KỶ NIỆM HỘI NGỘ KHÓA 6/68 S.Q./T.B. THỦ ĐỨC – ĐIỆP MỸ LINH

Tùy bút

Để tưởng nhớ em tôi – Nguyễn Phiêu Linh – và kính tặng tất cả cựu SVSQ/TĐ khóa 6/68

ĐIỆP MỸ LINH

Đây không phải là lần đầu tiên tôi được tham dự sinh hoạt của “mấy ông nhà binh”; nhưng,  kỳ Hội Ngộ của khóa 6/68 cựu sinh viên sĩ quan trừ bị (SVSQ/TB) Thủ Đức vừa qua, tại Nam California, lại là một Hội Ngộ khiến tôi xúc động nhiều nhất.

Sự liên hệ giữa khóa 6/68 SQ/TB Thủ-Đức và Điệp-Mỹ-Linh bắt nguồn từ nhà văn Vũ-Uyên-Giang, tên thật là Nguyễn Quang Vinh.

Từ khi quen anh Vinh, tôi chỉ biết anh là một nhà văn Quân Đội chứ chưa bao giờ tôi hỏi xuất xứ của anh. Sau khi anh Vinh tạo ra website Thủ-Đức khóa 6/68, em tôi – Nguyễn-Phiêu-Linh – từ Việt-Nam emailed cho tôi biết rằng Linh cùng khóa 6/68 với anh Vinh. Linh cũng giới thiệu với tôi những người bạn cùng khóa như anh Tiêu Nhơn Lạc, anh Lê Đông Hải, anh Xuân Thu, chị Bích Thủy, anh Hồ Trọng Anh, v.v…

Khi biết tôi là chị Hai của Linh, vài anh – khi emailed cho tôi – cũng gọi tôi là “chị Hai”. Tôi ngại ngùng hồi đáp: “Cảm ơn các anh. Nhưng tôi không dám nhận là ‘chị Hai’ của các anh đâu”. Điều làm tôi vui thích nhất là khi các anh chuyển emails qua lại với nhau, vô tình vài emails “lạc” vào box của tôi; và tôi thấy trong các emails đó, các anh gọi Điệp-Mỹ-Linh bằng ba chữ thân thiết: “Chị thằng Linh”.

Từ ngày Linh bất ngờ ngã bệnh cho đến khi Linh lìa đời, gia đình khóa 6/68 đã hết lòng với Linh. Do đó, tôi thầm mong được một lần đích thân cảm tạ tấm lòng của gia đình khóa 6/68 SQTB/TĐ.

Nhà văn Vũ Uyên Giang gửi đến tôi một thiệp mời in rất đẹp và những dòng chữ thân tình.

Đến phi trường John Wayne, tôi được anh Lê Đông Hải đón. Anh Hải bảo:

-Mấy ngày chị ở đây Hải sẽ lo phần đưa đón chị, chị đừng ngại. Bây giờ, trước khi đưa chị về khách sạn, Hải mời chị dùng cơm trưa. Hải sẽ gọi vài người trong khóa đến nhà hàng gặp chị.

Là một người nhút nhát, ít giao thiệp, nhưng trong bữa ăn trưa với anh Hải, anh Tiến, anh Hạnh, anh Thanh, anh Hiền, v. v… không những tôi không cảm thấy ngại ngùng, xa lạ hoặc lạc lõng mà tôi lại cảm thấy vui và thân mật như những ngày tôi ăn cơm lính – đúng nghĩa nhất – trên những chiến đỉnh trong vùng U-Minh hung hiểm.

Đêm tiền Hội Ngộ, 24 tháng 5-2014, tôi được gặp và làm quen với nhiều người bạn khác của Linh. Bằng một cách nào đó, trong ánh mắt, nụ cười, trong lời thăm hỏi, trong những câu chuyện trao đổi giữa các anh chị và tôi, tôi tưởng như tôi đã quen thân với quý anh chị từ lâu lắm.

Đang vui, lòng tôi chợt chùng xuống khi nghe nhà văn Vũ Uyên Giang – trong khi đứng trên sân khấu giới thiệu về Đặc San của khóa 6/68 – bảo rằng trong Đặc San có bài của Điệp-Mỹ-Linh và của Nguyễn Phiêu Linh. Linh viết bài và chuyển đến anh Vũ Uyên Giang trước khi Linh ngã bệnh.

Sau đó, mỗi anh đứng lên, tự giới thiệu về mình: Tên, họ, số quân và đơn vị. Tôi nhìn quanh hội trường rồi nhìn ra cửa, nhìn ra bãi đậu xe, lòng thầm ước được thấy Linh bước vào, tự giới thiệu: Nguyễn Phiêu Linh, số quân 68/…

Dĩ nhiên tôi hiểu rằng không bao giờ Linh có thể xuất hiện trong niềm ước mơ không tưởng của tôi. Nhưng lạ lùng thay, tôi lại tưởng như tôi thấy được Linh cùng một nhóm quân nhân thuộc đơn vị Pháo Binh Diện Địa đồn trú tại Phù-Cát, Qui-Nhơn, vào những ngày cuối tháng Ba năm 1975.

Sau khi biết chiến hạm Hải-Quân “bốc” nhiều đơn vị Bộ-Binh, quân bạn, đồng bào và đã rời khỏi hải cảng Qui-Nhơn, Linh cùng nhóm quân nhân kết bè, vượt thoát.

Sau khi hay tin Hải-Quân rút khỏi Qui-Nhơn, tôi nhờ người bạn liên lạc với sĩ quan tùy viên của trung tướng Nguyễn Xuân Thịnh – vị Tướng chỉ huy tất cả đơn vị Pháo-Binh VNCH – nhờ vị sĩ quan này tìm phương vị của Linh. Vài ngày sau, vị sĩ quan tùy viên của Tướng Thịnh điện thoại cho tôi hay rằng Nguyễn Phiêu Linh đã về đến Cam-Ranh vào đêm 31 tháng Ba năm 1975.

Sau khi Ba Má tôi sang Mỹ, Ba Má tôi kể lại: Gần sáng 1 tháng 4-75, nghe tiếng gõ cửa, cả nhà sợ, không dám mở. Gõ hoài, cửa vẫn không mở, Linh lớn tiếng gọi tên vợ của Linh. Lúc đó cả nhà mới nhận ra giọng của Linh và vùng dậy, vui mừng khi thấy Linh cùng nhóm quân nhân. Nhưng khi Linh đề nghị cả gia đình nên di tản bằng đường bộ; vì con đường từ quốc lộ I qua Trung Tâm Huấn Luyện Hải-Quân Cam-Ranh đã đông nghẹt người và lính gác không cho vào thì Ba tôi từ chối.

Nhà của Ba Má tôi ở ngay quốc lộ I. Ngày cũng như đêm, Ba Má tôi chứng kiến từng suối người cuồn cuộn tuôn về Nam. Nhiều gia đình thất lạc, nhiều người già và trẻ em chết, bị bỏ lại bên đường, cho nên Ba tôi sợ. Linh im lặng, tụ họp cả đại gia đình tại phòng khách. Linh bảo mọi người đứng thành vòng tròn, Linh đứng giữa. Mọi người, kể cả nhóm quân nhân cùng vượt thoát với Linh, đều nhìn nhau, không hiểu Linh có ý định gì. Linh rất bình tĩnh, lấy từ túi quần nhà binh một trái lựu đạn, rút chốt, dõng dạc hỏi:

-Ba Má có di tản hay không? Nếu không, con cho lựu đạn nổ để cùng chết!

Mọi người hoảng sợ, năn nỉ Linh.

Khi cùng gia đình và nhóm quân nhân đến cầu Trà Long, Linh mới biết rằng giòng người bị ứ đọng tại đó từ lâu; vì cầu Trà Long bị Lý Tống – phi công VNCH – dội bom sập!

Năm 1998, Minh và tôi về Việt-Nam, vì bà Cụ của Minh bị bệnh nặng. Dù đã chích ngừa và đem theo nhiều thuốc dự phòng, tôi vẫn bị trúng độc, nằm liệt giường, tại khách sạn, Nha-Trang. Tôi không thể ăn hoặc uống bất cứ thứ gì; vì vậy, số thuốc đem theo không thể dùng được. Trong khi bị lã người vì cơ thể thiếu nước, mà bác sĩ tại Nha-Trang cũng không thể giúp tôi được, tôi nghe loáng thoáng Minh trò chuyện với Linh:

Tội nghiệp chị Hai của Linh, khi nhận được tin Linh từ chối sang Mỹ theo diện H.O., chị Hai như phát điên!

Giọng Linh bùi ngùi:

-Lúc ở tù, bị tụi nó hành hạ về thể chất lẫn tinh thần – và nhất là mỗi sáng đi lao động ngang vườn rau cải, thấy Ba phải gánh phân người, đã chế biến, để tưới rau cải, em chịu không được – em oán hận tụi Mỹ đã bỏ rơi miền Nam cho nên em từ chối phỏng vấn diện H.O.. Về sau, chương trình H.O. mở lại thì các con em đều trên 21 tuổi, không được đi. Em nghĩ, em đã ở tù nhiều năm, không lo được gì cho con em; bây giờ vợ chồng em qua Mỹ để làm gì khi mà các con của em ở lại trong cảnh khốn cùng, cho nên em cũng ‘dẹp’ luôn! Đó là một quyết định sai lầm mà em rất ân hận khi vợ và con của em bệnh, không được chữa trị, vì thuộc vào gia đình Ngụy, đành phải chết!

Vừa nói đến đây, Linh mới chợt nhớ, vội tiếp:

-Chết! Em đang nấu nước gạo rang cho chị Hai uống mà nãy giờ em quên; để em xuống bếp xem xong chưa.

Minh hỏi vói theo:

-Ai bày Linh vậy?

-Dạ, mấy người làm trong khách sạn này.

Khi Linh trở lại phòng, Minh đỡ tôi dậy. Tôi vừa hớp vài ngụm nước gạo rang thì lại nôn trở ra. Linh năn nỉ tôi:

-Chị Hai! Ráng uống chút nước gạo rang em nấu nè!

Âm vang sáu tiếng thân thương: “…nước gạo rang em nấu nè” của Linh khơi dậy trong hồn tôi câu nói “Chị Hai! Cù-là nè. Chị đau ở đâu, em xức cho” mà Linh đã nài nỉ tôi sau khi tôi bị…đòn!

Tôi bị đòn vào chiều 15 tháng 6 năm 61, cũng tại Nha-Trang. Lý do tôi nhớ được cả không gian và thời gian vì sáng 16-6-61 là Lễ Đính Hôn của Minh và tôi.

Cả tuần lễ trước ngày Lễ Đính Hôn của tôi, gia đình tôi rất bận rộn. Minh đến xin phép Ba Má tôi cho Minh đưa tôi đến tiệm vàng lấy chiếc nhẫn đính hôn mà Ba Mạ của Minh đã đặt mua từ mấy ngày trước. Sau khi Ba Má tôi cho phép – như một điều kiện không thể thay đổi – Ba Má tôi gọi Linh, với dụng ý bảo Linh đi theo Minh và tôi. Sau vài lần gọi mà không nghe Linh đáp, bà giúp việc từ bếp bước lên cho Ba Má tôi hay rằng Bà Ngoại của tôi bị đứt tay khi cắt trái su, Linh đạp xe đi mua thuốc đỏ cho Ngoại.Ba Má tôi nhìn nhau, chưa biết quyết định như thế nào thì Minh nhìn đồng hồ tay, có vẻ sốt ruột. Má tôi hỏi Minh:

-Một mình cháu đi lấy nhẫn, được không?

-Dạ được. Nhưng con không thể biết nhẫn rộng hoặc chật cho ngón tay của Thanh-Điệp, rủi mai nhẫn bị rộng hoặc chật thì làm sao?

Ba tôi hỏi Minh:

-Đây ra tiệm vàng rồi trở về, cháu nghĩ mất khoảng bao nhiêu thời gian?

Minh đáp:

-Thưa bác, khoảng 45 phút hoặc một tiếng đồng hồ là tối đa.

Minh và tôi đi bộ được một khoảng khá xa, Minh đón chiếc xích-lô. Tôi ngạc nhiên, hỏi. Minh bảo đi bộ lâu lắm, ngại về không kịp giờ đã hứa với Ba Má tôi. Tôi đề nghị nên đón một xích-lô nữa cho tôi. Minh bảo mai là “lễ hỏi” rồi mà còn ngại gì nữa! Tôi cho Minh biết rằng Ba Má tôi rất nghiêm khắc; tôi không dám làm trái ý Ba Má tôi. Minh thuyết phục và hứa sẽ giữ đúng tư cách.

Vâng, Minh đã giữ đúng tư cách của một sĩ quan Hải-Quân. Minh bảo tôi ngồi sát hẳn bên trong để ít ai thấy. Minh ngồi sát mé phía ngoài. Tôi thầm phục tư cách của Minh.

Trên đường về, Minh bảo xích-lộ dừng rất xa nhà Ba Má tôi. Minh và tôi đi bộ về nhà. Vừa đến cửa lớn, thấy Ba Má tôi ngồi nơi phòng khách, nét mặt đầy tức giận, tôi hơi lo. Tôi vừa bước vào, thưa:

-Thưa Ba Má con mới về.

Ba tôi chụp cây chổi quét nhà – đã được để cạnh Ba tôi từ lúc nào tôi khôg biết –  “quất” tôi ba cán chổi! Vừa đánh tôi Ba tôi vừa gằng từng tiếng:

-Ai cho phép con ngồi chung xe xích-lô với đàn ông, hả? Hả?”(1)

Tôi gần như hoảng loạn; vì tôi là “con cưng”, rất dễ dạy và suốt gần 20 năm sống trong gia đình, chưa bao giờ Ba tôi nặng lời mắng nhiết tôi thì làm thế nào tôi có thể mường tượng được rằng có ngày Ba tôi sẽ đánh tôi! Tôi xoay sang có ý tìm Minh; nhưng không thấy Minh đâu cả!

Tôi cảm thấy đau thì ít mà tủi thân thì nhiều. Tôi ngồi co ro trong góc nhà, khóc. Linh đem chai cù-là đến, nói nhỏ, vì sợ Ba Má tôi nghe:

-Chị Hai! Cù-là nè, chị đau ở đâu, em xức cho.

Tôi cứ im lặng, khóc, trong khi Linh cứ nài nỉ:

-Chị đau ở đâu, em xức cho.

Một lúc sau, Ba Má tôi gọi tôi đến. Tôi khoanh hai tay, đứng như “Trời trồng”. Sau khi giảng cho tôi nhớ về tư cách của một thiếu nữ con nhà nề nếp, có giáo dục, có học thức, có đạo đức thì phải sống theo lễ giáo của Thánh Hiền “Nam nữ thọ thọ bất thân”, Ba tôi bảo Má tôi đưa tôi vào phòng, thoa cù-là cho tôi.

Suốt buổi cơm tối, thấy tôi lơ là như nuốt không trôi, Linh cứ hỏi nhỏ:

-Chị ăn hết chưa, em “bới” cho?

Dùng cơm tối xong, như mỗi khi có điều chi buồn, tôi ôm Accordéon dạo những bản nhạc chợt đến trong hồn chứ tôi không nhìn bản nhạc. Tôi buồn Ba tôi thì ít mà buồn Minh thì nhiều; vì tôi tự hỏi: Tại sao Minh lại lẫn tránh, không dám nhận lỗi với Ba Má tôi là chính Minh đã thuyết phục tôi? Tôi đàn liên miên từ bản nhạc này chuyển sang bản bản nhạc khác. Khi bất ngờ những ngón tay của tôi chuyển sang một tình khúc Việt-Nam, tôi “ngân nga” nho nhỏ theo từng giọt nước mắt rơi trên phím đàn:

“Đàn ơi! Tan nát tim ta nhiều rồi

 mà sao ta vẫn say sưa hoài cùng

em quanh năm ngày tháng?…

Cho ta lên tiếng cùng em vài lời.

Đời mà thiếu em ta vắng vui!…”(2)

Không biết Linh có nghe tiếng “ngân nga” của tôi hay không, nhưng Linh đến, ngồi đối diện với tôi, khoanh hai tay trên bàn rồi tựa cằm lên, im lặng lắng nghe. Mấy ngón tay của tôi chuyển sang sầu khúc Sayonara. Ba tôi động lòng sao đó, bước đến, giọng buồn buồn:

-Con à! Rạp Tân Tân chiếu phim Sayonara, con với Linh muốn đi xem không?

Linh ngồi bật dậy, nhanh nhẩu:

-Dạ đi, Ba.

Thấy tôi vẫn im lặng, Linh tiếp:

-Đi đi, chị Hai! Có Marlon Brando là tài tử ‘ruột’ của chị đóng vai chính mà.

Khi Marlon Brando xuất hiện trong khung cảnh tươi đẹp, tình tứ, lãng mạn và âm thanh tuyệt vời của tình khúc Sayonara, tôi cảm thấy hồn tôi chơi vơi, như tan loãng, như hòa nhập với cốt truyện tràn ngập yêu thương.

Trên đường về, Ba Má tôi đi trước; Linh và tôi “lẻo đẻo” theo sau. Vừa đi Linh vừa nghịch với những viên đá ven đường. Riêng tôi, âm hưởng tình khúc Sayonara cứ vang vọng khiến tôi cảm thấy nỗi buồn trong tôi cứ dâng cao, dâng cao đến ngập cả hồn tôi mà tôi không nhận biết được tôi buồn ai và buồn về cái gì!

Hơn nửa thế kỷ trước, trong khi tôi ôm trong lòng nỗi buồn “không tên” thì Linh vừa đi vừa “nhảy cà tưng” trên hè phố. Hôm nay, trong hội trường này, tôi ôm trong lòng nỗi buồn vì thương nhớ Linh thì Linh không còn nữa!…

…Đang bị chi phối vì kỷ niệm, bất chợt tôi choàng tĩnh; vì chị ngồi cạnh nâng tay tôi:

-Chị đứng lên. Chị đứng lên. Người ta giới thiệu Điệp-Mỹ-Linh kìa.

Tôi đứng lên. Trong khi cúi chào quan khách tôi mới nhận ra nước mắt đã nhạt nhòa trên mặt tôi từ bao giờ!

Tôi ngại ngùng nhìn quanh rồi nhìn quý vị cùng bàn và nhận thấy quý anh chị đều nhìn tôi với ánh mắt cảm thông. Dù còn bị phân tâm, tôi cũng hơi ngạc nhiên khi nghe Ban Tổ Chức giới thiệu anh Hiền sẽ trình bày ca khúc Căn Nhà Tiền Chế. Tôi nhíu mày, cố nhớ xem tôi đã nghe bản nhạc nào có tựa đề như vậy hay chưa; nhưng nhớ không ra! Khi nghe nhạc dạo một đoạn ngắn tôi mới nghiệm ra anh Hiền đặt lời ca theo cuộc sống, cuộc tình của Lính, dựa vào âm hưởng ca khúc Lâu Đài Tình Ái. Nhìn anh Hiền hát một cách say sưa “…Em ơi! “Căn Nhà Tiền Chế” đó…” tôi cười và nhận ra niềm vui đã trở về! Tiếp đến là chị Bích Thủy – người em gái thân thương của khóa 6/68 Thủ-Đức – với giọng ca lảnh lót, ngọt ngào trong ca khúc Hoa Soan Bên Thềm Cũ của Tuấn Khanh.

Sau đó, Ban Tổ Chức giới thiệu phu nhân của Cố Đại Úy Quân Báo Trần Hữu Tánh, khóa 6/68, ngâm bài thơ do chính chị, bút hiệu Trần Thị Quê Hương, sáng tác để tưởng nhớ anh Tánh – “Người Tình Trăm Năm” của Chị. Giọng ngâm của chị Trần Thị Quê Hương trầm buồn tha thiết tựa như nỗi niềm của Chị suốt mười năm khổ lụy thăm nuôi anh Tánh trong các trại tù của cộng sản Việt-Nam:

“…Những chiều tắt nắng đìu hiu,

Hoàng hôn gợi nhớ, tình yêu vẫy chào.

Bóng anh khuất lẫn nơi nào?

Nhớ anh tha thiết lệ trào ướt mi!…”

Bài thơ dứt, chị Trần Thị Quê Hương cúi chào trong những tràn pháo tay tưởng chừng không dứt. Anh Tiến và chị Bích Thủy đến khen tặng chị Trần Thị Quế Hương rồi anh Tiến và chị Bích Thủy hỏi thăm tôi. Nhân cơ hội này, tôi hỏi anh Tiến:

-Thưa anh, khóa 6/68 khởi đầu với bao nhiêu sinh viên?

– Dạ, khoảng trên 2 ngàn sinh viên; nhưng khoảng 800 sinh viên được đưa đi huấn luyện tại Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân, Đồng Đế, Nha-Trang.

Tôi hỏi chị Bích Thủy:

– Đến tháng Tư -1975 còn được bao nhiêu sĩ quan, thưa chị?

