Những cơn mưa Sài Gòn

Mình xa Sài Gòn như thế là cũng đã ngoài 20 năm rồi đấy nhỉ. Nhiều khi nghe nhạc bỗng thấy nhớ da diết:

Đêm nhớ về Sài Gòn / Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa / Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa / Ai sầu trong quán úa…

Giờ đây nếu có ai hỏi, trong những nỗi nhớ về Sài Gòn anh nhớ cái gì nhất? Nguyễn sẽ trả lời không chút nghĩ ngợi: Nhớ những cơn mưa trên thành phố ấy.

Vâng, đúng rồi. Trong ca từ bài Ðêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng trích dẫn trên cũng đã có nhắc đến: Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa…Và hẳn bạn cũng dư biết: Trong những nỗi nhớ của đời người xa xứ, bao giờ cũng có nỗi nhớ về thời tiết. Vì nó từng bám trên da thịt ta, ăn vào hồn ta, sống cùng với những giấc mộng, và không hề biết đến cái chết. Màu nắng quái, cơn heo may, tiếng sấm tháng Ba… Liệu bạn quên được không?

Và những cơn mưa Sài Gòn. Biết nói làm sao đây về những cơn mưa Sài Gòn nhỉ. Anh đã sống những cơn mưa Huế từ ấu thơ cho tới ngày bước lên xe lửa ra đi cùng với một bóng hình, và anh đã thấy cái buồn của một bầu trời lúc nào cũng chập chùng mây, và anh đã nghe mưa suốt những ngày tháng mù mù u tịch — mưa trên rặng cây bàng ngoài Vương Phủ, mưa trên hàng sầu đông ướt tím. Mưa ở Huế là như thế. Bếp lửa ngày nào mẹ nhóm lên trong sương chiều còn tỏa ấm không? Rồi mưa những ngày tháng lưu đày đất Bắc. Mưa phùn. Ôi, mưa phùn. Ai đã viết về những cơn mưa phùn ở Ðà Lạt, của những quán sách và quán cà phê, có phải Phạm Công Thiện? Một quán cà phê mở cửa dưới mưa phùn / rộn rã áo mưa và nón dạ… Nhưng Thiện đã sống những cơn mưa phùn miền Bắc chưa? Nó không thơ, không dịu dàng một chút nào. Nó là vang hưởng, là hình ma bóng quế của nghèo đói, đọa đày. Và anh chợt thấy mình đi dưới những cơn mưa phùn như thế. Và anh cũng thấy mình ngồi co ro trên một ngọn đồi dưới trời mưa, mưa nhẹ như hư không, nghĩ về một thành phố có lửa nến xanh và ly rượu óng vàng long lanh trong màu mắt của Agnès. Anh ngồi như gã chăn bò thời Cựu Ước, trước mặt anh là cây gỗ rừng nặng gãy lưng, chờ anh vác trên đường về lán tù bên suối. Mưa phùn những năm tháng ấy! Nó nhẹ như tơ. Không tiếng vang. Không đời trước đời sau, không tiền duyên nghiệp chướng, mà sao thấm sâu và đau như dao cắt.

nhung-con-mua-sai-gon
nguồn vhp.Hạ Vũ

Không. Mưa Sài Gòn không như thế. Em còn nhớ hay em đã quên, những cơn mưa Sài Gòn? Chẳng lẽ sống hàng chục năm ở thành phố đó mà em không nghe tiếng mưa rộn ràng, như reo như hát trên dãy phố xanh? Những trận mưa của bầu trời nhiệt đới ấy chợt đến chợt đi như những mối tình thời mới bước vào ngưỡng cửa đại học. Hai đứa đang đi giữa phố thì cơn mưa đổ ập xuống. Xối xả, ồn ào. Nắm tay nhau chạy tuột vào một mái hiên trú ẩn. Nghe như có tiếng cười của ai đó bên tai, một người con gái Sài Gòn những năm 60 có tên Hải Ðường? Cười trên một góc phố. Cười suốt những mái nhà, hàng cây. Và mưa chạy rượt đuổi nhau ngoài đường. Hai đứa đứng nép mình co ro. Người con trai đứng che cho người yêu. Những đợt mưa tạt vào mái hiên, mù mịt. Trong hơi mưa, có hương tóc, hương áo ai, hay hương của những bông sứ đỏ dưới mưa. Chiều ấy, sau này cô gái nhớ lại, tóc ướt, mắt ướt. Màu xanh hàng cây cũng ướt. Thế rồi bỗng dưng mưa thưa hột, rồi dứt hẳn. Cây lá ngẩn ngơ. Mái ngói ửng sáng. Người và xe cộ lại kéo nhau ra đường. Ồ ạt, đông vui. Nắng hớn hở trên đầu ngọn cây. Trời lại xanh, vang vang, thăm thẳm.

Anh đến với Sài Gòn trong những cơn mưa như thế.  Lòng hớn hở, trí chưa muộn phiền. Và hình như cũng chưa yêu ai, chỉ là tình vui lúc người ta hai mươi tuổi và tương lai còn phơi phới. Những ngày ấy ở xóm Nguyễn Ngọc Sương, Phú Nhuận. Những đêm theo Hồ Ðăng Tín đi phòng trà Ðức Quỳnh trên đường Cao Thắng nghe Thanh Thúy hát. Dáng gầy, “tay xao dòng tóc tay mời âm thanh”*, nức nở trong tiếng mưa đêm. Và dường như bài Ướt Mi của Sơn được viết ra trong hình ảnh ấy? Rồi những đêm ở cà phê Ánh góc chợ Thái Bình, cùng với Tín ngồi kể chuyện cổ tích cho mấy chị em nghe. Ngày ấy Ánh là chị lớn, còn Hồng và các em còn nhỏ xíu. Bây giờ về đâu, còn nhớ không những cơn mưa Sài Gòn?

TN

*Thơ Hoàng Trúc Ly

Nguồn: http://baotreonline.com/nhung-con-mua-sai-gon/

Advertisements

Buổi Tối Trong Làng Om-Xà-No

Nguyễn Thị Long An

Mặt trời chếch về hướng Tây. Nắng nửa chiều nghiêng lả lướt trên đôi bờ kinh Vĩnh Tế. Ánh sáng hanh vàng phủ lên cánh đồng lạ lẫm cỏ cháy đất khô, rải rác mấy cây thốt nốt già cao lêu nghêu đưa ngọn. Mặt nước phía trước đầu ghe trầm lặng chảy xuôi bỗng nhăn nhúm bởi mũi ghe lao tới và tiếng máy nổ lạch tạch đều đều vọng vào hàng cây xanh xa xôi mất biệt.

Chị Sol mở những phần bánh mì mua khi sáng bày trên khoang, mời mọi người dùng bữa. Nhìn những khúc bánh mì cứng ngắt, nghĩ bà ngoại sẽ không ăn được, Kim bối rối ngó bà rồi ngó chị Sol, sắp sửa mở miệng yêu cầu một thức ăn khác thì người chủ ghe tốt bụng đã đem ra đưa bà ngoại chén cơm còn lên khói và cái dĩa nhỏ có khoanh cá lóc kho khô.

Bữa cơm trưa xong xuôi, dọn dẹp trên sàn khoang sạch sẽ, ba người đàn bà gầy sòng tứ sắc giao hữu. Mời ngoại tham dự, bà từ chối, lặng lẽ lấy trầu cau ra ngoáy trong khi Nga và Tân hớn hở xúm xít ngồi sát sòng. Một chút nhộn nhịp lóe lên trong ghe. Tiếng cười vang vang, tiếng bạc cắc khua long-cong khi có người được tới. Sự ồn ào nổi dậy từ trong ghe bay tạt ra phía ngoài nhòa nhập cùng vùng không khí tĩnh mịch buổi xế trưa. Thỉnh thoảng, một chiếc ghe máy từ phía đối diện chạy qua, hai dòng nước gặp nhau gây thành con sóng lớn rào rạt vượt vào bờ.

Ðã hơn bốn giờ đồng hồ, ghe lầm lũi đi theo hướng mặt trời lặn. Kim bò đến ngồi sát cửa sổ, thọc tay khuấy đừa giỡn nước. Luồng nước mát ngấm vào lòng bàn tay, một chút sảng khoái nhè nhẹ dấy lên trong hồn. Vừa khỏa nước vừa mơ màng dòm bà ngoại tư lự chậm rãi đưa miếng trầu vào miệng, mắt hướng ra phía ngoài, tưởng bà như một khách lạ ở hành tinh nào đến nhàn du trái đất, ngồi đó như cố tìm kiếm hình ảnh trong bụi cây đám cỏ loáng thoáng lùi lại đàng sau bóng dáng của một quá khứ nào đã khuất.

Trời bỗng nổi gió. Từng loạt lá vàng từ những cành cây khô, những vùng bụi từ hai bên bờ bốc lên cuồn cuộn đổ xuống mặt sông vắng trơ vơ chiếc ghe nhỏ chồng chềnh của cơn mưa sắp sửa chuyển mình với buổi chiều đột ngột tối sầm như một điềm báo tin giờ tận thế. Ghe lao đao sấn tới khoảng sông phía trước, xông pha giữa vòm trời tối tăm cùng tiếng vọng từ xa của sấm sét, đồng thời mưa ào ào đổ xuống và màn nước trắng xám đặc phủ trùm trên mặt nước như muốn nhận chìm chiếc thuyền nhỏ khẩm lừ trồi lên hụp xuống giữa dòng. Hàng hàng lớp lớp hột nước tuôn xuống mui ghe, phủ lên mặt kinh những chùm bọt trắng nối tiếp nhảy đùa trên mạt sóng rồi chìm sâu vào phía dưới. Trong cơn mưa giăng mờ, ghe phải đậu lại núp dưới một cụm cây lạ mọc cạnh bờ.

