cách xa Bộ chỉ huy Đại Đội, nên gần như độc lập tác chiến, tôi chỉ kịp thông báo cho Đại Đội là địch bắt đầu tấn công trở lại, rồi nằm hụp xuống nghe lằn đạn veo véo trên đầu, đội hình địch từ triền núi bên kia xuất hiện đông đảo trên đỉnh đồi rồi chia nhau tràn xuống, lấp ló trồi sụt dưới mưa bom bảo pháo, pháo địch bắn ta, nếu quá tầm cũng nổ trên đầu địch, bom đồng minh yểm trợ, lạng lách thế nào không biết, cũng roi ngọt xớt xuống đầu ta, bêu đầu sứt trán, la hét om sòm tiếng Đức, tiếng Mỹ, thây kệ mẹ nó, đằng nào cũng phiêu diêu miền cực lạc.

Bắn phá một hồi, hai chiếc Shyhaw rời vùng và nhanh chóng mất hút cuối chân trời, còn lại hai Cobra đảo lui đảo tới ạch đùng ạch đùng mấy dây hỏa tiễn trúng ngay vào đám xe tank cũng chẳng thấy hề hấn gì, trực thăng bắn cứ bắn, chiến xa địch vẫn tiến trong đội hình tấn công dưới sự che chở của hỏa lực phòng không. Lần này họ thay đổi chiến thuật sau khi đã nướng khá nhiều bộ binh trong đợt xung phong trước, thiết giáp xung kích mở đường, bộ binh lom khom lấp ló theo sau, không còn hò hét ngậu xị.

Hai chiếc phản lực khác vào vùng lần này là Phantom F4C, trong khi hỏa lực phòng không cũng đã áp sát chân đồi, OV10 lảng vảng trên cao bắn trái khói chỉ điểm cho Phantom lao xuống mục tiêu. Điều không may cho chúng tôi là trong đợt tấn công đầu tiên của phi tuần này, trái bom lửa vừa phủ lên chiến xa, thì đồng thời chiếc F4 cũng bị bắn tung đuôi trong khi ngóc đầu lên sau đợt oanh kích. Múi dù sặc sỡ mở bung trước khi con tàu bốc cháy, lảo đảo đâm vào vách núi nổ vụn. Thế là tất cả máy bay có mặt trong khu vực, kể cả hai chiếc Skyhaw mới vào vùng chưa bắn một phát đạn, bảo về cho phi công lâm nạn chờ trực thăng cấp cứu. Chúng tôi không rõ họ có cứu được đồng đội hay không, nhưng từ giây phút đó, chiến trường gần như bõ ngõ cho chiến xa lồng lên áp đảo.

Xe tăng địch lập tức ào ạt xung phong, hai…ba…năm bảy mười một chiếc tất cả cùng lao xuống, bỏ lại bộ binh phía sau, một chiếc bò ngang chông chênh bên sườn đồi, lãnh nguyên trái pháo 105 ly trực xạ hất nhào xuống vực thẳm, chúng vừa bắn vừa tiến và đã chiếm được bãi trực thăng. Mọi người đã thấy khả năng diệt tăng của M72 không nhiều và không thể bắn ở khoảng cách quá xa nên phải chờ đợi. Tất cả hỏa lực của chúng tôi chỉ có thể tạm thời trì hoãn tốc độ tiến quân của bộ binh địch trong trời gian ngắn, khi chiến xa chưa tiếp cận vị trí và tách chúng ra.

Hạ sĩ Nhất Chính và Tiểu đội Khinh binh lãnh nhiệm vụ đón đánh đợt đầu tiên khi xe tăng vượt qua bãi đáp, tiến vào yên ngựa hẹp trước khi bám vào căn cứ, đây là địa thế duy nhất có thể khống chế đội hình địch, bắt buộc chúng phải lần lượt từng chiếc một theo hàng dọc tiến lên. Chính dẫn theo Bình, Tám và Ngôn, mỗi người một cây M72, luồn theo giao thông hào, chận ngang con đường xuống bãi tiếp tế. Chuẩn Úy Nghĩa muốn theo Chính, tôi nhìn anh ái ngại, thôi Nghĩa à! Cần gì phải vội, anh ở đây chờ thay tôi là tốt nhất, ai cũng sẽ có phần…Tôi nghĩ thầm nhưng không nói với Nghĩa đã thấm cái đau xót trước những thân xác đồng đội ngay từ mặt trận đầu tiên của đời quân ngũ, mặt anh hừng hực, mắt long lên như con thú bị thương. Tâm lý chung của những kẻ đang không còn đường trở lại, và thế là phải vượt lên phía trước, vượt qua cái hèn bản chất của chính mình, không còn một khái niệm gì giữa cuộc sống và cái chết, mà có khi chết còn thanh thản hơn sống.

Chúng tôi hồi hộp nhìn theo hai chiếc xe tăng dẫn đầu đang bò theo con dốc hẹp, đám bộ binh đã bị hai cây đại liên gài chéo cánh sẻ, cùng với tốc đội bắn nhanh của M16 đè đầu, nằm dán xuống đất lãnh pháo, bò lui bò tới không theo kịp chiến xa, kể như thiết giáp đã bị mù nên nó cũng thận trọng xử dụng tối đa cây đại bác dọn đường.

Chính chờ chiếc đi trước bắt đầu ghếch mũi súng lên đầu dốc, phơi toàn bộ cái ức xám xịt trước mũi súng, khoảng cách chừng hai mươi mét, anh bình tĩnh bóp cò, trái đạn đen thui vẽ một đường thẳng chớp nhoáng lao vào mục tiêu, nổ bùng vào cái mặt ù lỳ dị hợm, tưởng như mọi thứ phải tan tành hay bốc cháy trước sức công phá trực diện của trái hỏa tiễn, thế nhưng chiếc chiến xa chỉ khẽ khựng lại, như có vẻ giật mình chút đỉnh, rồi lại tiếp tục tiến lên, không cháy, không nổ, không hề suy suyển. Thấy nguy, Tám bồi thêm một trái trúng ngay hông pháo tháp khi nó vừa vượt ngang tầm, vẫn khỗng hề hấn gì, thế là cả toán đành dạt ra, ném tới tấp lựu đạn vào gầm xe, trong khi chiếc xe đi sau cũng vừa bám theo được và tác xạ đại liên tới tấp vào vị trí của Chính, tên xạ thủ 12ly8 chưa bắn được bao nhiêu đã lãnh nguyên một tràng M16 gục xuống, xác hắn vắt vẻo trên thành xe.

Trung đội 2 bất lực để cho chiếc số 1 tiến thẳng vào căn cứ, chiếc số 2 vừa nối theo thì Chuẩn Úy Nghĩa nhảy phắt lên, thẩy gọn một trái M26 vào trong lòng pháo tháp, anh chưa kịp nhảy xuống thì trúng đạn, gục chồng lên xác địch thủ cùng lúc với tiếng nổ “bụp” tức tối, khói từ trong chiếc chiến xa bốc lên, sao nó vẫn chạy, vẫn tiến lên phía trước? nó chạy quờ quạng thêm một đoạn ngắn rồi nổ tan ra thành hai mảnh, pháo tháp bật ngược ra sau cùng với xác của Nghĩa.

Được chiếc số một mở đường, cả đám xe tăng cùng ào ạt tiến lên kéo bộ binh đông như kiến cỏ, lúp xa lúp xúp, một chiếc trờ tới ủi chiếc bị cháy xuống sườn núi, lấy đường tiến lên, trong lúc chiếc số 1 đã vào hẳn vị trí trung tâm, bắn phá Bộ Chỉ Huy Pháo Đội và mon men tìm tới Lữ Đoàn. Đồng và lính của anh cố gắng dùng hết hỏa lực trì hoãn bước tiến của xe tăng địch, nhưng vô ích. Không có một trái M72 nào có khả năng công phá vỏ thép chiến xa dù các chiến binh đã thừa gan góc tiếp cận từ mọi hướng, trước, sau, hông, bụng, pháo tháp, bánh xích. Chúng đóng kín pháo tháp, chỉ xử dụng đại bác và đại liên song hành càn lên hầm hố, công sự, giao thông hào. Mũi xung kích của địch càn lên chiếc hào, xé Trung Đội 2 của Đồng ra làm hai mảnh, với tình thế đó, bắt buộc phải ra khỏi vị trí cố thủ, đánh cận chiến với…xe tăng. (5)

Toán phi hành của Th. úy Khánh vẫn còn núp trong giao thông hào khi chiến xa địch bất chấp tổn thương vẫn tiếp tục bò dần đến vị trí của anh, theo sau lưng lúc nhúc cả trăm lính tùng thiết. Tiếng nổ của đạn nhỏ đạn lớn, tiếng đạn rời nòng 105ly bên cạnh, tiếng ầm ỉ của chiến xa địch, tiếng la hét của người bị thương lẫn những binh sĩ đang chiến đấu cọng thêm với mùi bụi đất, của khói, mùi thuốc súng, mùi của…thần chết khiến Khánh co rúm người trong hầm.

“Không ngờ, chỉ mỗt lúc sau 2 xe tăng khác ở phía sau tiến tới ủi những chiếc xe cháy xuống triền đồi rồi lại hướng súng đại bác về đồi chúng tôi mà bắn! Sau vài loạt đạn, một phi tuần 2 chiếc F4 xuất hiện nhào xuống oanh tạc vào đội hình địch, và lại phá hủy thêm 2 xe tăng nữa. Trong tiếng bom đạn tơi bời, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng máy nổ của những chiếc H34 đang vần vũ trên cao như lo lắng cho số phận những đồng đội của mình. Cho đến khoảng sau 5 giờ chiều thì địch tràn lên chiếm được đồi. Chúng lùng xục từng hầm trú ẩn kêu gọi binh sĩ Dù ra đầu hàng. Biết không thể làm gì hơn, tôi và anh Bửu tháo bỏ súng đạn cá nhân, chui ra khỏi hầm.” (4)

Trở về lại với trung đội 2 vẫn đang cận chiến với chiến xa và lính tùng thiết của địch. Tình hình quá hổn loạn, cận chiến nơi này, phản kích nơi kia. Bắn Bắn. Quăng Quăng. Theo linh tính. Theo trực giác. Nằm xuống rồi lại ngồi dậy. Lăn qua hố này, rồi đến hố khác. Đứng dậy bắn một tràng đạn, thụp xuống khi kịp thấy lóe sáng của B40 hướng về mình rồi tiếng nổ chát tai sau lưng…

Sau đây là những giây phút cuối cùng của trận đánh trên Đồi 31:

“Đã có bốn chiếc tăng địch lọt vào căn cứ, trong lúc bộ binh vẫn còn vất vả phía ngoài, chúng tôi vẫn để hai cây đại liên, và hai cây khác của Trung Đội 1 vừa mới chuyển qua, bắn ghìm bộ binh, phần còn lại lao vào tăng địch, chiến trường không chỉ là của Trung Đội, mà cả Đại Đội đã lồng lên, bu kín các chiến xa, mặc cho nòng súng xe quay tròn gạt xuống. Nhưng làm gì được? Đã bắn hết số M72 để gãi ngứa chúng, đã ném không biết bao nhiêu lựu đạn để làm nhột chúng, đã chỉa nòng M16 thật gần chỉ bắn vỡ được kính mắt mèo…không lẽ lấy răng mà cắn? Sức cùng lực tận, hai cây đại liên vừa hết đạn là bộ binh nương theo khói lửa tràn lên, không biết cơ man nào mà đếm, chúng tôi vừa đánh vừa lùi, lùi trên xác đồng đội, lùi trên những đôi mắt đớn đau tuyệt vọng của những anh em bị thương không còn người cứu chữa đang nằm chờ chết.

Cả ngọn đồi đã trở thành biển lửa và máu khi tất cả hỏa lực của hai bên đều tập trung tác xạ vào một tọa độ duy nhất, dù mục đích vẫn khác nhau rất xa…”bắn lên đầu tôi đi! Vĩnh biệt! Bắn lên đầu tôi đi! Vĩnh biệt!” Trên tần số Đại Đội đã vọng lên lời từ biệt gởi khắp bốn phương. Câu hét trong máy truyền tin của Đ. Úy Đương trở thành bất diệt. Hai chiếc phản lực chúi xuống đỉnh đồi, chùm bom đen đủi lao xuống mục tiêu là một bầy xe tăng bốn năm chiếc, và cả chúng tôi mình trần thân trụi. Tôi sững sờ đứng như trời trồng nhìn chùm bom lao xuống đầu mình, thật nhanh, thật nhanh, thật gần và gần hơn nữa, rồi chỉ kịp ôm nón sắt nằm chúi vào vách đá trong một loạt tiếng nổ vang rền, long trời, đất đá, sắt thép, mảnh bom, mảnh thịt người, rơi lào rào, lịch bịch. Đồng minh oanh tạc thật chính xác! Bom đạn không chỉ thả trên đầu quân địch mà luôn cả ngay trên đầu của chính quân ta trong một nghĩa cử anh hùng của những người quyết chống trả đến phút cuối cùng. Đỉnh đồi nát bấy những mảnh vỡ của công sự, những chiến sĩ cuối cùng của pháo đội B3 cùng với Đại Úy Nguyễn Văn Đương, người Pháo Đội trưởng vẫn kiên cường cho đến phút cuối cùng trong những cố gắng gan góc, tác xạ trực diện vào xe tăng địch đang loay hoay, lúng túng trước địa hình lồi lõm, hầm hố mà khoảng cách chỉ là năm, mười mét. Kể từ lúc đó, chiến địa mất hẳn liên lạc với Pháo Đội B3.