– Dạ, không thể phối kiểm được.                                                             

– Thưa chị, hiện nay khóa 6/68 quy tụ được bao nhiêu cựu sĩ quan?

Chị Bích Thủy nhìn anh Tiến. Anh Tiến đáp:

– Khoảng 200. Nhưng mỗi lần Hội Ngộ chỉ gặp được khoảng trên dưới 150 người thôi.

– Về Thương Phế Binh thì khóa 6/68 đã liên lạc được bao nhiêu vị rồi, thưa anh?

– Dạ, chín người.

Dù những con số do chị Bích Thủy và anh Tiến đưa ra không chính xác, tôi cũng cảm thấy nặng lòng! Tôi nhìn ra cửa, liên tưởng đến hai câu thơ của Vũ Đình Liêm:

Những người muôn năm cũ,

Hồn ở đâu bây giờ!

*****

Tối hôm sau, 25 tháng 5-2014, là Đêm Hội Ngộ chính thức.

Buổi chiều, anh Lê Đông Hải đề nghị sẽ đón tôi sau khi anh Hải phụ với Ban Tổ Chức trang hoàng hội trường. Tôi xin anh Hải cho tôi đến phụ với các anh chị.

Trong khi cùng các chị bưng từng giò lan tươi đẹp đặt trên mỗi bàn, tôi nghĩ: Mấy mươi năm qua tôi cứ tưởng tôi chỉ có những ràng buộc với đại gia đình Hải-Quân; nhưng từ khi Linh lâm trọng bệnh cho đến bây giờ, tôi mới biết tôi cũng có những ràng buộc vô hình với gia đình khóa 6/68 Thủ Đức.

Trước khi quan khách đến, Ban tổ chức giới thiệu nhà văn Vũ Uyên Giang và nhà văn Huy Văn – khóa 6/68 Thủ Đức – với hai tác phẩm mới và mời mọi người mua ủng hộ. Tiền bán sách sẽ được xung vào quỹ Thương Phế Binh. Mọi người hưởng ứng nồng nhiệt.

Tối hôm qua, vì xúc động, tình cảm bị chi phối, tôi không theo dõi chương trình. Hôm nay, nhìn quanh hội trường, tôi cảm nhận được sự trang trọng, sự vui tươi và ấm cúng. Tôi hỏi chị Bích Thủy:

-Hôm qua anh Tiến và chị bảo chỉ liên lạc được khoảng trên dưới 150 cựu SV/SQ/Thủ-Đức; vậy mà tại sao hôm nay đến gần 50 bàn lận, chị?

-Dạ, thân hữu.

Trong số thân hữu chọn lọc, tôi nhận ra giáo sư và cũng là cựu Tư Lệnh Không Quân QL/VNCH Nguyễn Xuân Vinh, cựu đại tá Tư Lệnh Không Quân và Bà Huỳnh Hữu Hiền, Commodore Jansen Buckner và vài vị khác mà tôi không nhớ tên. Ông Buckner bắt tay mọi người cùng bàn. Khi ông Buckner bắt tay tôi, tôi hỏi:

– Tôi nghe nói Ông là sĩ quan Hải-Quân, phải không, thưa Ông?

– Vâng. Và tôi từng tham chiến tại Việt Nam.

– Xin cảm ơn ông đã góp phần bảo vệ miền Nam Việt-Nam của chúng tôi.

Tôi bước sang chào giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, tác giả truyện dài Tìm Nhau Từ Thuở mà tôi đã đọc và viết về tác phẩm này. Sau khi trở về chỗ ngồi, tôi nói cho ông Buckner nghe về sự ngưỡng phục của tôi đối với tất cả Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tham chiến tại Việt-Nam. Ông Buckner hỏi tôi, trong những chiến binh Hoa Kỳ tham chiến tại Việt-Nam tôi có để ý một nhân vật nào đặc biệt hay không? Tôi đáp ngay: John McCain. Ông Buckner cười, gật gù. Tôi tiếp, tôi để ý đến ông McCain không phải vì ông ấy từng là ứng cử viên Tổng Thống Hoa-Kỳ, mà vì tấm ảnh chụp lúc ông ấy bị thương, tay bị băng bột, treo lên. Trong hình đó, ông McCain giống như một tài tử xi-nê. Một tấm ảnh khác, chụp ông McCain và vài quân nhân Hoa Kỳ vừa rời xe buýt của Việt cộng để đáp phi cơ về Mỹ, tôi thấy ánh mắt và thái độ của ông ấy – cũng như của những quân nhân Hoa-Kỳ khác cùng được thả với ông ấy – đều mang nét bất khuất, kiêu hùng của những người Mỹ thời chinh phục miền Tây. Một nhân vật nữa là ông Richard Lee Armitage. Ông Armitage là một trong những cố vấn của Hải-Quân VNCH. Khi thực hiện cuốn tài liệu Hải-Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975, tôi được hân hạnh phỏng vấn ông ấy.

Câu chuyện giữa ông Buckner và tôi vừa đến đây thì Ban Tổ Chức yêu cầu mọi người đứng lên, nghiêm chỉnh cử hành lễ chào Quốc Kỳ. Sau đó giáo sư Vinh, cựu đại tá và bà Huỳnh Hữu Hiền và ông Buckner được mời lên sân khấu để Ban Tổ Chức tặng vòng hoa.

Tiếp theo là phần phát biểu của Ban Tổ Chức và của vài vị quan khách.

Khi được mời lên sân khấu, tôi chỉ vắn tắt cảm ơn những người bạn tốt bụng của khóa 6/68 SQ/TB Thủ Đức và tôi chấm dứt bằng ba câu “…Các anh đã thể hiện một cách cao đẹp truyền thống Huynh Đệ Chi Binh của Người Lính QL/V.N.C.H.. Một lần nữa, Điệp-Mỹ-Linh xin đa tạ tấm lòng của những người đã một thời cùng Nguyễn Phiêu Linh trải dài những tháng ngày đầu đời binh nghiệp tại Quân Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ-Đức; để rồi, sau đó, các anh cũng đã cùng Nguyễn Phiêu Linh hy sinh tuổi trẻ để bảo vệ Quê Hương Miền Nam.”

Khi trở về chỗ ngồi, thấy anh Tiến đứng cạnh ông Buckner, tôi hỏi nhỏ anh Tiến sao chưa thấy ông Buckner lên sân khấu? Anh Tiến cho biết rằng ông Buckner bảo ông ấy chưa chuẩn bị, hẹn kỳ Hội Ngộ sau sẽ phát biểu cảm tưởng và sẽ nói về những kỷ niệm khó quên ở Việt-Nam.

Chương trình văn nghệ “cây nhà lá vườn” nhưng rất vui và khởi sắc. Tôi được dịp cười vì anh Hiền lại đơn ca Căn Nhà Tiền Chế. Chị Bích Thủy cũng như nhiều thân hữu đã góp vui bằng những bài ca một thời của Lính.

Bất ngờ ông Buckner bước qua phía tôi, nói nhỏ:

– Tôi phải về. Tạm biệt.

Tôi vội vàng đứng lên. Trong khi bắt tay ông Buckner, tôi hỏi:                            

-Thưa ông, ông nghĩ như thế nào về Đêm Hội Ngộ này?

– Tuyệt vời! Tôi có một buổi tối rất đẹp và niềm vui trọn vẹn.

– Cảm ơn ông. Tôi cũng có cùng cảm nghĩ với ông.

Buổi Hội Ngộ chấm dứt vào lúc một giờ khuya.

Trong khi theo anh Hải và các anh chị trong Ban Tổ Chức ra bãi đậu xe, nhìn lên bầu trời trong xanh, tôi tưởng như tôi thấy Linh đang mỉm cười, vừa vẫy tay vừa lui dần vào khoảng không gian lấp lánh ánh sao. Tiếng hát xưa chợt ngân lên trầm trầm rồi vút cao trong hồn tôi: “Sayonara, Sayonara…goodbye!…”(3)

ĐIỆP MỸ LINH

www.diepmylinh.com/

(1)  Chi tiết này đã được con tôi, Xuân Nguyệt, đưa vào bài thuyết trình về Văn Hóa Việt-Nam khi cháu theo học tại Đại Học Rice tại Houston.
(2)  Nghệ Sĩ Với Cây Đàn của Nguyễn Văn Khánh
(3)  Sayonara của Irving Berlin.

Nguồn: Cảm ơn Mrs. ĐML chuyển bài.

Nước chấm MAGGI – Trần Minh Quân

Trần Minh Quân

Vài loại Nước chấm Maggi

  Trong loạt bài Nước tương hay Xì dầu, chúng tôi có nhắc đến loại nước chấm Maggi nổi tiếng tại Sài Gòn trước năm 1975. Maggi hoàn toàn xa lạ với người Việt miền Bắc từ 1954 đến 1975? Giai đoạn mà dân miền Bắc còn thiếu cả.. nước mắm! huống chi cái món xa xỉ ‘đế quốc’ phải nhập từ bên Tây..

  Mở trói.. Đổi mới.. Vượt Tây-Mỹ và ngày nay đã có .. Maggi ‘làm tại Việt Nam’ đem bán tận Huê-Kỷ!

 What is Maggi Seasoning ?

  • Tản mạn về cái tên Maggi

   Theo Wikipedia, Maggi là tên thương hiệu quốc tế của một nhóm thực phẩm bao gồm nước chấm tăng vị = seasonings, súp tan liền, mì ăn nhanh, nguồn gốc từ Thụy sĩ từ cuối thế kỷ 19..

    Nhãn hiệu Maggi, được dùng cho 4 nhóm thực phẩm của Công ty Nestlé:

  • Khối vuông nhỏ gia vị để nấu : Cube (bouillon cube) dùng thay thế cho ‘thịt’ khi nấu ăn. Sản phẩm ra đời từ 1908 (chưa thuộc sở hữu của Nestlé). Maggi cube là ‘vật liệu’ thiết yếu đề nấu nhiều món ăn tại Đức và tại Phi châu (tại các quốc gia cựu thuộc địa của Pháp). Tại Đức, Hòa Lan và các vùng nói tiếng Đức: cây lovage (levisticum officinale), VN không có cây này, được gọi là Maggi herb = Maggikraut vì có vị gần như maggi cube..
  • Nước chấm:  Seasoning sauce . Chủ đề của bài viết này .
  • Mì ăn liền: Maggi instant noodles thương hiệu của dạng thực phẩm rất phổ biến tại Bangladesh, Pakistan, Mã Lai, Singapore.. Ấn độ và vùng ven Ấn độ dương; Nam Phi châu và tại cả Úc, Tân Tây Lan.. Món ăn này gặp một số rắc rối về Quy tắc an toàn thực phẩm tại Ấn (5/2015), liên hệ đến hàm lượng chì cùng MSG vượt quá mức quy định của luật lệ địa phương .. Tại Philippine có một vụ nhiễm vi khuẩn salmonella (5/2011).
  • Công thức nấu ăn trộn sẵn Recipe mixes hay Fixes, tên gọi cho sản phẩm đưa ra thị trường Đức năm 1974: sản phẩm giới thiệu với người tiêu dùng ‘recipe’  phối hợp 2, 3 nguyên liệu cùng bột Maggi trộn sẵn trong gói (recipe được ghi phía sau gói cùng các chỉ dẫn cách làm món ăn từng bước..) Recipe mixes rất thành công tại Đức và vài quốc gia Tây Âu, sau đó đến 1990s, lan sang Đông Âu, rất được ưa chuộng tại Nga và Ba Lan. Recipe mixes hiện nay có trên 100 món khác nhau.

    Hiện nay Maggi là thương hiệu độc quyền quốc tế của Tập đoàn Nestlé S.A (Thụy sĩ), được cấp ‘đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu’ tại 156 quốc gia và vùng lãnh thổ.. Các sản phẩm mang tên Maggi được sử dụng rộng rãi tại gần 200 quốc gia khắp thế giới..

  • Mỗi một giây,  trên thế giới có 4600 phần ăn (portions) được chế biến, có Maggi .
  • Mỗi phút, người tiêu thụ thêm 100 tấn “thức ăn = ingredients như thịt, rau, cơm..v.v..vào cùng các.. ‘maggi meals ‘
  • Mỗi một giờ, các sản phẩm Maggi .. ‘giao’ đến giới tiêu thụ 900 ngàn ’phần ân = portions’ .. rau-củ..
  • Nước chấm Maggi
  • Khởi thủy (vài hàng thu gọn)

   Maggi khởi sinh tại Thụy sĩ năm 1884, khi ông Julius Maggi nhận quyền điều hành cơ sở sản xuất  (xay xát và chế biến thực phẩm ) của  người cha (Michael Maggi, người Thụy sĩ gốc Ý). Julius sau đó nhanh chóng trở thành một nhà tiên phong trong công nghiệp sản xuất thực phẩm, ban đầu chỉ nhằm mục đích cải thiện phẩm chất cho các bữa ăn của công nhân làm việc tại các xưởng công nghiệp. Chính phủ Thụy Sĩ đã yêu cầu Julius nghiên cứu về cách đưa các chất dinh dưỡng vào giúp các bữa ăn thêm bổ dưỡng và .. Maggi là cơ sở đầu tiên đưa các bữa ăn chứa nhiều protein từ rau quả như đậu nành, đậu hòa lan = petit pois, vào thị trường và sau đó đến 1886 đã phát minh ra loại ‘trích tinh’ canh cô đặc, lúc đầu trong viên nang và rồi trong các khối vuông nhỏ, dùng khi nấu súp và sau đó đến dạng nước chấm.

   Năm 1897, Julius Maggi khai sinh Công ty Maggi GmBH, tại Singen, Đức.

  • Thời đại Nestlé

Sau Thế chiến 2, các nhà máy sản xuất của Maggi bị tàn phá rất nặng, phục hồi và tái thiết khó khăn..

  Năm 1947, tiếp theo nhiều thay đổi sở hữu cùng cơ cấu công ty: Maggi kết hợp với Công ty Nestlé, thành Nestlé-Alimentana S.A, hay Nestlé S.A .

  • Nước chấm Maggi trên thế giới..

Maggi Thụy sĩ ?

   Association Patrimoine culinaire Suisse có những ‘nhận xét’ khá lý thú về Arôme liquide Maggi.

“..” Cả nước Thụy sĩ đều biết thứ nước chấm (phát sinh từ Thụy sĩ) này, kể cả những người .. không xài nó tại nhà, nhưng cũng có dịp thấy cái chai màu nâu’ quen mắt tại các nhà hàng và cả các quán cà phê?.. Các bà nội trợ Thụy sĩ xem ‘ Arome Maggi” là món không thể thiếu trong nhà…”

La magie de Maggi | Nestlé Suisse

Hiệp hội “patrimoine” này kể thêm :

..  “Cái ‘món’ Maggi này do Ông “Thụy” Jules Maggi phát minh ra năm 1886.. Cơ sở Maggi lúc này đã chế biến loại ‘bột’ nấu  súp, sẵn sàng bỏ vào nồi nấu thêm nước đã đun sôi .. là có tô súp. Để chế ra món hàng này, Jules Maggi (1846-1912) đã học theo ‘ý kiến’ của hai nhà Hóa học: Henri Braconnot (Pháp) và Jacob Berzelius (cũng Thụy, nhưng Thuỵ Điển).. Hai nhà hóa học này (khoảng bán thế kỷ 19) đã thử nghiệm cách thủy giải protein, dùng môi trường acid để chiết các protein từ rau-quả.. Jules Maggi, vào cuối thế kỷ 19, đã tiếp tục thử nghiệm công trình này để tìm ra loại ‘condiment universel’, đa dụng. Thành công của Maggi, đương nhiên gặp nhiều cạnh tranh, bắt chước để chế tạo ra nhiều sản phẩm tương tự.. Đặc biệt nhất là Monique Pivot, chủ nhân Cơ sở Knorr [hiện vẫn đang là đối thủ chính của Nestlé thế giới], năm 1893 đã ‘chiêu dụ’ một số công nhân của Maggi, với mục đích ‘tìm hiểu’ các bí mật chế tạo của Arome, nhưng không thành công.. Maggi vẫn giữ được độc quyền’, bí mật công thức và mãi đến 1907, một ‘công ty cạnh tranh khác, tự cho là tìm ra cách pha chế và đăng ký để sản xuất nhưng thành phẩm của công ty này vẫn không giống Maggi?

 Julius Michael Johannes Maggi, né le 9 octobre 1846 à Frauenfeld et mort le 19 octobre 1912 à Küsnacht, est un entrepreneur suisse.                             

  Theo Annatina Seifert, tác giả của tập sách “De la cuisine à l’usine (2007); Arôme khởi đầu là một sản phẩm rau-quả tuy có một ‘chút nào đó hương vị thịt? nhưng chỉ sau vài năm, hương vị đổi thành rau-quả hoàn toàn. Sản phẩm là một hỗn hợp các acid amin được biến đổi từ các protein trong bắp, đậu phộng và lúa mì, dùng acid chlohydric đun nóng.. Cũng theo Seifert thì tên ban đầu của sản phẩm là Extrait de bouillon Maggi, rồi thay đổi thành Arôme pour soupes et plats và cuối cùng là Arôme Maggi. Với sản phẩm này, Jules Maggi đã tạo một ‘gia vị ‘ có  vị tương tự như thịt hay vị của cây livèche, cây này sau đó được gọi  tên ‘lóng’  thành ‘herbe-maggi’.

Livèche – Ache de Montagne – Herbe à Maggi 

Ngoài các phát kiến kỹ thuật, tiến trình xâm nhập vào thương trường của Arome Maggi cũng có những điểm đặc biệt, có những mâu thuẫn (?): Ý tưởng ban đầu của Maggi là nhắm vào một sản phẩm giúp nấu ăn nhanh chóng và dễ dàng, chú tâm đến túi tiền’ giới hạn của người sử dụng.như trường hợp các loại bột từ củ-hạt. Giới thợ thuyền làm việc nhiều giờ (có khi hơn 10 tiếng mỗi ngày) không có thời gian tự trồng rau quả và cả nấu bếp..Tuy nhiên Arome lại trở thành phổ biến rộng rãi hơn trong các gia đình trung lưu (bourgeois), ít nhất là cho đến đầu Thế chiến 2.. 

  Sau Thế chiến, sản phẩm được..công nghệ hóa cùng  cơ khí hóa máy móc sản xuất và mức sống công nhân được cải thiện, nên Maggi lại càng được  phổ biến đến mọi tầng lớp dân chúng và từ đó ‘ở luôn’ trong mọi nhà bếp Thụy Sĩ..

Cái chai màu nâu Maggi cũng là một biểu tượng ‘văn hóa ẩm thực’ Thụy sĩ?

 petite bouteille carrée munie d’un long bec verseur “, couleur brun foncé. Dạng và màu sắc được giữ nguyên từ ngày khai sinh, cuối thế kỷ 19.. Màu của nắp là đỏ, chai dán nhãn nền vàng;

  Màu của nắp trên thị trường thế giới hiện nay có hai màu : Đỏ dùng cho các maggi tại Thụy Sĩ, Đức, Canada, Pháp..; Vàng dùng cho sản phẩm tại China, Hòa Lan (Netherlands).

Maggi Sauce

 Maggi Việt Nam :

Theo tài liệu của Nestlé Việt Nam: Maggi đã được Người Pháp đưa vào các nước Đông Dương: Việt Nam – Miên – Lào  từ 1935, theo chân những người thực dân Pháp, với người bản xứ thì Maggi là một ‘loại nước chấm của Tây, màu nâu đen, có vị đặc biệt chứa nhiều chất đạm, rắc vào bánh tây vài giọt là đủ ngon .. Văn phòng đầu tiên của Nestle (chưa gồm Maggi) đặt tại Sài Gòn năm 1912.

   Từ 1939 đến 1947 số lượng thành phẩm bán tại Đông Dương,từ 15 tấn lên đến trên 50 tấn. .

  Maggi trước 1954 được nhập thẳng từ Pháp đến Việt Nam, bán tại các Nhà “Alimentation Générale” Hà Nội, Sài Gòn cùng vài Tiệm buôn lớn đại lý cho Các nhà nhập cảng, ở các Thành phố lớn như Tourane, Nha Trang..

  Sau Hiệp định Geneve 1954, Maggi cũng di cư vào Miền Nam. Dân Miền Bắc: VN Dân Chủ Cộng Hòa không còn thấy Maggi.

  Maggi tiếp tục có mặt tại miền Nam.. cho đến Tháng Tư 1975, loại nước chấm ‘cao cấp’ tại các nhà hàng ăn ‘Cơm Tây’..dần dần biến dạng trở thành ‘biểu tượng chung’ cho tất cả mọi loại xì dầu, nước tương..Tên bình dân  ‘ma-gi’ không phân biệt món hàng Tây, các tiệm Tàu bình dân, hủ tiếu – mì cũng gọi luôn xì dầu, nước tương là .. ma-di.. thậm chí có ‘ma-di ..con chuột’, hay tàu vị yểu hiệu Mickey!