Ngồi trong mui rướn nhìn qua kẽ hở của lá cành, hy vọng tìm thấy những gì quen thuộc nhưng tuyệt nhiên không có gì chờ đợi trong khoảng đất sắp liều thân tìm đến. Trong một thoáng, linh cảm nhạy bén hiện ra trong trí vòm trời tối tăm trước mặt nhiều sự hiểm nguy chực chờ bắt đầu từng phút giây nầy. Tự hỏi, tại sao đã biết, đã nhìn thấy rõ ràng mà vẫn băng mình tiến tới để rồi xót xa cho sự tìm kiếm chỗ dung thân còn mơ hồ giữa vòm trời gió bão.

Mưa dịu bớt. Ghe rời chỗ đậu âm thầm lướt đi lẻ loi dưới màn nước mong mỏng và khoảng trời tím thẩm hoàng hôn. Trong khoang một chút ánh sáng nhỏ của cây đèn bão được đốt lên treo bên vách cho thấy mọi người đã nằm ngủ ngổn ngang bên bộ bài tứ sắc còn lộn xộn những con bài xấp ngữa.

Kim vẫn ngồi im lìm bên khung cửa nhỏ suốt cơn mưa dài. Bên ngoài bóng tối đã chụp xuống mênh mông lạnh lẽo như từ lâu thiếu vắng mặt trời. Ðàng xa loáng thoáng ánh đèn, một chiếc ghe chạy ngược trở về. Khi hai ghe đến gần người tài công bên kia nói vọng qua:

– Phía trước có cướp chận ghe đó!

Tiếng chú Bân hỏi lại :

– Khoảng nào? Có mất mát gì không?

-Phía trên đó. Không lấy được gì, quơ bậy bạ mấy cây đường thốt nốt.

Mọi người trong khoang ngồi rột dậy nhôn nháo. Bà chủ ghe thì thầm:

– Ai có tiền bạc, vàng vòng kiếm chỗ dấu đi nhe.

Kim run rẩy, lần tay phía trước bụng lấy ra gói giấy, lúng túng không biết phải dấu nơi nào. Sau một thoáng suy nghĩ, Kim lết về phía lái, bỏ vào rỗ đựng chén lấy chồng tô lớn úp lên. Nghĩ thầm, một gia tài nhỏ trong gói giấy đó nếu bị cướp chắc phải quay trở lộn về. Lui vào ngồi lại chỗ cũ lầm thầm khấn cha mẹ phù hộ thoát khỏi sự mất mát. Thấy bà ngoại bò lại phía cái khánh thờ nhét vào phía dưới cái gì đó. Chú tài công cho máy nổ nhỏ sức chạy chậm hơn.

Trong ghe mọi người im thin thít như những người tử tù chờ giờ hành quyết.

Bà chủ ghe ra lịnh:

– Bân, neo ghe lại chờ một hồi coi sao.

hiếc ghe dừng lại giữa sông. Mưa đã tạnh. Từng loạt gió thổi lướt qua, những giọt nước đeo đọng trên cành dựa mé rơi lào xào xuống sông. Xung quanh vắng lặng, nghe rõ ràng tiếng cá móng nước hòa với tiếng kêu của ếch nhái, của dế giun vang lên từ vùng cây cỏ. Thời gian như đứng im trên đỉnh trời còn giăng mây xám và hãi sợ một thoáng động của lá cành.

Một lúc khá lâu không nghe động tịnh gì. Bà chủ ghe lên tiếng:

– Không lẽ đậu hoài ở đây. Bân ơi! Cho chạy đi.

Máy ghe nổ thật nhỏ và chầm chậm trôi theo dòng với sự lo âu hồi hộp và nhịp tim đập loạn xạ của mọi người trong khoang. Bỗng tiếng thổ ngữ lồ xồ rợn rùn cất lên bên mé bờ trong tiếng lên cò của nòng súng. Chú tài công hỏi nhỏ:

– Bà chủ, mình ghé vô nha, không thôi chúng nó bắn đó.

Ghe cặp vào mé. Mọi người trong ghe im lặng, bất động như những xác chết ngồi.

Hai người đàn ông xuống ghe, nói với nhau bằng thổ ngữ, lục soát từng người một, gom góp hết mớ tiền còn lại trong túi của mấy bà bạn hàng. Ðến gần chỗ ngồi của bốn bà cháu, đôi mắt của hai tên cướp sáng hoắc long lên khả ố ánh ra chỗ chừa của cái khăn sọc rằn bao quanh khuôn mặt. Tên nầy nói với tên kia gì đó rồi chia nhau lục soát hai người con gái trước. Thấy trong túi nạn nhân không tiền, tên cướp nắn nót tìm kiếm mọi chỗ trong người Kim không chừa một chỗ riêng tư con gái. Moi móc đến nỗi Kim phải tránh né chống đối, mắt trừng trừng phẩn nộ. Tìm kiếm không được gì tên cướp quát lên giọng gầm gừ lớ lớ “vàng để đâu?”

Kim thu người vào sát vách ghe lặng thinh. Không nghe trả lời, hắn nắm tóc Kim quấn hai vòng trong bàn tay, giựt mạnh, lườm lườm dòm mặt cô gái hồi lâu hắn mới rời sang qua bà ngoại lục lọi tiếp. Ðổ hết hai bọc áo quần, giũ từng cái, liếc dọc liếc ngang. Cạnh bên, tên kia cũng làm như vậy, hắn lục lọi ve vuốt khắp người Nga, sự va chạm thân xác gây trong lòng hắn nỗi ham muốn về nhục thể, đôi bàn tay hắn không ngừng sờ mó, thô bạo mạnh tợn cho đến nỗi Nga không chịu được phải hét lên và khóc ngất. Trên bờ, đồng bọn bỗng lên tiếng kêu réo, hai tên dưới nầy đành quét mắt một lượt nữa bốn phía chung quanh rồi nhảy nhanh lên bờ. Bốn bóng người lẫn vào màn đen mất dạng.

Bà ngoại ngó hai đứa cháu gái ngồi cúi đầu qua ánh đèn nhỏ, thở dài xót xa. Kim ứa nước mắt, nuốt xuống lòng mình niềm tủi hận.

Bà chủ ghe nói:

– Tụi cướp nầy khốn nạn quá, càng ngày càng lộng. Bân, cho ghe chạy mau, ghé Om-Xà-No ngủ.

Ðộ chừng năm bảy phút thì ghe tấp vào một bến nhỏ cắm sào ngoài xa bởi những chiếc xuồng đậu đặt lừ gần mé nước.

– Bà con sửa soạn lên bờ.

Dứt lời, bà chủ ghe, chị bạn hàng và chú tài công nhanh nhẹn ra khỏi ghe lên bờ đi mất dạng. Kim bò trở lại chỗ dấu cái gói giấy khi nãy nhét vào người.

Lúc quay lại, Kim cũng thấy bà ngoại làm như mình. Bây giờ Nga, Tân xách hai bọc hành lý chờ đợi bước theo chị. Kim lần bước trong bóng đêm dắt bà chuyền qua chùm xuồng ba lá lắt lư chao đảo. Ðến mé, chị Sol chực sẵn đứa tay giúp kéo từng người một lên bờ, dẫn bốn bà cháu bước thấp bước cao men theo con đường đất với những ngôi nhà lá nhỏ lờ mờ bên bờ trong vòm không gian đen đặc.

Ðến một căn nhà không xa mấy bờ sông, nhưng cách biệt hẳn với con đường đi do khoảng sân rộng và hàng rào mồng tơi bao bọc chung quanh. Chị Sol kề tai Kim nói nhỏ :

– Nhà của bà chủ ghe cho người đi buôn lỡ đường mướn ngủ.

Bỡ ngỡ bước vào cửa, cây đèn măn-xông treo phía trên cho thấy một căn và hai chái rộng rãi, cao ráo. Chính giữa nhà một cái bàn cây tròn với sáu cái ghế đẩu. Hai bên vách là hai dãy ván lót dài tận phía sau. Hàng chục chiếc ghế bố xếp dựng hai bên chái. Người chủ ghe cũng là chủ nhà đứng sẵn đó từ bao giờ đon đả chỉ vào bên trong:

– Bà ngoại và mấy cháu ngủ bộ ván sát vách đó với Chị Sol. Tôi qua nhà bên kia lấy cơm.

Mở tủ lấy chiếc mùng vải trắng lớn, vài cái gối mền để lên ván, bà chủ ghe lại thoang thoát đi ra ngoài. Hai chị em phụ với chị Sol giăng mùng, vắt lên, chờ giờ đi ngủ.

Cơm nước xong xuôi, Kim chun lấy cái mền nhỏ xếp nhiều lớp trải lên phần ván dành cho bà ngoại, miệng lẩm nhẩm, để ngoại nằm sát vách cho có vật chắn an toàn. Tân nằm kế ngoại, rồi Nga và mình. Còn chị Sol nằm phía ngoài án ngữ.

Thiếu gối, Kim dùng bọc hành lý gối đầu cho mình và cho em như dưới ghe khi sáng.

Không có đồng hồ, không biết giờ giấc, sự mỏi mệt bắt Kim phải nằm xuống. Ðêm nay cũng như đêm qua, tịt mù vùng đất lạ. Ði đâu đó một lát, chị Sol trở về dở mùng leo lên ván. Ðèn tắt, bóng đen đã buông mau xuống căn nhà. Bên ngoài tiếng dế nỉ non, tiếng cành cây cọ quẹt trên mái tôn, tiếng đập cánh của dơi và xa xa vẳng lại tiếng chim heo kêu quát… quát . Cạnh bên, bà và hai em đã thôi trở mình. Nhớ lại buổi tối trên ghe, nỗi kinh hãi còn lãng đãng trong hồn. May mắn không bị phát giác chỗ cất dấu mấy lượng vàng.