Ba phần tư ngọn đồi đã nằm trong tay địch, chúng tôi chỉ còn giữ được một phần Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, Lữ Đoàn, nhưng không còn ai trong những vị trí đó. Tất cả đã ra ngoài cùng sát vai chiến đấu, và hệ thống chỉ huy liên lạc vẫn duy trì đầy đủ cho đến cấp trung đội, dù trên thực tế, một trung đội còn không quá 10 người còn khả năng chiến đấu. Sau khi tái phối trí lực lượng, chúng tôi được lệnh trực tiếp của tiểu đoàn, tổ chức một cuộc phản kích toàn bộ trên trận tuyến, cố gắng chiếm lại các vị trí đã mất với hy vọng không quân sẽ yểm trợ hữu hiệu để giữ vững căn cứ.

Khi đã qua phần mở màn đầy kịch tính của lo âu, sợ hãi nơi con người thèm sống, khi mà khói súng đã quyện vằn vện với mồ hôi trên mặt, khi những vết máu đồng đội đã đông cứng trên hai tay người lính chiến, thì khái niệm sống, chết bỗng trở thành vô nghĩa, nhất là trong hoàn cảnh không còn có thể chọn lựa như ở đây, tất cả chỉ còn là định mệnh. Vì thế, tất cả đã hăm hở lao lên trong một cố gắng tuyệt vọng, lại bắn, lại thụt M72, lại ném lựu đạn, lại leo tràn lên xe tăng địch, mà bây giờ đã có bộ binh phối chiến, mặt đối mặt với lưỡi lê báng súng, lăn xả vào nhau bắn giết, đâm chém, lại loay hoay không biết phải làm gì với khối sắt di động đó, lại bị thương, lại ngã gục giữa bom bầy pháo lũ, pháo nổ chụp, pháo công phá, pháo nổ chậm, trên đầu chụp xuống, dưới đất nổ hất tung lên, phạt ngang lưng, chém ngang cổ. Bom, pháo cả hai bên cùng bắn vào một chỗ, lính cả hai phía cùng chia nhau lãnh đủ, đạn bắn thủng xuyên màng tang trổ ra sau ót, óc vỡ tung ra với máu, vài cái nón sắt lăn lông lốc trên những đôi dép râu tuột quai, nhầy nhụa trong một dòng nước đỏ ối đang khởi thủy vết chảy ngoằn ngèo của một dòng sông máu. Xác chết từ hai phía thân ái ôm chầm lấy nhau rồi đổ ụp xuống nằm cạnh nhau hiền hòa như chưa hề quen biết làm ngọn núi chợt cao lên với muôn ngàn lời ai oán.

Đợt phản kích cuối cùng này không đủ sức mạnh để đạt hiệu quả mong muốn, và từ dưới chân đồi tràn lên một đợt sóng biển người và chiến xa khác. Địch tung toàn bộ lực lượng vào đợt tấn công quyết định, trong khi phía chúng tôi đã sức cùng lực tận, đành chấp nhận rút lui theo lệnh trục tiếp từ Th. tá Lê Hồng, trưởng Ban Ba TĐ3ND, để hạn chế thêm thương vong.

Đơn vị rút xuống khe núi, trung đội của tôi chỉ còn lại sáu người, có Thượng sĩ Đàng và Trung sĩ Yến. Hạ sĩ Nhất Chính đã tử trận khi một chiếc chiến xa địch nghiến qua người sau khi anh đã bị thương trong đợt phản kích. Tiểu đội khinh binh chỉ còn lại Thông, Ngôn và Tám. Tôi lại được xuống cấp làm tổ trưởng khinh binh, dẫn hai ông tổ phó mở đường rút cho đơn vị, mang theo được rất ít thương binh nhẹ, trong đó có Bé, trung đội trưởng trung đội một.

Cái đau bại trận thấm lên từng khuôn mặt mệt mỏi, chán chường, không đủ can đãm nhìn thẳng vào mắt nhau, dù chỉ để đôi điều chia sẻ. Tôi bổng hổ thẹn vô cùng trước giọt nước mắt âm thầm lau vội của Thượng sĩ Đàng, ông đã yêu những người lính trong trung đội bằng tình yêu thương ruột thịt, nên cũng đau gấp vạn lần từ thiếu vắng, tang hoang, buồn tủi trước cái nhìn trân trân vô hồn của Thông và Tám. Họ đang nghĩ đến số đồng đội bị thương đang chờ chết trong tay địch, điều mà từ trước tới nay, chưa ai một lần nghĩ tới.

Rừng chiều bổng đỗ mưa, tiếng sấm gào cùng với tiếng pháo tàn trận, dội vào vách núi, vỡ vụn ra những âm thanh buồn bã của hồi chuông tử biệt, mưa tuôn rì rào trên lá, rì rào lời kinh chiêu hồn vang vọng. Trung đội lầm lủi tiến về phía trước, theo sự hướng dẫn của ĐĐ 31 còn nguyên vẹn, đang tiến về căn cứ, và chờ chúng tôi ở hai cây số đông đông bắc. Trong khi ở một hướng khác, ĐĐ 34 cũng đang đón phần còn lại của ĐĐ32, trước khi tập hợp tại một vị trí định sẵn. Chờ lệnh mới.

Nhận lệnh trực tiếp từ tiểu đoàn, tổ chức chốt chặn, để tất cả thương binh nặng, nhẹ mang theo được, sẽ cùng ĐĐ 31 và bộ chỉ huy tiểu đoàn rút trước qua triền núi bên kia, sau đó, sẽ tìm gặp ĐĐ 34 đang cùng với một bộ phận khác của tiểu đoàn di chuyển cách đó chừng bốn cây số đông đông bắc, móc nối, dẫn đường cho hai cánh quân gặp nhau.

Nhiệm vụ nghe có vẻ nhẹ nhàng, nhưng quả thực, khi đồng đội cuối cùng khuất sau hẽm núi, Đồng cảm thấy vô cùng cô đơn với năm người còn lại. Và trên đồi 31 vẫn ầm ì tiếng pháo truy kích của xe tăng địch bắn vu vơ vào vách núi.

Chắc chắn khi leo lên được đỉnh Đồi 31, địch đã gánh chịu một sự tổn thất không thể bù đắp nổi về quân số, nên họ đã không còn khả năng tổ chức truy kích, vì thế, “trung đội sáu người” bớt được gánh nặng nghênh cản để lần mò theo tiếng súng hướng dẫn, tìm về đại đội bạn. Cho đến quá nửa đêm thì gặp nhau, và chỉ kịp siết chặt nắm tay chào hỏi, gấp rút quay theo đường cũ, theo chân ĐĐ 34, về gặp lại tiểu đoàn trước khi trời sáng. Thời gian không còn thuộc về chúng tôi.

Đoàn quân lần dò trong bóng tối của trùng điệp núi rừng, bám vai nhau tuôn dần xuống dốc núi dựng đứng, cố gắng tiến thật nhanh về điểm hẹn, nơi đó, một đơn vị bạn đang trên đường tiếp ứng. Đến gần sáng, đơn vị chúng tôi gặp được quân bạn đang hướng tới đồi 31 cùng với chiến xa, Qua mấy ngày sau, đơn vị tôi được trực thăng bốc về Khe Sanh. (5)

Sau đây là những gì xẩy ra cho nhóm phi hành đoàn sau khi họ tháo bỏ súng ống, bước ra khỏi hầm:

“Về phía KQ, tôi, anh Bửu, On và Sơn bị trói bằng dây điện thoại và bị dẫn giải ra Bắc Việt chung với tất cả tù binh khác. Không thấy anh Giang và Em đâu. Chúng tôi bắt đầu thăm hỏi các SQ và binh sĩ Dù tù binh trên đường đi. Cuối cùng tôi gặp được anh Long là người ở chung trong hầm với anh Giang khi cộng quân kêu các anh ra đầu hàng. Ðến lần thứ 3 các anh vẫn không chịu ra nên chúng thảy lựu đạn chày và bắn xối xả vào hầm. Anh Long chỉ bị thương nhẹ nên chúng bắt theo, còn anh Giang vì bị thương nặng gãy cả 2 chân không đi được nên bị chúng bỏ lại và chết ở trong hầm. Về phần Mêvô Em thì bị lạc đạn trúng bụng đổ ruột ra ngoài, khi bị bắt dẫn đi Em cứ 2 tay ôm bụng giữ lấy ruột mà không hề được băng bó vết thương nên đi được một khoảng không chịu được đau đớn, Em gục chết ở bên đường.

Thế là Phi Đoàn 219 ghi thêm vào quân sử của mình thêm một thiệt hại: 2 phi hành đoàn trên chiến trường Hạ Lào. Trong đó anh Giang và Em đã vĩnh viễn ở lại trên đồi. Ngọn đồi quyết tử 31. Những người còn lại của 2 phi hành đoàn đó là Bửu, On, Khánh và Sơn thì sa vào tay địch, bị đưa đến những bến bờ vô định, biết còn có ngày về hay không? (4)

Cùng với nhóm phi hành 4 người của Khánh, hầu như toàn bộ chỉ huy LĐ3ND tại Đồi 31 đã bị bắt làm tù binh, bao gồm Đ.tá Nguyễn Văn Thọ LĐ Trưởng LĐ3ND, Th.tá Nguyễn V. Đức trưởng Ban 3 LĐ3ND, Tr.tá Bùi V. Châu TĐT TĐ3PBDù, Đ.úy Đào V. Thương trưởng ban 3 TĐ3PBDù, Đ.úy Nguyễn Quốc Trụ phụ tá Ban 3 LĐ3ND, Đ.úy Lê Đình Châu ĐĐ trưởng công vụ LĐ3ND, Th. úy Nguyễn Văn Long Ban 3 LĐ3ND, Tr. Úy Đinh Đức Chính sĩ quan không trợ… cùng nhiều quân nhân các cấp. Tất cả đều bị trói tay và xô, đẩy, kéo đi rất tàn nhẫn và rất nhanh trong đêm vì địch sợ bị truy kích hoặc B52 trải thảm. Những ngươi đi chậm, ngay cả những thương binh, đều bị la mắng, đày đọa, đánh bằng báng súng, thậm chí cho chết. Riêng Th.úy Vinh, người chỉ huy toán Điện Tử ND đến Đồi 31 trên cùng chiếc H34 bị lâm nạn của Bùi Tá Khánh, cũng bị bắt tù binh, nhưng đã can đãm trốn thoát được bằng cách buông người truột xuống sườn đồi ngang qua một khúc quẹo trong đêm.

Vừa đi vừa bị bắt chạy theo tiếng la hét, chửi rũa của bọn lính áp giải, với 2 tay trói ké sau lưng, mà trời lại sinh tội đổ mưa, Khánh rất khó khăn theo kịp đoàn người. Kẻ nào bị té ngã nếu không có sự giúp đở của bạn tù khác thì thật vất vả để tự đứng dậy. Sau một đêm bị thúc giục đi nhanh không nghỉ, tất cả toán tù binh được cho dừng chân vào sáng sớm hôm sau. Càng xa mặt trận bao nhiêu, niềm hy vọng được cứu thoát bởi toán Lôi Hổ hay trinh sát Dù càng nhỏ dần trong lòng Khánh và mọi người. Có đôi lúc anh cầu mong B52 thả bom ngay trên toán tù đang lầm lủi đi trong đêm vì anh nghĩ may ra anh có thể thoát được giữa những hổn loạn của bom nổ, lở có chết thì cũng chấp nhận dễ dàng hơn là phải sống tù đầy trong tay bọn CS khát máu này.

Toán tù binh Đồi 31 của Khánh di chuyễn với nhau như vậy trong gần 2 tuần liên tiếp, đa số là đi bộ, có vài ba chặng đường thì bị dồn cứng chở trên xe molotova. Nhìn ai cũng xơ xác, thiểu nảo, thiếu ăn thiếu ngủ, quần áo trận rách tươm. Khi đến thành phố Vinh, mọi người được lệnh dừng lại, và ở đó trong 4 ngày, qua đêm ở những hợp tác xả. Dân làng xung quang có chạy đến xem, nhưng không một ai có bất cứ một hành động ghét bỏ thù hận nào và bị toán lính gát đuổi đi. Từ Vinh, toán tù binh Đồi 31 có thêm những bạn tù mới từ các đơn vị chiến đấu khác như TQLC, BĐQ và Bộ Binh; tất cả lại bị lùa lên những toa xe lửa bịt bùng và chở thẳng ra Hà Nội, vào ngay trại tù đầu tiên ở Ngã Tư Sở.

Nhà tù này là một biệt thự của Pháp ngày xưa. Nơi đây có trên một chục phòng, đã từng giam giữ tạm một số tù binh phi công Mỹ, với những tên tuổi còn ghi trên tường. Chúng chia cứ 6 người ở chung một phòng, không phân biệt quân binh chủng hay cấp bậc. Nơi này có trên một chục phòng như vậy.

Trong khi toán tù binh trong đó có Th.úy Khánh đang trên đường bị dẫn độ ra Bắc, thì vào ngày 28 tháng 2, 1971, từ một vị trí chếch về hướng Đông và không quá xa Đồi 31, lần lượt toàn bộ TĐ3ND được trực thăng vận về lại Khe Sanh. Tổn thất nặng của tiểu đoàn chỉ gom phần lớn ở ĐĐ 33 của Đồng và 32 của Đ.úy Thiếp, ngoài ra các ĐĐ 30, 31 và 34 hầu như còn nguyên vẹn. Trong suốt thời gian nằm dưỡng quân tại chổ, TĐ3ND tái bổ sung và trang bị lại đơn vị. Dù được bổ sung, Trung đội 2 của Đồng tạm thời chỉ có 16 người, kể cả người chỉ huy, bằng một nữa của cấp số bình thường.