   Tháng Tư 1975.. Maggi về nước theo Pháp kiều.. Xì dầu, Tàu vị yểu theo chân quốc doanh, ngưng sản xuất..

   Cởi trói! Đổi mới! 1990.. Nước chấm có cơ hội tái  xuất hiện .

  Các Nhà ‘khoa học’ làm Từ điển ‘đỉnh cao ngôn ngữ’ của Miền Bắc XHCN, (không hiểu dựa theo tài liệu nào? Tàu?) đưa chữ ma-di vào Từ điển ngôn ngữ (!) và cho ra một định nghĩa :  magi (ma-di, ma dzi !) là một tên chung cho bất kỳ loại nước chấm nào có màu nâu.

Dựa theo Các Ông Ngôn ngữ thì từ 1990 Việt Nam XHCN có đủ loại.. ma-di!

     Công ty Miwon (hàn) có nước tương.. ‘Magi Good Morning

Cơ sở tư nhân Ma Quốc Hùng(Việt? Tàu?) có Magi B6

     Các cơ sở Việt như Panco (Maggi Ngon, Magie Panco);  Còn các cơ sở khác như Anh Phong và Thanh Bình Viễn Hương..v.v.. (xài nguyên chữ Maggi)

Maggi .. tên chung cho nước tương..

  Từ điển ngôn ngữ Việt cũng không phân biệt cách viết, không đưa ra tiêu chuẩn, định nghĩa lung tung, viết đủ cách :  magi, ma-gi, ma-di.., đọc là ma-di,mazi?..) và coi như một thứ nước chấm, không phải  là sản phẩm của Maggi!

 (CHXNVN có Viện Hàn lâm Khoa Học Xã hội VN  bao gồm Viện Từ điển học và Bách Khoa Toàn thư VN)

     Nestlé khi gia nhập Thị trường ‘cởi trói’ XHCN VN đã tìm đủ cách lấy lại cái thương hiệu Maggi .. vì nước tương là soy sauce, Maggi có thể là soy sauce nhưng soy sauce đâu phải Maggi?

  Từ 2017 Công ty Nestlé đã đăng ký ‘quyền sở hữu’ của Nhãn hiệu Maggi/Magi (một hay hai chữ g) tạiCục Sở hữu Trí tuệ và Viện Từ Điển VN xem magi và maggi là 2 từ của .. một sản phẩm độc quyền của Nestlé SA.

    Nestlé sau khi gia nhập trở lại thị trường VN (1993) đã đưa ra những sản phẩm mang tên Maggi (tuy chưa lấy lại được bản quyền nhãn hiệu), 1995 xây dựng nhà máy đầu tiên và hiện có 5  nhà máy chế biến thực phẩm : 3 tại Đồng Nai (miền Nam) và 2 tại Hưng Yên (miền Bắc).

  Về ‘nước chấm’: Nước tương Maggi, thay đổi cách trình bày của Maggi Seasoning sang dạng: nước tương (soy sauce) do lên men từ đậu nành, ‘bình dân hóa’ nhãn hiệu và đổi cả dạng chai đựng (truyền thống của Maggi Thụy sĩ). Sự lựa chọn của Nestlé có thể do nhận xét về khuynh hướng ăn uống tại Việt Nam: những người ‘còn nhớ Maggi’ tại VN .. không còn nhiều và người tiêu thụ hiện nay chỉ biết nước tương như Kikkoman.. Người xưa ‘giữ quá khứ’ tại Sài Gòn vẫn có thể mua.. Maggi ‘Fabriqué en France”, nhập cảng với giá khá cao.. so với nước tương ‘lô-can’..

    Với người Việt ‘tha phương’ Nước tương Maggi Việt Nam hoàn toàn khác với Maggi – France về cả vị lẫn hình thức!  “thêm một hoài niệm.. quá khứ”.

   Tháng 7/2018 Nestlé đưa ra thị trường VN “Nước mắm Maggi” , loại công nghiệp pha chế từ nước cốt cá cơm than (Phú quốc), phân chia thêm thành 2 vị : Bắc và Nam,  nhưng chưa thành công?

Maggi Việt Nam ngày nay/ Nước tương ?

  • Công thức Arôme Maggi ? Kiêng sát sinh dùng Maggi được không ?

  Theo Công ty Nestlé ; có 9 công thức chế tạo Maggi Liquid Seasoning trên Thế giới. Nestlé không chế tạo Maggi tại Mỹ và Canada, các Sản Phẩm Maggi Seasoning đều được nhập và phân phối qua hệ thống riêng của Công Ty..

Xin ghi  4 loại được xem là phổ biến nhất tại Hoa Kỳ (theo các nhãn trên chai)

1- Arôme Seasoning

Ingredients : Water, Salt, Monosodium Glutamate (MSG), Hydrolyzed Wheat protein, Sugar, Xylose, Acetic acid, Disodium Inosinate, Artificial Flavor.

   Công thức này có vài điều nên lưu ý :

  • Xylose (hay D-xylose), thường dùng thay đường cho người tiểu đường, có thể được biến đổi do hydrogenation thành chất tạo vị ngọt Xylitol.
  • Acid acetic  (dùng thay cho giấm = vinegar )?
  • Disodium iosinate : (E631), muối của inosinic acid, thường dùng đi đôi với MSG đề tăng thêm vị umami (gặp trong potato chips, mì ăn liền).

E631 bị nhiều người ‘ăn chay tuyệt đối.. tránh dùng’ vì bị cho là chuyển biến từ các proteins gốc động vật như heo, bò, gà..nhưng hiện nay E631 được chế tạo do lên men từ đường hay trích tinh nấm men.

Nestlé cho niết :  Maggi, từ gốc là một sản phẩm hoàn toàn từ hạt-củ, thích hợp với người vegetarian, nhưng không loại trừ các trường hợp có thể bị nhiễm các vết sữa hay trứng do các thiết bị , khi chế tạo (cross-contamination)

2- European Seasoning (ghi trên nhãn)

     Được xem là ‘Vị’ Âu châu, bán phổ biến tại Mỹ, Canada cho những người ‘dễ tính’

     Đa số là “ Product of Germany’.

     Công thức tương tự như  Arome Seasoning ngoại trừ không có xylose!

  (nhãn của European Seasoning có khi ghi (Pháp) thêm Exhausteurs de gout (Flavor enhancers)

  Nhóm European Seasoning có nhiều ‘Maggi’ địa phương, tùy theo Quốc gia sản xuất, vị có thể thay đổi : Pháp, Thụy sĩ, Hòa Lan.. đều ‘hơi’ khác do artificial flavors .. Maggi Belgique .. đắt nhất Âu châu!

                                            1653325065203blob.jpg
                                                           Maggi Europe

    Đức có loại ‘truyền thống Maggi Flussige Wurze, Tại các quốc gia và vùng nói tiếng Đức có danh từ Maggibrot = Maggi bread, theo truyền thống là bánh mì.. rắc vài giọt Maggi Wurze.. và ăn đơn giản.

 Maggi Wurse

Cũng tại Đức : Maggi có loại Maggi Scharf & Wuerze Flasche : Seasoning thêm vị cay.

     Ba lan có dạng Polish Maggi Seasoning, dung dịch lỏng, màu hung đỏ và hơi mặn.

    Ngay tại Mỹ , Maggi ‘made in France’.. giá cao có thể gấp đôi loại ‘made in Germany”.

Maggi Poland

3- Asian Seasoning

   Thành phẩm được xem là tiêu biểu cho loại “Product of China” bán tại Hoa Kỳ, Canada, tại các Chợ thực phẩm Việt, Tàu (ghi thêm là Distributed by Nestlé USA, Inc Glendale, CA)

Maggi Tàu và Món ăn Tàu dùng.. Maggi

Ingredients : Iodized Salt (Salt, Potassium Iodate), Wheat gluten, Roasted wheat flour, Sugar (less 2%); Caramel color, Acid acetic, Wheat bran, Artificial Flavor; Disodium Guanylate,  Disodium Inosinate, Dextrose.

Trong thành phần có vài điểm :

  • Có chứa wheat gluten base, những người không tiêu hóa gluten ( bệnh celiac) cần tránh.
  • Disodium Guanylate E627): còn ghi là DSG, cũng là một chất đi cặp với MSG hay glutamic acid,  để tăng thêm vị umami. DSG được chế tạo từ tinh bột như tinh bột khoai mì và có khi từ nấm men (yeast), nấm và rong biển. Trên một số nhãn thực phẩm DSG có được ghi là ‘yeast extract’ và ‘natural flavors’.
  • Dextrose, đường  trích từ bắp hay lúa mì; dùng như chất tạo vị ngọt..có thể ghi là ‘corn syrup..’

Tại Á châu : Philippinescó 3 loại Maggi Liquid Seasoning: Maggi Savor Classic ; Maggi Savor Calamansi và Maggi Savor Chilimansi (chili+calamansi ).

Maggi Philippines

Nước tương Maggi Việt Nam (Soy sauce Maggi) có công thức gồm: Nước, muối, chiết xuất đậu nành lên men tự nhiên, chất điều chỉnh độ chua 260; chất ổn định 415; chất bảo quản 202; chất điều vị 631, 627, hương nước tương tổng hợp và kali iodid..

4- Jugo Seasoning  ( Jugo, tiếng Tây Ban Nha, Mexico, tiếng Anh là juice)

     Là dạng Nước chấm Maggi tại Mexico. Tên địa phương là Maggi Jugo. Tại Hoa Kỳ thường bán tại các Chợ thực phẩm Mễ.

 Công thức của Maggi Jugo được ‘tóm tắt’ thật gọn :” Hydrolyzed Soy and Corns Proteins; Maltodextrin; Caramel color; Water..”. Nestlé xem Maggi Jugo như loại seasoning có công thức ‘đơn giản ‘ nhất trong các thành phẩm của Công ty.

   Maltodextrin là một phụ gia thực phẩm làm từ tinh bột ngũ cốc như gạo, bắp, khoai hay lúa mì, thường dùng như một chất làm đặc (thickening agent) trong các loại sốt, bánh ngọt, puddings và salad dressings..; cũng còn dùng như một chất bảo quản trong thực phẩm đóng gói.

    Jugo Seasoning có lẽ có độ sánh hơn các loại Maggi khác nhờ maltodextrin; ngoài ra cũng được xem là ‘mặn’ nhất vì chứa 520 mg muối/1 thìa cà phê và màu cũng đậm..

Jugo Maggi có nhiều dạng : dạng thông thường (plain) và dạng có thêm gia vị (spicy), ngoài ra có loại Maggi Inglesa, vị giống Worcestershire sauce của Anh.

Maggi Jugo

Maggi Inglesa

                                                                           Trần Minh Quân 5/2023

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển.

LIÊN ĐOÀN 81 BIỆT CÁCH DÙ – VNCH : TRẬN LĂNG CHA CẢ – NGÃ TƯ BẢY HIỀN (SÀI GÒN) BIỆT CÁCH DÙ VỊ QUỐC VONG THÂN.

onnguonsuviet.com

Lịch Sử Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù – VNCH.
Từ năm 1960, chính phủ Mỹ cho phép mở rộng chương trình bí mật chống lại những nỗ lực chiến tranh của những người Cộng sản trong vùng Đông Nam Á. Tại Nam Việt Nam, Liên đoàn Quan sát số 1 thuộc Sở Liên lạc được thành lập. Bên cạnh các hoạt động nhảy dù xuống miền Bắc làm nhiệm vụ tình báo, biệt kích chống các hoạt động của Mặt trận Giải phóng (Cộng sản tại miền Nam VN), Liên đoàn Quan sát số 1 còn tổ chức các toán Biệt kích giả thường dân xâm nhập vào phía nam Lào, tìm kiếm và tấn công các tuyến đường giao liên do phía quân đội CS tổ chức.
Để áp dụng chương trình bên Lào, Ban Nghiên cứu Hỗn hợp (Combined Studies Division – CSD) được thành lập, đặc trách về chương trình Phòng vệ Dân sự (Civil Defense), hoạt động dưới quyền chỉ đạo của phân bộ CIA tại Sài Gòn, đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Gilbert Layton (phía Mỹ) và Thiếu tá Trần Khắc Kính( Việt Nam Cộng Hòa). Một chương trình hoạt động có mật danh là Lei Yu, sau đổi thành Typhoone (tiếng Anh) hoặc Lôi Vũ (tiếng Việt), được xây dựng. Có cả thảy 15 toán Biệt kích, mỗi toán 14 người, rút từ các toán Biệt kích có sẵn trong Liên đoàn Quan sát số 1, được tổ chức, được đánh số từ 1 đến 15 tập họp trong trại Typhoon-Lôi Vũ (gần trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức), chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó, CSD cũng tổ chức một Lực lượng Xung kích, nhằm cơ động tấn công các mục tiêu do các toán Biệt kích chỉ điểm, hỗ trợ, ứng cứu cho các toán biệt kích khi bị đối phương uy hiếp nghiêm trọng. Theo đó phía Việt Nam Cộng Hòa, tuyển mộ các Quân nhân người Thái trong Sư đoàn 22 Bộ binh đưa về Thủ Đức để huấn luyện nhảy dù, biệt kích, thành lập Đại đội 1 Biệt kích dù, do Đại úy Lương Văn Hơi làm chỉ huy. Liên tiếp sau đó, Đại đội 2 Biệt kích dù cũng được thành lập, gồm các quân nhân người Nùng tuyển mộ trong Sư đoàn 5 Bộ binh, do Trung úy Voòng Chay Mênh làm chỉ huy. Đây chính là những đơn vị đầu tiên của Lực lượng Biệt cách Dù.
Sau khi được huấn luyện và tổ chức, hai Đại đội Biệt kích dù được không vận lên Kontum, sau đó di chuyển bằng xe đến một Tiền đồn gần làng Ben Het. Sau đó, hai toán Biệt cách Dù được giao nhiệm vụ đi toán các toán Biệt kích Lôi Vũ (gồm các toán 1, 2, 3, 6, 7, 8) về căn cứ Ben Het an toàn. Đây được xem là cuộc hành quân đầu tiên của Lực lượng Biệt cách Dù.
Được xem là thành công, thêm 2 Đại đội Biệt kích Dù được thành lập. Đại đội 3 hình thành từ các quân nhân được tuyển mộ gốc từ Lữ đoàn Nhảy Dù và Đại đội 4 hình thành từ các quân tình nguyên mà đa số là người Công giáo qua sự giới thiệu của Linh mục Mai Ngọc Khuê.
Đầu năm 1963, Sở Liên lạc (bấy giờ mang tên Sở Khai thác Địa hình) được đổi tên thành Lực lượng đặc biệt Việt Nam Cộng Hòa, do Đại tá Lê Quang Tung làm Chỉ huy trưởng. Bênh cạnh các toán Biệt kích nhảy Bắc, các toán Thám báo đường mòn và căn cứ đối phương, các đơn vị chiến đấu của Lực lượng Đặc biệt gồm 2 Liên đoàn Biệt kích 77 và 31, 5 Đại đội Biệt kích Dù.
Tiểu đoàn Biệt cách Dù và Trung tâm Hành quân Delta​.
Sau đảo chính 1963, Lực lượng Đặc biệt nhiều lần tổ chức lại. Phòng 45 đặc trách các toàn Biệt kích nhảy Bắc được tách ra. Giữa năm 1965, các Liên đoàn được giải tán, cơ cấu chỉ huy Lực lượng Đặc biệt được tổ chức theo cơ cấu tương tự như của Biệt kích Hoa Kỳ để dễ phối hợp hoạt động, chỉ huy các toán Biệt kích hoạt động trong nội địa , khác với các toán biệt kích Lôi Hổ hoạt động ngoại biên trên cả bốn vùng chiến thuật. Riêng các Đại đội Biệt kích Dù Biệt lập được kết hợp thành Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù, vẫn chịu sự chỉ huy của Lực lượng Đặc biệt, vẫn giữ vai trò xung kích, ứng cứu cho các toán Biệt kích nội địa.
Bên cạnh đó, vai trò chỉ hoạt động biệt kích của Hoa Kỳ và Đồng minh tại Đông Nam Á có thay đổi do bàn giao giữa CIA và MACV. Để phối hợp các hoạt động biệt kích trên vùng lãnh thổ Nam Việt Nam, tháng 6 năm 1965, MACVSOG, cơ quan đặc trách của MACV về hoạt động đặc biệt, đã tổ chức Trung tâm Hành quân Delta, mật danh B52, chịu trách nhiệm phối hợp với Lực lượng đặc biệt Việt Nam Cộng hòa chỉ huy các hoạt động thám báo và phá hoại. Theo đó, các toán Biệt kích Delta hỗn hợp Việt-Mỹ, do các quân nhân Mỹ làm trưởng toán, ăn mặc và trang bị giống quân CS miền Nam, sẽ thâm nhập vào đường mòn Hồ Chí Minh và các vùng căn cứ do đối phương kiểm soát trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam để xác định vị trí đóng quân của đối phương, thu thập tin tức tình báo chiến lược, giám sát kết quả oanh kích của Không quân Mỹ, tập kích, phá hoại các sơ sở hậu cần của quân CS miền Nam . Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù là đơn vị phối hợp làm lực lượng xung kích ứng cứu cho Trung tâm Hành quân Delta. Năm 1968, Tiểu đoàn 91 được đổi tên thành Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù.
Liên đoàn Biệt cách Dù​ :
Tháng 6 năm 1970, MACV chấm dứt hoạt động của Trung tâm Hành quân Delta và rút các quân nhân Mỹ về nước. Tháng 8 năm 1970, Lực lượng Đặc biệt cũng bị giải tán vì đã hết nhiệm vụ nhảy Bắc, nhảy Lào và đổ bộ biển. Các quân nhân Lực lượng Đặc biệt đều được phân tán về các binh chủng khác trong Quân đội. Nhiều nhất là chuyển qua Biệt động quân và Nha Kỹ thuật. Riêng bộ phận chỉ huy phía Việt Nam Cộng hòa của Trung tâm Hành quân Delta và Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù được tổ chức lại, sáp nhập thành Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, được đặt thành một Lực lượng Tổng Trừ bị của Bộ Tổng Tham mưu. Liên đoàn được hưởng các huy chương của Lực lượng Đặc biệt, được phép đội mũ xanh và mang phù hiệu Lực lượng Đặc biệt và được mang dây Biểu chương màu đỏ Bảo quốc Huân chương.
Khi mới thành lập, quân số của Liên đoàn chỉ khoảng 900 người. Về sau, Liên đoàn được mở rộng cấp số, tổ chức gồm: 1 Bộ chỉ huy Liên đoàn, 1 Đại đội Chỉ huy Yểm trợ và 3 ba Bộ chỉ huy Chiến thuật. Mỗi Bộ chỉ huy có 4 Biệt đội, mỗi Biệt đội có 200 quân nhân. Tổng quân số lên đến 3.000 binh sĩ.
Mặc dù được đào tạo cho những công tác đặc biệt xâm nhập vào hậu phương của địch, tuy nhiên khi tình hình chiến sự trở nên nguy cấp như trong Chiến dịch Mậu Thân 1968 hay Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 Bộ Tổng tham mưu đã sử dụng Biệt cách nhảy dù như là một lực lượng tăng viện, tiếp cứu và thanh toán chiến trường. Biệt cách dù được huấn luyện để tác chiến đơn độc, quen với việc ngụy trang thành binh lính đối phương từ vũ khí, quân trang cũng như thói quen sinh hoạt.