Toán cướp là những người nào mà được an lành cướp giựt dọc bờ kinh sát cái làng nhỏ nầy? Tại sao họ che mặt, có thể quen biết với những người đi buôn? Câu hỏi thốt ra chỉ dội lại trong lòng một sự trả lời còn mơ hồ trong tư tưởng. Nhắm nghiền hai mắt, màu đen ngập tràn trong hố mắt. Thần trí lãng vãng sự chết chóc, cướp của giết người. Hé mắt dòm khuôn mặt người đàn bà Miên đưa đường như cố gắng đo lường điều man trá chứa ẩn để rồi hoài nghi hiện tại bởi những lần đọc báo trước kia. Chưa hề rõ tông tích, biết sơ sài qua sự giới thiệu của bạn bè. Nơi quê nhà không còn thân nhân để nhờ giữ số vàng còn lại hầu giao cho nhóm tổ chức dẫn đường khi cuộc hành trình xong xuôi, đành phải mang theo trong người và hứa sẽ chồng hết tại nhà họ ở Nam Vang. Lo lắng hiểm họa về lòng người. Nếu họ thông đồng với kẻ xấu, liệu bốn người có giữ được tánh mạng? Kinh hoàng khi nghĩ tới điều bị giết !!! Chắc là không thể, không phải vậy. Họ là những người dẫn đường chuyên nghiệp kiếm ăn. Lẽ nào… Những ám ảnh ghê rợn và hoạt cảnh của bọn cướp làm sờn, Kim lòng muốn trở về. Cạnh bên tiếng ngáy lớn vô tư của chị dẫn đường xoáy vào màn tai. Ðêm đã sâu, bốn bề bóng tối mông lung vây bủa, tự dặn lòng cố gắng đề phòng mọi bất trắc và gìn giữ người thân.

Triền miên với cảm giác rờn rợn, con buồn ngủ cũng đã bắt đầu đậu vào đôi mắt. Bỗng nghe cánh cửa sau động đậy. Mở lớn mắt, một người đàn ông Miên với cây đèn dầu trên tay bước vào đứng sững một chỗ liếc cùng khắp gian nhà, cuối cùng hướng về phía bộ ván có người nằm. Kim run bắn người, sợ sệt, lay nhẹ chị Sol, nghiêng nhẹ qua phía chị kề vào tai thì thào báo tin có người vô nhà. Chị Sol mở mắt dòm về phía cây đèn. Nằm yên trong bốn bức vách mùng, hai người theo dõi cử động của gã cầm đèn đang đứng im nghe ngóng. Kim nghe rõ nhịp tim mình đập bình bình. Chị Sol nắm tay Kim bóp nhẹ trấn an.

Người đàn ông đó vẫn cầm cây đèn đưa về phía trước, bước từ từ đến bộ ván, kê mặt vào mùng như muốn nghe ngóng hay tìm kiếm cái gì . Thiên Kim vội vàng nhắm khít mắt. Chị Sol giả đò trở mình, tên người Miên lui lẹ ra xa. Chờ lúc lâu, hắn nhè nhẹ bước tới lần nữa. Chị Sol thình lình ứng thinh lên lớn một tràng tiếng Miên, hắn thổi đèn, chạy bay ra ngoài mất dạng.

– Nó sợ chạy rồi. Không dám trở lại đâu.

– Nó muốn làm gì vậy chị?

– Tên trộm vặt. Ngủ đi.

Một chút yên lòng. Kim trăn trở hồi lâu mỏi mòn cũng thiếp vào giấc ngủ. Ánh sáng mặt trời xuyên qua kẻ vách. Những hình tròn tròn trứng vịt từ nóc nhà soi xuống nền đất. Mọi người đã thức dậy lo phần việc riêng của mình. Kim còn say ngủ. Thằng Tân liếng xáo dở mùng nắm chưn chị kéo mạnh. Bà ngoại khoát tay ra dấu không cho Tân đánh thức:

– Ðể chị hai con ngủ thêm một chút nữa. Kêu nó dậy làm gì? Chưa đi bây giờ đâu.

– Sao ngoại biết?

– Chị Sol nói với ngoại mà.

Do cái kéo chưn, Kim mở mắt vội vàng ngồi lên, chun ra khỏi mùng mỉm cười với em. Nga giúp chị cuốn mùng, chồng gối mền đẩy sát góc vách. Chị Sol vừa đi vô vừa hối mọi người thay áo quần gom đồ đạc ra chợ ăn sáng và chờ ghe bỏ hàng rồi đi luôn. Thẳng về phía trước, khỏi ngôi nhà độ năm mươi thước thì đến một cái chợ nhỏ. Tất cả hàng quán bày bán trên một nền đất cao hình chữ nhựt. Nhà lồng chợ cũng trên khoảnh đất đó. Sườn nóc bằng cây lợp chồng chất với những tấm tôn cũ kỹ. Xung quanh là những căn nhà lá nhỏ cửa đóng kín, có thể người ở đó đã ra chợ bán hàng. Ðưa bốn bà cháu đến một cái quán hủ tiếu, cà phê chiếm một khoảng lớn ở góc nhà lồng, ngồi chỗ bàn có những cái ghế chưn thấp vừa ăn vừa nhìn ngắm mây trời. Chị Sol trả tiền hủ tiếu, căn dặn chờ ở đây và bỏ đi về phía bờ sông.

Những người bán hàng là người Miên, có lẽ họ đến đây sanh sống sau cuộc ngoại chiến, nội chiến đẫm máu. Không biết nhóm chợ từ lúc nào, bây giờ chỉ còn lưa thưa năm bảy người mua bán nên tiếng ồn ào bớt lần. Mùi ẩm mốc bốc lên từ vũng nước mưa đọng lại tối qua bên hong chợ và hơi nóng của nắng lẫn mùi cát bụi quen thuộc đưa vào khứu giác giống như mùi riêng của đất nước nơi quê nhà.

Trên đất từng khoảnh rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ chuối, lá chuối và bả mía trơ vơ với đàn ruồi bay lên đáp xuống. Một vài người bán hàng đang thu xếp hàng hóa, đòn gánh đã xỏ sẵn vào đầu gióng. Mấy đứa nhỏ Miên, mình trần ốm tong teo, quần đùi vá víu lom khom trên mặt đất, lượm lặt những cái gì có thể dùng được của những người bán hàng bỏ lại. Hình ảnh đó bày ra trước mắt mường tượng như bức tranh được vẽ lại nơi vùng đất nước vừa mới rời xa. Nhìn bao quát ngôi làng nhỏ xác xơ, xung quanh là cánh đồng cỏ cháy, sau lưng là con kinh rộng di chuyển bằng những chiếc ghe nhỏ, những chiếc xuồng ba lá chong chênh, lẫn lộn người Miên và người Việt gốc Miên buôn bán qua lại giữa hai vùng biên giới.

Những đứa trẻ dốt nát ở đây, trai đi lính như hai người lính đã thấy vừa rồi, gái cũng vậy, làm lụng khổ cực suốt đời như cha mẹ nó. Kim thở dài lắc đầu xua đuổi nỗi ám ảnh của cảnh tượng tàn tệ đời người.

Mặt trời đã lên giữa đỉnh đầu. Hơi nóng từ trên nóc chợ phả xuống hòa cùng mùi ẩm mốc từ dưới đất bốc lên khiến mọi người bắt đầu bức rức. Thằng Tân khó chịu đứng dậy chạy tới chạy lui từ đầu chợ đến cuối chợ. Không muốn kêu Tân sợ gây sự chú ý cho những người chung quanh, Nga đứng dậy đi về phía Tân nói nhỏ gì đó và dắt em về chỗ cũ, cũng đúng lúc chị Sol trở lại đưa mọi người xuống ghe. Ghe rời bến bỏ lại làng Om-Xà-No đìu hiu với khoảng độ ba, bốn chục nóc nhà tranh, lá.

Gió hiu hiu thổi, chú tài công lầm lì giữ máy. Bốn bà cháu trong ghe chong mắt nhìn mũi ghe thoan thoát rẽ nước. Lần nầy ghe chạy mau hơn, vượt qua những lùm bụi, bến bờ cho tới lúc trời chạng vạng ghe ghé vào bến phà Neak Loung.

Cũng màn đen bao phủ như hai đêm trước, hối hã theo chị Sol tới bến xe đò để về thành phố Phnom Penh. Bến xe vắng ngắt. Bốn chung quanh đường đi và các ngõ nhỏ lờ mờ. Nhà nhà đóng im ỉm trừ một vài hàng quán cửa mở hắt ra vệt sáng vàng khè trên mặt lộ. Liếc một vòng chung quanh vẽ lo lắng, và thất vọng lộ ra ngoài mặt, chị Sol gượng gạo nói:

– Hết xe đò rồi. Ði đến quán ăn cơm và kiếm nhà ngủ trọ.

Vào quán chị Sol nói bằng tiếng thổ ngữ, rồi dẫn tới cái bàn phía trong cùng.