Qua tin tức của các” phóng viên chiến trường” trong nước cũng như ngoại quốc, mà đa số ngồi nhâm nhi cà phê ở Givral, La pagoda, hay nếu gan dạ lắm cũng chỉ quanh quẩn ở Bộ Tư Lệnh tiền phương Quân đoàn I, Đông Hà, Khe Sanh, thêu dệt lên những bản tin thật giật gân, bi thảm hóa một trận thua vốn là lẽ thường của chiến tranh để cho rằng, quân ta thất thủ đồi 31 tức là toàn bộ Lữ đoàn 3 Nhảy Dù đã bị tiêu diệt. Thông tin kiểu đó, đã vô tình ám ảnh những đơn vị chưa được tung vào mặt trận, mà hiệu quả tâm lý chi phối phần lớn khả năng chiến đấu.

Họ không hề biết rằng, ngay sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 chính thức chấm dứt vào đầu tháng 4, 1971, từ Huế, khi màn diễn binh tại Phú Vân Lâu kết thúc, thay vì được không vận về Sài gòn để dưỡng quân như thường lệ, thì sân bay mà LĐ2ND đáp xuống lại là phi trường Cù Hanh, Pleiku đất đỏ. Tin hành quân bí mật cho đến nổi quá nhiều binh sĩ ND tức giận và đạp nát bao nhiêu nón lá bài thơ mua sẳn cho người nhà tại hậu cứ Saigon. Lữ Đoàn 2 ND dưới quyền chỉ huy của Đ.tá Trần Quốc Lịch, gồm có các TĐ5ND, TĐ6ND, TĐ11ND, TĐ2PBND cùng các đơn vị yểm trợ như Quân Y, Công Binh, Trinh Sát…, đã lao ngay vào một mặt trận căng thẳng khác: Giải tỏa căn cứ hỏa lực 6 ở Dakto, Tân Cảnh do một đơn vị thuộc Sư đoàn 22 Bộ Binh trú đóng, đang bị Sư đoàn 320 Cộng quân vây hãm từ nhiều tuần qua. LĐ2ND đã đánh tan 2 trung đoàn 66 và 28 cùng với 1 tiểu doàn phòng không của Bắc Việt khiến địch phải rút khỏi chiến trường.

Sau chừng 3-4 tháng nằm tù ở Ngả Tư Sở, toán tù binh của Khánh được đưa đến một nhà tù khác có tên Bất Bạc, nằm sâu trong rừng núi của Sơn Tây. Tại đây, có sẳn nhiều tù binh khác của VNCH, thuộc mọi binh chủng bị bắt từ nhiều mặt trận khác nhau ở Miền Nam. Từ đây trở đi, Khánh cùng các bạn tù binh khác bắt đầu một cuộc sống thực tế đầy trắc trở, cùng cực, với lao động khổ sai, tuyên truyền, thù hằn của bọn cai tù được dạy sẳn sàng bắt lổi, nhục mạ, la lối chưởi bới, đánh đập, giam đói, chà đạp danh dự và phẩm giá của người tù binh. Chúng càng ra tay tuyên truyền, đối xữ tàn tệ bao nhiêu thì Khánh và các bạn tù lại càng cương quyết, bền bỉ và quyết chí phải sống để còn là nhân chứng cho chính sách đối xữ tàn nhẫn của CS đi ngược lại quy ước tù binh Genève bấy nhiêu. Sở dĩ những tù binh trong trại vẫn hiên ngang kiên cường vì ai cũng biết sau lưng mình còn có cả một nước VNCH của mình, bao nhiêu anh em trong binh chủng đang chờ đón mình về, rằng mình không bị bỏ quên. Vì vậy họ không bao giờ có cảm tưởng họ bị bỏ rơi, nghiệm thấy bị bắt tù binh chỉ qua là một biến cố kém may mắn bất cứ một quân nhân tại mặt trận cũng có thể gặp phải, tuy nhiên vẫn còn hơn bị thương tật vĩnh viễn hoặc bị chết.

Anh đau xót nhìn những niên trưởng thường xuyên bị chúng hạch sách, đày đọa, hay quấy nhiễu vô cớ; những anh em tù khác bị thương tật, nặng có nhẹ có, bị đối xữ tàn nhẫn. Người người đều có lúc bị suy sụp tinh thần, nhưng nhìn chung ai ai cũng giữ vững niềm tin, lòng can cường và sự đoàn kết, luôn binh vực nhau ngay cả những khi bị chúng làm áp lưc. Chính vì vậy, các bạn tù rất thương yêu nhau, đùm bọc nhau, chia xẻ với nhau từng miếng ăn, công việc nặng nhọc, tâm sự vui buồn, lời cầu nguyện… Anh em thỉnh thoảng nhắc đến chuyện phim “Cầu Sông Kwai”, mà hầu như mọi người cùng thời với Khánh đều có xem, căn dặn nhau phải sống tư cách như các tù binh người Anh trong phim. Cũng vì vậy anh em tù thường xuyên hay huýt sáo bản nhạc trong phim nổi tiếng ấy. Với Khánh, anh luôn cảm thấy mình may mắn hơn nhiều bạn tù khác vì anh không những độc thân, mà ngay cả người yêu anh chưa có để thầm thương nhớ hay khóc thầm để phải suy sụp tinh thần.

Vào gần cuối năm 1972, có lẻ do những cuộc không tập ngày càng ác liệt của Không Quân Mỹ trên Miền Bắc, nhóm tù binh của Th.úy Khánh bị di chuyễn đến trại tù Tràng Định nằm ở Lạng Sơn.

“Đêm mùa đông giữa rừng núi Lạng Sơn trời lạnh căm căm thật là khó ngủ. Để chống trả cái lạnh, chúng tôi phải hai đứa một cặp đem hết mền ra, một phần để lót lưng vì nằm trên giường tre, gió cứ tha hồ luồn theo kẽ hở vào ve vuốt sống lưng, phần còn lại thì dùng để đắp. Vì trời lạnh không có chú muỗi nào dám vo ve nên chúng tôi hạ luôn mùng xuống làm mền. Có bao nhiêu quần áo, chúng tôi mặc hết vào người rồi chui vào đống mùng mền, dựa lưng nhau mà tìm giấc ngủ. Phải một lúc sau mới có chút hơi ấm và vì mệt mỏi sau một ngày làm việc quần quật chúng tôi cũng chìm dần vào giấc ngủ.

Đang thiu thiu chúng tôi bỗng choàng thức dậy bởi tiếng loa léo nhéo ở giữa sân trại:

“Đả đảo đế quốc Mỹ đã dùng B-52 ném bom rải thảm vào bệnh viện Bạch Mai và khu vực dân cư ở thủ đô Hà Nội. Bọn chúng đã lật lọng không chịu ký hiệp định mà hòng dùng sức mạnh quân sự để khuất phục nhân dân ta, bắt đảng và nhà nước ta phải ký một hiệp định với nhiều bất lợi cho ta. Nhân dân ta quyết đập tan âm mưu của đế quốc Mỹ và tố cáo tội ác dã man của chúng trước dư luận thế giới”.

Dù bị mất giấc ngủ, chúng tôi hết sức nôn nao và xì xầm bàn tán với nhau vì đây là sự việc lạ lùng chưa từng xảy ra trong suốt 2 năm tù lao động khổ sai khắp các miền rừng sâu bắc Việt. Trong chế độ tù đày mà cộng sản gọi là cải tạo, việc lao động nặng nhọc phải đi đôi với nhồi sọ chính trị mà việc đọc báo, nghe loa phát thanh là một chính sách lớn vì họ lập luận rằng cứ cho nghe mãi rồi cũng phải tin. Dĩ nhiên chỉ có những tin tức hạn chế do một đài của nhà nước, và sau khi đã được bóp méo, vo tròn theo ý họ rồi mới cho cả toàn dân miền Bắc nghe. Điều này cho thấy nhà nước cộng sản không hề tôn trọng người dân mà họ vẫn tôn làm chủ, vì trong khi họ theo đuổi hơn 4 năm trời một cuộc tranh đấu chính trị trên bàn hội nghị mà kết quả có tầm ảnh hưởng rất quan trọng cho vận mệnh của đất nước thì người dân chẳng hề biết một tí gì hết. Cho đến khi Hà Nội ăn bom B52, chẳng dấu ai được họ mới la ầm lên đổ thừa cho đế quốc Mỹ. Thế mà hôm nay không hiểu tại sao bỗng dưng họ lại phát thanh cho toàn dân nghe một bản tin thuộc loại cơ mật như vậy.

Tối hôm sau và những hôm kế tiếp, sau khi ăn cơm, chúng tôi nhanh chóng thu xếp rồi lên giường nằm vừa bàn chuyện vừa ngóng tai chờ nghe loa. Cái loa thường ngày chúng tôi ghét cay ghét đắng vì âm thanh chát chúa của nó, bỗng dưng hôm nay chúng tôi lại mong được nghe những gì nó mang đến. Quả nhiên, qua chiếc loa, người xướng ngôn với giọng đanh thép, ngoài bài xã luận một chiều thường lệ, còn cho biết “bộ đội phòng không anh dũng đã bắn rơi nhiều máy bay B52, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ”.

Chúng tôi lại được dịp luận bàn: nhiều là không đếm được, không đếm được tức là không có gì để đếm”.

Từ khi bị bắt trên chiến trường Hạ Lào, chúng tôi coi như không biết ngày về trừ khi có một hiệp định được ký kết giữa các bên tham chiến trong đó có quy định việc trao trả tù binh bị giam giữ. Lâu nay chúng tôi âm thầm chịu đựng mọi nghiệt ngã trong trại giam cộng sản cũng chỉ vì hy vọng vào hiệp định Paris với việc ký kết thành công và thi hành đúng đắn mới là con đường giải thoát chúng tôi ra khỏi nhà tù cộng sản. Phải chăng hôm nay ước vọng của chúng tôi đang thành sự thật?

Qua những bản tin nghe được, dần dà chúng tôi có thể tổng hợp lại và suy đoán như sau. Hội nghị Paris 4 bên được hình thành sau trận thảm bại Tết Mậu Thân của cộng sản với mục đích giải quyết trong hòa bình cuộc chiến Vĩệt Nam. Nhưng sau 4 năm cò kè, mặc cả giữa Hà Nội và Washington, có lúc tưởng đi đến chỗ bế tắc, đến mùa hè năm 1972 những trận đánh ngày càng khốc liệt ngoài chiến trường cho thấy hội nghị đang đi đến giai đoạn chót. Cộng sản cố đánh Quảng Trị ở vùng 1, Tân cảnh ở vùng 2, Lộc Ninh ở vùng 3 để chiếm đất. Về phía Mỹ thì kể từ ngày 14 tháng 6 năm 1972 các cuộc ném bom đã leo thang ra ngoài vùng giới hạn vĩ tuyến 20 đến tận gần biên giới với Trung Cộng. Trận cường tập 12 ngày đêm ở thủ đô Hà Nội là cú đấm knock out cuối cùng của Mỹ.

Quả nhiên, một tuần sau, quên hết những lời chỉ trích gay gắt trước đó, chiếc loa cho biết Hà Nội tưng bừng trải thảm đỏ tiếp đón trọng thể Ngoại Trưởng Kissinger đến thăm Việt Nam. Khoảng đấu tháng 2, 1973, sau 3 ngày viếng thăm, Hà Nội lại “lưu luyến” tiễn chân Kissinger và không quên tặng không cho ông tiến sĩ 3 tù binh phi công Mỹ đang bệnh nặng cần chữa trị.

Ít lâu sau trước Tết Quý Sửu, ngày 27 tháng 1 năm 1973 hiệp định Paris được ký kết giữa 4 bên và sau đó được 12 cường quốc bảo đảm thi hành đúng đắn nhằm đem lại hòa bình cho Việt nam.

Hơn một tuần sau, như thường lệ vào sáng sớm ngày thứ hai chúng tôi chuẩn bị lãnh cuốc xẻng, dao rựa đi cuốc đất, đốn cây thì bỗng được lệnh miễn lao động, mặc quần áo dài lên hội trường tập họp. Linh tính báo cho chúng tôi biết có điều quan trọng xảy đến.

Quả như vậy, sau lời mở đầu của trại trưởng trung tá Quân “rắn”, tên thượng tá chính trị viên Thường “vẹt” (vì đặc tính nói lập đi lập lại không biết ngượng miệng) của trại tù đọc và giải thích từng điều một trong bản hiệp định. Đại khái điều 1 các bên tôn trọng lãnh thổ của nhau, điều 2 tôn trọng chủ quyền, điều 3 ngưng bắn kể từ ngày ký hiệp định, điều 4 các bên cam kết trao trả hết các nhiên viên quân sự và dân sự bị bắt trong chiến tranh chậm nhất là 2 tháng sau ngày hiệp định có hiệu lực.

Chúng tôi liếc nhìn nhau vui sướng. Đúng là niềm hy vọng của chúng tôi đã thành hiện thực. Và theo quy định của bản hiệp định, chỉ còn tối đa 2 tháng nữa là chúng tôi được trao trả về cho chính phủ Việt Nam Cộng Hoà.

Đến đây Thường “vẹt” nhấn mạnh:

– Tuy nhiên, việc thả các anh về chủ yếu vẫn là do các anh có lao động tốt, học tập tốt hay không thì chính phủ ta mới căn cứ vào đãy mà khoan hồng cho các anh thôi.

Thường “vẹt” tiếp tục thao thao những điều khoản khác, nhưng chúng tôi không còn thiết tha nghe nữa. Là người có học, ai cũng biết rằng khi đã ký kết một hiệp định thì phải thi hành đúng đắn những gì hiệp định đã quy định chứ không thể vin vào những chính sách bình thường của quốc gia mình được. Giải thích như vậy chứng tỏ Hà Nội coi như không có hiệp định nào trên đời này cả. Chúng tôi cảm thấy ngao ngán, nhưng vẫn còn một phần nào hy vọng vì bản hiệp định đã được các cường quốc bảo đảm trong đó có cả đàn anh Trung cộng của Hà Nội.