Biệt cách Dù đã tham gia phản công trong Tết Mậu Thân 1968.
Trận An Lộc 1972: Một trận đánh ác liệt trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Liên đoàn 81 Biệt cách nhảy dù đã quần thảo quyết liệt với đặc công quân đội CS khiến cho lực lượng cả hai bên bị thiệt hại rất nhiều. Những người lính còn sống phải lập một nghĩa trang tại chỗ để chôn tử sĩ. Chính lực lượng biệt cách dù này đã truy tìm và thanh toán đặc công CS xâm nhập vào bên trong thị xã.
Trận Phước Long 1974: Trong một nỗ lực cuối cùng nhằm cứu Phước Long không bị mất vào tay CS , Bộ tổng tham mưu đã tính tới phương án dùng trực thăng đưa Liên đoàn 81 vào trong lòng thị xã với mục đích tạo một vùng đệm nhằm tái chiếm Phước Long. Nhưng do phần lớn tỉnh đã bị cộng quân đánh chiếm, các bãi trực thăng có thể đáp đều đã nằm trong tầm bắn của pháo binh. Cho nên dù đã rất cố gắng nhưng sau một vài giao tranh và một số trực thăng bị bắn rơi, Biệt cách Dù phải triệt thoái khỏi Phước Long trước khi tỉnh hoàn toàn lọt vào tay đối phương.
Trận Sài Gòn 1975: Biệt đội 3 chiến thuật gồm khoảng 1000 Biệt cách dù do Thiếu tá Phạm Châu Tài chỉ huy được lệnh bảo vệ Bộ Tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong trận đánh cuối này, sự phản kháng của Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy Dù đã làm chậm đà tiến công của Cộng quân , bắn cháy được 9 xe tăng thiết giáp. Biệt đội 3/LĐ 81 BCND tan rã khi rút lui về tuyến sau.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù Bảo Vệ Thủ Đô Sài Gòn .
Hổ Xám Phạm Châu Tài – LĐ 81 BCND và trận đánh tại Lăng Cha Cả (Sài Gòn) sáng ngày 30/4/1975 .
Biệt đội 3 của thiếu tá Hổ Xám Phạm Châu Tài thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đã đánh trận ác liệt cuối cùng tại khu vực Lăng Cha Cả, Ngã Tư Bảy Hiền trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Biệt Đội 3 của thiếu tá Phạm Châu Tài được lệnh phòng thủ khu vực Bộ Tổng Tham Mưu gần sân bay Tân Sơn Nhất. Ngoài số binh sĩ khoảng 1.000 người còn có thêm 1 số binh sĩ của đơn vị Lôi Hổ.
Lúc 07:15 ngày 30 tháng 4 năm 1975, trung đoàn 24 CS được yểm trợ bởi các xe tăng T-54 của trung đoàn 273 thiết giáp tiến đến khu vực Lăng Cha Cả – Ngã Tư Bảy Hiền .
Chiếc xe tăng T-54 đi đầu bị khẩu pháo không giật M67 90mm bắn cháy. Tiếp theo đó, chiếc thứ 2 bị chiếc xe tăng M48 bắn cháy. Hai bên đánh nhau ác liệt qua từng căn nhà, góc phố. Đến 8:45, thêm 3 xe tăng T-54 được đưa đến cùng thêm 1 tiểu đoàn cộng quân đến tăng cường nhưng vẫn không đánh bật được lực lượng Biệt Đội 3 của Phạm Châu Tài và thêm 3 xe tăng T-54 bị bắn cháy.
Cộng quân đưa đến 1 khẩu pháo 85mm để tăng cường hỏa lực nhưng lập tức khẩu pháo này bị phá hủy khi chưa kịp bắn phát nào. Sư đoàn 10 CS tiếp tục đưa đến 8 chiếc xe tăng T-54 và 1 tiểu đoàn bộ binh đến tăng viện quyết đánh bật Biệt Đội 3 thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhằm chiếm Bộ Tổng Tham Mưu cùng sân bay Tân Sơn Nhất.
Khi lực lượng CS vừa đến khu vực Bảy Hiền thì bị máy bay từ sân bay Bình Thủy ở Cần Thơ bay đến tấn công và phá hủy 2 chiếc xe tăng T-54, sáu chiếc xe tăng còn lại củng cố đội hình và tiếp tục tấn công. Thêm 2 chiếc xe tăng T-54 bị phá hủy , một chiếc khác đi vòng nhằm đánh tạt sườn nhưng cũng bị phá hủy …/.

Nguồn: https://www.onnguonsuviet.com/p104a617/lien-doan-81-biet-cach-du-

Chuyện bố láo : Súng la-de và Mẹ nó.. sợ gì ?

Lý sự Cùn

Tin đài BBC (lại Bê bê xê ?) :

      “ Nga ‘hô to’ về vũ khí la-de..bị ‘chê là ‘ (derided) .. trò tuyên truyền..”

  Ông Yury Borisov, Phó Thủ tướng Nga, đặc trách về phát triển quân sự, lên Đài Truyền hình Nga tuyên bố “ Nga có một mẫu laser sơ khởi = prototype , tên là Zadira , đã được đem ra sử dụng tại Ukraine và đã bắn cháy tiêu “burned up’ một drone của Ukraine trong vòng 5 giây, ở cách xa 5 km..”

Nga ghê thật ? Đánh không thắng trên chiến trường nay đánh võ.. miệng ?

   [Lý sự Cùn, không mất dậy, nên vẫn gọi ông Nga, Phó Thủ tướng là..Ông , không như tay Tô Công an gọi Ông Matthew Pottinger là ‘thằng”..] ; [Tổng thống Ukraine Zelensky ,nghe Ông Nga dọa vũ khí mới, không trả lời như Thủ tướng CHXHCNVN ‘ Mẹ nó.. Sợ gì !’ mà chỉ nhắc chuyện Đức Quốc Xã ngày xưa.. khi gần thua, hô to có vũ khí bí mật để làm binh sĩ .. lên tinh thần, nhờ.. bánh vẽ ] Ông Zelensky đúng là Người ‘có học’ khác với cái ông Thủ tướng ‘bố láo’

  Trở lại bàn tiếp về Súng la-de (khác với súng rượu đế, rượu chát hay súng vốc-ka..)

BBC giải thích : Nga đã từng tuyên bố có một hệ thống la-de tên là Peresvet, dùng làm ’chóa mắt các vệ tinh do thám bay trên quỹ đạo, làm chúng.. hết thu thập được tin tức.     Ông Borisov, khoe thêm : “Peresvet chỉ làm mù vệ tinh, nhưng laser thế hệ mới của Nga còn tài hơn, phá hủy luôn mục tiêu.. làm cháy tiêu luôn !”  [Ông quên không nói là : Nga ‘quên xài’ Peresvet nên vệ tinh Mỹ mới chỉ đường cho phi đạn Ukraine biết chỗ Soái hạm MOskva để.. bắn trúng..và sau đó vì xui xẻo khi kéo, nên .. chìm luôn ?]

        Hệ thống ‘Peresvet laser system’ của Nga..

Súng la-de.. là cái gì

Đài VOA tiếng Việt viết :

“Sử dụng tia laser để làm mù các vệ tinh hoặc thậm chí đốt cháy chúng.. các Cường quốc như Hoa Kỳ, Tàu và Nga đã nghiên cứu các biến thể của loại vũ khí này trong nhiều năm..”

    Lý sự Cùn vào Wikipedia ‘tra cứu’ :

.. ..”Vũ khí tiếp dụng năng lượng cực lớn của tia la-de, hướng tia này vào mục tiêu.. làm tổn hại hoặc phá hủy mục tiêu trong nháy mắt ?”

   Wikipedia còn ghi nhiều ‘vấn đề kỹ thuật vũ khí cao siêu’ mà Lý sự Cùn xin thua , và chuyển nhờ ông Trần Lý.. bàn giùm ?

     Lý sự Cùn chỉ bàn tầm pháo, không rành các vụ tia điện tử !

Tò mò vào Breaking Defence xem các Ông Chuyên gia Mỹ có.. sợ bị hù không ?:

  • Ông Mark Lewis, Xếp National Defense Industrial Agency’s Emerging Technologies , khi được hỏi về lời công bố của Phó TT Borisov, trả lời : .. “Cũng như biết bao lời tuyên bố của Nga.. khó mà phân biệt đâu là thật và đâu là giả (separate fact from fiction) (Người Việt có cách giải thích về XHCN= Xạo Hết Chỗ Nói ?)
  • Ông Laura Grego, Tiến sĩ Vật Lý Không gian tại MIT (Mỹ) : “.. Không có gì phải lo.. ?” [ nói theo CSVN : “.. Mẹ nó.. Sợ gì !]việc dùng laser làm mù mắt satellites còn nhiều vấn đề.. chưa nghiên cứu xong..!

Theo Breaking Defence : Nga có 4-5 Hệ thống Peresvet ..đi  kèm theo các hệ thống Phi đạn liên lục địa ICBM và Toprol-MR.. Boris cho biết thêm Peresvet có thể làm ‘mù’ các vệ tinh bay cao 1500 km, ngoại tầng không gian..(nhưng.. trên thực tế, các ống kính quan sát của các vệ tinh này được thiết kế như .. mắt người ,  biết.. tự đóng khi cảm nhận nguy cơ đe dọa..)

Ông Borisov xác định  Zadira chỉ nhắm ‘đánh’ drones thôi, không đánh vệ tinh, vì có lẽ Nga hiện nay chỉ ‘ngán’ drones của Ukraine ? và vậy là Nga đang có  những hai loại ‘counter drone laser’  và counter satellite..laser”?..

Zadira.. theo hình cùa BBC

  Ông Tiến sĩ Grego : cho biết Zadira.. có vẻ như vũ khí ‘chiến địa’ (?) nhằm các mục tiêu gần và dể bắn ‘tiêu’ như drones..vì không đủ.. năng lượng đề bắn xa !

   Hoa Kỳ đã và đang xài các vũ khí này :  Lục quân Mỹ có hệ thống phòng thủ ‘laser tầm ngắn còn Hải quân có những laser.. tầm xa..”

  • Lục quân Mỹ đã thử thành công loại 50 kw laser weapon , gắn trên chiến xa Stryker bắn diệt đủ loại mục tiêu, không chỉ drones mà cả rocket, đạn pháo..

Năm 2022 Hoa Kỳ đã trang bị 4 tiểu đoàn Stryker  gắn Laser 50 kw

Và dự trù 2024 sẽ đưa ra sử dụng loại laser 300 kw High-Energy-Laser.. gắn trên xe vận tải..đủ khả năng bắn hạ các phi đạn  (cruise missile)

50kw laser system trên Ve Stryker của US Army

  • Hải quân Hoa Kỳ.. có nhiều loại laser-system, tối tân nhất là Layer Laser Defense (LLD) .. bắn hạ được các loại phi đạn ‘subsonic cruise missile’ đang bay

(HQ Hoa Kỳ đã dùng laser-weapon gắn trên Chiến hạm USS Ponce  bắn hư hại (không chủ tâm tiêu diệt) các drones của Iran trong vùng Vịnh Ba tư năm 2014 ; Và năm 2021 , USS Portland cũng bắn hạ các drones Iran..

    Điểm đáng lưu ý là.. Hoa Kỳ ‘giữ kín’ các nghiên cứu và ‘chiến công của các vụ khí.. laser , đặc biệt là vũ khí laser.. đang trên không gian !

   (Không công bố đã dùng laser bắn dẹp các drone tài tử bay gần các phi trường dân sự và quân sự tại Mỹ..)

  • Thầy và trò về vũ khí laser ?

  Nhờ cái vụ ‘hù dọa’ của Ông Nga mà kỹ nghệ bán ‘súng la-de’ của ông Do Thái đang ‘lên như .. diều'(ông Thổ thì lên nhờ bán vũ khí nhờ drones..)

Ông Do Thái từng xài.. laser bắn ‘diều, bong bóng bay ‘ của Palestine !

-Cuối tháng 12 năm 2019, Quân Đội Do Thái đem ra xài loại vũ khí laser mang tên LIght Blade đề chống “Thánh chiến bằng diều’ (KIte Jihad) do Palestine phát động.. Phe Palestine dùng bóng bay, diều gắn chất gây cháy cho thả vào các vùng dân cư và rừng cây của Do Thái ! và Light Blade.. bắn hạ hết trước khi diều và bóng bay vào được đất Do..Hệ thống laser này di động và bắn hạ được các mục tiêu trong tầm 2 cây số.. hiện được Do Thái dàn dọc biên giới Gaza và biên giới Lebanon chống các nhóm Hezbollah..

(Lý Cùn hỏi ‘Bác’ Thủ Chính : “Chúng mình có cái súng la-de bắn nước này chưa ? Bác giả nhời : Mẹ nó, rách việc.. Ta có ná cao su bắn bong bóng.. cần gì đến.. Súng! ..Mẹ nó.. sợ gì ?; hồi chống Mỹ, ta có Anh hùng Núp dùng Ná thượng bắn rơi cả chục trực thăng Mỹ đó, chiến công chép trong Sử Quân Đội Nhân dân , Ná của Đồng chí Núp giữ trong Viện Bảo tàng Quân đội ta; Mỹ đòi mua, ta không bán)

  • Ông Bộ trưởng Quốc phòng Do Thái (15 tháng 4) tuyên bố ngon hơn : Các kỹ sư Do thái của Bộ QP Do phối hợp với các kỹ sư đối tác của Rafael en Elbit Systems đã chế xong một ‘hệ thống laser’ chống lại mọi cuộc tấn không từ trên không và chống luôn các phi đạn chống xe tăng..Hệ thống này gọi là Tactical High Energy Laser System, tên Nautilus..

Laser bắn.. bong bóng, Do thái biểu diễn ngày 30 tháng 8-2020 Defense News)

 (Ông Do Thái này cũng kỳ lạ : “Cũng Rafael vừa cho biết đã ‘upgraded’ Hòa tiễn chống tăng SPIKE-SR (chỉ nặng 10kg)..bắn đâu trúng đó trong vòng 2 km. Nay lại có cái .. laser bắn tiêu các phi đạn chống tăng ? Vậy mua cái nào đây ? Đúng chuyện cái ‘mâu’ đâm cái gì cũng thủng, và cái ‘thuẫn’ không cái gì đâm qua  được?)

   Điểm đặc biệt nhất của laser Do Thái là.. một phát bắn chỉ 3.5 đô , rất rẻ thay vì dùng phi đạn – chống phi đạn Mỹ.. bắn 1 quả tốn 50-60 ngàn đô !

Palestine chơi ‘độc hơn’ : thà cả ngàn diều và bong bóng : Do Thái bắn phi đạn .. không kip , bắn nhiều, hết đạn và phá sản luôn ?

Nhưng !  laser chỉ nhắm được vào một mục tiêu !.. bắn một phát rồi chờ nạp đủ năng lượng mới bắn được phát tiếp.. (Lý Cùn nhớ thời khoác áo trây di, có súng Garant M-1, bắn xong.. kéo cu-lát mới bắn.. tiếp). Laser cũng không xài được khi trời mưa, trời tuyết và.. không xuyên được qua mây (!).. Lý Cùn xin tạm gọi là vũ khí xài ngày nắng đẹp ? và mượn lời Bác Thủ : ..Vũ khí la-de.. Mẹ nó, sợ gì ! Cứ ngày mưa ta đánh, ngày nắng nghỉ chơi..

                                                                                            Lý Sự Cùn

Nguồn: Mr. TL chuyển bài.

Lê Thị Trang Đài: chính trị gia gốc Việt đầu tiên trúng cử Nghị viện Liên bang Úc – Nguyễn Quang Duy

  • Nguyễn Quang Duy
  • Gửi bài cho BBC từ Melbourne, Úc
Tân Dân Biểu Lê Đài thắng cử với khẩu hiệu "Tôi sẽ ở Quốc Hội để phục vụ BẠN, chứ không phải phục vụ bất kỳ đảng phái chính trị nào."
Chụp lại hình ảnh, Tân dân biểu Lê Đài thắng cử với khẩu hiệu “Tôi sẽ ở Quốc hội để phục vụ BẠN, chứ không phải phục vụ bất kỳ đảng phái chính trị nào.”

Ứng cử viên độc lập Lê Đài, một người Việt tỵ nạn cộng sản, vừa giành được ghế dân biểu khu vực Fowler, chiến thắng một chính trị gia lãnh đạo Đảng Lao động, cựu Thủ hiến tiểu bang New South Wales, cựu Thượng nghị sĩ Liên bang, bà Kristina Keneally.

Fowler là một khu vực an toàn của Đảng Lao động nên đây là chiến thắng của cử tri lao động phản kháng lại hệ thống chính trị của Đảng Lao động và một bài học cho chúng ta cùng suy ngẫm.

Hạt cử tri ‘an toàn của Đảng Lao động

Khu vực Fowler nằm phía tây nam thành phố Sydney, là một khu vực đa văn hóa, đa sắc tộc với trên một nửa dân số là di dân, trên 15% là người gốc Việt và chỉ trên 10% là có cả cha lẫn mẹ sinh ra tại Úc.

Người di dân lại thường bỏ phiếu cho Đảng Lao động, nên các dân biểu của đảng thay nhau nắm giữ khu vực này từ khi được thành lập vào năm 1984 cho đến nay.

Vì là đơn vị bầu cử an toàn nên các dân biểu Đảng Lao động chỉ lo phục vụ chính sách “Đảng”, hơn là quan tâm đến nguyện vọng của cư dân địa phương, còn Đảng Tự do không thèm để ý đến khu vực này.

Tỷ lệ thất nghiệp tại Fowler cao gần gấp đôi mức trung bình của cả nước, mức lương do đó thấp hơn so với mức lương trung bình toàn nước Úc, có cư dân phải làm đến hai, ba công việc bán thời gian mới đủ trang trải cuộc sống vô cùng khó khăn.

Fowler là một khu vực nghèo, kém an ninh và chậm phát triển, giới tiểu thương trong khu vực không được đảng nào thực sự quan tâm nâng đỡ. Nhà thương, trường học, đường xá, cảnh sát, các dịch vụ công cộng đều thua kém các khu vực khác trong vùng.

Không riêng khu vực Fowler, hầu hết các khu vực có đông di dân và đông người Việt sinh sống đều cùng chung hoàn cảnh chính trị, kinh tế và xã hội.

Không phục vụ đảng phái chính trị

Bà Lê Đài (Lê Thị Trang Đài) từ Sài Gòn đi tỵ nạn cùng gia đình năm 1975 khi mới 7 tuổi, và ở Hong Kong 4 năm trước khi đến Úc năm 1979.

Bà có chồng người Úc và một con trai, hiện định cư tại khu vực Fowler.

Học xong trung học bà đi làm cho một tờ báo địa phương, rồi trở thành ký giả cho đài ABC, đi học lại và tốt nghiệp ngành Chính trị tại Đại Học Macquarie.

Nghị viên Lê Đài vận động Hội đồng thành phố Fairfield thông qua nghị quyết công nhận cờ vàng là biểu tượng của người Việt tự do
Chụp lại hình ảnh, Nghị viên Lê Đài vận động Hội đồng thành phố Fairfield thông qua nghị quyết công nhận cờ vàng là biểu tượng của người Việt tự do

Trong cuộc bầu cử bổ túc cho khu vực Cabramatta năm 2008, bà Lê Đài ứng cử đại diện cho Đảng Tự do, giúp đảng này tăng số phiếu thêm 21,8% so với cuộc bầu cử năm 2007, nhưng vẫn thua ứng cử viên Đảng Lao động.

Trong kỳ bầu cử định kỳ tiểu bang New South Wales năm 2011, bà Đài tiếp tục tranh cử đại diện Đảng Tự do tăng thêm thêm 5.1% số phiếu, nhưng vẫn không đủ phiếu để đánh bại ứng cử viên Đảng Lao động.

Năm 2012, bà Lê Đài ứng cử độc lập và đã thắng cử nghị viên hội đồng thành phố Fairfield.

Đến năm 2016, bà Đài bị Đảng Tự do cấm tham gia đảng 10 năm vì đã tự động thành lập một liên danh độc lập tranh cử ghế thị trưởng Fairfield, thách thức ứng cử viên được Đảng Tự do ủng hộ.

Năm 2017, bà đã vận động hội đồng thành phố Fairfield thông qua nghị quyết công nhận cờ vàng là biểu tượng của người Việt tự do.

Năm 2019, bà tiếp tục tranh cử đại diện khu vực Cabramatta, bà đạt được số phiếu hơn ứng cử viên Đảng Tự do và các đảng khác, nhưng vẫn thua số phiếu của ứng cử viên Đảng Lao động.

Năm 2021, bà Lê Đài được bầu làm Phó thị trưởng thành phố Fairfield.

Mỗi lần thất cử, bà Đài lại gặt thêm những kinh nghiệm để bước vào tranh cử dân biểu liên bang 2022 với khẩu hiệu “Tôi sẽ ở Quốc hội để phục vụ BẠN, chứ không phải phục vụ bất kỳ đảng phái chính trị nào.” (I will be there to serve YOU, and not any political parties.)

Làn sóng phản đối bên trong Đảng Lao động

Người xứng đáng để đại diện Đảng Lao động ra tranh cử lần này là luật sư Lê Tú, một người trẻ làm việc trong văn phòng dân biểu Chris Hayes, được chính ông Hayes đề cử thay ông tranh ghế Fowler và được sự ủng hộ của cơ sở đảng tại địa phương.

Bà Lê Đài sử dụng hình ảnh và lời kêu gọi cử tri của dân biểu Chris Haye "Hãy dồn phiếu cho ứng cử địa phương" làm bích trương tranh cử.
Chụp lại hình ảnh, Bà Lê Đài sử dụng hình ảnh và lời kêu gọi cử tri của dân biểu Chris Haye “Hãy dồn phiếu cho ứng cử địa phương” làm bích trương tranh cử.

Nhưng cô Lê Tú đã bị ban lãnh đạo Đảng Lao động gạt sang một bên để nhường chỗ cho cựu thủ hiến New South Wales, cựu Thượng nghị sỹ Kristina Keneally.

Mặc dù là một chính trị gia chuyên nghiệp lãnh đạo Đảng Lao động, bà Keneally sinh sống tại Scotland Island, khu vực bờ biển giàu có ở phía bắc của thành phố Sydney, cách đơn vị Fowler đến hơn 2 giờ lái xe.

Bà được Đảng Lao động “thả dù” xuống đơn vị Fowler để đưa vào Hạ viện và nội các Lao động với chức vụ bộ trưởng bộ Nội vụ, một vai trò vô cùng quan trọng coi cả Cơ quan Tình báo Úc (ASIO) và Cảnh sát Liên bang.