Không ai muốn ăn gì, chỉ cần uống một chút trà nóng. Xong xuôi, bốn cái xác biết cử động đi theo sự chỉ dẫn ra dấu bằng tay của người chủ quán trong lúc chị dẫn đường đi ra ngoài. Căn phòng nhỏ sau quán cửa khép hờ, người chủ quán xô cánh cửa mở rộng rồi bỏ đi. Bốn người vội vàng bước vào, nhờ ánh sáng của cây đèn măn-xông trước quán cho thấy khoảng rộng bên trong vừa đủ kê cái giường cây cũ kỹ và chiếc chiếu rách nhăn nhúm nhừ nát trên mặt giường. Ôm hai bao vải hành lý trong người, Kim dìu bà ngoại và ra hiệu cho hai em ngồi xuống giường mặc dầu rón rén nhẹ nhàng tiếng kêu răng rắc vẫn phát ra của những thanh tre phía dưới. Ðộ nửa giờ, chị Sol trở lại dắt ra khỏi quán, hối hã đẩy tất cả lên ngồi chen chúc băng ghế sau của một chiếc xe nhà, chị ghé ngồi băng giữa với một bà già Miên và cô gái. Xe chạy được một quãng đường chị Sol quay lại đưa tay ấn mấy chiếc nón lá để trước người của Nga xuống dưới chưn. Trong xe không ai nói gì, sự yên lặng làm tăng thêm bầu không khí nặng nề và sợ sệt.

Không lâu tới một trạm xét, người đàn bà ngồi chỗ tài xế đưa tờ giấy gì đó cho người lính chận xe. Người lính khoát tay cho xe đi, tiếng thở ra thật lớn từ phía chị Sol cho hiểu mối lo lắng trong lòng đã được giải tỏa. Bây giờ Kim mới dám chòm tới phía trước hỏi :

– Chị Sol, xe của ai vậy?

– Xe của bà cán bộ đi công tác về, may mắn lắm bả mới cho quá giang.

– Có tiền không?

Chị Sol cười và nói :

– Trên đời, không tiền không làm gì được.

Xe chạy vào giữa hai dãy đèn trên con đường dẫn đến thành phố. Bà cán bộ quay xuống nói một tràng tiếng Miên, chị Sol đáp lại cũng một tràng dài trong đó có tiếng Sàigòn.

Tò mò, Kim hỏi :

– Bà đó nói gì vậy? Chị nói gì có Sàigòn trong đó.

– Bả hỏi chị xuống đâu? Chị nói, cho xuống cầu Sàigòn.

Xe đã bắt đầu chạy chậm và rề rề, rồi ngừng hẳn ở lề đường. Bên tay phải có cây cầu lớn dài bằng xi măng bắt qua sông. Dưới sông lố nhố nhiều ghe nhỏ, ghe lớn cấm sào phía bên nầy và bên kia cầu. Ðây là cây cầu có tên Sàigòn của thành phố Nam Vang mà những bà chủ ghe thường cho ghe ghé tại bến cầu nầy để dễ lên hàng, xuống hàng từ tỉnh Châu Ðốc đến.

Mấy bà cháu chồm người tới trước trong tư thế chờ đợi hai mẹ con người đàn bà Miên bước xuống. Ra khỏi xe, thình lình một bà già nắm đầu đứa con gái mình vừa tát mạnh vô mặt vừa la lối om xòm. Người đứng gần xúm lại bao quanh chiếc xe, chỉ chỏ, bàn tán. Chị Sol lật đật lôi bốn bà cháu tuôn mau xuống đất, kéo ra khỏi đám đông, đón xe lôi về nhà trong sự vội vã. Xe chạy qua mấy con đường vắng vẽ mường tượng như ngoại ô rồi dừng lại trước một lối mòn sầm uất. Sau rặng cây già thấp thoáng ngôi nhà xam xám kiểu nhà sàn của đồng bào thượng nhưng vài thứ khác biệt là cửa, vách bằng cây và mái lợp ngói.

Ngước mắt dòm lên từng cao, bầu trời đục đục u ám, xa xa vài ngôi sao lạc lõng nhấp nháy soi mập mờ mảnh đất lạ lẫm dưới chân, Kim rùng mình, nỗi ám ảnh cướp bóc, hành vi khả ố trên ghe đêm qua, một chút ngao ngán dấy lên, ái ngại về đoạn đường sắp tới của bốn người.

Nguyễn Thị Long An

Nguồn: http://doanket.orgfree.com/

Hãy trả lại sự thật cho lịch sử – Queen bee-1

Queen bee-1

Ngay sau khi bức tử nền Ðệ-1 Cộng Hoà để Mỹ tự do đem quân qua miền nam mà không có chinh khách nào dám chính thức mời mọc. Là một thanh niên lớn lên trong thời loạn, được thế giới mô tả là hiểm hoạ Cộng Sản bành trướng thôn tính miền Nam, Tôi quyết tâm vào quân đội để bảo vệ miền đất thương yêu nầy, chấp nhận đem cả chiều dài tuổi xuân của mình cho sự chiến đấu bảo vệ miền nam. Nhưng sau một thời gian quá dài nghiên cứu, mái tóc trắng dã và rụng đi để còn lại chiếc trán thể hiện sự ngu xuẩn về xuẩn động tấn kích vào hang động Non Nước, Ngũ Hành Sơn, mà rồi đây các sử gia hậu cận-đại sẽ minh-chứng lời phản tỉnh của mình thêm nhiều chứng cớ… nơi thư-viện qua cả ngàn cuốn sách của nhiều tác giả ngoại quốc. Sau cùng, tôi mới tìm hiểu ra mình đã bị một thế-lực thần sầu quỷ khốc phỉnh gạc một cách tinh vi. Tôi đã bị mê hồn trận với xuẩn động nông nổi kể trên vì tuổi trẻ.Thành thật mà nhận thức, khi hơn nửa triệu quân tác chiến Mỹ nhảy vào miền nam là xâm lược chớ gì? Ai mời họ vào? Nếu là người thế giới bên ngoài, thật tâm mà nói, tôi sẽ có nhiều thiện cảm với phong trào GPMN, chúng ta có còn chủ-quyền hay không? Các chiến sĩ của ta hãy xác định đứng-đắn vai trò cũa mình là gì? … Tổng thống Diệm thà chết chớ không chịu mất chủ quyền và ly tưởng quốc gia! Không nên ngụy biện dựa vào tự ái dân tộc khi lý tưởng quốc gia và chũ quyền của mình bị tước đoạt.Chúng ta quý trọng người Mỹ, chính phũ Mỹ, nhưng chúng ta không thể chấp nhận chính sách Mỹ, quá độc-ác chỉ biết có quyền lợi “American First” mà thôi: “Nước Mỹ không có người bạn lâu dài, cũng không có kẻ thù truyền-kiếp, chỉ có quyền lợi mà quyền lợi mới xác định thế liên minh.” Trong thập niên 1950 trên thế-giới đêu được phục hồi lại nền độc lập kể cả VN, người Pháp cũng muốn như thế theo trào lưu cũa thế giới. Nhưng chính sách My muốn khuấy động lại chiến tranh để thủ lợi qua “Freedom is not for free”. Ngày 21/9/1960, Hội Ðồng An Ninh (National Security Council) họp đưa ra 3 định-kiếnaxiom) –
(1) “There was never a legitimate non-communist government in Saigon” như vậy chúng ta cũng hiểu ngay, chính sách Mỹ sẽ xoá bỏ miền nam. –
(2) “The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs” để sau nầy rút lui danh-dự nó thuận lý mà không bị ràng buộc với danh từ “đầu-hàng.” Có nghĩa Mỹ phải ngụy tạo phía Hà Nội gây hấn để “trả-đũa” nên nhớ không có “tuyên-chiến”
(3) “The US would not have won the war under any circumstances” Có nghĩa sau khi đã hoàn thành sách-lược Counter Insurgency Project là quân tác chiến Mỹ phải tháo chạy về xứ và không để lại quân như ở Ðức 300.000 quân và ở Triều Tiên 50.000 quân theo sự thiết kế của chiến lược gia George Kennan năm 1941, là chia 3 quốc gia nầy tạm thời làm 2 để duy trì business buôn bán vũ khí và thí nghiệm vũ khí được kéo dài bảo đảm công ăn việc làm được thịnh vượng và sau đó sẽ thống nhứt sau.Ðể rồi tôi mới vỡ lẽ! Tôi không theo Cộng Sản, tôi cũng không theo Quốc Gia, tôi không chống ai hết, nhưng tôi biết phân biệt: Trên diễn đàn này tôi chỉ nói lên tiếng nói của cá nhân, của sự hiểu biết của tôi. Cho dù tiếng nói của tôi đơn độc thì tôi viết tôi nói cho tôi nghe, có thể cho bạn nghe nữa! Tôi viết để tôi đọc, tôi cũng như các sử gia thuộc trường phái hậu-cận-đại, bắt đầu từ 2023, (sau 50 năm người lính chiến Mỹ rời khỏi VN, vào năm nầy tôi đã chết)… Có thể thấy tôi lập dị, nhưng thà lập dị, sống trong mộng ảo hoang tưởng còn hơn là sống trong sự thật khi mình đã phát giác, vì sự thật quá phũ phàng, quá tàn nhẫn đau thương… Thà nói chuyện với cây lá cỏ hoa mà thấy mình thanh thản hơn bàn thảo với người chung quanh mình!