Cuối cùng, Quân “rắn” kết thúc buổi họp và nói tiếp:

– Thôi, các anh cố gắng học tập lao động tốt để sớm trở về với gia đình. Và để đánh dấu cho một mùa xuân hoà bình trên đất nước, trại được trên cho phép tổ chức một cái Tết thật to, có bánh kẹo, có thịt lợn, thịt trâu và có cả văn nghệ nữa”. (6)

Niềm vui rộ lên, cả trại nhốn nháo vui mừng với bao nhiêu hy vọng sẽ được trao trả về Miền Nam sau hiệp định Paris. Các bạn tù được cho phép tự tổ chức văn nghệ mừng Xuân năm 1973.

“Một nhóm anh em có máu văn nghệ, thích ca hát được thành lập gồm có anh Trụ, anh Bửu, anh Hạnh, Siêm, Dự và tôi. Chúng tôi bàn bạc với nhau để chọn bài hát. Đã gọi là hoà giải thì phải có cả nhạc bản của cả hai miền Nam, Bắc chứ. Bàn đi tính lại cuối cùng chúng tôi lựa các bài như sau : Ly rượu mừng, Nối vòng tay lớn, Đôi bạn (nhạc của Phạm Duy phổ thơ Hoàng trung Thông là nhà thơ tiền chiến hiện còn sống ở Hà Nội), Chuyện hàng cây (của một nhạc sĩ lô-can trong trại, chuẩn uý Trần thanh Hùng phổ thơ của một thi sĩ không có tiếng ở ngoài bắc), bản Romance de l’Amour sẽ do anh Trụ độc tấu tây ban cầm và một đoạn sớ Táo Quân sẽ do anh Khoan diễn tấu. Vì tất cả đều bị kiểm duyệt trước nên chúng tôi phải dò từng chữ, nhất là những bản nhạc xuất bản ở Miền Nam, nếu cần thì đổi lời chút ít để tránh đụng chạm.

Sáng mùng một Tết, chúng tôi ngồi túm trong lán trại, ăn kẹo uống trà, hút thuốc lào. Năm nay Tết lớn nên anh em mỗi người được phát thêm một điếu thuốc thơm Tam Đảo ngoài 3 điếu thuốc đen Trường Sơn thường lệ. Lác đác một vài quản giáo ghé vào các lán thăm xã giao chúc Tết. Ngoài sân trại cũng có vài nhóm anh em tù đứng tán chuyện, thấp thoáng bóng áo xanh bộ đội chen với màu áo trắng xọc đỏ của tù nhân.

Sau bữa cơm chiều, lúc 7 giờ tối, mọi người tập trung vào hội trường xem văn nghệ. Chúng tôi trình diễn không micrô, nhạc cụ thì mượn được của cảnh vệ một đàn guitar thêm vào với cây guitar tự tạo bởi Dự và anh Trụ. Vậy là xôm tụ rồi.

Để mở đầu, anh Bửu trưởng ban văn nghệ có vài lời cám ơn trại đã cho phép trình diễn văn nghệ và cuối cùng xin trại nhớ thi hành hiệp định một cách đúng đắn để anh em chúng tôi sớm được trao trả về Miền Nam.

Sau đó toàn ban văn nghệ chúc Tết mọi người bằng bản nhạc quen thuộc Ly rượu mừng. Màn thứ hai do Siêm, một chuẩn uý sư đoàn 1 với giọng ca khá giống Chế Linh trong bài Trường sơn đông, Trường sơn tây. Bản nhạc chấm dứt, anh em vỗ tay tán thưởng nhất là bộ đội, quản giáo. Sang đến bài Nối vòng tay lớn do Dự, thiếu uý viễn thám TQLC tay đàn miệng hát, đã lôi cuốn mọi người cùng vỗ tay theo nhịp vang động cả hội trường. Tiếp đến là bài Đôi bạn hát bởi anh Hạnh, sĩ quan đề lô của sư đoàn 1, buồn buồn như quê nghèo sỏi đá miền trung. Bản nhạc vừa dứt, Hạnh ngoắc tay về phía Khánh, từ hậu trường Khánh tiến tới đứng sát bên Hạnh; cả hai chúng tôi song ca bản Tình khúc cho em của Lê uyên Phương, một bản nhạc không có trong chương trình. Hơi bất ngờ một chút, rồi anh em mọi người đồng vỗ tay, huýt sáo. Hứng chí chúng tôi đi 2 bè thật hay. Chợt Khánh nhìn thấy từ hàng ghế đầu, mặt đanh lại Quân “rắn” đứng lên đi thẳng ra ngoài. Vài quản giáo và cảnh vệ cũng đi theo.

Bản nhạc dứt, trong tiếng vỗ tay tán thưởng, anh Trụ đang sửa soạn thế ngồi để chơi bản Romance thì Thường “vẹt” tiến tới quay xuống mọi người nói :

– Thôi đủ rồi, giải tán.

Mọi người vừa đi vừa cười nói, bàn tán. Ban văn nghệ chúng tôi vừa thu dọn nhạc khí xong thì quản giáo Hoàng “choắt”, người nhỏ xíu cao chừng 1 mét rưỡi, vào bảo chúng tôi đi theo anh ta sang nhà họp của cảnh vệ. Tại đây đã có Quân “rắn”, Thường “vẹt” cùng vài cảnh vệ đứng chung quanh sát tường. Chỉ vào băng ghế đối diện, Quân “rắn” hầm hầm bảo:

– Các anh ngồi xuống đây.

Rồi Quân “rắn” rít qua 2 hàm răng :

– Ai cho các anh hát nhạc vàng? Các anh vượt quy định, không đăng ký trước.

Anh Bửu phân trần:

– Đấy chỉ là tình cảm đằm thắm thương vợ, nhớ tình nhân mà anh em chân thành bộc phát ra.

– Các anh lợi dụng chúng tôi hoà hoãn, định dùng nhạc vàng để lung lạc tình cảm chân chính của chúng tôi hay sao? Đừng tưởng có cái hiệp định mà chúng tôi sợ không dám đụng đến các anh hả! Nói cho các anh biết thả hay không là ở tôi này. Nhốt các anh suốt đời cũng còn được. Bọn lính Tây Điện Biên Phủ ta còn giữ đến bây giờ, huống hồ các anh.

Rồi Quân rắn đổi giọng:

– Cảnh vệ đâu? Tống chúng nó vào nhà kỷ luật ngay. Quần áo, chăn màn thì cho đứa nào đem xuống cho chúng nó sau. Đi nhanh!

Thế là chúng tôi bị dẫn đi xuống khu nhà kỷ luật. Khu nhà kỷ luật nằm ở cuối trại gần trạm canh. Khu này được dựng bằng gỗ chắc chắn. Cứ 2 phòng một cạnh nhau, mỗi phòng độ 3 thước vuông với một cái giường tre vừa đủ nằm. Không có cửa sổ và chung quanh rào dây kẽm gai kiên cố.

Chúng tôi mỗi người bước vào căn xà lim của mình. Vắng vẻ, lạnh lẽo và dư thừa thì giờ để nghiền ngẫm về chính sách hoà giải của người cộng sản” (6)

Sau nhiều tuần được “vỗ béo”, khẩu phần dinh dưỡng tăng, lao động tối thiểu, anh em tù binh đều phấn khởi, lâng lâng với cảm giác mình không bị bỏ rơi bởi quốc gia mình. Vài tháng sau Hòa Đàm Paris được ký kết, nhóm tù binh bị bắt tại Lào như Khánh không được trao trả. Không phải vì lao động không giỏi hoặc học tập không tốt. Đến lúc đó mới thấy bọn CS thâm hiểm. Chúng gian xảo tráo trở cho rằng nhóm tù binh bị Pathet Lào bắt tại Lào, và vì chưa có hiệp định nào ký kết giữa VNCH và Pathet Lào, nên không thể trao trả tù binh VNCH bị Pathet Lào bắt trên nước Lào. Đương nhiên chúng đã nghĩ trước những kẻ hở này khi ký kết Hòa Đàm nên mặc nhiên trở mặt, lật lọng vào phút chót. Thế là bao nhiêu hạnh phức và kỳ vọng của nhóm tù binh Hạ Lào được trở về Miến Nam biến thành mây khói, bao mơ ước bị sụp đổ tan tành. Sau đó là những ngày tăm tối, buồn bả tuyệt vọng, suy sụp đến chết người dưới sự giam cầm tàn ác ngày một tăng.

Rồi lại chuyễn trại đến Cao Bằng trong năm 1974. Rồi tin Miền Nam bị tan rả dần, Mỹ quyết định bỏ rơi người bạn đồng minh của mình khiến quân đội VNCH đành phải thúc thủ buông súng, VNCH hoàn toàn mất vào tay CS Bắc Việt vào 30 tháng 4, 1975. Một cú atemi ác nghiệt chém vào tử huyệt mọi tù binh còn lại trong trại. Biết từ đây không còn một sức mạnh, một thế lực nào khả dĩ cứu vớt họ. Cơn ác mộng đen tối bao phủ toàn trại khi họ biết từ đây họ sẽ vĩnh viễn mất tự do.

Khánh lại được chuyễn đến một trại tù mới tên Nghĩa Lộ tại Yên Bái, và nằm ở đó thêm một thời gian dài nữa. Trại tù này, cũng như bao trại tù mà Khánh đã ở qua, hoàn toàn không có bóng dáng của các tù binh trong những tháng cuối cuộc chiến tại Miền Nam VN hoặc những tù cải tạo sau này. Trong những lần lao động bên ngoài trại, thỉnh thoảng Khánh gặp dân trong vùng. Đa số tử tế với tù nhân, đôi khi còn cho củ khoai, củ sắn.

Ngày 7 tháng 6, 1976, từ trại tù Nghĩa Lộ, Th.úy Không Quân Bùi Tá Khánh của chiếc trực thăng H34 bị bắn và đáp khẩn xuống Đồi 31 tại Hạ Lào tháng 2, 1971, được thả cho về nhà cha mẹ ở đường Lý Thái Tổ, quận 10, Sài Gòn. Sau trên 5 năm làm tù binh ở Miền Bắc.

Tr. úy Nhảy Dù Phạm Đồng của Đồi 31 Hạ Lào, sau lần bị thương tật ở đầu gối phải trong trận đánh tháng 3, 1972 tại Căn Cứ Hỏa Lực 5 ở Tân Cảnh, Pleiku, từ giả nhiệm vụ tác chiến và trở về làm việc hành chánh tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù ở Trại Hoàng Hoa Thám cho đến ngày 30 tháng 4, 1975. Trình diện cải tạo, Phạm Đồng ở tù học tập gần 8 năm.

Anh Bùi Tá Khánh, một thân một mình, vượt biên thành công vào năm 1981, đến nước Mỹ năm 1982. Định cư đầu tiên ở San Jose, anh di chuyển sau đó qua Denver vào năm 2005.

Anh Phạm Đồng định cư ở Denver sau khi đến Mỹ vào năm 1993 với vợ và hai con qua chương trình HO.

Trong một buổi tiệc do anh chị Phạm Đồng tổ chức tại tư gia nhân dịp đón mừng vợ chồng chúng tôi đến chơi Denver tháng 4, 2017, anh Hoàng Gia Viễn, một cựu Tr.úy phi công F5, đến tham dự với vợ cùng 2 cặp vợ chồng đàn em trong Không Quân VNCH, cũng là cư dân Denver. Đây là lần đầu tiên anh chị Đồng gặp gở 2 căp vợ chồng trẻ tuổi này, mà anh Viễn cho biết một người là sĩ quan chuyên về bảo trì phi cơ ở phi trường quân sự Pleiku, và người kia là sĩ quan phi hành trực thăng. Chuyện trò qua lại trong bửa ăn, và sau màn giới thiệu sơ khởi, anh phi công trực thăng buộc miệng tâm tình anh là phi công của Phi Đoàn 219, chuyên lái trực thăng H34, không một ngày tù cải tạo nhưng lại là tù binh ở ngoài Bắc. Vào chi tiết hơn nữa, anh tóm tắc câu chuyện đời phi công của anh, mà ngay chính anh Hoàng Gia Viễn, người đàn anh KQ, cũng chưa hề nghe qua. Ngang giữa câu chuyện trực thăng H34 của anh lâm nạn và phải đáp xuống Đồi 31 trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, gia chủ Phạm Đồng bật đứng dậy “tôi cũng ở Đồi 31 thời gian đó…”.

Thế là hai anh, Bùi Tá Khánh và Phạm Đồng, đồng loạt cùng đứng lên, xô ghế tiến sát gần nhau và ôm choàng lấy nhau, nhích ra rồi lại ôm nhau lại, nắm chặc tay nhau, mắt nhìn nhau, miệng cười lớn, mừng rở như tìm thấy lại một người thân quý nhất trong đời bị thất lạc từ nhiều năm qua. Giữa tiếng chúc mừng, vổ tay hoan hỷ của bàn tiệc.