Bà Keneally thì thuộc tầng lớp trên, khác xa với giới cử tri lao động nghèo, đa sắc tộc, đa văn hóa đơn vị Fowler.

Kinh nghiệm chính trị và kiến thức lãnh đạo tiểu bang và liên bang bà có thừa nhưng sự gần gũi với cử tri sắc tộc hầu như không có.

Năm 2016, chính dân biểu Chris Hayes cũng là nạn nhân của phe cánh trong Đảng Lao động.

Khi ấy tôi đang đại diện cho Khối 8406 Úc Châu, chúng tôi đã cùng nhiều tổ chức khác vận động để ông Chris Hayes không bị thuyên chuyển sang đơn vị bầu cử khác, nhường ghế Fowler cho một dân biểu trẻ cánh hữu thuộc thành phần lãnh đạo.

Tình trạng bè cánh, phản dân chủ của giới lãnh đạo Đảng Lao động đã tạo ra một làn sóng công khai phản đối tại đơn vị Fowler, chính ông Chris Hayes đã lên tiếng kêu gọi cử tri Fowler dồn phiếu cho ứng cử viên địa phương.

Cử tri làm cách mạng

Bà Lê Đài là một chính trị gia cơ sở (grassroots), xuất thân từ quần chúng sắc tộc, và bản thân là người tỵ nạn cộng sản đã nhân cơ hội xin phép dân biểu Chris Hayes để lấy hình ảnh và lời kêu gọi cử tri “dồn phiếu cho ứng cử viên địa phương” của ông làm bích trương tranh cử.

Để cứu nguy trước ngày bầu cử, thủ lĩnh Đảng Lao động ông Anthony Albaneses đã thân chinh đến đơn vị Fowler vận động cho bà Kristina Keneally. Nhưng không thể cứu vãn tình thế 18,6% cử tri lao động đã từ chối bỏ phiếu cho bà Keneally.

Bà Lê Đài còn được Đảng Tự do và đảng Đoàn kết nước Úc (United Australia) cho phiếu, nên với hơn 99.98% phiếu đã kiểm, bà nhận được ít nhất 52,32% tổng số phiếu, trong khi ứng cử viên Đảng Lao động Kristina Kneally chỉ được 47,68% phiếu.

Bà Lê Đài thắng cử, nhưng chiến thắng của bà từ một cuộc cách mạng “quần chúng nổi dậy” chống lại tình trạng bè cánh, phản dân chủ của giới lãnh đạo Đảng Lao động.

Từ nay đơn vị Fowler sẽ không còn là ghế an toàn Lao động nữa, từ nay tiếng nói của cử tri sẽ được các đảng chính trị và chính quyền lắng nghe.

Người chiến thắng cũng chính là các đảng viên Đảng Lao động tại cơ sở Fowler, vì đây là một bài học đắt giá cho tầng lớp lãnh đạo Đảng Lao động không được coi thường các cộng đồng và cử tri gốc sắc tộc cũng như thành viên đảng bộ địa phương.

Đài Lê
Chụp lại hình ảnh, Bé Lê Thị Trang Đài (bìa phải) trong ảnh chụp hồi nhỏ ở Sài Gòn

Bà Lê Đài thực sự thắng cử bằng sức mình, bằng lá phiếu của cử tri, thay vì dựa vào “Đảng” để cuối cùng làm công bộc phục vụ trả ơn “Đảng”, là bài học cho tất cả những ai quan tâm, và muốn tham gia vào chính trường Úc.

Chính trị Úc cần thay đổi…

Ở Hạ viện, Đảng Lao động được 76 ghế, vừa đủ ghế để thành lập chính phủ đa số, liên Đảng Tự do Quốc gia chỉ được 55 ghế, Đảng Xanh được 4 ghế, 2 đảng nhỏ 2 ghế, độc lập được 10 ghế, còn lại 4 ghế chưa rõ kết quả.

Trong cuộc bầu cử 2022, liên Đảng Tự do Quốc gia mất 5,7% chỉ còn 35,7 % tổng số cử tri ủng hộ, trong khi Đảng Lao động mất 0,5%, chỉ còn 32,8 % tổng số cử tri ủng hộ. Như vậy, Đảng Lao động thắng cử và cầm quyền nhưng đại diện cho chưa tới 1/3 tổng số cử tri Úc.

Khuynh hướng cử tri Úc bầu cho các ứng cử viên độc lập và các đảng nhỏ càng ngày càng trở nên rõ nét.

Bầu cử 2022 có tới 10 dân biểu độc lập và tất cả đều là phụ nữ, nó cho thấy nữ giới Úc đã nhận thức được các đảng chính trị không còn đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của cử tri và của nước Úc.

Xét cho cùng, nước Úc cần thay đổi hệ thống chính trị, cần một thể chế cộng hòa, cần một hiến pháp mới, một hệ thống bầu cử mới mà người cầm quyền phải thực sự đại diện cho đại đa số cử tri.

Bài thể hiện quan điểm riêng của ông Nguyễn Quang Duy, hiện sống tại Melbourne, Úc.

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/forum-61551980

LỰC LƯỢNG ĐẶC NHIỆM 99 HQVNCH NỖ LỰC GIAO CHIẾN CUỐI CÙNG BẢO VỆ MIỀN NAM VIỆT NAM.

onnguonsuviet.com

29 Tháng Tư 2022

HQ Đại Tá Lê Hữu Dõng ( Hình của nguyentin.tripod.com ).

LỰC LƯỢNG ĐẶC NHIỆM 99 và Đôi Lời Tâm sự của HQ Đại Tá Lê Hữu Dõng
Trong bài phỏng vấn Đô Đốc Chung Tấn Cang, chúng ta đã thấy được sự khéo léo trong việc đem đoàn tàu ra khơi. Qua đó Đô Đốc Chung Tấn Cang đã nhắc đến vai trò quan trọng của Lực lượng Hậu bị để ngăn bước tiến của địch và giữ an ninh thủy trình. Đó là nhiệm vụ của Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, do Hải Quân Đại tá Lê Hữu Dõng, làm Tư-lệnh. Để có một cái nhìn chính xác về Lực Lượng này, chúng tôi đã tìm gặp Đại-tá Dõng, hiện cư ngụ tại Bakersfield. Qua những lần trò chuyện mặt đối mặt, qua điện thoại, thư tín, điện thư, cộng với những thăm hỏi, đối chứng và cả rất nhiều tài liệu của đối phương, chúng tôi cô đọng và thực hiện bài viết này.

Được hỏi vể sự thành lập Lực lượng này, các đơn vị trực thuộc, nhiệm vụ và vùng hoạt động… Đại-tá Dõng đã trả lời:
“…Lúc ấy, tôi đang làm Tư-lệnh-phó Lực Lượng Tuần Thám, phụ tá cho Đô-đốc Nghiêm Văn Phú thì được Đô-đốc Chung Tấn Cang gọi về thành lập Lực Lượng Đặc Nhiệm 99. Đó là ngày 08 tháng 4 năm 1975. Trong khẩn cấp, các đơn vị sau đây đã được lấy về, gồm Giang Đoàn 42 Ngăn Chận, Giang Đoàn 59 Tuần Thám, Đại Đội Hải Kích, Địa Phương Quân, một số giang đĩnh lấy ra từ những Giang Đoàn Thủy Bộ, Ngăn Chận và Xung Phong. Kể cả 6 chiếc LCM8 của các căn cứ Yễm Trợ Tiếp Vận. Mấy chiếc chiến đĩnh Zippo phun lửa nữa… Nói chung, đây là một đại đơn vị gồm rất nhiều loại tàu bè, tất cả là 62 chiến đĩnh, một mũi xung kích mạnh mẽ nhất của Hải Quân Miền Nam lúc bấy giờ.
Về nhiệm vụ, do khẩu lệnh mà tôi nhận trực tiếp từ Đô-đốc Chung Tấn Cang, Tư-lệnh Hải Quân thì Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 gồm những trọng trách sau đây:
– Thứ nhứt, Lực Lượng sẽ là đơn vị hậu vệ nặng để bảo vệ Chính Phủ rút về miền Tây, khi tình thế xấu.
– Thứ hai là bảo vệ an ninh thủy trình sông Soài-Rạp và sông Lòng-Tào nếu Hạm Đội phải rời Sài Gòn ra biển.
– Và thứ ba là bảo vệ Bộ Tư-Lệnh Hải Quân, nếu có đảo chánh xẩy ra.
Do đó vùng hoạt động của Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 không nhất định.”
Một cách tổng quát, hầu như ai đã có chút quan tâm đến thời cuộc, đều biết rằng ngày 20 tháng 4, mặt trận Xuân-Lộc vỡ, Sài-Gòn đã thực sự bị đe dọa. Với nhiệm vụ được nêu rõ ở trên, một cách cụ thể, Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, đã hoạt động như thế nào. Đã có những đụng độ nào đáng kể. Trước những thắc mắc ấy, Đại-tá Dõng thong thả đáp:
“Sài-Gòn kể từ ngày đó, quả là những ngày hấp hối. Trong nhiệm vụ của tôi, của Lực Lượng Đặc nhiệm 99, chúng tôi phối hợp với các đơn vị bạn để ngăn chận bước tiến của địch ở mặt Tây-Nam Sài-Gòn. Cụ thể là bằng mọi giá phải chận đứng bước tiến của các Công-trường 9, Cộng-trường 7 và Công-trường 5 cùng với tiểu-đoàn Nhái của địch từ các ngả biên giới Miên tràn xuống. Trở ngại của những cách quân này là 2 con sông Vàm-Cỏ-Đông và Vàm-Cỏ-Tây. Mục đích của chúng gồm 2 bước: Thứ nhứt là cắt đứt quốc lộ 4, để Sài-Gòn và miền Lục-tỉnh, Quân-đoàn 4 không thể cứu ứng được cho nhau. Như chúng ta dự trù, khi Quốc lộ 4 bị cắt, chúng ta muốn dời Chính-Phủ về miền Tây, sẽ vô cùng khó khăn. Bước thứ hai, nếu chúng vượt qua và khống chế được 2 con sông Vàm-Cỏ, thì coi như Sài-Gòn đã bị bao vây bốn mặt. Chúng sẽ khóa chặt thủy trình huyềt mạch là sông Lòng-Tào và sông Soài-Rạp, cửa ngõ yết hầu nối Sài-Gòn với cửa biển sẽ bị bít kín. Đa số tàu bè của Hải Quân như những con cá kình mắc cạn, ta sẽ vô phương xoay trở. Nhưng với sự hiện diện của Lực-Lượng Đặc-Nhiệm-99, ý đồ trên của địch đã thất bại.”
Sau này trong cuốn Tổng tấn công Đại thắng mùa Xuân , chính Võ Nguyên Giáp cũng đã xác nhận sự thất bại này, nguyên văn nơi trang 317 như sau: “Đặc biệt ở phía Tây-Nam Sài-Gòn, nơi có địa hình sình lầy, trống trải, bộ đội và nhân dân đã phải vượt muôn vàn khó khăn, đánh thông hành lang Tây-Ninh – Kiến-Tường, làm chủ một phần sông Vàm-Cỏ-Tây, mở ra một vùng giải phóng, lót sẵn lương thực, đạn dược, tạo thế thuận lợi cho một bộ phận đoàn 232 tiến công vào Sài-Gòn. Ở hướng tây nam, Bộ-Tư-lệnh quyết tiến công vào thị trấn Thủ-Thừa và thị xã Tân-An, không đánh chiếm Mộc-Hóa như trong kế hoạch cũ. Trận đánh không thành công vì quân địch đã phòng bị sẵn”. Giáp đã không nói rõ những ‘muôn vàn khó khăn’, ‘địch đã phòng bị sẵn…’ là những khó khăn nào, phòng bị như thế nào, sức đối kháng từ đâu tới và bộ đội của Giáp đã có những thiệt hại gì…

Để chứng minh hiệu quả trên, một số những trận chiến ác liệt trong vùng trách nhiệm, đã được Đại-tá Dõng nhớ lại như sau:
“Sáng ngày 16 tháng 4, khi đoàn chiến đĩnh của Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 trên đường giải tỏa áp lực địch trên kinh Thủ-Thừa, chúng tôi thấy ở bên kia bờ rạch Cần-Đót, có rất đông người đang tắm. Lấy ống nhòm quan sát, mới hay đó là một đơn vị địch. Tôi cho lệnh đoàn tàu ủi thẳng sang, tấn công. Chúng chấp nhận giao chiến, không chạy. Hai bên cách nhau rất gần, trên dưới 10 thước mà thôi. Sức phản công của chúng rất dữ dội, gồm nhiều loại súng lớn rất ác liệt, như 82 ly không giựt, 12ly8. Phía các chiến đĩnh của chúng ta được một phen đáp ứng ngon lành. Tôi còn nhớ anh Đức, một thủy thủ, bị thương ở mặt và ở đầu, máu tuôn xối xã, nhưng anh Đức chỉ lấy tay vuốt máu trên mặt, đứng thẳng trên nóc chiến đĩnh, ôm khẩu MK19 nã thẳng vào đối phương. Trận chiến kéo dài suốt ngày. Phía ta có các đơn vị Bộ binh và Địa phương quân đến tiếp ứng. Tới 5 giờ chiều địch rút. Trong trận này phía chúng ta thiệt hại nhẹ. Phía địch thiệt hại không dưới một tiểu đoàn. Vũ khí ta thu được gồm 4 khẩu 82ly, 2 khẩu 12ly8, 12 khẩu B40 và rất nhiều súng AK cùng súng trường Nga.”
Vẫn theo lời kể của Đại-tá Dõng:
“ … Kể cũng thật ghê gớm. Vẫn tại Cần-Đót, hôm trước chúng ta giải tỏa, hôm sau địch lại kéo tới, đông hơn. Các chiến đĩnh của ta đụng địch liên tục. Tôi còn nhớ một chiếc Monitor của Giang Đoàn 42 Ngăn Chận bị trúng 82ly không giựt trực xạ, khiến 3 nhân viên và Thiếu tá Phạm Ngọc Lộ, khóa 12, chỉ huy trưởng, bị thương. Máu đầy mặt, nhưng tất cả vẫn ở trong các ổ súng, tiếp tục bắn. Cứ như thế, ta và địch giằng co, ’gặp nhau’ đều đều. Trong khi đó, pháo 122ly của địch hàng ngày câu hàng trăm trái vào Long-An, gây rất nhiều đổ nát, thương vong cho dân chúng. Đạn rơi cả vào nhà thương, khiến những người đã bị thương lại bị thương một lần nữa. Thân nhân của họ vội tản thương khỏi nhà thương. Sư Đoàn 22 Bộ Binh, từ miền Trung di tản về đang được tái trang bị, dưới sự chỉ huy của tướng Phan Đình Niệm, đem một Trung-đoàn ra giải tỏa áp lực địch tại Cầu-Voi, nhưng áp lực địch vẫn rất nặng nề. Ta và địch giằng co nhau nhưng Cầu-Voi vẫn không bị phá, giao thông trên quốc lộ 4 nhiều lúc khó khăn nhưng không hề bị cắt, vì được người Nhái của ta ngày đêm tận tình bảo vệ. Những phen Nhái ta và Nhái địch quần nhau ở chân cầu Long-An đầy cam go, hồi họp. Rồi lợi dụng đêm tối, Nhái của chúng lội ra giữa sông, leo lên các chiến đĩnh của người Nhái ta, nhưng chúng ta đã phát giác kịp thời., tất cả Nhái của địch đều bị Nhái của ta hạ sát khi vừa xuất hiện bên mạn chiến đĩnh, chìm mất xác dưới lòng sông. Cũng chính vì thế các chiến đĩnh không bao giờ được neo ngủ, phải luôn luôn di động và dùng lựu đạn ném quanh tàu. Nhiều chi tiết rất khiếp đảm trong việc chống lại người Nhái địch, nói ra không hết. Một thủy thủ đứng gác trên nóc chiến đĩnh bỗng thấy mặt nước khua động, rồi một cái đầu ló lên, một cách tay bám vào mạn chiến đĩnh, rất nhanh như một phản xạ, một trái lựu đạn được quăng xuống nước, nổ ục, tung một quầng nước lớn đỏ thẫm những máu. Tên Nhái địch buông tay, chìm. Mặt nước lại lững lờ trôi như không có gì xảy ra. Đêm cũng như ngày, có thể nói sự nguy hiểm có mặt ở sát bên mình.”
Bằng một giọng nửa đùa cợt, nửa thắc mắc, Ông nói:
“Không biết tụi nó tưởng tàu mình bằng giấy bồi, lính của mình là lính gỗ chắc. Hết Nhái của tụi nó bơi ra, lại có cả những ghe gỗ, chở lính, cũng cứ nhào ra, một lúc mấy chiếc. Chúng dùng đủ loại súng bắn vào các chiến đĩnh của ta. Đạn súng nhỏ bắn vào thành chiến đĩnh rào rào như mưa. Chúng ta phản pháo bằng súng thường không xuể. Các ghe chở đầy lính của địch lại túa ra. May mà hai chiếc Zippo vừa nạp đầy nhiên liệu, loại xăng đặc dùng cho bom Napalm, đã sẵn sàng. Hai chiếc Zippo, dưới sự bảo vệ của các chiến đĩnh khác, tiến sát vào bờ, lưỡi lửa phun ra dài cả trăm thước. Trong nháy mắt cả một vùng bờ cây xanh từ gốc tới ngọn cháy rực, gãy đổ, lửa khói bốc cao, khét lẹt. Từng lớp người ở sát bờ sông ngã ra, tràn xuống mặt nước. Các đợt xung phong dại dột của địch khựng lại, phòng tuyến địch rối loạn. Nhưng quân trên bờ của địch, người ở đâu vẫn đen đặc, kêu thét chạy tán loạn, đặc nghịt. Phòng tuyến của chúng vỡ. Ông Tỉnh-trưởng Trần Vĩnh Huyến chứng kiến cảnh này, lắc đầu. Ta không đủ quân để lên bờ thu chiến lợi phẩm. Nhưng thiệt hại của chúng không dưới một tiểu đoàn. Sau trận ‘hỏa công’ này, mặt trận hai con sông Vàm-Cỏ trở nên yên tĩnh. Có lẽ nhờ thế chúng đã không thể nào vượt qua 2 con sông Vàm-Cỏ, để áp đảo Sài-Gòn. Nhìn mấy chiếc ghe cháy xám, trôi lềnh bènh, đúng là những chiếc thuyền ma, lòng vừa giận, vừa thương, vừa hú vía…”.
Lau mồ hôi và thở một hơi dài, Đại-tá Dõng lại tiếp:
“Mấy ngày sau, mặt sông có những xác người trôi đen đặc. Mùi tử khí bay nồng nặc. Nghĩ lại cuộc chiến thật đau lòng…” Vẫn lời của Đại-tá Dõng: ”Đó là một trong những cuộc tao ngộ chiến, mà sau này đọc tài liệu của họ tôi mới biết. Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 đã cản đường tiến của đoàn 232, tương đương với 1 Quân Đoàn, do tướng Lê Đức Anh chỉ huy, nằm ém quân bất động ở ngã ba sông Vàm-Cỏ, đợi sẵn khi có thể là vượt sông, tiến vào Sài-Gòn. Tại đó, Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 lúc nào cũng có 6 chiến đĩnh hiện diện. Vậy mà chúng nín khe, suốt mười mấy ngày không một tiếng súng bắn ra. Bây giờ cuộc chiến đã tàn. Mọi việc đã nhạt nhòa như không có thực. Nhưng giả thử Cộng quân không bị cản đường, chúng qua được sông Vàm-Cỏ, nằm sẵn ở 2 bên sông Lòng-Tào và Soài-Rạp, khi đoàn tàu thuyền trong đêm 29 rạng 30 tháng 4, chở đầy quân, dân, đàn bà và trẻ con túa ra biển, những điều gì đã phải xẩy ra. Với hỏa lực của mấy sư đoàn địch trên bờ và mấy trăm cổ hải pháo trên các chiến hạm cùng thi nhau nhả đạn, hai con sông Lòng-Tào và Soài-Rạp chắc chắn sẽ là hai con sông kinh hoàng ngập máu, sẽ tàn khóc và rùng rợn nhiều lần hơn Đại Lộ Kinh Hoàng trong mùa hè Đỏ Lửa 1972”.