Cuộc chiến tàn khốc 10.000 ngày
Theo tôi, với cái nhìn công bằng trong con mắt của sử gia hậu cận đại, xuyên qua đối chứng các tài liệu có thật dính-dấp với liên hệ thực tế, nhìn một cách công bằng hơn và nếu chưa xét đến cách thức giành quyền lực thì cái chính thể Việt nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) do cụ HCM góp phần lớn dựng lên đã có giai đoạn đầu đi theo xu thế dân-chủ. Trong giai đoạn đó cụ Hồ đã đồng ý hợp tác với các đảng phái quốc gia khác như Việt Quốc, Việt Cách để thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời VNDCCH, đã tổ chức bầu cử thành lập cơ quan lập pháp theo thể thức phổ thông đầu phiếu, tự do với sự tham gia của nhiều đảng phái khác nhau, đã thành lập ủy ban soạn thảo hiến pháp và đặc biệt là nội dung của Hiến pháp 1946, hoàn toàn sao y theo bản thảo Hoa Kỳ với mong ước nước nầy có dư thừa quyền hạn bảo vệ VN như Philippines, dù còn thiếu sót, đã xác lập được một số nguyên tắc dân chủ cơ bản cho thể chế chính trị và xác định trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ một số quyền cơ bản của con người của thể chế chính trị. Cho dù giai đoạn đó là rất ngắn chưa đầy 1 năm, nếu kể từ ngày thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời VNDCCH (1/1/1946) cho đến ngày Hiến pháp 1946 được Quốc hội thông qua (9/11/1946) và nếu tạm chưa xét đến các cách thức cạnh tranh của Việt Minh với các đảng phái quốc gia khác, nhưng khó có thể phủ nhận chính thể VNDCCH lúc đó đã tạo dựng được một số định chế cơ bản của dân chủ. Chỉ sau giai đoạn đó hình thể VNDCCH (vẫn do cụ Hồ đứng đầu, nhưng không có cụ) mỗi ngày càng mất dần đi tính dân chủ và sau đó hoàn toàn trở thành một chính thể độc tài kiểu toàn trị cộng sản, nhưng thực sự trục ma-quỷ đã áp đặt đây là một chính thể toàn trị Mafia nhưng bao quanh lớp vỏ bề ngoài bằng Cộng Sản để cho thế giới biết mục tiêu mà lên án hầu quên đi cái thế lực ghê gớm sau hậu trường Mỹ (The Harriman and Bushes). Ðại hội đảng 15, tháng 4/1959 đánh dấu ngày công cụ Mafia Lê Ðức Thọ lên nắm chính quyền và HCM đi vào bóng tối, bằng cách chỉ định Lê Duẩn từ trong nam về Hà Nội làm quyền Tổng bí thư.

Theo tôi cột mốc rõ nhất cho sự phi dân chủ hóa để trở thành độc tài toàn trị cộng sản của chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một cái tên rất dân chủ, là việc Đảng Lao Động Việt Nam phát động Cải cách ruộng đất theo huấn thị của Mao, được cụ Hồ gọi là cuộc “cách mạng long trời lở đất”, vào năm 1953. Bao trùm toàn bộ cuộc “cách mạng” này là sự tùy tiện của chính phủ cụ Hồ trong việc bắt giữ, hành hạ, bắn giết, tịch thu gia sản đối với hàng trăm nghìn người Việt Nam. Các thủ tục tư pháp thông thường đã có từ thời thực dân Pháp hay các qui định phải tôn trọng pháp luật và quyền con người đã được ghi trong Hiến pháp 1946 đều không được đếm xỉa nữa trong Cải cách ruộng đất vì phải nghe theo sự chỉ giáo của Mao. Làm sao Cụ Hồ biết được Mao được Mỹ ngầm ý bắt cóc áp-tải Tưởng Giới Thạch và phe phái ra đảo Ðài Loan bằng phi đội CAT của CIA vừa thành lập; Mục đích để cho Mao thống nhứt lục địa có điều kiện chia 2 nước Triều Tiên và VN để cho Mỹ có cơ hội khuấy động chiến tranh hòng tiêu thụ số lớn vũ khí thặng dư hồi thế chiến-2, Ðồng thời biến 2 nơi nầy thành 2 bãi chiến trường theo dự mưu của chiến lược gia George Kennan, và đương kiêm Ðại sứ Mỹ tại LX, William Averell Harriman, liên kết với chương trình “Aid to Russia 1941-1946 Plan” sau khi Mỹ và LX bắt được một mớ nhà bác-học Ðức, việc ưu-tiên một cho quốc phòng là lấy chiến tranh Triều Tiên để thí nghiệm ưu tiên vũ-khí quốc phòng qua thế-hệ phản lực (Nga: Mig 15, 17 và Mỹ: F-84, 86) còn Việt Nam qua kỹ nghệ Hàng Không Dân Dụng như Boeing và Trực thăng phản lực. Vì thế Mỹ không có con đường nào khác, bắt buộc phải loại bỏ hai Cụ Diệm và Hồ cho mục tiêu sống còn của tư bản Mỹ (War Industries Board)

Theo tôi việc đánh giá cụ Hồ một cách toàn diện còn là một việc không dễ dàng và rất dễ gây tranh cãi, bất hòa bởi các thông tin về cụ Hồ chưa được bạch hóa một cách rộng rãi và nhiều người vẫn giữ nếp nghĩ theo lối duy cảm, tôn sùng thần tượng. Nhiều thông tin về cụ Hồ còn mơ hồ và ngay bản thân cụ Hồ khi sinh thời lại rất kín đáo về quá trình hoạt động và về đời tư của cụ; Chẳng hạn như ngay ngày sinh, nơi chôn nhau cắt rốn hay ông nội của cụ là ai vẫn là một vấn đề tranh cãi; Ở đây tôi chỉ muốn xét riêng dưới góc độ dân chủ và chỉ căn cứ vào những sự kiện đã rõ ràng thì tôi cho rằng cụ Hồ không phải là một chính trị gia không có lý tưởng dân chủ. Chỉ cần căn cứ vào một số sự kiện và chính sách của chính phủ VNDCCH khi cụ Hồ cầm quyền từ 1946 đến khi Cụ Hồ bị bọn Mafia Lê Ðức Thọ tháng 4/1959 thì chúng ta có thể thấy rõ. Tứ 1959 Mỹ dựng lên một bạo-quyền đặc-chế siêu Mafia và cương quyết bảo vệ sự bền vững của chế độ thảo-khấu nầy cho đến khi CIA tạo ra cuốn DVD sự thật về HCM, đây là điểm mốc giựt xập bức tường thép mà bấy lâu nay ÐCSVN dựa dẫm… để dần-dà thật sự xây dựng một nước VNCH hoàn toàn theo Mỹ.

-Thứ nhất, sau khi Cụ bị tước hết quyền hành, và nói đến dân chủ là phải nói đến tinh thần tôn trọng ý kiến khác biệt, tôn trọng phe đối lập, phải coi những gì đối lập với mình là sự tồn tại tự nhiên và cần thiết. Tự nhiên là vì không có một xã hội nào mà tất cả mọi người đều có cùng một ý kiến trên cùng một vấn đề: Cần thiết là vì đối lập giúp cho mỗi người ít nhất cũng giảm được khả năng sai lầm, ngộ nhận hay tự phụ. Nhưng bất hạnh thay chính phủ của cụ Hồ nhưng không có Cụ Hồ, cuối cùng đã không để cho một thành phần đối lập hay một đảng đối lập nào có thể tồn tại. Riêng Đảng Dân chủ hay Đảng Xã hội, những đảng vẫn tồn tại sau năm 1954 trên miền Bắc, thực chất chỉ là những tổ chức được xáp nhập vào Đảng Lao Động Việt Nam (chính là Đảng Cộng sản) trên danh nghĩa bị hội nhập vào cái gọi là của cụ Hồ mà thôi, khó ai mà phát hiện được một thế lực ghê gớm đã nhào nắn ra nó.

-Thứ hai, cụ Hồ là một trong những người đóng vai trò chính trong việc lập ra Hiến pháp năm 1959 vì áp lực của Tam đầu chế: Ðức Thọ, Chí Thọ, và Lê Duẩn qua cái ách của KGB và CIA cho trò chơi chiến tranh dơ-bẩn qua chương trình CIP/NLF của Mỹ/LX. Vì thế, bản Hiến pháp 1959 không chỉ được thiết lập một cách vi hiến (theo qui định của bản Hiến pháp 1946) mà còn xóa đi hết tinh thần tiến bộ và dân chủ đã có trong bản Hiến pháp 1946, mục đích để trục ma-quỷ khuấy động lại chiến tranh. Hiến pháp 1959 đã mở đầu cho tính đảng Mafia, tính lãnh-tụ, và tính độc-tài toàn trị trở thành nền tảng cơ bản trong các bản hiến pháp tiếp theo mà theo dự trù chiến lược Mỹ, phải bảo vệ chế độ toàn trị Mafia nầy trong hơn một nửa thế kỷ cho sách lược Eurasian. Chính Hiến pháp 1959 đã biến Quốc hội, kể từ đó, trở thành một cơ quan bù nhìn không hơn không kém, một cơ quan cấp dưới của Mafia (Đảng Cộng Sản Việt Nam) nhưng sự thật là đảng Mafia do trục ma-quỷ dựng lên cho chúng dựa-dẫm núp dưới bức tường thép HCM, cho dù cụ Hồ chết, chúng cũng phải để cái ghế trống Chủ tịch đảng chỉ dành riêng duy nhứt cho cụ mà thôi cho đến ngày (decent interval) cuốn DVD ra đời của linh muc Nguyễn Hữu Lễ mới là lúc đập-đổ thần tượng nầy và trả lại tánh trung thực cho lich sử, có nghĩa lật mặt nạ cái bọn đầu Trâu mặt Ngựa siêu Mafia nầy để thay vào một chế độ VNCH dân chủ và giàu mạnh tại vùng ÐNÁ. Và cũng chính từ năm 1959, Bộ Tư pháp (một nhánh quyền lực độc lập quan trọng của chế độ dân chủ) bị xóa hẳn cho đến tận năm 1981 mới được lập lại nhưng cũng chỉ là một cơ quan của Đảng Mafia (Cộng Sản Việt Nam thôi)