Sau đó, từng người một, thay phiên nhau cụng ly chúc mừng sự trùng phùng quá đặc biệt và kỳ thú này. Sự ngẫu nhiên hi hữu như do trời định. Thật vậy, một người là sĩ quan Nhảy Dù cấp trung đội chiến đấu sống còn tại Đồi 31, người kia là sĩ quan phi hành trực thăng H 34 đáp khẩn trên Đồi 31 rồi bị kẹt tại đó. Cả hai đều là nhân chứng trong những ngày cuối của Đồi 31, để sau đó một người trở thành tù binh bị dẫn độ ra tận Miền Bắc, người kia chiến đấu đến giây phút cuối và sống sót rút khỏi Đồi với chỉ 6 người còn lại của trung đội mình. Về sau, một người tiếp tục chiến đấu cho Miền Nam đến tận ngày mất nước, người kia không được trao trả theo cam kết Hiệp Định Paris. Cả hai đều chưa từng gặp nhau, chưa hề biết hoặc nghe tên nhau khi còn tại Đồi 31 hay ngay cả sau này khi là tù binh hay tù cải tạo trong suốt cả 46 năm. Hôm nay cả hai bất ngờ gặp nhau. Trong một buổi tiệc không tên. Ngay tại Denver dù cả hai từng sinh sống tại thành phố này hơn cả mươi năm qua. Quả là diệu kỳ. Còn gì vui sướng cho bằng! Còn gì nhiệm mầu hơn nữa!

Như mọi người có mặt trong đêm, cá nhân tôi thật xúc động, nhất là sau khi nghe cả hai anh Khánh và Đồng lần lượt kể câu chuyện của mình từ Đồi 31 cho đến về sau. Như một chia xẻ chân thành, tôi vuột miệng “tôi xin phép được ghi lại câu chuyện độc đáo có một không hai này và lấy đề tựa ngay từ bây giờ: H 34 trên Đồi 31”. Toàn thể đều tán thành và nâng cao ly rượu.

Et voila.

Mission Viejo, Tháng 1, 2018

Vĩnh Chánh


Từ trái qua phải: chị Khánh, chị & anh Tạ Quang Thạch ( KQ/ Pleiku), anh Bùi Tá Khánh, anh & chị Vĩnh Chánh, chị & anh Phạm Đồng, anh Dược Sĩ Nguyễn Hữu Tiến (Quân Y Nhảy Dù), anh & chị Hoàng Gia Viễn (phi công F5), anh Đoàn Vũ (TĐ14ND, mà vợ là người bấm máy chụp hình).


Anh Phạm Đồng và anh Bùi Tá Khánh bên nhau, 46 năm sau khi cùng có mặt trên Đồi 31 (hình chụp tháng 8, 2017 tại Denver)

http://www.svqy.org/2018/1-2018/h34/h34.html

***(1) : Mặt Trận Ngoại Vi.Tác giả: Phan Hội Yên
(2) : Vào Đồi 31 Hạ Lào. Tác giả: Kingbee Bùi Tá Khán
(3) : Đồi 31. Tác giả: Phan Hội Yên
(4) : Chuyến Bay Tử Thần. Tác giả: Kingbee Bùi Tá Khánh
(5) : Ngọn Đồi Vĩnh Biệt. Tác giả: Phan Hội Yên
(6) : Tết Hòa Giải. Tác giả: Bùi Tá Khánh

Hoàng Phủ Ngọc Tường và Đông Ba Gia Hội

Trần Văn Tích
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ảnh chụp từ trang datviet.vn)
Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ảnh chụp từ trang datviet.vn)
Đông Ba và Gia Hội là hai địa phương quan trọng và quen thuộc của cố đô Huế. Trong vụ thảm sát Mậu Thân 1968 tên họ Hoàng Phủ Ngọc Tường gắn liền với hai địa danh này. Đối với vùng Đông Ba, Hoàng Phủ Ngọc Tường dính líu vì khẳng định rằng máy bay Mỹ đả bỏ bom tiêu hủy một bệnh viện nhỏ ở đây gây tử vong cho hai trăm người. Đối với vùng Gia Hội, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị công luận tuyên án vì bị buộc tội ngồi ghế chánh án hạ lệnh xử tử hằng trăm đồng bào.
*
Hoàng Phủ Ngọc Tường và bệnh viện Đông Ba
 
Trong bài Hoàng Phủ Ngọc Tường sắp chết vẫn nói dối tôi viết nguyên văn “Người viết bài đặt tiền đề như vậy làm giả thuyết – nghĩa là nêu vấn đề ra theo tinh thần khoa học để giải thích một hiện tượng ngoài đời hay trong tự nhiên nào đó (trong trường hợp này là vụ gọi là Mỹ thả bom giết hai trăm người ở một bệnh viện toạ lạc tại Đông Ba, Huế) – và tạm chấp nhận sự kiện liên hệ tuy chưa thể kiểm nghiệm, chứng minh hầu căn cứ vào đó mà phân tích, suy luận.“ Hành động thận trọng đi đôi với lối viết lương thiện là nguyên nhân khiến tôi phải nhấn mạnh cung cách làm việc của bản thân. Tôi không có phương tiện hầu xác nhận chắc chắn rằng tại Đông Ba có hay không có một bệnh viện nhỏ bị máy bay Mỹ “thảm sát“ (sic)1. Nhằm giúp tôi làm sáng tỏ nghi vấn này, nhiều bằng hữu và đồng hương sinh trưởng ở Huế, có người hiện diện tại Huế vào đúng Tết Mậu Thân 1968, đã cung cấp cho tôi một số dữ kiện, càng ngày càng nhiều và càng ngày càng rõ, qua mạng internet. Bài viết này tổng kết những dữ kiện liên quan đến cơ sở y tế mà Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi là “bệnh viện nhỏ ở Đông Ba“, căn cứ vào các tin tức tôi thu thập được. Để thêm tính xác tín, tôi nêu rõ danh tính chứng nhân khi người lên tiếng dùng phương tiện phổ biến rộng rãi là internet; trong rất nhiều trường hợp tôi không thể nêu tên họ nguồn tin bởi vì tôi nhận được tin tức qua hình thức điện thư gởi riêng cho tôi. Trong mọi trường hợp, luận cứ của tôi dựa vào sự kiện khách quan; tôi triệt để gạt bỏ lối lập luận hồ đồ dựa vào suy đoán chủ quan.
*

Trước hết xin nói rõ địa phương được Hoàng Phủ Ngọc Tường đan cử là Đông Ba chứ không phải Gia Hội, như tác giả JB Trường Sơn đã lầm lẫn đưa lên diễn đàn “ba cây trúc“ kèm theo hình ảnh, như sau đây :

Trích. “Cái bệnh viện nhỏ mà Hoàng Phủ Ngọc Tường nói đến chỉ là một bệnh xá nhỏ ở khu Gia Hội chứ không phải là bệnh viện lớn với những 200 bệnh nhân trong đó, bệnh xá này chỉ có một bác sĩ và hai cô y tá khám bệnh và phát thuốc cho dân trong vùng. Bên cầu Gia Hội về phía sông Hương là bệnh xá này. Hết trích.
Bây giờ tôi xin trình bày những chi tiết do bạn bè và người quen cung cấp. Tôi đặc biệt trân trọng các chi tiết do một cựu nhân viên của chính cơ sở chẩn đoán điều trị liên hệ trực tiếp gởi đến cho tôi qua e.mail, nhờ sự giới thiệu của một người bạn và một người quen ở Canada và ở Hoa Kỳ. Vị cựu nhân viên này là một y tá, từng phục vụ lâu năm tại cơ sở khám bệnh và chăm sóc người ốm đau mà chúng ta đang đề cập. Hi hữu và quí hoá hơn nữa, sau tội ác Tết Mậu Thân, đích thân Ông đã trở lại thăm viếng cơ quan y tế nơi Ông từng phụng sự.
Vượt qua cửa Đông Ba, quẹo trái, đi dọc theo bờ thành có con đường nhỏ trước kia gọi là Đường Nhà Thương. Cách cửa Đông Ba trên dưới một cây số có một cơ sở điều trị y tế. Tên chính thức của nó là Bệnh xá Thành Nội. Đó là một căn nhà trệt – nghĩa là không có lầu – diện tích lối 25m x 30m. Phía bên trái có nhà hộ sinh diện tích chừng 5m x 8m, nằm tách rời khỏi bệnh xá bằng một lối đi. Đây là loại trạm xá y tế, có thể xem như trạm xá cứu thương, do Bộ Y tế Việt Nam Cộng Hoà thiết lập ở xã hoặc ngay trong lòng một cơ quan. Đồng dạng và ngang cấp với nó có thể kể các trạm biến thế điện hay các trạm khí tượng. Trạm có thể cung cấp những dịch vụ y khoa sơ cứu, cấp cứu hay thường nhật, phổ thông như chích ngừa dịch bệnh, săn sóc vết thương nhẹ, phát thuốc; ngoài ra còn nhận hộ sản những trường hợp sinh nở thuận lợi dễ dàng. Trang thiết bị rất thô sơ, chỉ gồm các phương tiện tối cần thiết. Không có xe cứu thương di tản bệnh nhân, không có phòng tiểu phẫu, không có máy quang tuyến; không có giường bệnh nhân nằm. Trạm chỉ khám ngoại chẩn nghĩa là người ốm chỉ đến khám rồi về nhà, không nằm lại nhà thương. Phụ trách trạm xá là một y sĩ2, khám bệnh mỗi tuần ba lần. Quản lý tổng quát nặng phần hành chánh tiếp liệu là một y tá trưởng. Tập thể nhân viên chuyên môn gồm bốn y tá, một nữ hộ sinh, hai y công và sáu nam nữ thực tập học nghề.
Như đã trình bày, sau thảm hoạ Tết Mậu Thân 1968, người chứng liên quan đã chính mình trở lại thăm viếng trạm xá này; trạm xá vẫn tồn tại hầu như nguyên vẹn, chỉ có mảnh đạn, mảnh pháo ghim trên các bức tường. Trạm xá không hề bị máy bay Mỹ ném bom; điều này một nhân chứng khác gởi e.mail dưới tên họ David Hoang cũng quả quyết như vậy. Tác giả David Hoang là một cư dân lưu cữu nơi vùng trạm xá được xây cất, Ông mô tả hầu như từng căn nhà một ở xung quanh trạm xá.
Tóm lại ở Huế không có bệnh viện Đông Ba – dầu nhỏ, theo cung cách trần thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ chợ Đông Ba đi qua cầu Gia Hội quẹo xuống dốc bên phải là Bệnh xá Gia Hội.
*
Hoàng Phủ Ngọc Tường và Toà án Gia Hội
 
Nhiều người tố cáo đích danh Hoàng Phủ Ngọc Tuờng ngồi ghế chánh án toà án nhân dân thiết lập tại trường tiểu học (hay trung học?) Gia Hội nhằm xử án và sau đó tuyên án tử hình trên hai trăm đồng hương Huế.
Người thứ nhất là Ông Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà, nhiệm kỳ 1967-1971. Cựu Dân biểu Nguyễn Lý Tưởng hiện ở Westminster, California, Hoa Kỳ.
Người thứ hai là Linh mục Phan Văn Lợi, thuộc giáo xứ Phú Cam, Huế, Việt Nam. Linh mục cho biết không trực tiếp tận mắt nhìn thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường trong vai trò quan toà ma quỉ nhưng nhiều chức sắc Thiên chúa giáo kể lại cho Cha nghe như vậy. Linh mục Phan Văn Lợi hiện ở Huế. Ngày 13.02.2018, Linh mục đã trực tiếp gởi cho tôi ba bài viết do Linh mục chấp bút và liên quan đến Mậu Thân Huế 1968. Ngày 14.02.2018 đài RFA tường thuật lời Linh mục trả lời phỏng vấn như sau : Trích. “Điểm thứ 2 là ngay năm 1968, sau biến cố đó tôi có nghe nhiều linh mục giáo sư của tôi trong chủng viện nói với tôi ông Hoàng Phủ Ngọc Tường từng ngồi ghế Chánh án Toà án nhân dân. và sau đó tôi cũng đọc được nhiều tài liệu là ông Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế Toà án nhân dân tại thành phố Huế trong biến cố tết Mậu Thân.”Hết trích.
 
Người thứ ba là cựu Thiếu tá Liên Thành, nguyên Trưởng ty Cảnh sát Huế. Trong cuốn sách Huế Thảm sát Mậu thân, Tội ác Đảng Cộng sản Việt Nam, từ trang 197 đến trang 203, viên sĩ quan phụ trách ngành cảnh sát ở Huế vào lúc thảm sát Mậu Thân 1968 xảy ra cho biết Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế chánh án phiên toà xử tử hình hơn hai trăm đồng bào Huế. Theo Thiếu tá Liên Thành, thái độ khẳng định này dựa vào thẩm vấn cả trăm nhân chứng sau vụ Mậu Thân. Cựu Thiếu tá Liên Thành hiện cư ngụ tại Chino, California, Hoa Kỳ.
Tác giả thứ tư là nữ ký giả người Hoà Lan Elje Vannema trong chương sách The Vietcong massacre at Hue, Nhà Xuất bản Vintage Press, New York, 1976. Cơ quan thông tin Saigon Times ở Úc đã dịch một phần sách của Elje Vannema sang tiếng Việt như sau : TríchDân chúng hiện diện khá đông tại các phiên tòa ở Tiểu chủng viện, ở Gia Hội bên kia cầu và ở trong thành. Tòa án ở Tiểu chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì. Tên này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu lãnh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước đây. Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Đắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại xuất hiện. Tòa trong thành do hai sinh viên Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan điều khiển. Các phiên tòa vang lên những lời đe dọa với khẩu hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do mình bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử hình tức khắc.“ Hết trích.
 