(Người viết thoát khỏi Sài-Gòn trên Dương Vận Hạm Thị-Nại, HQ502, một con tàu hư hỏng, chỉ còn một máy, do HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Tánh làm Hạm-trưởng. Trên tàu chở theo 5000 người. Trong đó có vợ và 4 con của Đại tá Dõng thoát đi vào phút chót cùng với gia đình Trung-tá Tòng, mà Đại-tá Dõng không hay. Đại-tá Dõng nhiều ngày sau mới gặp lại gia đình tại khu Liều Vải, Orote Point, ở Guam. Khi Cộng sản đã vào Dinh Độc-Lập, ông Minh đã tuyên bố đầu hàng, con tàu HQ 502 chết máy, vẫn chưa ra khỏi cửa sông Soài-Rạp, và vẫn tiếp tục vớt thêm người từ các ghe dân táp vào tàu.. Có nghĩa là cho đến trưa ngày 30 tháng 4, địch chưa hiện diện trên khúc sông này, sông Soài-Rạp vẫn còn an ninh. Được như thế tất nhiên không phải là môt sự tình cờ. Đó là công lao to lớn cụ thể của đơn vị hậu bị, Lực Lượng Đặc Nhiệm 99, và do sự khéo léo dự trù của Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, Bộ Tham Mưu và sự hợp tác của tất cả Thủy Thủ Đoàn mọi cấp bậc. Nếu không, thí dụ chỉ một trái B40 bắn vào HQ502, tàu bốc cháy, 5500 người trên tàu sẽ là nạn nhân trong một lò lửa… Chỉ mới nghĩ thế, tôi đã thấy rung mình.)
Được hỏi “Khi đoàn chiến hạm ra đi, Đại-tá có được thông báo không”.
Đại-tá Dõng đáp:
“Có chứ. Trước khi hạm đội khởi hành. Đô-đốc Cang có hỏi tôi là an ninh thủy trình sông Lòng-Tào và sông Soài-Rạp ra sao. Tôi xác nhận là an ninh tốt. Rồi trong đêm 29 tháng 4, Đô-đốc Cang đã 2 lần nhờ Đại-tá Cổ Tấn Tinh Châu, Chỉ-huy-trưởng Đặc Khu Rừng Sát và Trung-tá Dương Hồng Võ tìm tôi, kêu tôi hãy mau rời vùng hoạt động, ra khơi với đoàn tàu.”
Một thắc mắc được nêu lên. Đại-tá đã ra đi bằng cách nào. Và Lực Lượnf Đặc Nhiệm 99 vào phút chót ra sao. Và chẳng may ông kẹt lại, ông sẽ nghĩ gì, phản ứng ra sao… Đại-tá Dõng cười và tiếp:
“Lúc đoàn tàu ra khơi, tôi còn lênh đênh trên ngã ba sông Vàm-Cỏ. Vẫn cố giữ sự hiện diện của mình ở đây để cản đường tiến của địch, như nhiệm vụ đã được thượng cấp giao phó. Nếu chẳng may mà kẹt lại thì cũng đành vậy, rồi liệu sau. Có điều lúc ấy, đâu đã rõ tình hình ra sao. Đại-tướng Minh đâu đã đầu hàng. Trên bờ thì khác, chứ trên sông nước, mình vẫn còn bảnh lắm… Rồi như chúng ta đều biết, hôm sau, 30 tháng 4, trước khi ông Minh ra lệnh đầu hàng mấy phút, tôi trở lại Long-An, nhà Ba tôi, đón hai đứa con tôi. Cho đến 16 giờ hôm ấy, 30 tháng 4, tất cả chiến đĩnh thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 đều có mặt tại ngã ba sông Soài-Rạp. Bên cạnh tôi có Đại-úy Hải CHT/GĐ59 Tuần Thám, tôi đích thân ra lệnh giải tán Lực Lượng. Tôi đã nghẹn lời có nói một câu ngắn rằng: ‘Hẹn gặp lại anh em…’
Qua lời kể của Đại-tá Dõng, ta thấy trận chiến kinh khiếp như thế, đạn bắn vào tàu như mưa, là người chỉ huy và trực tiếp xông pha cùng với đoàn viên các cấp, một câu hỏi đùa: “Chắc ông có bùa Miên, nên đạn đã tránh ông”. Đại-tá Dõng cười đáp:
“Đâu có. Nhiều lần tôi đã bị thương. Nhưng lần đi trận cuối, và bị thương lần cuối là ngày 17 tháng 4 năm 1975, tại Long-An. Nhẹ thôi. Cũng không biết mình bị bắn lúc nào. Một mảnh đạn nhỏ ghim vào ngực bên trái. Hồi 9 giờ 15, hay tin tôi bị thương, Đô-đốc Phú đã phóng PBR lên tại mặt trận thăm tôi, hỏi tôi có chịu đựng được không. Lúc đó vì đang đụng nặng, tôi đã vui vẽ đáp là không có gì, chỉ biết là bị thương ở ngực thôi, và bị rát quá, máu ra chút đỉnh thôi. Khi mặt trận đã vãn, tôi về đến nhà, nên nhớ là nhà tôi ở Long-An, Bác-sĩ Truyền đã cứu chữa cho tôi ngay, lấy viên đạn ra. May là viên đạn không vào sâu bên trong. Tôi có báo cáo cho Đô-đốc Cang, nhưng Trung-tá Vĩnh Giang, bạn cùng khóa nghe tin, liền thông báo cho các bạn là tôi bị thương nặng, sắp chết. Vết thương này, cả tháng sau, khi đã ra khỏi trại Indiantown Gap, mới thực sự bình phục.”
Vẫn lời Đại-tá Dõng:
“Sau khi giải tán Lực Lượng 99, tôi và Đô-đốc Phú dự định dùng 2 chiếc PCF để ra đi, cuối cùng HQ 402 đi qua. Anh em trên tàu thấy chúng tôi trên LCM8, nên kêu gọi, tôi lên HQ402, sau tôi mời Đô-đốc Phú lên. Trên HQ402, tôi và ông sau 2 ngày nhịn đói, ăn chung một đĩa cơm do Thượng-sĩ Võ Văn Hiếu đưa lên. Rồi ông từ giã tôi lên Soái Hạm, ông không nói gì, nhưng ánh mắt ông nhìn tôi như nói lên tất cả. Tánh ông thế. Qua Mỹ, hình như ông không liên lạc với ai. Ông có gọi thăm tôi tất cả 5 lần. Ông buồn, mới mất, chẳng để lại một nhắn gửi gì”.
Đại-tá Dõng nói thêm:
“Có một chuyện ít ai biết là chiều ngày 29 tháng 4, tôi và Đô-đốc Phú ngồi trên một PBR đậu tại bến đò Long-An. Cầu Long-An, thị xã Long-An chưa lọt vào tay địch. Tại đây chúng tôi đã làm được 2 việc như sau: Thứ nhứt là khi ra lệnh cho Liên Đoàn Đặc Nhiệm ở Gò-Dầu-Hạ, Thiếu-tá Sơn có hỏi tôi, có ông Quận-trưởng Gò-Dầu-Hạ xin tháp tùng, có cho đi không. Tôi đáp chở hết và đánh đắm tất cả các chiến đĩnh hư hỏng, đi vận tốc tối đa ra sông Soài-Rạp. Sơn hỏi ‘Lệnh của ai’. Tôi đáp có ‘một sao’ ngồi đây. Đô-đốc Phú cười. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy ông cười. Và đoàn giang đĩnh Gò-Dầu-Hạ đã ra đến Soài-Rạp an toàn trưa ngày 30 tháng 4. Nếu Liên Đoàn Đặc Nhiệm ở Tuyên-Nhơn của Thiếu-tá Lê Anh Tuấn lên máy liên lạc với tôi, tôi cũng sẽ bảo đi như Gò-Dầu-Hạ. Tiếc thay! Thứ hai là, cho đến phút chót, chúng tôi vẫn giữ đuợc trật tự, an ninh trên tất cả chiến đĩnh thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 và cho Đại Đội Tuần Giang và Giang Cảnh Long-An tháp tùng ra sông Soài-Rạp. Tiếc rằng Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu và Ông Tỉnh-trưởng Long-An từ chối không ra đi, ở lại. Một điều nữa là cho đến giờ này tôi rất yên lòng là suốt thời gian đụng nhiều trận nặng, trước những đợt tấn công ào ạt biển người của địch, như đã mô tả ở trên, nhưng chỉ có mấy anh em bị thương (khoảng 5 người) mà không mất mát người nào, cho đến khi tôi lên HQ402, giã từ nhiệm vụ Chỉ huy Lực Lượng Đặc Nhiệm 99.”
Lên HQ402, một con tàu hư hỏng với trên 2000 người trên tàu. Chính Đại-tá Dõng đã nhọc công lái HQ402 ra biển, chỉ huy con tàu ấy, cho đến khi tất cả số người trên tàu được chuyển sang tàu khác. HQ402 được lệnh đánh chìm.

Một Chút Riêng Tư
Hải Quân là một quân chủng, nhưng trên thực tế lúc đông nhất chỉ trên Bốn Chục Ngàn người. Với những sĩ quan cấp tá, thì hầu như ai cũng biết nhau. Biết khá kỹ về khả năng, tính tình của nhau. Ông này điềm tĩnh, uyên thâm, hợp với vai trò tham mưu. Ông kia trầm tĩnh, chịu sóng, thích đi tàu. Ông khác thì ồn ào, xông xáo chỉ thích hợp với các đơn vị trong sông… Nhưng trường hợp của Đại-tá Dõng thì hơi khác. Tuy xuất thân khóa 8, khóa đầu tiên được giảng dạy bằng việt ngữ của trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, ra trường năm 1960, nhưng ông đã may mắn trải qua những thời gian đi biển, đi sông, đã từng giữ các chức vụ Hạm-trưởng, đã đi du học, đã làm Hạm-trưởng vượt Thái-Bình-Dương, đem tàu từ Mỹ về nước. Đặc biệt chỉ 4 năm sau khi ra trường, ông đã được chỉ định làm Chỉ-huy-trưởng Hải Đoàn 22 Xung Phong, một đơn vị khét tiếng với những chiến công trong sông. Và cuộc chiến trong sông hầu như rất thích hợp với ông. Ông liên tiếp tạo được nhiều thành tích, khiến ông vừa từ giã Hải Đoàn này, lại tiếp tục Chỉ huy Giang Đoàn khác. Cùng lúc với cuộc chiến bùng lên, Hải Quân bành trướng mau lẹ, ông là vị sĩ quan khóa 8 đeo lon Đại-tá sớm nhất, vượt qua nhiều khóa đàn anh. Chúng tôi có hỏi: “Yếu tố nào đã khiến ông ra gia nhập Hải Quân. Và lúc vào Hải Quân ông có nghĩ rằng, mới ngoài 30 tuổi, ông đã đeo lon tới Quan Năm tàu thủy không… Ông cười và đáp:
“Trong một buổi tối, ngồi chơi tại bến Bạch-Đằng, nhìn những thủy thủ lên xuống chiến hạm, thấy những con tàu xám uy nghi, tôi xúc động và tìm cách vào Hải Quân qua người bạn thân là Đại-tá Nguyễn Ngọc Rắc. Lúc vào trường còn đội nón như Hạ-sĩ-quan, vành nón đen bóng, chỉ mong sớm mãn khóa để có cái vành vàng vàng trên nón là thích rồi. Ra trường, đơn vị đầu tiên của tôi là HQ330, Hạm-trưởng là Hải-Quân Trung-úy Lê Triệu Đẩu, cũng là Sĩ quan Đại-Đội-trưởng Khóa 8. Lúc ấy lên cấp khó khăn, từ Hạm-trưởng, Hạm-phó, Cơ-khí-trưởng…ai cũng là Trung-úy cả. Tôi cũng chỉ mong đến lúc có 2 vạch trên vai như mọi người thôi. Ai dè cuộc đời đưa đẩy…”
Dù sao cuộc chiến cũ cũng đã nhạt nhòa, có điều gì được coi là vui, là đáng nhắc lại. Đại-tá Dõng đáp:
“Quê tôi là Long-An, cùng quê với ông Huỳnh Duy Thiệp. Tôi sinh năm 1936. Qua đây thấp thoáng gần 30 năm. Cuộc đời chẳng còn mấy chốc. Tôi cũng mới nghỉ hưu. Tụi nhỏ 6 đứa đều đã nên người, 5 đứa đã có gia đình. Sao mà nhớ lại những ngày tháng cũ, vẫn cứ bồi hồi. Kỷ niệm vui nhất là vào khoảng tháng 4 năm 1964, tôi được ân thưởng một Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng do Đại-tướng Lê Văn Tỵ ký. Đó là kết quả sau cuộc hành quân tại Lương-Hòa-Thượng, sông Vàm-Cỏ-Đông. Hải Đoàn được tăng phái một Đại Đội Biệt Động Quân. Chỉ-huy-trưởng Hải-đoàn lúc đó là HQ Đại-úy Huỳnh Duy Thiệp. Ông đã ủy nhiệm cho tôi ‘làm ăn’, với câu dặn dò: ‘Ê, đ.m. Đây là chuyến thử lửa đầu tiên của mày đó nha mậy’, rồi ông cười hề hề coi như chuyện nhỏ. Tôi cố gắng và thi hành tốt đẹp chuyến hành quân này. Từ đó, ông hoàn toàn tín nhiệm tôi 100%, dù cuộc hành quân trên kết quả rất khiêm nhường: tịch thu 1 CKC và 40 quả lựu đạn. Tôi đi sát ông. Tôi có thể nói rằng cấp bậc Đại-Tá mà tôi có được, một phần không ngỏ là do vị CHT Huỳnh Duy Thiệp tạo nên. Do những kinh nghiệm của ông mà tôi tiếp nhận được, cũng như những tư cách chỉ huy, rất bình tĩnh khi đụng trận, nhất là những quyết định bất ngờ, dứt khoát mà chỉ những người có thiên tư về chiến trận mới có được. Những bài học máu xương trong sông tôi đã học được từ ông. Ông đã bắt cái cầu qua sông để tôi tự vạch rừng, làm đường mà tiến. (Phải không anh Thiệp).” Đại-tá Dõng đã nói rất thiết tha với tất cả sự chân thành.
Ngưng một lát rồi ông êm ả nó:
“Đối với người trên tôi đã học được là từ anh Thiệp. Nhưng như chúng ta đều biết, ở trong quân trường, có bài học nào dạy chúng ta tác chiến trong sông đâu. Trên thế giới, nói đến Hải Quân là nói đến những con tàu lớn hoạt động trên các đại dương, nói đến trận Eo Đối-Mã, trận tấn công Trân-Châu-Cảng của Hải Quân Nhựt. Nói đén những luồng nước, những tai ương, bấc trắc của thời tiết… Có chiến trường nào đầy sông rạch như châu thổ Cửu-Long-Giang. Một vựa lúa của miền Nam, một vùng đất sình lầy chằng chịt những kinh rạch như mạng nhện. Chính nơi này, nói không ngoa, là vùng đất mà suốt cuộc chiến ngày đêm, mùa nắng cũng như mùa mưa, những người lính Hải-quân chúng ta lầm lủi, đối đầu với địch. Chúng ta đã có những chiến công hào hùng, nhưng cũng đầy gian lao khốn khổ. Từ U-Minh, Đồng-Tháp, Gò-Quao, Tuyên-Nhơn, Năm-Căn, Tam-Giác-Sắt.. khắp vùng sông nước mịt mùng đó, chúng ta đã gian khổ đi qua, và không thiếu bạn bè ta đã nằm xuống. Có người đem được xác về. Có người sau một tiếng mìn bung nước, mất tăm. Những kinh nghiệm máu xương đó, với tôi, tôi đã học được từ những người lính dưới quyền. Nhiều người đã chỉ cho tôi những lắt léo, nguy nan cần phải tránh. Nhiều người mà sự can trường, lòng dũng cảm khiến tôi phải kính cẩn cúi đầu. Cấp bậc của tôi, tôi đã mang trên vai, như một vinh dự, đồng thời còn là một ân nghĩa từ tất cả những ai mà tôi đã có dịp cùng nhau chiến đấu tạo nên. Nhớ lại, viết ra không thể hết. Một số những gương anh dũng tôi đã ghi lại dưới đây. Trong đó không thiếu những điều gần như huyền bí, lạ lùng, không thể nào giải thích, nhưng hoàn toàn có thực. Bây giờ cuộc chiến đã phai tàn. Tôi xin mượn những dòng này để tạ ơn những đóng góp của các chiến hữu một thời xa xưa. Cũng xin thắp một tuần hương gửi tới anh linh những ai đã ngã xuống trên vùng sông nước quê nhà.
Cũng xin gởi lời chào thân quý tới tất cả bè bạn áo trắng bốn phương, cũng như còn ở nơi quê cũ. Và nếu những tiết lộ trên đây về cuộc chiến, có lọt tới gia đình nạn nhân ở phía bên kia, tôi cũng cầu xin cho anh linh những người đã chết được êm đềm siêu thoát. Các anh, dưới áp lực này, hay lý do kia mà phải lao đầu vào vùng lửa đạn. Các anh chẳng thể nào lùi. Còn chúng tôi ở miền Nam, chúng tôi cũng đâu có thể làm khác. Định mệnh hay vận nước chẳng may khiến chúng ta gặp nhau nơi trận địa. Chúng ta cùng khốn khổ như nhau. Gần 30 năm đã qua, biết ra thì hầu như đã trễ. Tôi đã ghi lại những điều trung thực, hầu để thế hệ sau có thêm tài liệu để hiểu thêm về nỗi đau đớn của một cuộc tương tàn mà người Việt Nam dù Nam hay Bắc, đã không làm chủ được. Chúng ta đều có nỗi đau chung !
(Lê Hữu Dõng, kể Phan Lạc Tiếp, ghi.)

” ANH HÙNG TỬ. KHÍ HÙNG BẤT TỬ ” .
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24/3/1938 tại xã Vĩnh Thạnh Vân, Rạch Giá. Tại thời điểm cộng quân cướp miền Nam, ông đang giữ chức tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện.
Khoảng hơn 9 giờ tối ngày 30/4/1975, gần nửa ngày sau khi nhận được lệnh buông súng đầu hàng, đại tá Hồ Ngọc Cẩn vẫn quyết không buông súng, chiến đấu đến cùng, ông cùng các sĩ quan trong Ban Chỉ Huy Tiểu Khu và các chiến sĩ Tiểu Khu Chương Thiện đã đánh một trận tuyệt vọng nhưng lừng lẫy nhất trong chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đánh tới viên đạn và giọt máu cuối cùng và đành sa cơ giữa vòng vây của bầy lang sói.
Cuộc chiến đấu kéo dài đến 11 giờ trưa ngày 1.5.1975, quân ta không còn gì để bắn nữa, Đại Tá Cẩn lệnh cho thuộc cấp buông súng. Khi những người lính CS chỉa súng vào hầm chỉ huy Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, vị Trung Úy tùy viên và các sĩ quan tham mưu, hạ sĩ quan và binh sĩ tùng sự đều có mặt. Một viên chỉ huy Cộng sản tên Năm Thanh hùng hổ chỉa khẩu K 54 vào đầu Đại Tá Cẩn dữ dằn gằn giọng: ” Anh Cẩn, tội anh đáng chết vì những gì anh đã gây ra cho chúng tôi “. Đại Tá Cẩn cười nhạt không trả lời…
Ngày 14/ 8/1975, trong bầu không khí ảm đạm, người dân thủ phủ Cần Thơ đã chứng kiến giây phút lìa đời cao cả của người anh hùng Hồ Ngọc Cẩn. Đại Tá Cẩn trong chiếc áo tù vẫn hiên ngang để lại cho lịch sử lời khẳng khái: “Tôi chỉ có một mình, không mang vũ khí, tôi không đầu hàng, các ông cứ bắn tôi đi. Nhưng trước khi bắn tôi xin được mặc quân phục và chào lá quốc kỳ của tôi lần cuối”.
Dĩ nhiên lời yêu cầu của ông đã không được đáp ứng. Trước lúc bị hành hình, những người xử ông hỏi ông có nhận tội vừa nêu ra không thì ông dõng dạc trả lời như sau:
“Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không hạ nhục các anh như các anh bôi lọ tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Các Anh Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Không cần phải bịt mắt” và hô to “Đả đảo cộng sản. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”.
Năm sáu tên bộ đội CS nhào vào tấn công như lũ lang sói, chúng la hét man rợ và đánh đấm người anh hùng sa cơ tàn nhẫn.
Cùng ngẩng cao đầu đi vào chiến sử Việt Nam với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân vận động Cần Thơ là người anh hùng Thiếu Tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng quận Kiến Thiện, bạn đồng khóa với Đại Tá Cẩn. Thiếu Tá Tiếp đã cùng các chiến sĩ Địa Phương Quân Chi Khu chiến đấu dũng cảm đến sáng ngày 1.5.1975 thì ông bị sa vào tay giặc.
Thiếu Tá Tiếp là một sĩ quan xuất sắc, trí dũng song toàn. Ông đã từng gây rất nhiều tổn thất nặng nề cho quân địch, nhờ tổ chức thám sát chính xác, có lần ông đã gọi B 52 dội trúng một trung đoàn cộng quân và hầu như xóa sổ trung đoàn này. Cộng quân ghi nhớ mối thù này, người anh hùng của chúng ta sa vào chúng, thì chúng sẽ giết chết ông không thương tiếc. Hai người anh hùng cuối cùng của miền Tây đã vĩnh viễn ra đi cùng với Trung Tá Đường , Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh Chương Thiện là cánh tay mặt vững chãi của Đại Tá Cẩn trong lĩnh vực bình định, xã hội và truy bắt bọn CS hoạt động dầy đặc trong tỉnh. Bọn cộng phỉ rất căm thù Trung Tá Đường, đến nỗi sau ngày 30.4.1975, chúng bắt được Trung Tá Đường, chỉ giam giữ ông một thời gian ngắn rồi đem ông ra xử bắn tại Vị Thanh. Cùng đền ơn Tổ quốc với Trung Tá Đường còn có Đại Úy Bé, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Thám Báo Tỉnh. Đại Úy Bé đã làm điêu đứng bọn giặc cộng, với những chiến sĩ Thám Báo nhảy sâu vào hậu cứ địch báo cáo tin tức, địch tình, cũng như tọa độ trú quân để Không Quân, Pháo Binh dội những cơn bão lửa lên đầu chúng.
Trung Tá Đường và Đại Úy Bé bị giặc tàn nhẫn bắn chết tại chân cầu dẫn vào thành phố Vị Thanh. Đất trời những ngày đầu mùa mưa bỗng tối sầm lại.
Người phụ nữ nhân chứng nước mắt ràn rụa, bà nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn. Bà nghe trong cõi âm thanh rừng rú có nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Khi bà mở mắt ra thì thấy nhiều tên CS quây quanh thi thể của Đại Tá Cẩn và khiêng đem đi.
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn là một trong những anh hùng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, khi đảng CSHCM ngày càng tệ hại nhu nhược với Tàu cộng, áp bức nhân dân, thì càng chứng minh hùng hồn Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và toàn thể quân dân cán chính VNCH đã chiến đấu đúng vì lý tưởng tự do và chính nghĩa của dân tộc, và chứng minh VNCH sáng danh chính nghĩa !