-Thứ ba, sau khi quyền lực chính trị (ở miền Bắc) đã hoàn toàn do đảng Mafia không còn của cụ Hồ nhưng thật ra trong tay Lê Ðức Thọ nắm giữ thì những quyền tự do cơ bản của dân như quyền ra báo tư nhân, quyền xuất bản tư nhân, quyền hội họp và lập hội mà cụ Hồ đã đòi hỏi thực dân Pháp phải trao đầy đủ hơn cho người dân Việt trước đây cũng dần biến mất hẳn trên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do cụ Hồ làm chủ tịch bù-nhìn. Ngay cả một vấn đề mà chính cụ Hồ là người chắc phải rất thấm thía về ích lợi của nó là tính độc lập và tuân thủ pháp luật của tòa án khi cụ Hồ bị bắt và đưa ra tòa tại Hồng Kông vào năm 1932, chúng ta cũng không thấy cụ Hồ đả động gì đến cũng chỉ vì quyền hạn ở trong tay tam-đầu-chế Mafia nầy, khi diễn ra hàng loạt những vụ tống giam không cần xét xử hoặc xét xử hết sức chiếu lệ các trí thức, nhân sĩ trong các vụ án Nhân văn-Giai phẩm hay vụ án Xét lại chống Đảng, tất cả hành động tàn bạo nầy đều nằm trong tay sinh sát của trùm mật vụ Mai Chí Thọ.
Nhưng có nguồn tin cho rằng HCM đã có lúc bị khống chế hay chịu sức ép của lãnh đạo nước ngoài hay của các đồng sự khác trong Đảng Cộng Sản Việt Nam như Lê Ðức Thọ, Lê Duẩn… chúng ta nên tìm hiểu sự kiện nầy trong Library of Congress? Nếu giả thuyết đó là đúng thì theo tôi cụ Hồ vẫn còn nguyên quyền và lương tâm để phản đối hay ly khai với những khống chế hay sức ép phi dân chủ đó. Chưa nói đến trách nhiệm của một nguyên thủ quốc gia là phải đặt mục tiêu phụng sự lợi ích dân tộc, đất nước lên hàng đầu; Các lãnh đạo quốc gia có lý tưởng dân chủ và bản lĩnh bao giờ cũng xử sự như thế, nhưng sự thật Cụ Hồ đã bị tước đoạt hết quyền hành, chỉ còn là một người máy biết nói theo những gi bọn Thọ mớm, vì uy-tín trong vấn đề thể hiện qua những cuộc hop ngoại giao. Nhưng chúng ta hầu như chưa bao giờ thấy cụ Hồ phàn nàn gì về quan hệ của cụ với các đồng sự khác trong Đảng Cộng Sản Việt Nam hay với lãnh đạo các nước “anh em’ như Stalin hay Mao Trạch Đông. Do đó giả thuyết trên khó biện hộ hay thuyết phục làm giảm đi trách nhiệm của cụ Hồ trong những hành động tàn nhẫn, phi dân chủ của chính thể VNDCCH. Những sự kiện nầy tôi nghĩ các sử gia hậu cận đại sẽ lý giải rõ hơn cho một nhân vật bị quá nhiều hàm oan nghiệp chướng.

Ông Tống Văn Công, một đảng viên cộng sản lão thành, cựu tổng biên tập báo Lao Động, người đã có nhiều bài viết ủng hộ cho việc cải cách chính trị, trong một bài viết gần đây có trích dẫn câu nói của HCM “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” và cho rằng đây là nội dung cốt lõi về dân chủ mà HCM đã nhấn mạnh. Theo tôi cốt lõi của dân chủ nằm ở chỗ phải xây dựng được các định chế dân chủ (democratic institutions) và bảo đảm cho sự vận hành (practice) các định chế đó được đúng đắn, đầy đủ, không bị cắt xén hay bóp méo nhằm bảo-đảm để những người nắm quyền là những người được lựa chọn từ những người có khả năng nhất trong xã hội và họ phải có trách nhiệm trước xã hội. Nói một cách giản dị là phải tạo ra các công cụ để người dân, người bị trị có thể “đuổi được chính phủ” bất kỳ lúc nào họ muốn. Vậy vấn đề là người dân trước tiên phải nhận thức được và tự tin vào sức mạnh của quyền năng tự có và từng bước đoàn kết, nỗ lực để cùng nhau giành lại các quyền cơ bản từ tay những kẻ cầm quyền độc đoán. Xã hội Việt Nam đã bắt đầu có dấu hiệu của sự nhận thức đó và nỗ lực đó rồi, tuy nhiên còn yếu và chưa đủ, nhưng cái gì chả bắt đầu từ ít và yếu như hiện nay tại Việt Nam.

Kính trọng lòng yêu nước của cụ HCM là điều phải có, nhưng tôn thờ thần thánh hoá là không thể bắt buộc mọi người, nhưng phản gián CIA buộc tam-đầu chế nầy phải dựng lên thần tượng HCM để núp dưới hòn đá tảng nầy mà độc tài chuyên chính. Không ai có thể phủ nhận lòng yêu nước của cụ HCM, trong cuộc kháng chiến chống Pháp; nhưng sự độc tài thống trị theo thể chế độc quyền của đảng với thời gian, cho thấy sự sai lầm to lớn, nhưng không thể trách Cụ vi HCM chỉ là bù nhìn, ai đem cái gọi là hạt giống Mác Lê cấy vào dân tộc và đất nước VN, nhưng sự thật là một chế độ Mafia chuyên chính do CIA và KGB dựng lên cho cuộc chiến bẩn thỉu. Khởi điểm đó là nguyên nhân chính yếu, để thế lực bên ngoài xen vào chia đôi đất nước ta, gây phân hoá Bắc Nam, tạo nên cảnh huynh đệ tương tàn, xua quân ồ ạt vào Nam, bắn giết đồng bào mình nhân danh “Chống Mỹ Cứu Nước, Giải Phóng Dân Tộc” thật vô cùng khốn nạn cho dân tộc Việt.

Lấy chống Pháp chống Mỹ làm bình phong, thủ tiêu thành phần yêu nước không CS, gây phân hoá Bắc Nam cho đất nước, tạo hận thù giai cấp trong cộng đồng dân tộc VN. Tội ác to lớn đó, công cụ gián tiếp của Mỹ là ÐCSVN có thể bưng bít với thành phần trẻ hiện nay, nhưng khó che lấp trước thành phần yêu nước, từng sống trong giai đoạn 1945-54 và suốt hơn 20 năm nội chiến. Chính sự chia rẽ đất nước dân tộc, dẫn đến HS-TS-VN bị CSTQ cưởng chiếm, CSVN chính là đầu mối, dẩn lối đưa đường cho ÐCS/TQ lấn chiếm VN. HCM đã là chuyện lịch sử, để lịch sử toàn dân Việt phân định phán xét, không một cá nhân hay đảng phái phê phán mà có được giá trị, kể cả ÐCSVN; Phán xét hay tôn thờ sẽ không còn có giá trị với thời gian, bởi cái gì ngày hôm nay được tung hô có thể ngày mai bi đả-đảo. Vì SỰ THẬT không bao giờ có thể che đậy dưới ánh mặt trời chơn lý; Sự xụp đổ tiêu vong của thế giới CS, sẽ phải đánh giá lại tất cả những gì đã sai lầm trước đây; Những sai lầm mà bắt cả dân tộc VN phải gánh chiụ gần suốt thế kỷ, về lâu về dài với gốc rễ Mác Lê còn mãi ăn sâu. Tuy nhiên nhân vật HCM là nhân vật bí ẩn nên cần tìm hiểu toàn diện trước khi khen chê toàn diện; Chúng ta nói nhiều đến dân chủ quá, lại cứ đi chê cụ Hồ. Ngày xưa cụ ra đi tìm con đường để thực hiện lý tưởng của mình và cụ là con người của hành động, nói là làm, và làm cho tới khi thành công. Mặc dù thành công này theo như mọi người thì phải để lịch sử phán xét. Nhưng còn hơn những kẻ chỉ biết nói suông, nếu chúng ta có lý tưởng thì hãy hành động để thực hiện hóa nó đi, cho nên có người cho rằng cụ HCM được thán-phục không phải vì sự thắng lợi của cụ mà vì sự phản bội của Mỹ!

Cái gì cũng có lý do của nó tại sao hiến pháp 1959 phải sửa đổi cho phù hợp với âm mưu của Mỹ muốn khuấy động lại chiến tranh, và muốn có được sự ủng hộ của phe CNXH, Liên Xô và Trung Quốc nếu không có sự ủng hộ đó thì có giải phóng miền nam được không? Tại sao cụ Hồ chỉ nói là sau giải phóng miền nam phải chỉnh đốn đảng vì làm sao cu biết được lúc đó phe XHCN sẽ ủng hộ như trước hay không!

Tôi thật thán phục cu Hồ, một người yêu nước và một vĩ nhân của nhân loại. Người là sự kết hợp nhuần nhuyễn phong cách sống đơn giản của Phật, tổ chức chặt chẻ của Chúa, tư tưởng xã hội bình đẳng, cuộc chiến chống xâm lăng, trong đường lối xây dựng đất nước và con người VN. Tôi chỉ học được ở cụ HCM là một người rất tài về cơ hội, đây là lúc phải vùng lên để giành cơ hội thay đổi thể chế chính trị cho đất nước được tự do như phương Tây có nghĩa là một nước VNCH y chang hiến pháp của Mỹ.

Trở về với cụ HCM, thời kỳ 1945 ai ai cũng thán phục cụ Hồ. Người dân trân trọng yêu kính Cu, Mỗi lần chúng ta thời đó vào Bưng Biền thăm người thân và bộ đội cụ Hồ, ai cũng xin cho được bức ảnh cu Hồ. Tôi tự hỏi, tại sao đã đuổi Tây, Nhật mà người Việt vẫn đánh nhau? Tôi tìm hiểu qua sách vở sử liệụ về HCM, phải công nhận cụ ta rất giỏi, nhiều người bật khóc khi nghe những câu chuyện “xúc động” về cụ mặc dù chưa gặp cụ lần nào, nhưng tất cả đều bị nhồi sọ, có thể trên thực tế, cụ chỉ là một con người tầm thường, nhưng chịu dấn than nằm gai nếm mật tại hang Patpo như đã lỡ lầm theo lệnh của CIA cũng chỉ vì độc lập tự do cho dân Việt, và nhờ truyền thông CS biến cụ thành một vị thánh, nhiều nhà còn thờ Bác trong nhà. Sự việc nầy là CS quá giỏi hay phản gián CIA quá giỏi đã che mắt thế gian một cách thần sầu quỷ khốc.