Về phần mình tất nhiên Hoàng Phủ Ngọc Tường chối bay chối biến là mình không hề chủ trì một phiên toà ác ôn như bị gán ghép. Tai vạ thảm khốc này đổ lên đầu y một cách hết sức oan ức bởi vì y không hề có mặt tại Huế khi xảy ra tội ác chiến tranh Mậu Thân 1968.
*
Khẳng định và nghi vấn
 
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nói láo, đã dối trá, đã lừa lọc, đã gian giảo và thâm hiểm trong vấn đề bệnh viện Đông Ba.
Y tuyên bố ở Đông Ba có một bệnh viện nhỏ và bệnh viện này bị máy bay Mỹ “thảm sát“. Y cố tình quan trọng hoá cơ quan y tế và y hoàn toàn bịa ra tội ác của không quân Hoa Kỳ. Chỉ có Gia Hội mới có bệnh xá, còn trạm xá y tế Đông Ba thì không hề bị bom Mỹ tàn phá mà vẫn nguyên vẹn sau biến cố Mậu Thân. Y khơi khơi đưa ra con số hai trăm nạn nhân của vụ phi cơ Hoa Kỳ ném bom xuống bệnh viện. Là người ra đời, lớn lên, ăn học rồi dạy học ở Huế lại có nhà ở ngay trong Thành nội, y không thể đui mù đến độ lầm lẫn một trạm cấp cứu với một nhà thương. Và con số hai trăm nạn nhân chết một lúc và chết một loạt vì các phi vụ Hoa Kỳ thì chỉ có bọn Việt cộng Nguyễn Đắc Xuân + Hoàng Phủ Ngọc Tường mới dám đưa ra. Đó là những điều tôi quả quyết được qua tìm hiểu cẩn thận trong khả năng của mình.
Nhưng qua vấn đề Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế chánh án toà án nhân dân thì bản thân tôi gặp nhiều nghi vấn.
Trước hết, chỉ có một toà án nhân dân duy nhất hay có nhiều toà án nhân dân. Thiếu tá Liên Thành nhất định bảo chỉ có một toà án nhân dân ở tại Gia Hội trong khi nữ tác giả Elje Vannema cho biết có đến ba toà án ở ba địa phương khác nhau và với ba thành phần quan toà khác nhau!
Địa điểm thiết lập phiên toà xử tử hàng loạt đồng bào nằm tại đâu? Thiếu tá Liên Thành cho biết toà án được triệu tập tại trường trung học Gia Hội. Cựu Dân biểu Thừa Thiên Nguyễn Lý Tưởng cho biết toà thực thi tố quyền sát nhân tại trường tiểu học Gia Hội. Linh mục Phan Văn Lợi chỉ nói tổng quát là Hoàng Phủ Ngọc Tường xét xử và xử tử đồng bào tại Huế trong vụ Mậu Thân. Bà Elje Vannema cho rằng toà án do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì nằm ở Tiểu chủng viện còn toà án bên Gia Hội thì do Nguyễn Đắc Xuân phụ trách3.
*
Kết luận
 
Bản thiết án treo trên đầu Hoàng Phủ Ngọc Tường không thể nào phá án được, dầu nói thế nào đi nữa và dẫu chối cách gì đi nữa. Nhưng nền công lý nhân loại – trong đó có nền công lý Việt Nam Cộng Hoà – là một nền công lý công minh, nhân bản và hợp luật. Nền công lý đó thượng tôn pháp quyền. Trong một vụ án mà có nghi vấn thì nghi vấn phải được nêu ra. Nêu ra khi có thể nêu ra, nhất là khi Mậu Thân lại trở về sau năm mươi năm trong niềm đau của Huế.
Nhưng đã nói thì phải nói cho trót. Hoàng Phủ Ngọc Tường nhất định có tội. Nhưng con cái y thì không. Y kết hôn với Lâm thị Mỹ Dạ sau Mậu Thân Huế 1968. Con cái y ra đời sau Mậu Thân. Chúng không thừa kế tội ác của cha chúng. Cho nên chúng ở Việt Nam hay sang Hoa Kỳ là việc của những người cho phép chúng ở Việt Nam hay chấp nhận cho chúng sang sinh sống ở Mỹ quốc. Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân có thể tuyên án tử hàng loạt cho hằng trăm người nhưng chính nghĩa quốc gia Việt Nam Cộng Hoà thì tôn trọng và bảo vệ quyền lợi pháp lý của từng cá nhân một.
Chỉ có cộng sản mới có chủ trương tàn ác vô nhân xét lý lịch ba bốn đời.
18.02.2018
1Thảm sát là giết chóc hàng loạt người một cách tàn ác không nương tay. Người ta không thể thảm sát một bệnh viện, tức là một ngôi nhà!
2Vị ân nhân giúp đỡ cung cấp tiểu tiết cho tôi dùng chữ “y sĩ“, tôi xin tôn trọng cách sử dụng từ vựng của Ông. Tuy nhiên chỉ có chế độ Việt cộng mới hay dùng tên gọi y sĩ. Trong văn cảnh trình bày kiến trúc, bố trí, chức năng, trang bị, nhân sự v.v..của trạm xá, tôi nghĩ có lẽ giới chức chuyên môn y tế trung cấp đứng đầu trạm xá là một nam hay nữ cán sự y tế hoặc một nam hay nữ cán sự điều dưỡng. Ở Sàigòn và Huế đều có Trường Cán sự Y tế, về sau cải danh thành Trường Cán sự Điều dưỡng. Ứng viên tham gia thi tuyển vào Trường phải có bằng Trung học Đệ nhất cấp hay bằng Tú Tài Một. Nam Cán sự Y tế/Cán sự Điều dưỡng nhập ngũ mang cấp bậc chuẩn uý trừ bị và được gọi là Sĩ quan Trợ y. Ở Sàigòn Trường Cán sự Y Tế/Cán sự Điều dưỡng toạ lạc tại đường Đại tá Trần Hoàng Quân, sau 75 Việt cộng đổi tên thành đường Nguyễn Chí Thanh. Cơ sở nhà trường nằm sát cạnh bệnh viện Chợ Rẫy.
3Hoàng Phủ Ngọc Tường từng theo học Trường Đại học Văn khoa Sàigòn. Cả hai vợ chồng tôi đều đã gặp mặt y và nói chuyện với y tại đây.

Tự Sự Của Một Người Lính Thủy

Trần Du SinhTác giả đã nhận giải Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2014. Lớn lên tại VN khi cả nước đã thành xã hội chủ nghĩa, ông kể, “Trong khi đợi bảo lãnh diện đoàn tụ gia đình, tôi có cơ may được học bổng của Liên Âu (EU) để hòan thành chương trình BA và MBA International Management.” Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, ông đã hoàn tất luận án tiến sĩ tại Đại Học ở Argosy, San Diego, và là một Phó Giám Đôc kỹ thuật hàng hải của Bộ Quốc Phòng Mỹ, làm việc tại Á Châu. Bài mới là hai tự sự ngắn của một người lính thủy.

* * *

1. Lạc Lối Thiên Đàng

Đêm nay mưa dầm. Lạnh buốt da, cảm giác buồn ngủ kéo tới nhưng hãy còn sớm. Xưa nay tôi vốn không muốn ngủ sớm vì thấy đời quá ngắn, ngủ nhiều cũng là cách hoang phí cuộc đời. Hơn nữa, đối với người lính thủy, những giây phút trên đất liền luôn là những món quà cần trân quý.

Lấy xe dạo một vòng phố nhỏ, định bụng sẽ tìm một quán rượu nào đó để làm một ly cho ấm bụng và thưởng thức một điếu thuốc thơm. Thiên đàng bỗng thấy rất gần. Một thiên đàng giản đơn cho người lính viễn chinh.

Mưa vẫn rơi mãi trên đường phố vắng đêm khuya. Bài hát nào đó từ đâu vọng về.

Xưa nay tôi vẫn thích những con phố nhỏ dù chẳng có lý do gì. Có lẽ đó cũng là cách tôi tách mình ra khỏi Little Saigon, nơi dường như có tiếng eo sèo mặt nước buổi đò đông của Tú Xương. Nơi đó có quá nhiều hương vị cuộc sống, mà đôi khi sự giản đơn lại khó kiếm.

Phố Everett gần như bị bỏ rơi. Chỉ còn vài quán rượu còn đỏ đèn. Đậu xe ven đường, rảo bước trong cơn mưa dầm. Lướt qua những ô cửa kiếng chỉ thấy vài bóng người. Thôi thì hẹn dịp cuối tuần vậy. Con phố này có vẻ thiếu sinh khí trong ngày thường.

Rồi bỗng có một quán sáng đèn. Một bà cụ nhỏ thó nhìn ngoài bảy mươi đang ngồi thả từng ngụm khói nhỏ. Đời có vẻ như đang ngừng trôi.

Một quán cà phê đóng cửa muộn.

Mừng như bắt được vàng, ít ra cũng có chỗ dừng lại để làm một điếu thuốc thơm. Tôi mở cửa ghé vào.

Một thế giới lạ lẫm đang hiện ra. Những bức tường treo toàn những bức tranh nguệch ngoạc khó hiểu. Một nhóm người lặng thinh ngồi nghe một cô gái tuổi ngoài hai mươi đang đọc thơ.

Tôi phải vuốt mặt với bàn tay tê giá của mình để biết chắc là mình không mê ngủ. Tôi đang lạc vào đêm thơ nhạc của những người Mỹ yêu văn chương bình dị nơi phố nhỏ.

Định thần một chút, tôi nhận ra mình là người không phải Mỹ trắng duy nhất ở đây. Cảm giác mình như từ một hành tinh khác mới đến trong mắt đám đông. Nhưng rồi những ánh mắt thân thiện, những nụ cười dễ mến đã làm tôi vững tâm mà ở lại.

Tôi tới quầy gọi một chai bia và một cái bánh ngọt. Quán đơn sơ chỉ có vậy.

Tìm một góc khuất, tôi kéo ghế ngồi lặng thinh. Tôi đã lạc vào thế giới của những nghệ sỹ và những tâm hồn thơ. Tôi cảm nhận mới mẻ nhiều hồi hộp. Tôi là kẻ ngoại đạo nơi đây.

Hình ảnh một nước Mỹ phồn thực vật chất kim tiền bỗng bị một phụ nữ trung niên xóa sạch khi cô đọc những bài thơ Haiku bằng tiếng Anh do chính cô sáng tác. Cô nói rằng cô rất yêu thích thơ Haiku của Nhật Bản và văn hóa Phương Đông. Còn tôi, một người Á Đông mà chẳng biết gì về thơ Haiku.

Đêm nay tôi thua toàn tập, cũng vì đang lạc lối trong một thiên đàng bé nhỏ. Thiên đàng này đang giang tay đón nhận một kẻ ngoại đạo như tôi.

Ừ nhỉ, thiên đàng thì phải luôn rộng cửa cho người lạc lối.

2. Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu

Hôm qua là ngày trực kề cuối sau gần ba năm làm việc ở đây. Sau lần đi tuần tra cuối ngày, lẽ ra đi thẳng về phòng tắm rửa rồi nghỉ ngơi, tôi lại quyết định rẽ qua phòng điều khiển trung tâm để coi anh lính trực thế nào, coi ảnh có chơi Facebook mà lơ là trực hay không.

Nói vậy thôi chứ tôi biết ảnh lướt Facebook là cái chắc. Cái thế hệ trẻ này có thể nhịn ăn nhưng khó mà nhịn Facebook được.

Xưa nay tôi vốn bước đi khá nhanh và không lê gót nên ít khi nghe tiếng động. Nhiều lúc có chuyện gấp phải vượt qua mặt mấy anh lính to nặng hơn, chúng đều gọi tôi là Nin-ja vì xuất hiện lúc nào mà nó không hay biết.

Nhưng mỗi khi tới phòng điều khiển là tôi cố tình đi mạnh gót để tụi nó còn có thời gian mà giấu cái phone, chứ lỡ bắt gặp mà không chửi hay phạt cái gì đó thì quân lệnh không nghiêm. Vậy mà lần nào chúng cũng chậm chạp, hay là vì tôi đi nhanh quá nên bắt gặp. Thành ra phải chửi vài câu cho đúng bài.

Vào tới nơi thì tôi gặp hai người lính trẻ. Một người trực chánh ở phòng điều khiển trung tâm và một người đi tuần tra ghi chép thông số kỹ thuật của máy móc. Đứa sếp thì mới 20 tuổi cấp hạ sỹ nhất, còn đứa xó thì lại 23 tuổi, là hạ sỹ, cách nhau một bậc lương. Lý do là đứa lớn đi lính trễ hơn vì mất hai năm ở đại học. Hắn học xong hai năm để cha mẹ thỏa chí có con vào đại học như người ta, nhưng rồi hắn bị bộ quân phục quyến rũ nên xếp bút nghiêng lên đường nhập ngũ.

Còn đứa sếp kia thì dứt khoát hơn, không thích tốn thời gian ở đại học, vì hắn thấy mình không hạp ở môi trường quá nhiều lý thuyết. Thế là vừa tốt nghiệp xong vài tháng, hắn tuyên bố hùng hồn với cha mẹ hắn là hắn sẽ đi làm lính thủy. Thường thì mấy đứa Mỹ trắng mà quyết rồi thì cha mẹ chúng chỉ có ủng hộ mà thôi, chứ không như cha mẹ Việt quăng ra một mớ vũ khí lợi hại như ‘cá không ăn muối cá ươn’ hay ‘áo mặc không qua khỏi đầu’ để trấn áp con trẻ.

Hắn tên là Mark. Còn đứa lớn kia tên là Ruben, là người Mễ sanh tại Mỹ. Nói ra chắc bị chụp mũ là kỳ thị chứ thiệt tình cái anh Mỹ trắng này hắn lanh lợi và thông minh hơn anh Mễ kia nhiều dù có thua hai năm đại học đi nữa. Bù lại, hắn cũng láu cá như mấy đứa thông minh trên đời này. Nhưng hắn làm được việc, lại có tư chất lãnh đạo nên ông Thượng Sỹ già cho nó làm sếp nguyên cái phòng máy gồm 5-6 tên, trong đó có cả một chàng trung sỹ trên nó một cấp. Và anh trung sỹ này lại là Mỹ đen lười biếng và hậu đậu, vừa không khéo tay vừa chậm học. Nói tới đây chắc bị chụp mũ lần hai. Nhưng có sao thì nói vậy thôi.