Bài hát Nắng đẹp miền Nam (Nhạc Sĩ Lam Phương) .

Đâу trời bao la ánh nắng mai
hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh.
Ta cùng chen vai đem taу góp sức tăng gia
cho người người vui hòa .
Đường càу hôm naу lên tràn bông lúa mới
ôi duуên dáng đồng ơi!
Đến mai sẽ là ngàу muôn hạt chín lả lơi
mình ngắm nhau cười.
Kìa đàn chim quê chim tung baу về đâu
mang tin rằng giờ đâу ta sống với bình minh.
Tiếng ca trong lành tiếng hát lừng trời xanh
đẹp biết bao tâm tình..
Tình là tình nồng thắm
buộc lòng mình vào núi sông
tình mến quê hương.
Ɲgàn bóng đêm phai rồi
vầng dương lên soi đời làng ta naу rạng ngời!
Khi người lính chiến đã đấu tranh
hiến hoà bình cho Đồng Tháp Ϲà Mau
Ta người nông thôn quên sương gió
góp gian lao lo được mùa mong cầu .
Ɲhờ tình quân dân gâу bao niềm thương
ấm cúng non sông đón bình minh,
gắng lên với ngàу nàу ta cùng tưới đồng xanh
rồi sống no lành.
Đâу quê hương thân уêu miền Ɲam
nắng lên huу hoàng đẹp mùa vui sang .
(NgheQua YouTube)

Nguồn: https://onnguonsuviet.com/p104a618/luc-luong-dac-nhiem-99-bao-ve-song-nuoc-mien-tay

KỂ CHUYỆN LẦN ĐẦU ĐỤNG TRẬN – Quan Dương

Quan Dương

Hình chụp ngày 07/07/70 là ngày lễ mãn khoá 6/69 NGUYỄN VIẾT THANH sĩ quan trừ bị của chúng tôi tại quân trường Đồng Đế. Trong hình có thể thấy những sinh viên sĩ quan đang quì và những sĩ quan cơ hửu của quân trường đang lần lượt tháo alpha trên cầu vai của các sinh viên sĩ quan và thay vào đó là cặp lon chuẩn úy. Lon chuẩn úy của quân lực VNCH có hình dạng giống cái quai chảo nên tụi tôi gọi là cái quai chảo. Sau khi được gắn quai chảo, những sinh viên chính thức là các tân sĩ quan của quân đội. Họ đọc lời tuyên thệ luôn trung thành với tổ quốc chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ người dân.

Tôi là một trong số 1014 sinh viên sĩ quan đang quì trong hình. Tính đến nay tấm hình này cũng được tròn 50 tuổi. Năm mươi năm kể từ ngày ra trường những đồng đội chiến hữu của tôi không biết ai còn ai mất. Chắc chắn mất nhiều hơn còn vì sau khi tuyên thệ những tân sĩ quan liền lập tức được tung ra chiến trường đối đầu với đạn bom và khói lửa.

Ngày 07/07/70 tôi có 10 ngày phép cuối khóa. Ngày 17/07 tôi đến tiểu khu Darlac trình diện, sau đó được điều về Đại đội 398 vừa mới thành lập. Cùng với tôi còn có hai chuẩn úy khác cùng khoá 6/69 là Phạm văn Hậu và Lê Huy Yết. Hậu làm trung đội trưởng trung đội 1, tôi làm trung đội trưởng trung đội 2 và Yết làm trung đội trưởng trung đội 4. Đại đội trưởng là trung uý Đỗ Hoàng Phúc.

Vì là đại đội mới thành lập với ba tên chuẩn uý mặt còn búng ra sữa không có một tí gì kinh nghiệm chiến trường ngoài một mớ lý thuyết được học nên đại đội được đưa về Buôn M‘Rê cách Ban Mê Thuột 12 cây số về hướng nam là một nơi tương đối an toàn để đóng đồn. Cách đại đội 2 cây số là cầu 14 với một đơn vị bạn lót lưng. Đại đội tôi lọt vô giữa chung quanh được bao bọc bởi những khẩu pháo 105 ly của tiểu khu sẳn sàng yểm trợ. Tính ra thì buôn M‘Rê là nơi tương đối nếu đem so với những nơi khác trong lúc tình hình chiến sự xảy ra khốc liệt hàng ngày.

Không ngờ là vào đêm 20/07/70 để kỷ niệm ngày Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 sông Bến Hải chia đôi đất nước, việt cộng chọn buôn M’Rê để tấn công. Như vậy có nghĩa là chỉ ba ngày sau khi ra đại đội thì tôi được nếm mùi. Đó là lần đầu tiên tôi được cối 82 ly của địch quân hỏi thăm. Đạn nổ trên miệng hầm và giao thông hào. Thay vì núp dưới giao thông hào thì tôi lại leo một cái nhà sàn vì tò mò muốn nhìn xem đạn bắn từ hướng nào. Người lính mang máy PRC 25 tên Thành thấy tôi đang đụng trận mà giống như đang ngước nhìn trời tìm một ánh sao băng nào đó để làm thơ thì la oải oải. Chắc là hắn ngạc nhiên vì tưởng ông chuẩn úy vừa rời vú mẹ này gan lì điếc không sợ súng. Tôi không điếc, còn súng thì ai mà chả sợ nhưng vì chưa biết đánh đấm là gì cho nên muốn nhìn xem đạn bay trong đêm tối hình dáng nó ra sao. 

Tội nghiệp Thành nhiệm vụ mang máy truyền tin nên lúc nào cũng phải bò sát theo sau lưng tôi. Tiếng Ak 47 của việt cộng bắn trực diện bay trên đầu nghe chát chúa chứ không giòn giã êm tai như tiếng M16. Trước mặt buôn qua vòng rào phòng thủ là quốc lộ 14. Bên kia quốc lộ là một con suối và rừng. Sương đêm mờ mịt lẫn vào ánh hỏa châu soi sáng từ tiểu khu bắn lên vòm trời khiến cho tôi có một cảm giác nôn nao. Nhưng không hiểu sao tôi cảm thấy không hồi hộp hay sợ hãi mặc dù đó là lần đầu tôi trực diện bắn nhau. Tính nhẩm ra sau khi được gắn lon chuẩn úy tôi có 10 ngày phép. Hết 10 ngày phép tôi trình diện đơn vị được ba ngày là bị đụng địch. Đem cộng lại thì từ lúc mang lon chuẩn úy đến khi đụng nhau thì thâm niên quân vụ của tôi vừa đúng 13 ngày. Ôi con số 13.

Phía bên ngoài việt cộng pháo 82 ly dữ dội vô phía bên trong, từng tràng súng nổ dồn dập. Qua máy PRC 25 Kỳ Phùng tức trung uý đại đội trưởng ra lệnh cho tôi dẫn một tiểu đội bò sát ra bờ rào phía bắc dùng kềm cắt kẽm gai cắt cho một khoảng trống phòng khi tụi nó đông đánh không lại còn có đường rút. Vừa điều động cả ba tên chuẩn úy mới ra trường như ba con chim mới ra ràng trấn giữ ba mặt buôn, vừa gọi trực thăng và pháo binh yểm trợ Kỳ Phùng thiệt là chì. Đêm không trăng dưới ánh sao lờ mờ tôi thấy nhiều bóng người thấp thoáng đang chạy lúp súp băng qua đường và tôi nổ súng. Đó cũng là lần đầu tiên tay tôi bóp cò khi đối đầu với địch kể từ ngày cởi chiếc áo thư sinh khoác lên người bộ đồ lính. Tôi gọi qua máy báo cáo tình hình đến Kỳ Phùng xin pháo binh. Chỉ trong vòng 15 phút sau trực thăng xuất hiện và súng lại nổ giòn giã. Tôi lại leo lên nhà sàn để nhìn. Khi còn đi học, đọc những bút ký chiến trường của các nhà văn quân đội tôi cứ nghĩ đánh nhau thì phải ghê gớm và khủng khiếp lắm nhưng té ra giống như chẳng có gì. Sau khi trực thăng lên tôi không còn nghe súng bên địch nổ nữa. Kế tiếp là đạn pháo binh nổ ầm ỉ bắn chận đầu bên kia suối và trời đang sáng dần. Địch đã rút quân.

Đánh đấm nhẹ nhàng như thế tưởng không có gì, vậy mà sáng hôm sau khi ra khỏi buôn lục soát thì phía việt cộng bỏ lại năm cái xác không kịp kéo đi. Trung đội 1 của chuẩn úy Hậu tử trận hai người vì ngày hôm đó trung đội của Hậu trực nên có nhiệm vụ cử một tiểu đội làm tổ báo động nằm ngay bờ suối. Khi địch mở cuộc tấn công đụng phải tổ báo động này và hai người binh sĩ đã hy sinh. Ba tên chuẩn úy mới ra trường mặt mày tèm nhem vì bụi đất đỏ nhìn nhau cười chỉ thấy lòi mấy cái răng. Chuẩn úy Hậu nói tao thấy đạn bay léo nhéo về phía nhà sàn nơi mày núp mà mày không dính viên nào chắc là do mày ốm nhom mõng như lá lúa nên đạn không biết ghim vào đâu. Tôi nghĩ hắn nói tầm bậy nhưng cũng có thể trúng tầm bạ.

Sau này có kinh nghiệm trận mạc hơn, tôi lại đâm ra sợ chứ không tỉnh bơ như lúc mới ra trường. Nhiều khi tôi thấy đánh trận giống như đi casino kéo máy. Lúc đầu không rành cờ bạc lắm thì kéo đâu trúng đó nhưng khi sành sõi rồi thì kéo đâu trật đó. Khi tôi biết thế nào là mùi vị của súng đạn thì bị thương mấy lần. Đôi khi trong đời lính cũng cần bị thương miễn là đừng bị cưa tay, cưa chân hay thẹo thọ trên mặt để được nằm quân y viện đọc chưởng của Kim Dung. Cũng tại quân y viện Ban Mê Thuột tháng 1/72 tôi quen với trung úy Trần Quí Sách tức nhà văn quân đội Trần Hoài Thư cũng đang dưỡng thương tại đây. Mấy mươi năm sau ra hải ngoại hai anh em có cơ duyên gặp lại nhau vẫn thường nhắc đến kỷ niệm ngày xưa. Nhưng chuyện bắn nhau thì súng đạn muôn đời không có mắt cho nên hay nhất là đừng bị gì hết. Nói một cách khác đó là chấp nhận đời lính nghĩa là chấp nhận bán cái số mạng cho hên xui may rủi. Đời lính tài giỏi gì cũng không qua số mạng trời định.

Trung úy Đỗ Hoàng Phúc đại đội trưởng 398 vị sĩ quan chỉ huy trận đánh đầu đời lính của tôi tại Buôn M’Rê sau này lên đại úy và năm 1973 đã tử trận tại Quãng Nhiêu được vinh thăng cố thiếu tá. Anh là người anh, người thầy của tôi và cho dù đã nửa thế kỷ trôi qua tôi vẫn xin thắp nén hương lòng để tưởng nhớ đến anh. Còn chuẩn úy Phạm Văn Hậu và chuẩn úy Lê Huy Yết hai người bạn cùng khóa cùng nếm mùi chung giờ không biết đang ở đâu, còn hay đã mất. Nhớ mãi nụ cười hiền lành của ba thằng chuẩn úy tuổi 20 mặt mũi tèm lem vì đất đỏ buổi sáng hôm sau trận đánh.

Tính từ ngày ra trường 07/07/70 trong tấm hình thứ nhất đến ngày 30/04/75 tổng cộng là 5 năm. Trong đó tôi có ba năm ở đại đội tác chiến và hai năm biệt phái qua cảnh sát quốc gia. Khi đi ở tù đến năm 1981 là 6 năm. Đi lính 5 năm ở tù 6 năm, tính ra thì tôi bị lỗ 1 năm. Xem như sáu năm trả nợ quỉ thần. Tôi không hề hối tiếc 5 năm cầm súng nhưng lại hối tiếc 6 năm tuổi thanh xuân bị tước đoạt trong tù. Tôi không có máu thù dai, nhưng hệ lụy của cuộc chiến này quá lớn. Sự nghiệt ngã khó mà khuây khỏa. Giả dụ như lịch sử chưa xảy ra và thời gian quay ngược lại hỏi tôi thay vì ở tù 6 năm là 12 năm anh có dám chấp nhận làm lính trở lại hay không?

Ở tù thì quá ớn (dù chỉ một ngày) nhưng câu trả lời sẽ là “Có gì mà dám hay không dám, được khoác áo lính đó là một ước mơ.”

Quan Dương

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2022/05/ke-chuyen-lan-au-ung-tran-quan-duong.html

Cây Bồ đề : biểu tượng cho Giác ngộ – Bùi Huyền Trân

Bùi Huyền Trân

Bodhi Tree 2022 in Bodh Gaya, Bihar, India

Cây Bồ đề

  Từ phương trời xa, một Vị Thân hữu vừa chuyển cho Huyền Trân  bài : “Thiều” của Tác giả Tố Thiều Lan, một bài viết thật đặc biệt : Nhìn Phật giáo qua Vật lý Quantum.. rất thâm sâu.. Đặc biệt hơn là câu kết luận :

“Rien ne se perd , Rien ne se crée..Tout se Transforme “ (LaVoisier)

   Trong bài có nói về Cây Tilleul (Tilia) tại Âu châu mà tác giả ghi tiếng Việt là Cây Bồ đề; sự thật thì Tilleul và Bồ đề là hai cây khác nhau..

   Nhân dịp Phật Đản 2566, Huyền Trân xin gửi tặng Vi Thân Hữu trời Âu cùng quý vị Phật tử bài viết ngắn về Cây Bồ Đề (dựa theo tài liệu cũ, cũng từ một.. thân hữu)

  Trong bài : “Huế, những sắc lá nguyên sơ” (khoahoc.net) Nhà văn Trần Hạ Thấp viết về lá Bồ đề :

   “.. nhà Thiền chuyên giải trừ thanh, hương, vị..đem chúng sinh thoát ra khỏi quấy nhiễu của căn trần, phiền não. Bồ đề, không hương hoa và là loài cây từng được bậc Đại Giác chọn làm nơi gần gũi : những ngọn lá kỳ lạ, không khác hình quả tim, mang ấn tượng siêu thoát từ hơn 25 thế kỷ đến nay.. Tâm bồ đề. Sự tôn quý không hiển thị qua hương hoa rực rỡ. Những ngọn lá tượng trưng thanh tịnh và đức từ bi bát ngát..”

Bồ để : biểu tượng tôn giáo

   Danh từ Bodhi (tiếng Phạn), được dịch âm tiếng Việt là Bồ đề, được dịch nghĩa là tỉnh thức, Giác ngộ..

(Bodhi , do gốc budh (thức tỉnh), hàm nghĩa Trí tuệ, Giác ngộ hay Trí tụệ mà Đấng Giác Ngộ, (Đức Phật) đạt được ) (Encyclopaedia of Buddhism -GP Malalasekera)

   Định nghĩa tiếng Anh ghi : “ Budhi is the understanding possessed by a Buddha regarding the true nature of things”  (traditionally translated into English  with the word  Enlightenment)

  • Thời Phật giáo nguyên thủy : Bodhi chỉ trạng thái “chứng được 4 cấp Thánh đạo’

(diệt trừ Vô minh; thông suốt Tứ diệu đế = những sự thật của Bậc Thánh))

       (Tứ diệu đế: Khổ đế; Tập đế; Diệt đế và Đạo đế)

  • Trong Tiểu thừa: Bodhi là chứng được Tứ diệu đế, Thoát khổ.
  • Trong Đại thừa : Bodhi là Trí huệ , nhận thức được Niết bàn (nirvana) và Luân hồi (samsara)”

Bohdi là chứng được trí Bát nhã, nhận ra được Phật tính của chính mình hay của muôn loài,  nhận ra tính Không của thế gian..”

  Đại thừa phân biệt Ba loại bohdi :

  • Giác ngộ cho chính mình (giác ngộ của một vị A-la-hán)
  • Giải thoát cho chúng sinh (giác ngộ của một vị Bồ tát)
  • Giác ngộ hoàn toàn (của một vị Phật)

Bồ để trong Phật giáo :

  Đức Phật Gautama Buddha đã ngộ đạo (enlightenment = Bodhi) khi Ngài tham thiền dưới gốc cây ‘ficus religiosa‘. Vị trí nơi Phật ngộ đạo ngày nay là Bodh Gaya tại Bihar, Ấn Độ Cây (bồ đề = Bodhi tree) nguyên thủy bị phá hủy và được trồng lại nhiều lần..

   Phật giáo Theravada, gốc bồ đề thường là nơi linh thiêng để kính Đức Phật (Không phải mọi cây ficus religiosa đều được gọi là cây Bodhi, chỉ những cây phát xuất từ cây nguyên thủy nơi Phật ngộ đạo mới  được phong tên này)

Cây ficus religiosa , được gọi thành Cây Bồ đề vì được coi như biểu tượng cho chính sự hiện diện của Đức Phật và chứng ngộ Phật quả.

 Cây ‘ficus religiosa’

  • Ngày Bodhi (Bodhi Day )

  Phật giáo Theravada góp chung Ba ngày : Đản sinh, Ngộ đạo và Nhập Niết bàn của Đức Phật thành Ngày Thánh Vesak, ngày thay đổi, thường vào tháng Năm.

   Phật giáo Tây tạng  cũng mừng chung một ngày, nhưng theo lịch Tây tạng : Ngày Saga Dawa Duchen (tương đương với Vesak) , thường vào tháng Sáu

    Phật giáo Đại Thừa (chủ yếu là Tàu, Nhật, Hàn và Việt Nam) mừng Ba ngày trọng đại riêng :

  • Ngày Đản sinh thường vào Mùng Tám tháng Tư âm lịch.
  • Ngày Ngộ Đạo (Bohdi) 8 tháng 12 âm lịch.
  • Ngày Nhập Niết bàn  : 15 tháng Giêng âm lịch.

  Bohdi Day tại Nhật (8 tháng 12), cố định dùng tây lịch; được kỷ niệm lặng lẽ với Thiền tụng, trang trí cây Bồ Đề, trà bánh đơn giản.

   Văn hóa Phật giáo Việt Nam xem danh từ Bồ đề như biểu tượng cho Phật giáo : các cơ sở giáo dục Phật giáo tại Nam Việt Nam: các trường tiểu học và trung học (trước 1975) đều mang tên Trường Bổ Đề.

   Tại Việt Nam, có những địa danh mang tên Bồ Đề, nhưng có thể không liên hệ đến Cây Bồ Đề (biểu tượng Phật giáo?)

  • Thôn Bồ Đề, quận Long Biên (ngoại thành Hà Nội) có chùa Bồ Đề..
  • Xã Bồ Đề, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
  • Làng Bồ Đề (Tư Nghĩa), Mộ Đức (Quảng Ngãi) có Chùa Ông (Già Lam tự) thờ Quan Công (?)
  • Sông Bồ Đề tại Ngọc Hiển Cà Mau (nổi tiếng trong Chiến tranh VN)

Bồ đề trong Ấn giáo :

Ấn giáo gọi cây Bồ Đề là Pipal- Peepal.

Cây được dâng kính Thần Vishnu : biểu tượng cho Tam thần “Trimurti” : Phần rể là Thần Brahmâ; Phần thân, thần Vishnu và Phần lá , Thần Shiva.