HCM cũng khát vọng muốn nhờ Mỹ giúp để phục hồi độc lập như Philippine, song lúc đó Mỹ cần phải khuấy động lại chiến tranh như tôi đã nêu lý-do ở trên, nên Mỹ thẳng thừng từ chối vì kẹt phải nhờ Pháp gây chiến tranh để tiêu thụ bớt số vũ khí quân dụng thặng dư còn đình động quá nhiều và Mỹ cũng muốn đem quân vào Việt Nam để thực thi sách lược CIP rất cần thiết cho sự sống còn của kỹ nghệ quốc phòng WIB. HCM không còn lựa chọn nào khác hơn là phải ngã theo Công Sản theo như ý đồ cũa Permanent Government. Rất tiếc HCM bị Liên Xô Trung Cộng kềm kẹp cứng ngắc trong xà lim CSCN suốt đời không thể dẫy-dụa được. Giò đây CSCN đã chết và HCM đã mất, dân Việt có dịp tự cởi trói xiềng xích Cộng nô cho chính mình và còn chờ đợi gì nữa mà không hòa hợp hòa giải dân tộc?

HCM thật sự thương dân nhưng không biết làm sao ngăn chận vi mình là một nước nhược tiểu bi các nước lớn chèn ép xúi dục phải nhảy vào cuộc chiến tương tàn qua trục ma-quỷ nầy dựng lên một bè lũ Mafia và dựng lên một chính phủ bù nhìn để dấn thân làm công cụ cho bọn chúng. Riêng cụ Hồ không bao giờ để xảy ra chiến tranh, không bao giờ xúi đi “giải phóng” miền Nam bởi như thế sẽ gây ra cuộc chiến chém giết giữa người Việt với nhau. Vì câu tuyên bố qua bút tích “Miền Nam trung lập, độc lập và giàu mạnh” nên cụ HCM mới bị bọn ma-quỷ nầy cách ly, tước hết mọi quyền hành; Cụ cho rằng thà để mạnh miền nào miền nấy phát triển rồi tìm dịp thống nhất trong hòa bình như trước; Khi cụ Diệm bị lật đổ, cả hai cụ đã toan cùng hiệp thương với hai miền mà có được với Mỹ đâu (như Đông,Tây Đức) hoặc cứ để nguyên vậy như Đài Loan, TQ, Nam, Bắc Triều Tiên còn hơn là dùng chiến tranh để thống nhất đất nước để rồi gây ra những vết thương cho lịch sử dân tộc mà không bao giờ lành.

Trước đây “nhờ”có thực dân Pháp nên VN tạm thời thoát khỏi ảnh hưởng của TQ kéo dài hàng ngàn năm, tuy nhiên sau khi đuổi được Pháp, cái ám ảnh ngàn năm của đất nước là TQ lại có lý do trở lại và ngày càng dọa nạt, bắt chẹt, chiêu dụ, lấn ép VN hơn bao giờ hết. Trong những rối rắm bít bùng như thế, đảng lại đem chiêu bài HCM ra gán cho ông những cái tốt mà ông không có để đánh lạc hướng dư luận, xem ra tội nghiệp cho cu Hồ, chết rồi mà cũng không được để cho yên thân. Nếu mà mọi người đều cảm thấy cụ Hồ là một vĩ-nhân, một thánh nhân, một nhà tư tưởng có giá trị của VN thì đây cũng có thể họ bị lừa bịp bởi CSVN đã thêu dệt qua CIA, thần thánh hóa cụ Hồ để đem lợi ích chinh trị đến với tính cách bip bợm và cực kỳ nguy hiểm để làm lợi ích cho CSVN mà thôi. Ðất nước VN người dân thường bị đánh lừa! và kẻ lừa bip thì chẳng ai còn xa lạ… The Unite States Permanent Government!

Queenbee-1

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?4342-T%C3%B4i-Salvo-Rockets-v%C3%A0o-hang-%C4%91%E1%BB%99ng-Non-N%C6%B0%E1%BB%9Bc

Trường La San Taberd – Ký ức về trường Taberd tại Sài Gòn

saigonxua.org

Lasan Taberd không phải một tên dể nhớ cho mọi người, nhưng ai ở lứa tuổi tôi đều biết Lasan Taberd nằm giữa lòng thành phố Sài Gòn số 53 đường Nguyễn Du là đồng nghĩa với “du-học”. Mong ước từ mái trường này chúng tôi có thể tự tin sau khi tốt nghiệp, du học nước ngoài mà không nhiều lo lắng như những sinh viên từ mọi nơi.

Tôi rời trường Hoàng Diệu Sóc Trăng vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, sau khi lệnh Tổng-Động-Viên vừa được ban hành cho những nam học sinh sanh trước năm 1955. Nhiều bạn chấp hành lệnh này và lên đường nhập ngủ. Một vài bạn trai khác, trong đó có tôi, chọn con đường khác đó là học nhảy lớp và luyện thi Tú-Tài 1 cuối cùng ở Việt Nam (kỳ thi Tú-Tài này được bải bỏ vào năm 1973). Vì lệnh nầy được ban hành ra một cách đột ngột cho nên tôi chỉ có 2 tháng để luyện thi Tú Tài 1. Hai tháng chuẩn bị thi Tú Tài thật là gay go. Tôi lên Saigon tìm giáo sư giỏi và nổi tiếng ở Sài Thành để học luyện thi. Ba ngày thi Tú Tài 1 ở Trung Học Vĩnh Long, tôi vẫn còn nhớ mãi cha và anh trai tôi tháp tùng đến Vĩnh Long để xem tôi thi. Vì giai đoạn này là giai đoạn quyết định tương lai của tôi sau này, cho nên cha tôi không ngần ngại bỏ công việc trong 3 ngày chạy lên chạy xuống Vĩnh Long để theo dõi việc thi cử của tôi. Sau khi đậu Tú Tài 1 với hạng Bình, tôi xin chuyển lớp 12B2 ở Lasan Taberd Saigon.
Vì anh tôi có ước mơ từ thuở nhỏ là mong được đi du học cho nên anh khuyên tôi nên nộp đơn vào Taberd Sàigòn vì đa số học sinh trường này khi học xong trung-học đều đi xin du-học.

Đầu tháng bảy năm 1972 tôi và ông anh tôi đến gặp Sư huynh Edmond Nguyễn Văn Công để xin vào học lớp 12B2 Tư Thục Taberd Sàigòn. Sư huynh cho biết muốn vào Taberd phải thỏa mãn 3 điều kiện – thứ nhứt đậu Bình Tú Tài 1, thứ hai phải có giấy giới thiệu của Sư huynh hiệu trưởng trường Lasan Khánh Hưng Sóc Trăng về hạnh kiểm tốt và thứ ba nộp Học bạ với điểm và phê bình tốt. Tôi nản lòng và nghĩ “ôi cha ơi sao mà khó khăn quá anh hai ơi, hay ta thử nên nộp vào trường công như Pétrus Ký xem sao chứ bây giờ em chỉ hội đủ có điều kiện thứ nhứt thôi à”. Chúng tôi hẹn với Sư huynh sẽ trở lại trong một tuần để nộp đơn đầy đủ. Nói cho có lệ chứ theo tôi cái chance chỉ có 50%. Giấy giới thiệu của Sư huynh Hiệu trưởng thì mình còn cố gắng tìm cách chứ cái học bạ làm sao tôi có được vì từ lớp đệ tam tôi đã nhảy ra ngoài để thi Tú Tài 1 thì làm sao có học bạ đệ nhị được….

Chúng tôi quay về Sóc Trăng và cố gắng tìm cách thỏa mãn 2 điều kiện kia. Tôi đến gặp thầy Phan Văn Nhiều, lúc ấy đang dạy Tóan tại Hoàng Diệu và Lasan Khánh Hưng. Tôi trình bày sự việc với thầy. Thầy Nhiều là thầy dạy Toán cũ lớp 10B1 tôi ở Hoàng Diệu và tôi là học sinh giỏi nhất lớp của thầy nên thầy không ngần ngại nhận lời cố thuyết phục Sư huynh hiệu trưởng – Frère Gabriel Nguyễn Đăng Quang và hẹn tôi ngày mai trở lại để lấy đơn giới thiệu của Sư huynh Hiệu trưởng Lasan Khánh Hưng. Trong lúc đó anh tôi tìm cách sửa cái học bạ 10B1 của tôi thành 11B1 trường Hoàng Diệu. Từ Lasan Khánh Hưng về đến nhà, vừa gặp tôi ông anh bảo “xong rồi, có học bạ rồi”.

Tôi mừng quá đổi như vừa trúng số vì không ngờ mọi việc tiến triển tốt đẹp ngoài trí tưởng tượng của tôi. Thế là như dự định chúng tôi đến gặp Frère Edmond ở Taberd để nộp đơn. Định mệnh và tương lai của tôi bắt đầu từ đây. Frère Edmond nhìn xong tất cả hồ sơ và nói “rất tốt”. Hú vía. Tôi xin thưa thêm với Sư huynh “Thưa Sư huynh em không có đạo xin Sư huynh được miễn làm những nghi lễ trong lớp như những bạn có đạo khác”. Sư huynh trả lời “Mặc dù đây là trường tư thục với xu hướng Công giáo nhưng ban giảng huấn luôn rộng mở để đón những người ngoại đạo, em đừng lo Sư huynh cho phép em được miễn làm những nghi lễ của công giáo trong lớp học nhưng ngoài ra cũng như tất cả các học sinh khác em phải tuân theo qui luật chung của trường có nghĩa là mặc đồng phục quần tây đen áo trắng với phù hiệu Lasan Taberd, mang giầy, đi học đúng giờ và tất cả những qui luật khác của nhà trường…”.