Thực tế đã chứng minh rồi. Nước Nam Phi có người da trắng thì mới là nước tiến bộ nhất châu lục đen, còn mấy nước thuần da đen như Somali thì chỉ có ăn xin thế giới cả thế kỷ nay, nếu không thì đi làm hải tặc.

Vì Mark được nhiều người sếp khác thích nên tôi không bao giờ tỏ vẻ thích hắn vì sợ hắn kiêu ngạo. Thành ra tôi hay bắt lỗi nó để hạ bệ cái thói tự kiêu của hắn, và vô tình đì hắn khi nào không biết. Tôi lại bị nhiễm cái giáo dục hồi nhỏ ở quê nhà, tức là cứ bênh vực người nghèo hay người thấp cổ bé họng. Thành ra ai thuộc giai cấp ở trên như người Mỹ trắng đều khó được cảm tình của tôi. Tâm lý bênh người thiểu số dù sao cũng thắng thế trong tôi xưa nay.

Tối qua tình cờ bước vào nghe Mark la mắng Ruben lớn tiếng, tự nhiên tôi bênh ngang người Mễ y hệt đang bênh một giai cấp bị trị trước thực dân đô hộ. Thấy Mark rất giận nhưng không dám nói vì khoảng cách quyền lực giữa nó và tôi quá xa, tôi đã biết mình sai. Thường thì tôi chỉ làm việc với Thượng Sỹ già là sếp lớn của Mark.

Bảo Ruben tiếp tục đi tuần, tôi ngồi xuống nói chuyện với Mark. Tôi hỏi nó có phải không phục vì bị tôi rầy hay không.

Mark nói:

– Tôi biết là tôi quá trẻ để giữ vị trí supervisor trên mấy đứa kia. Nhưng nếu mấy ông đã tin tôi thì phải ủng hộ tôi thì công việc mới chạy được. Chứ tôi đâu có muốn bị ghét mà la mắng tụi nó. Tụi nó lười biếng thì tất cả đều thất bại.

Lúc này tôi thấy đúng là Mark có tư chất lãnh đạo thật. Hắn có cái họ gốc Anh Quốc. Ngày xưa người Anh cai trị Hồng Kông nên người Hồng Kông mới văn minh hơn người đồng hương đại lục vài chục năm tiến hóa xã hội. Người Anh cũng từng đô hộ các quốc gia khác toàn cầu, và kết quả là nước nào cũng văn minh hơn láng giềng không bị thực dân Anh đô hộ.

Lắng nghe Mark nói xong. Tôi thấy đến lúc phải nói thật cho hắn nghe suy nghĩ của mình về hắn. Tôi nói:

– Tôi sắp chuyển đi rồi nên hi vọng anh sẽ tin là tôi nói thật. Thật ra tôi đánh giá rất cao về khả năng lãnh đạo của anh, cũng như khả năng tiếp thu kiến thức rất nhanh của anh. Nhưng tôi sợ anh không có được sự ủng hộ của cấp dưới vì anh còn quá trẻ nên thiếu đắc nhân tâm. Anh nên để ý lời lẽ của mình, cũng như thái độ quá cực đoan với cấp dưới. Nhưng tối nay tôi đã sai vì làm anh nghĩ là tôi không ủng hộ quyền hạn của anh.

Tới đây tôi thấy khóe mắt hắn long lanh, đầu hắn cúi xuống. Hắn chỉ mới đôi mươi, gương mặt vẫn nguyên nét thánh thiện. Suýt nữa là tôi đã không qua mặt được hắn khi cố giấu một luồng xúc cảm thật mạnh từ đâu ập tới. Tôi thấy hắn tội nghiệp kinh khủng. Tôi hắng giọng nói:

– Thôi, khuya rồi. Tôi phải về phòng. Hãy gọi tôi bất cứ lúc nào cần giúp đỡ hay thấy lo lắng về điều gì nhé. Gặp lại anh vào sáng mai.

Trở về phòng, tôi cũng bất ngờ với chính mình, vì không hiểu làm sao mà mình lại nói thẳng được với một người lính cách xa mình nhiều như vậy.

Có lẽ do mình sắp chuyển đi. Và đó có thể là cuối cùng cho một tình yêu, một tình yêu đối với một nơi và những người đã gắn bó với mình suốt ba năm đầu khó khăn nhất trong sự nghiệp làm sỹ quan kỹ thuật của mình.

Như dòng sông vẫn chảy ra biển lớn. Mình rồi cũng sẽ ra biển lớn, nhưng nhánh sông ngày xưa luôn là kỷ niệm đẹp.

Trần Du Sinh

Tang tóc những ngày Xuân

https://i1.wp.com/www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2018/02/cryingwoman-gray-696x480.jpg

Khởi đầu là Tết Mậu Thân, năm 1968. Cộng sản miền Bắc bất ngờ tổng tấn công vào các đô thị trên toàn miền Nam, ngang nhiên vứt bỏ tuyên bố ngưng bắn trước đó của chính họ. Đã thế còn vu cáo ngược ngạo là chính VNCH vi phạm lệnh ngưng bắn!

Dù bị động vì bất ngờ, quân lực VNCH chỉ dao động nhất thời, rồi tổng phản công càn quét cộng quân khắp các mặt trận trong một thời gian rất ngắn. Chỉ có Huế là nơi phải kịch chiến ròng rã 25 ngày đêm mới giành lại được, vì đó là nơi cộng sản miền Bắc quyết giữ. Muốn tạo thành chuyện đã rồi, họ thành lập ngay cơ quan hành chánh. Vì thế quân số cả hai bên bị tổn thất nặng nề. Và “thành tích” lớn nhất của cộng quân đạt được là hành quyết khoảng 6.000 người ở Huế trước khi tàn quân tháo chạy.

Con số người bị giết tập thể là sự thật. Các cơ quan truyền thông thế giới đã đưa tin với đầy đủ chứng cứ. Thế nhưng, mãi 50 năm sau, cộng sản vẫn ngụy biện cho đó là con số tuyên truyền của chính phủ VNCH. Và biện minh người bị giết do “quân nổi dậy” chứ không phải họ chủ trương!

Ấy thế mà một số người tự nhận là trí thức còn ở miền Bắc vào thời điểm đó vẫn tín!

Vì, nếu là trí thức, thì không cần đến phân tích sâu xa mà chỉ biết tự đặt câu hỏi vào loại đơn giản nhất. Đó là, tại sao khi miền Nam bị sụp đổ con số người trốn chạy không phải chỉ vài chục ngàn? Ví dụ vài chục ngàn đó vốn “có nợ máu với nhân dân” mà là cả triệu? Và còn nhiều hơn nữa?

Cả triệu người đã bỏ lại gia sản cả đời gây dựng, bất chấp mạng sống để ra đi với hai bàn tay trắng? Tại sao?

Câu trả lời là vì chính họ là nạn nhân hoặc đã từng chứng kiến thảm cảnh do cộng sản gây ra. Từ khủng bố, ám sát, đặt chất nổ khắp miền Nam như “cơm bữa”, cụ thể hơn là thảm sát Mậu Thân ở Huế.

Không chịu tin một sư thật hiển nhiên như vậy thì trí thức loại nầy đã bị nhồi sọ, là nạn nhân bị tuyên truyền kiểu Joseph Goebbels [1] Bị nhồi sọ nên nghĩ những gì đảng nói là đúng còn con số thật về số người chết của VNCH là bịa đặt!

Từ, nạn nhân của Goebbels, số trí thức nầy trở thành đệ tử của Goebbels khi lên tiếng giống như đảng, bất chấp chứng cứ lịch sử đa chiều có trên internet.

Trí thức còn bị tẩy não đến như vậy huống gì dân thường?

Đây là lý do chính tại sao chế độ cộng sản đang mục ruỗng và phản quốc vẫn tồn tại!

Hôm nay, mồng Hai Tết, đúng 39 năm đã trôi qua kể từ ngày 17 tháng 2 năm 1979, là ngày Đặng Tiểu Bình dùng 60 ngàn quân tiến đánh toàn bộ 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Giặc đã tàn sát dã man hàng chục ngàn người vô tội, bất kể phụ nữ và trẻ em dưới gót chân xâm lược. Họ phá hủy không chừa một thứ gì trước khi bị đánh bại chạy trở về nước.

Ngày đó báo chí đưa tin với rất nhiều chi tiết, muốn khắc ghi hận thù giặc phương Bắc vào trí nhớ của mọi người và các thế hệ kế tiếp. Hàng chục ngàn quân dân đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Những bia đá đã được dựng lên ghi dấu những chiến tích, những địa điểm giặc gây ra tội ác.

Thế nhưng, từ khi hệ thống các nước cộng sản sụp đổ dây chuyền, thấy rõ nguy cơ có thể bị tan rã ngay trước mắt nên các nhân vật chóp bu của đảng lúc bấy giờ đã không ngần ngại kéo nhau qua Thành Đô xin đầu phục quân thù để cứu đảng. Với thái độ sớm đầu tối đánh như vậy thì chắc chắn Bắc Kinh không thể nào tha thứ! Do đó số phận của đảng đang nằm trong mật ước Thành Đô. Và từ đây đảng phải thực hiện theo chỉ thị của quân thù.

Lịch sử Việt Nam lại từng bước bắt đầu làm thân phận nô lệ mới.

Thời sự đang diễn ra không thể rõ ràng hơn nữa!

Bây giờ đảng đang ráo riết mở lò để “ấp trứng Giáo sư, Thạc sĩ, Tiến sĩ”. “Trứng” nở càng nhanh càng tốt. Vì người Việt vốn sính bằng cấp nên hễ cứ “Giáo sư”, “Thạc sĩ”, “Tiến sĩ” đương nhiên là “trí thức”. Mà “trí thức” đã nói là được lắng nghe. Đảng đang rất cần loại “trí thức” nầy để tuyên truyền vì bộ mặt thật của đảng đã quá nhem nhuốc, bị lộ nguyên hình sau hàng chục năm dài chỉ chuyên lừa đảo!

Từ biển máu tổng tấn công Tết Mậu Thân đến chiến tranh biên giới phía Bắc đều nằm trong những ngày Xuân. Thay vì được hưởng ít ngày hiếm hoi trong an bình, hạnh phúc thì những ngày nầy với người Việt đã biến thành ngày giỗ chung cả nước!

Ai gây ra thảm cảnh máu xương nầy mà linh đình lễ hội?

Giữa thời khắc thiêng liêng của năm mới, xin được hỏi: Trí thức Việt Nam, các người đang ở đâu? Xin hãy hành động! Hay chỉ rặt toàn loại trí thức xã hội chủ nghĩa?

(Mồng Ba Tết năm Mậu Tuất, 18/2/2018)