  Theo Thần thoại Ấn giáo : Thần Vishnu  được sinh ra dưới một cây Pipal (peepal), và Nhà hiền triết Narada đã được hiện đến trong tim mình, khi đang thiền dưới cây Pipal..

  Thẩn Krishna trong Sách ‘Bhagavad Gita’ phán :  “Ta là cây Pipal trong các loài cây; là Narada trong chư thần khôn ngoan= Deva Rishi).. “

 Sách Kinh Hindu, cây Pipal (Phạn ngữ Plaksa?) là nguồn phát khởi của Sông Sarasvativ, sông này chảy từ bình nước của Thần Brahma, chảy xuống đỉnh Himalaya.

  Các thầy tu Ấn giáo (Sadhus) hiện vẫn tọa thiền dưới gốc Cây thiêng. Các giáo dân đi vòng quanh cây (pradakshina) chiêm nghiệm và cầu nguyện: thường đi 7 vòng mỗi sáng sớm, hát kinh “vriska rajaya namah” hay ‘kính chào Vị Vua các loài cây.

 Pipal- Peepal tree (cây Bồ đề)

Bồ đề: Cây và thuốc

Vài đặc điểm thực vật :

  • Tên khoa học:

Ficus religiosa thuộc họ thực vật Moraceae

  (ficus, tiếng latin của fig, quả của các cây chi ficus; religiosa = tôn giáo, linh thiêng)

      Tên do Carl von Linné đặt cho cây năm 1753.

   Chi ficus có những cây ‘nổi danh’ như Sung ngọt (ficus carica; common fig thường gặp trong Thánh kinh  (Bible của Thiên chúa giáo; Vả (ficus auriculata); Sung lá dâu (ficus sycomorus ; Sycomore); Sung ưu đàm (ficus racemosa), Udumbara, một cây khá quan trọng với Phật Giáo ; Cây Đa (Da) (ficus benghalensis), cùng Chú Cuội Việt?; và Cây Si (ficus benjamina) của các bài thơ, nhạc về yêu..

Ficus religiosa  được xem là có nguồn gốc tại lục địa Ấn độ : Bangladesh, Bhutan, Nepal, Pakistan và Ấn độ bao gồm vùng Assam, Đông Himalaya, xuống đến Thái và Đông Dương..cùng các quốc gia Á châu nhiệt đới, đến cả Iran, Florida và Venezuela.

   Theo sử Tàu ghi lại thì cây (gọi là cây bodhi được các tu sĩ Phật giáo Ấn mang đến Quảng Châu từ thời Tống,  sau đó được trồng tại một Ngôi Chùa  tại Núi Tiantai (Quảng Đông). Đến 1190, Tu sĩ Phật giáo Nhật Eisai , chiết cây về trồng tại Nhật và năm 1901, cây được đưa tiếp sang Taiwan.

Các tên thường gọi

Tên Anh- Mỹ :  Sacred fig ; Bo-tree; Peepul , Peepal

       Pháp : Figuier des pagodes hay Pipal

Ấn độ : Pipal, Peepal , Pippala

       Phạn : asvattha; pippala vriska

  Tại Việt Nam : Bồ đề còn được gọi rõ hơn là Đa bồ đề (vì cây Cánh kiến trắng, Styrax tonkinensis, khác hẳn, cũng được (miền Bắc) gọi là Bồ đề !)

  • Mô tả thực vật

   Bồ đề thuộc loại đại mộc có thể cao đến 30m, thân có đường kính đến 3m, hoàn toàn nhẵn ; vỏ thân màu xám nhạt, có thể bóc rời từng mảnh lớn, có chứa một chất nhựa mủ màu trắng đục. Cây có  thể có những rễ khí sinh , thả dải như cây đa. Lá mọc cách, khi non màu đỏ-hồng nhạt, chuyển sang lục đậm khi tăng trưởng, rất lớn có dạng hình thoi : tam giác hay hình quả tim ở gốc, hầu như tù và đột nhiên có đuôi ở chóp dài 2-3cm. Phiến lá mỏng và giòn, có 6-8 đôi gân : dài 12-18 cm, rộng 7-10 cm; Cuống lá mảnh, dài 5-8 cm. Hoa nhỏ màu đỏ, đơn phái,  xuất hiện vào tháng 2. Quả dạng quả sung, xếp 1-2 quả trên các nhánh có lá ; quả hình cầu, không cuống, đường kính 7-8 mm; màu xanh khi non và khi chín màu đỏ sẫm hay tím sẫm với các chấm đỏ.

   Bồ đề cần tác nhân thụ phấn  : ong Blastophaga quadriceps để tạo quả. Cây cho quả vào các tháng 5-6.

   Cây Bồ đề sống rất lâu, trung bình 900 đến 1500 năm : Tại Thành phố cổ Anuradhaputra – Sri Lanka hiện còn một cây có tên riêng là Jaya Sri Maha Bodhi đã thọ trên 2000 năm (Cây được ghi là do Công chúa Theri Sangamitta, con Vua Asoka, mang về trồng tại đây vào năm 245 BC )

(Xin đọc thêm những điều kỳ diệu của Cây Bohdi nguyên thủy nơi Đức Phật ngộ đạo, những kỳ diệu xảy ra khiến Vua Asoka sau khi ra lệnh phá hủy cây, đâ ra lệnh trồng lại. Cây bị các nhà vua Ấn giáo phá nhiều lần và cũng được trồng lại sau mỗi lần bị hủy ..Năm 1870, cây lại bị chết, Alexander Cunningham đã trồng lại một cây mới , chiết từ cây Bodhi gốc do Sangamitta trồng tại Sri Lanka..

  Xin đọc “L’arbre de la Bohdi” tại :

 http://vajrayana.asso.fr/Francais?TheoriesF/Buddha/Bohdi_tree/Bodhi_tree-F.htm

 Lá Bồ đề non

Lá Bồ đề

Thân Bồ đề

Bông Bồ đề

Trái Bồ đề

Hạt Bồ đề

  • Cây hay Thuốc ?

Ficus religiosa, tại Ấn độ là cây Pipal,được nghiên cứu nhiều về phương diện được học và được ghi trong Chế dược thư Ấn.

  • Thành phần hóa học

Các bộ phận của cây chứa những hoạt chất khác nhau :

  • Lá : có các sterols; tannic acid ; acid amin ; hydrocarbon và alcohol dây thẳng (aliphatic); khoáng chất như calcium, sodium, potassium và phosphorus.
  • Vỏ thân :  có các phenols, tannins, steroids, alkaloids và flavonoids ; beta- sitosteryl-D-glucoside; Vit K ; furanocoumarins (bergapten, bergaptol).
  • Quả có 4.9 % chất đạm , gồm các acid amin căn bản như isoleucine, phenylalanine.. Flavonols như kaempferol, quercetin và myricetin.
  •  Hạt:  phytosterols ; beta-sitosterol cùng glucoside; albuminoids, carbohydrates; chất béo, chất màu; acid amin.

Xin xem chi tiết cùng công thức hóa học của các hoạt chất tại :

https://www.ncbi.hlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3249921/

  • Thuốc dân gian (theo Major Herbs of Ayurveda – Elizabeth Williamson)

   Tại Ấn độ và Pakistan, các bộ phận của cây được dùng để trị một số bệnh thông thường trong dân gian :

  • Vỏ thân và Lá : dùng trị tiêu chảy và kiết lỵ ; Lá cũng dùng trị táo bón.
  • Lá, tán mịn thành bột, trộn với mỡ làm thuốc đắp trị mụn nhọt, sưng  lên hạch như quai bị.
  • Quả, tán thành bột, trị suyễn, thở khò khè.
  • Vỏ thân : Có khả năng làm co da (thu liễm), làm mát, cầm máu, giúp hượt tràng dùng trị tiểu đường (?), tiêu chảy, rối loạn kinh nguyệt; bệnh đường tiểu và đường sinh dục phụ nữ. Nước sắc vỏ thân, thêm mật ong dùng trị lậu mủ. Vỏ thân đốt thành than, hòa nước, uống trị nấc cụt, buồn nôn và ói mửa.
  • Vỏ rễ, phơi khô, tán mịn, trộn mỡ trị bệnh eczema (bệnh chàm), phong lở
  • Nghiên cứu khoa học :

Đa số các nghiên cứu dược học về Cây pipal được thực hiện tại Ấn Độ.

Các hoạt tính dược học được ghi nhận :

  • Khả năng sát trùng :

Chất chiết từ  bằng nước và ethanol diệt được nhiều vi khuẩn ; nấm gây bệnh như candida albicans; chiết bằng các dung môi khác cũng có tác dụng (win xem bảng liệt kê các vi khuẫn trong ‘link’ ghi trên)

  • Trừ giun sán : Dịch chiết từ Vỏ bằng methanol trừ được nhiều loại giun đũa,.và cả sán ký sinh trong ruột người và thú vật.
  • Khả năng chống oxy-hóa và tăng cường Hệ miễn nhiễm (quả và vỏ)
  • Tác dụng làm lành vết thương (lá), có thể làm thành dạng thuốc mỡ
  • Hạ đường trong máu (nước sắc từ vỏ)

Xin đọc thêm chi tiết  :’Ficus religiosa : A beneficial medicinal plant” (Journal of Drugs Delivery & Therapeutics Vol.12. Issue 2-S, Mar-Apr 2022) tại :

https://jddtonline.info/index.php/jddt/article/view/5434

  • Công dụng khác :

   Trồng làm cây ‘trang trí’ tại các công viên , vườn hoa nơi các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Trung Đông, trồng làm cây vệ đường (?) Philippines và Nicaragua trồng tại công viên, ven lộ , trong khi Paraguay trồng tại các khu rừng lá thấp.

    Thái Lan (cây gọi là Pho) trồng phổ biến nhưng khi trồng tại Chùa (Wat), được xem là cây ‘thiêng’, có những cây lâu năm, cao 8m. Cây được khoác ‘cà sa’ màu nghệ quanh thân-gốc, mỗi năm khi có lễ, Phật tử Thái mua ‘mai kam sit’ (cây chống như gậy, nạng..) đặt dưới tàng cây, như một lễ vật, tiền  ‘cúng dường’ được đóng góp cho Chùa..

   Dùng làm ‘chất độn” (fodder) trong chăn nuôi : Lá dùng nuôi voi, lạc đà, dê và trâu-bò, chứa khoảng 10-14 % protein thô, cân bằng về các lượng nitrogen, calcium và phosphorus. Theo Indian Veterinary Journal : Lá chứa khoảng 9% protein, 2.7% chất béo; 68.3% carbohydrate tổng cộng; 15.9% chất xơ . Về khoáng chất 100 gram lá có 2.9 mg calcium, 210 mg phosphorus..

    Gỗ : Gỗ thân màu xám nhạt-trắng, độ cứng trung bình, nặng 480-640 km / mét khối. Gỗ bền chịu độ ẩm và cả khi ngâm nước; ít được dùng trong tiểu thủ công nghiệp, chạm khắc; đôi khi dùng làm ván đóng hộp, thùng, cán dụng cụ nhỏ; Cành phơi khô làm củi đốt.. . Vỏ thân dùng lấy chất chát (tannin), thuộc da,

                                                   Bùi Huyền Trân  (Phật Đản 2566)

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển.

Tưởng Năng Tiến – Mũ Cối

21/05/20

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Vài năm trước, hôm 15/12/2018, báo Vnexpress hớn hở đi tin: “CĐV Việt đội mũ cối xem chung kết AFF Cup lên báo nước ngoài… Một chàng trai Việt Nam mặc áo in hình rồng, đội mũ cối lọt vào ống kính của phóng viên.”

Ôi chao! Sao mà hân hạnh và quí hoá đến thế?

Độc giả, tuy thế, dường như không hào hứng gì lắm với nỗi hân hoan và niềm hãnh diện của ban biên tập Vnexpress, nếu chưa muốn nói là ngược lại:

Việt Hoàng: “Không hiểu sao, tôi rất ghét mũ cối.”

Dạ Ngân: “Miền Bắc nên chấm dứt mũ cối đi. Tôi không thấy nó đẹp. Rõ hình dáng nhược tiểu, yếm thế.”

Đình Ấm Nguyễn: “Tui sinh ra lớn lên ở miền Bắc và trưởng thành lập nghiệp ở miền Nam Nhưng mỗi khi ra đường nhìn thấy người nào sử dụng mũ cối trên đầu là tui dị ứng.”

Lê Văn Cương: “Người Bắc mà còn dị ứng thì người Nam họ thấy căm ghét và khinh bỉ.”

Quan Huynh: “Làm ơn đừng đội nón cối! Nó biểu tượng cho sự dốt nát, nghèo hèn, ngu si, tham lam, ích kỷ, ti tiện, độc ác, tham quyền cố vị. Nói chung là tầng lớp hạ đẳng!”

Nói thế (e) có quá lời chăng?

Tưởng cũng nên nghe thêm đôi câu từ tốn, nhã nhặn, và khách quan (hơn) từ một vị thức giả, đang tu tại gia, cư sỹ Phạm Nguyên Trường:

“Xét ra, nón cối rất tiện vì, thứ nhất nó khá rẻ. Thứ hai đội lúc nào, ở đâu, làm gì cũng tiện, nắng mưa đều che được củ sọ mà lại không vướng víu, rơi cũng chưa hỏng ngay. Tóm lại, rẻ và tiện. Tuy nhiên, ở miền Nam mà đội nón cối thì người ta biết ngay là Ba Ke.

Nhưng xét ra cũng chưa có loại nón mũ nào thay được nó, nếu không nói đến mũ bảo hiểm xe máy. Nếu không bắt buộc đội mũ bảo hiểm, không chừng dân số tộc nón cối bây giờ đã gia tăng đáng kể. Cho nên tôi nghĩ người nào đó thấy nón cối tiện thì cũng kệ họ, chả nên kì thị vùng miền làm gì.”

Quan niệm dung hoà thượng dẫn, tất nhiên, dễ được tán đồng:

Đỗ Trí Tâm: “Đồng ý với bác. Thích hay không thích là quyền. Nhưng kỳ thị vùng miền thì không nên.”

Ba Võ: “Trước đây không có chọn lựa chọn nào khác ngoài nón cối!”

La Phong Mua Thu: “Kệ họ nói gì thì nói đi bạn. Mũ cối chẳng có gì xấu, còn tiện lợi cho người dân lam lũ. Nếu kiên cường, chịu khó thì chẳng có gì đáng xấu hổ vì cái mũ rẻ tiền ấy cả. Tôi không thuộc tộc mũ cối nhưng không khinh những người lao động.”

Khinh thị thì không chắc nhưng bị ám ảnh hay lo ngại thì e khó tránh, và cũng hơi phổ biến:

 Mình mới xuống sân bay, bước chân ra ngoài chưa kịp gọi xe thì có một anh tài xế xáp lại hỏi:

– Chị có đi taxi không?

Nhìn thấy đội cái mũ cối, lại giọng của đồng hương nữa nên mình không thích lắm, vì vậy vẫn hí hoáy đặt xe. Màn hình báo “Hiện tại tất cả các tài xế đều đang bận, bạn vui lòng quay lại sau”, ngán đợi nên hỏi cái “đồng chí” này, thấy giá cả cũng ok, nên gật đầu đồng ý đi.

Mặc dù cũng chẳng yên tâm tí nào khi sử dụng dịch vụ của người nói cùng giọng với mình, chỉ sợ bị chém. Lên xe mình hỏi luôn:

– Tôi hơi thắc mắc tí, anh cho tôi hỏi một câu nếu anh thấy không phiền, OK?

– Chị hỏi đi.

– Tại sao anh lại thích đội cái mũ đó?

– Không phải em thích mà nắng thì em đội thôi.

– Anh vào đây lâu chưa?

– Em vào được 7 tháng chị ạ.

– Vậy hả, vậy thì mới quá nên chưa hiểu là phải. Đúng ra tôi không nói nhưng vì tình đồng hương nên tôi nói điều này anh đừng giận nhé.

– Chị cứ nói đi…

– Tôi là người Bắc nhưng tôi cũng không thích cái mũ đó, cái biểu tượng của sự khổ đau và kìm kẹp, mặc dù chú tôi và những người hàng xóm của tôi cũng vẫn đội để che nắng nhưng thực sự tôi không thích nó, vì cái mũ đó mà đất nước tan hoang như ngày hôm nay, tham nhũng tràn lan, kinh tế tuột dốc, đời sống văn hóa tệ hại, trò đánh thầy, thầy tra tấn trò, BS thờ ơ với bệnh nhân con người tìm cách lừa lọc lẫn nhau, tình người không còn… (BS Lê Nhàn)

Tôi sống tha hương gần mãn kiếp nên không có dịp tiếp xúc với một người tài xế taxi ở quê mình. Trong Khu Đèn Đỏ Nana Plaza ở Bangkok, thảng hoặc, tôi cũng thấy một hai người đội mũ cối đang lầm lũi đẩy chiếc xe kem bé tí teo giữa lòng con phố chật ních người đi.

Cả cái xe lẫn cái mũ đều là dấu hiệu cho biết chủ nhân mới từ Việt Nam sang. Kẻ sang trước, sau khi dành dụm được chút vốn liếng, thường sắm xe bán trái cây (vì có lời hơn) và cũng sắm luôn cái nón mới – made in Thailand – không phải là nón cối, tất nhiên!

TNT 2

Bên Vientiane hay Phnom Penh thì khác. Dân Lào và dân Miên tuy cũng cũng  nghèo thảm thiết nhưng họ thường từ chối làm những công việc quá nặng nhọc (và rất ít lương) nên phụ hồ gần như là “nghề” chỉ dành riêng cho đám di dân lậu. Bởi vậy, ở bất cứ nơi đâu có xây dựng là thế nào cũng có loáng thoáng vài ba cái mũ cối đang lui hui dưới ánh nắng chói chang.

Vì thói quen nghề nghiệp, tôi hay mời những người đồng hương trẻ tuổi của mình dùng một bữa cơm thanh đạm (nơi một quán hàng nào đó, bất kỳ) để có dịp trao đổi đôi câu tâm sự. Phần lớn các em đang ở lứa tuổi đôi mươi, chào đời khi mọi cuộc chiến (Bắc/Nam-Miên/Việt-Tầu/Việt) đều đã lụi tàn. Ai cũng rời làng quê chỉ vì một lý do duy nhất (“ở nhà thì biết làm chi ra tiền”) và gần như không ai hay biết gì về chuyện chinh chiến cũ, nói chi đến “gốc gác” cái mũ cối mà họ đang đội trên đầu.

Phải nhìn thấy những vệt mồ hôi muối dầy cui trên lưng áo, những ánh mắt buồn bã mệt mỏi, và những gương mặt lấm lem đen đủi (trong điều kiện khí hậu vô vùng khắc nghiệt ở Á Châu ) mới thông hiểu sự cần thiết của cái nón, bất kể loại nào, miễn có thì thôi. Ở tuổi này (lẽ ra) tất cả các em đều phải có cơ hội để đi đến giảng đường, thay vì đi tha phương cầu thực.

TNT 3

Gần đây, lại có một hiện tượng mới nữa về mũ cối. Nó chợt xuất hiện ở những vận động trường hay giữa những phố phường nơi xứ lạ và được chủ nhân dùng như một vật  trang sức (để gây chú ý của tha nhân) chứ không phải để che thân. Sự kiện này cũng gây ra đôi chút phiền lòng:

Trần Thị Thảo: “Nhìn qua là biết bọn vô học đi làm cu li ở Nhật.”

Sinh Nguyễn Xuân: “Tối qua trên sân vận động Singapore thấy mũ đó cũng xuất hiện á kkk.”

Mạc Văn Trang: “Sao các bạn trẻ người Việt ở Nhật lại lập ra ‘nhóm mũ cối’ rồi quậy trong sân bóng đá, khi đội Việt Nam đá với đội Nhật, gây mất cảm tình với dân sở tại?” Top of Form

Nỗi e ngại (“gây mất cảm tình với dân sở tại”) của T.S Mạc Văn Trang ở Nhật chỉ là chuyện nhỏ, rất nhỏ, so với những vụ án ở Hoa Kỳ mà nhiều người Việt phải hầu toà vì tội chụp mũ (cối) lên đầu tha nhân, và hậu quả là đã có lắm kẻ đã tán gia bại sản!

Hễ cái nón cối xuất hiện nơi đâu là y như rằng nơi đó vấn đề, dù tự thân nó hoàn toàn vô tội. Số phận của cái mũ cối cũng hẩm hiu, xui xẻo y như cái liềm hay cái búa thôi. Cả ba, chả may, bị “vướng” vào đám Cộng Sản mà trở nên những biểu tượng của sự xấu xa khiến thiên hạ kinh sợ (hay kinh tởm) cứ y như gặp phải kẻ… lỡ giẵm nhằm cứt vậy. 

Tưởng Năng Tiến

Nguồn: https://vietbao.com/p302901a312188/s-t-t-d-tuong-nang-tien-mu-coi