——————————————

[1] http://www.history.com/topics/world-war-ii/joseph-goebbels

http://www.danchimviet.info/tang-toc-nhung-ngay-xuan/02/2018/8756/

Chào mừng Việt Khang & tản mạn đôi điều về sức mạnh âm nhạc trong tranh đấu

Hoàng Tất Thắng (Danlambao)  Sáng ngày 8/2/2018 tính theo giờ Việt Nam, nhạc sĩ Việt Khang – người đã bị chính quyền cộng sản Hà Nội cầm tù trong 4 năm và 2 năm quản chế, vì “tội” sáng tác và phổ biến hai ca khúc gây chấn động lên tâm tư hàng triệu người Việt, trong nước cũng như ở hải ngoại, được công an cộng sản âm thầm đưa lên chuyến bay của hãng hàng không Đài Loan China Airlines để bay sang Hoa Kỳ tỵ nạn chính trị. Việt Khang đã đến phi trường Los Angeles trưa ngày 8/2/2018 tính theo giờ California, trong không khí hân hoan chào đón của đông đảo đồng hương, giới truyền thông người Việt và trong sự vui mừng của các bạn bè chung chí hướng, đã luôn quan tâm nâng đỡ người nhạc sĩ cô thân độc thế trong cơn hoạn nạn, tích cực vận động chính phủ Hoa Kỳ, nhiều tổ chức quốc tế, những chính trị gia người Mỹ, cụ thể là Nghị sĩ John McCain góp sức trực tiếp, hay gián tiếp can thiệp về trường hợp Việt Khang, trong những lần giao tiếp với chính quyền cộng sản Việt Nam.
Trước hết và với riêng tình cảm cá nhân, tôi xin chúc mừng người nhạc sĩ tài ba và anh hùng đã đến được bến bờ tự do.
Nhạc sĩ Việt Khang, tên thật là Võ Minh Trí, sinh năm 1978 tại Mỹ Tho, miền nam Việt Nam, được cộng đồng dân chúng Việt Nam biết đến rộng rãi từ năm 2011, khi anh đã sáng tác, tự hòa âm và trình bày hai nhạc phẩm “Anh là ai?”“Việt Nam tôi đâu?” phổ biến lên mạng Youtube trong tháng 8/2011, có nội dung đánh động mọi người dân Việt Nam phải cảnh báo về hiểm họa mất nước trước dã tâm xâm lăng kiểu tầm thực của Trung cộng, đã liên tục chiếm đất, lấn biển, trong sự tiếp tay bán nước của chính quyền cộng sản Hà Nội, thông qua hành động cho công an ra sức bắt bớ, đàn áp tàn bạo bất kỳ người dân nào đứng lên bày tỏ chính kiến và thái độ chống đối Bắc Kinh, trong các cuộc biểu tình bảo vệ đất nước.
Bài hát Anh là ai là một sự chất vấn ôn hòa của tác giả với một người khác, ẩn dụ bằng đại danh xưng Anh về việc tại sao mắng chưởi, ngăn cản, bắt bớ, đánh đập những người dân Việt Nam – đại diện bằng nhân vật Tôi, đang tham gia vào các cuộc biểu tình bày tỏ tình yêu quê hương, dân tộc và ý chí quyết tâm chống giặc Tàu ngoại xâm (?). Những người dân Việt Nam yêu nước đó đã làm điều gì sai, để anh tuy nói cùng một thứ ngôn ngữ như họ, như tôi, lại có các hành động như vậy. Tuy ẩn dụ, nhưng suốt toàn bộ ca khúc, chỉ danh anh hiện ra rất rõ ràng và cụ thể, trong nghĩa hẹp để chỉ bọn Khuyển, Ưng thuộc lực lượng công an cộng sản và trong nghĩa rộng hơn để chỉ đích danh tập đoàn bán nước Hà Nội đã thần phục và cam tâm làm tay sai cho giặc Tàu, bởi bàn tay bọn chúng nhuộm đầy máu đồng bào. Kết thúc, bài hát khẳng định khi đất nước đang ngả nghiêng vì bọn bán nước, có nguy cơ bị sáp nhập vào Trung cộng là lời tuyên hứa danh thép, cũng là lời kêu gọi ngấm ngầm Tôi và mọi người không thể ngồi yên, không được ngồi yên, phải có hành động để muôn đời con cháu về sau vẫn còn giữ được nguồn cội là người Việt Nam trên Tổ quốc Việt Nam.
Bài hát Việt Nam tôi đâu được tác giả dùng trải nghiệm trước thực tế của mình để nói lên hoàn cảnh hiện tại của đất nước, qua hình ảnh bà Mẹ Việt Nam đang xót thương những người dân lầm than, đói khổ, dưới sự cai trị của một bọn vô lại, tham tàn, chỉ biết vinh thân phì gia, bỏ mặc chủ quyền đất nước cho giặc Tàu tung hoành, chiếm đất, giết dân. Kết thúc, bài hát kêu gọi mọi người con dân Việt Nam yêu nước không nên làm ngơ trước họa ngoại xâm, dù già, trẻ, gái, trai, cũng cần phải đồng lòng, chung sức đứng lên chống lại quân xâm lược và chống bọn cầm quyền nhu nhược, bán nước, hại dân.
Chính hai bài hát này đã là các cú đánh chí mạng vào chế độ cộng sản, gây chấn động mạnh mẽ lên toàn bộ bộ máy cầm quyền, nhất là đối với các lực lượng công an, an ninh, vốn được coi là gươm, là giáp của đảng, bị Việt Khang kêu tên, chỉ mặt đích danh, khiến Hà Nội phải cuống cuồng tìm cách bắt giam và đưa ra tòa xử tội Việt Khang.
Tháng 9/2011 Việt Khang bị an ninh cộng sản bắt tạm giam lần đầu tiên một tuần lễ. Tháng 12/2011 bị bắt lần thứ hai, đưa lên Sài Gòn giam giữ mà không đưa ra một giải thích nào, bưng bít hết mọi tin tức và ngăn cấm triệt để mọi liên lạc giữa Việt Khang với người thân và gia đình.
Hành động đàn áp thô bạo của Hà Nội trong trường hợp Việt Khang, đã khơi dậy một chiến dịch thỉnh nguyện thư quy mô lớn chưa từng có từ ngày 7/2/2012, do người Việt ở khắp nơi trên thế giới tham gia ký tên vào trang mạng We The People gởi thẳng vào tòa Bạch Ốc, kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ tăng áp lực buộc chế độ Hà Nội phải tôn trọng nhân quyền, phóng thích tất cả mọi người đang ở tù vì đấu tranh dân chủ trong ôn hòa, đặc biệt là với nhạc sĩ Việt Khang bị Hà Nội cầm tù do “tội” đã sáng tác và phổ biến hai bản nhạc nói lên tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của anh. Trên nguyên tắc vấn đề đệ đạt cần phải thu được tối thiểu 25.000 chữ ký mới được Bạch Cung lưu ý và trả lời. Trong trường hợp Việt Khang, thỉnh nguyện thư của người Việt Nam trên We The People thu được hơn 150.000 chữ ký.
Ngày 30/10/2012 Việt Khang bị nhà cầm quyền cộng sản đưa ra tòa tại Sài Gòn. Để che đậy bộ mặt bán nước, khi bắt giam Việt Khang vì hai bản nhạc tố cáo sự thông đồng của Hà Nội, tiếp tay cho mưu toan xâm chiếm Việt Nam ngày càng lộ liễu của Trung cộng, chế độ cộng sản đã quy chụp, gán ghép người nhạc sĩ tỉnh lẻ cô đơn có tham gia vào một tổ chức vô hình trên mạng điện toán là “Tuổi trẻ yêu nước” (?), có mục đích tập hợp tài liệu, phát tán thông tin, bôi lọ, chống đối nhà nước Việt Nam, để tuyên án phạt 4 năm tù giam, 2 năm quản chế về tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN, theo điều 88 của luật hình sự cộng sản.
Ngày 14/12/2015 Việt Khang mới mãn án tù, về nhà trong hoàn cảnh gia đình tan nát và bị chính quyền cộng sản chèn ép, gây rất nhiều khó khăn trong cuộc sống về mọi mặt. Tuy nhiên… “Hai đứa con tinh thần này (hai bài hát) chính là hoài bão, nỗi niềm, tình yêu của tôi. Tôi muốn đất nước mình tốt đẹp, bình an và người dân được hạnh phúc, ấm no. Trước những khó khăn và hiểm họa ngoại xâm, hai đứa con tinh thần của tôi đã giúp tôi nói lên sự thật, vì thật sự tôi không thể ngồi im hay lặng yên. Hai bài hát đó tôi cũng không nghĩ là chạm được tới trái tim của nhiều người đến như vậy. Tôi thật sự bất ngờ khi đồng bào trong và ngoài nước quan tâm đến hai bài hát này và quan trọng hơn là quan tâm đến tình hình đất nước. Tôi cũng cám ơn hai đứa con tinh thần của tôi (…). Những gì xảy ra đối với tôi là kết quả, không phải là hậu quả. Tôi không ân hận gì…” (Việt Khang, Phỏng vấn, VOA, 20/12/2015). Nói như Huy Phương, Việt Khang là nhà tranh đấu trẻ tuổi nhất, cũng là người mới nhất phải bỏ nước ra đi, mong sao qua bao nhiêu nghịch cảnh, người nhạc sĩ yêu nước vẫn luôn giữ được ngọn lửa tranh đấu và tình yêu quê hương. Ngọn lửa ấy sẽ là mồi lửa châm bùng lên đám cháy lớn, thiêu đốt bóng tối tà quyền và sẽ mang tươi sáng trong một tương lai rất gần cho quê nhà (Huy Phương, Chào mừng Việt Khang đến Mỹ, 11/2/2018).
Ngay từ buổi sơ khai của nền văn minh nhân loại, âm nhạc đã là hình thái biểu thị cảm xúc nội tâm của con người ra bên ngoài qua nhiều hình thức phong phú và đa dạng, từ lời ca, tiếng hát, tiếng trống, tiếng khèn…được coi là ngôn ngữ trực tiếp của tâm hồn, có thể biểu đạt thành công mọi thông điệp của niềm vui và nổi buồn, của hy vọng và âu lo, cũng như có khả năng truyền tải hiệu quả các ước vọng sâu xa của con người đến với cộng đồng, nên âm nhạc đã nhanh chóng đóng giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần, đối với hầu như mọi nền văn hóa của mọi dân tộc.
Theo văn hào Nga Leo Tolstoy “sức mạnh âm nhạc đã giúp con người cảm nhận được những điều không thể, hiểu được những điều không thể hiểu và biến cái không thể thành cái có thể”. Trong khi triết gia Đức Friedrich Hegel – cũng là người gây cảm hứng cho Karl Marx với phương pháp biện chứng, giúp Marx phát triển thành các khái niệm căn bản đầu tiên cho chủ nghĩa duy vật lịch sử – xếp âm nhạc vào cùng nhóm với thơ và múa, bởi trong toàn bộ sáu nhóm nghệ thuật đương thời là kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, thơ và múa, thì ba hình thái nghệ thuật sau đều có khả năng gia tăng dần sức mạnh thu phục quần chúng theo thời gian. Cũng theo thời gian, âm nhạc – cũng như các loại hình nghệ thuật khác, rơi vào vòng tranh luận kéo dài liên miên hãy là nghệ thuật vị nghệ thuật, hay vị nhân sinh và chưa bao giờ có dấu hiệu ngã ngũ rạch ròi.
Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản xuất hiện, dưới ảnh hưởng chi phối bao trùm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong quan điểm và lý luận Marxism về mỹ học của người cộng sản, âm nhạc dứt khoát không còn là nghệ thuật vị nghệ thuật, mà phải là sức mạnh của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (Socialist realism), đã được đồng hóa như là một sức mạnh phi gươm giáo, hiệu quả không kém gì các loại vũ khí, phải có tính đảng, phải tuyệt đối phục vụ cho mọi yêu cầu chính trị, từ chính sách, chủ trương và đường lối của đảng, khi tiến hành cuộc cách mạng nổi dậy cướp đoạt chính quyền, đến nhiệm vụ phải bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của chính quyền nhân dân(?).
Theo Hồ Chí Minh, văn nghệ luôn là một trận địa và các văn nghệ sĩ luôn là chiến sĩ xung kích ngay trên trận địa ấy. Thậm xưng hơn đâu đó còn có cả sự ví von của lãnh đạo đảng, cho rằng vài bài hát đúng thời cơ, vài đoàn văn công nhạy bén, có thể có sức công phá đối phương bằng cả một sư đoàn chiến đấu trên chiến trường(?). Do đó suốt trong cả quá trình hoạt động, tồn tại của chế độ, Hà Nội đã nỗ lực gây dựng những phong trào ca hát, nhằm yểm trợ hiệu quả cho mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch của đảng cộng sản. Cụ thể nhất như khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm miền nam, phong trào hát cho đồng bào tôi nghe, do đảng cộng sản giật dây, tổ chức trong âm mưu gây rối, lũng đoạn hậu phương miền nam là một thí dụ sinh động điển hình về việc biến âm nhạc trở thành một hành động thách thức chính trị, thông qua việc phô diễn sức mạnh chính trị của một tập thể quần chúng bất bạo động.
Với các kinh nghiệm máu xương đó, khi chế độ Hà Nội mau chóng thực hiện các phản ứng đàn áp dứt khoát, mãnh liệt trong trường hợp nhạc sĩ Việt Khang, thì cũng là một điều tất nhiên và dể hiểu.
Chỉ với hai ca khúc, người nhạc sĩ cô đơn, không thế lực hậu thuẫn, cũng không cầm dao, mang súng, nhưng đã đánh động vào khối óc, con tim và nổi xót xa của hàng triệu con dân Việt Nam còn có lương tri, đang thao thức trước nổi nước mất nhà tan, bóc trần sự thật ê chề chịu mất nước không chịu mất đảng của đảng cộng sản quang vinh (?) và bè lũ cộng sản cầm quyền thối tha, nhu nhược đã và đang cam tâm bán nước theo giặc, khiến chế độ độc tài, đảng trị Hà Nội phải hoảng sợ, phải dùng đến công an và nhà tù để dập tắt ảnh hưởng của tiếng nhạc, lời ca.
Phải nói với trường hợp Việt Khang, mọi người dân Việt Nam cùng khổ, từ người nông dân kêu oan vì bị cướp đất, tước đoạt phương tiện sinh nhai của ông bà để lại, các ngư dân phải bỏ biển tha phương cầu thực sau thảm họa biển chết vì Formosa, người tay trắng phải mang thân đi làm cu li xứ người, còn bị công ty buôn người nhà nước bóc lột tận cùng, đến tín đồ các tôn giáo đang bị chính quyền vô thần bách hại và chung cuộc với tất cả mọi người là con dân Việt Nam, đang cùng chia xẻ mối ưu tư về đất nước tụt hậu, chậm tiến mọi mặt, đạo đức suy đồi và bóng ma Bắc Kinh thì ngày đêm đe dọa cướp đất, lấn biển… đều vô hình trung đã được Việt Khang trang bị một phương tiện đấu tranh trực diện rất đơn giản, nhưng cũng rất hữu hiệu trước cường quyền.
Cụ thể là khi đối diện với những công cụ đàn áp dày đặc của chế độ đang bủa vây khắp nơi, từ lực lượng công an, cảnh sát, an ninh chìm nổi, đến đám ăn theo dân phòng, thanh niên xung phong, mọi phong trào tranh đấu ôn hòa, các cá nhân yêu nước, nên chú ý dùng câu hát, lời ca để làm vũ khí đối phó với dùi cui, khói cay và súng đạn cao su. Hãy cất cao câu hát anh là ai? ở đâu? sao đang tâm làm tay sai cho Tàu?. Câu hát chất vấn đanh thép, cụ thể sẽ làm cho công cụ bạo lực xấu hổ, cúi đầu và chính nghĩa mạnh lên, gắn bó hơn thêm. Lời ca chính trực sẽ làm ấm lòng người yêu nước và kẻ hung đồ phải sượng sùng, run tay. Bài hát đấu tranh của người Việt sẽ giúp lột mặt nạ, đưa ra ánh sáng bọn Khuyển, Ưng của Trung cộng đang trà trộn trong bộ máy bạo lực của Hà Nội, sẽ bay cao và sẽ góp phần đắc lực trong công cuộc cứu lấy quê hương và làm cho mọi sức mạnh phi nghĩa đều phải thất bại.
2/2018