Những ngày đầu ở Taberd tôi rất bỡ ngỡ cho nên các bạn mới làm quen và giúp đỡ tôi rất nhiều như Nguyễn Ngọc Lâm, Trần Quang Nam, Lý Thanh Bình, Nguyễn Quang Thành, v.v. vì tôi là học sinh từ dưới tỉnh ra thành thị nên vẫn còn rất bỡ ngỡ với trường mới, thầy cô mới, bạn bè mới và nhứt là cách dạy học cũng mới lạ …

Đa số những cours của lớp 12B2 được các Sư huynh đảm trách ngoại trừ môn Toán do thầy Lê Mậu Thống (Chu Văn An), Địa lý với thầy Đặng Đức Kim, Vạn vật với thầy Nguyễn Văn Đàng và Triết với thầy Trương Đình Tấn. Sau kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt tên tôi chỉ được ghi vào bảng học sinh ưu tú môn Công dân (SH Trần Quang Nghiêm) mà thôi.

Sư huynh Edmond dạy Pháp văn kiêm Giám Học lớp tôi vì thế Sư huynh rất nghiêm khắc. Trong lớp Sư huynh chỉ nói chuyện bằng tiếng pháp với học trò mặc dù chúng tôi đang học chương trình Việt của trường Taberd Sàigòn – là trường song ngữ dạy 2 chương trình – Pháp (100% cours dạy bằng tiếng pháp như Marie-Curie, Jean-Jacques Rousseau, Fraternité, v.v.) và Việt ngữ. Hai buổi học 3 giờ pháp văn mỗi tuần nhưng trong lớp Sư huynh nói chuyện trăng gió gì đâu không. Dạy sinh ngữ pháp thì ít nhưng bàn chuyện đức hạnh, thời sự trong ngày và chính trị thì nhiều…nhưng bằng tiếng pháp…Và mỗi buổi học Sư huynh chỉ cắt nghĩa và đào sâu 1 vài chữ văn phạm tiếng pháp nhưng chúng tôi hiểu rất rõ và tường tận sau đó. Học ít nhưng hiểu rất sâu xa và vững chắc từng chữ tiếng pháp…

Sau kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt, tôi cảm thấy lo lắng vì chỉ vừa học xong vài chapter của cuốn Cours de Langue 2 và không biết đến bao giờ mới xong quyển sách này để có khả năng thi Tú Tài 2 … Nhưng đến cuối năm rồi tôi cũng học khá nhiều từ vựng tiếng Pháp, văn phạm vững chắc…

Sư huynh Bonnard Hồ Đình Bá dạy Anh văn. Mỗi buổi học Sư huynh mời một bà người Mỹ (Marian Thompson?) vào lớp để trò chuyện thời sự bằng tiếng Anh và sau đó bà dọ hỏi một vài câu hỏi để hỏi ý kiến của học trò. Tôi nhớ một lần cô ấy nói xong một đề tài và hỏi trong lớp có ai có ý kiến hay hỏi gì không. Do dự đắn đo một vài giây mà không thấy ngón tay nào đưa lên, Sư huynh chỉ vào anh bạn ngồi cùng bàn dãy thứ hai với tôi, anh chàng nầy sợ không biết trã lời thế nào nên nghiên đầu qua một bên thế là ngón tay của Sư huynh chỉa hướng trúng anh bạn ngồi bàn thứ 3 phía sau. Anh bạn bàn thứ ba này lắc đầu ngần ngại không đứng lên trả lời làm Sư huynh có vẻ không hài lòng lắm. May mắn thay một anh bạn khác khá tiếng anh hơn đưa tay trả lời hộ. Sau giờ đầu, cô người Mỹ ra về, Sư huynh mắn trong lớp bằng tiếng Trung “đéo mẹ chúng bay, đứa nào cũng muốn đi du-học hết thế mà chỉ có một câu tiếng anh mà không trả lời nỗi”. Sư huynh Bonnard nói với một giọng trầm trầm miền Trung. Sau tháng 7 năm 1975 tôi có dịp gặp lại Sư huynh Bonnard ở một nhà dòng Montréal và tôi có nhắc lại chuyện cũ này, Sư huynh bảo “nhờ mắn như vậy mà tụi bây mới được đi du học đó đây đấy nhé…”. Vài năm sau Sư huynh Bonnard dọn về Maryland và mất tại đây, khoảng năm 1998.

Trong lúc học ở Taberd Sàigòn, tôi cảm thấy một sự cạnh tranh mảnh liệt giữa các học sinh đến từ mọi miền trên đất nước. Cũng ở đô thị Sài Gòn này người ta mới thấy đây là môi trường rất tốt để học trò ganh đua, thi thố tài năng giữa các trường trung học nổi tiếng như Pétrus-Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Võ Trường Toản, Gia Long, Taberd, Jean-Jacques Rousseau, Marie Curie, Fraternité v…v… Các học sinh từ những trường nổi tiếng của Sàigòn thời ấy, họ có rất nhiều động cơ thúc đẩy để học tập hăng say. Tất cả họ đều muốn đi nước ngoài để tiếp tục học đại học vì có nhiều học bổng dành cho những học sinh đỗ đạt cao Tú Tài II.

Thiết nghĩ, mọi người khi sinh ra đều có trình độ trí tuệ như nhau, khi trưởng thành nếu có sự khác biệt về tài năng và sự cao thấp là nhờ môi trường và ý chí phấn đấu, điều kiện được hấp thụ từ môi trường học tập và thực tiễn…Sự cách biệt về kiến thức giữa học trò đô thị và tỉnh thành rất rõ rệt trong những bộ môn như sinh ngữ, thực tập vạn vật và hóa học. Cuối năm ấy, tôi đứng hạng thứ 5 trên 60 học sinh lớp 12B2, nhưng lại dẫn đầu ba bộ môn: toán, vật lý và công dân. Cũng tại đây tôi được thực tập mổ xẽ mấy con chuột và hiểu được phần nào những bộ phận sinh học trong cơ thể sinh vật, nhưng tôi lại ghét làm thí nghiệm trong phòng láp với những ổ điện chằng chịt và khó hiểu…

Đậu Tú-Tài II với số điểm 15/20 môn pháp văn, khá cao so với tiêu chuẩn được đi du học, anh tôi hối thúc tôi nộp đơn và được bộ giáo dục thời ấy chấp thuận qua Canada du học. Trước khi lên đường du học, tôi cũng đậu khá cao nghành cán sự Phú Thọ. Vì tôi có dịp thực hành và tiếp thu với máy móc trong công xưởng của cha từ thuở nhỏ cho nên tôi rất thích ngành cơ khí. Tôi hứa với cha là sẽ cố gắng học về cơ khí để cha được hãnh diện. Sau Tú Tài 2 là giai đoạn để lo cho tương lai. Tôi cố thi vào ĐH Phú Thọ nhưng lại trượt đành phải học cán sự Phú Thọ rồi sau đó tiếp tục lên kỹ sư cơ khí. Vì nghĩ rằng sau 2 năm Phú Thọ thì sẽ có cơ hội để tiếp tục học kỹ sư tại đây thêm 4 năm nữa. Một phần cũng vì tôi luyến tiếc về việc đi du học với tương lai mù mờ…

Gia đình tôi nói rằng học ở Việt Nam thì khó có hi-vọng mà tiến thân vì gia đình tôi là một gia đình không có giai cấp trong xã hội thì là một vấn đề khó khăn lắm. Vã lại gia-đình tôi không khá giả cho lắm, cố gắng mua được cho tôi cái vé máy bay để lên đường du học là đã quá sức của bố mẹ. Phần còn lại tôi phải cố gắng lo liệu sinh sống và tự lập nơi xứ lạ quê người…

Đặt chân đến Canada, tôi mới thấy sự cạnh tranh lại càng mảnh liệt bội phần khi phải chung đụng với nhiều sắc tộc khác như Tàu, Nhật, Phi, Arabe, Pháp, Ý, Mỹ, Tây Ban Nha, Nam Mỹ, Phi Châu và Canada. Sinh ngữ anh và pháp văn không phải là tiếng mẹ đẻ cho nên việc học hành của tôi có phần giảm sút chút đỉnh so với các cựu học sinh chương trình pháp như Marie Curie, Fraternité và Jean-Jacques Rousseau.

Trong bốn năm học, thật vất vả về mặt vật chất vì phải đi làm bán thời gian để cung cấp cho việc học hành và cuộc sống hàng ngày, tôi ra trường với mảnh bằng kỷ sư về cơ khí và vẫn tiếp tục đi làm để sinh sống. Với tấm lòng ham học và muốn có cơ hội để tiến thân, tôi tiếp tục học lên cao học. Sau bốn năm học bán thời gian, vừa đi làm vừa đi học, tôi đạt được bằng cao học về tài chánh (MBA – «Master of Business Administration – Finance»). Sau đó tôi cũng tiếp tục học thêm cao học ngành kỹ sư cơ khí.

Trải qua một quãng thời gian dài lê thê trên xứ người và lăn lộn trong cuộc sống thời sinh viên nghèo khổ cũng như lúc đi làm bình thường bằng nghề kỹ sư, có thể đã làm cho tôi gần như quên hẳn kỷ niệm với bạn bè cũ của trường Taberd.

Nhân kỳ về thăm quê hương gần đây, tôi tìm thấy cuốn Kỷ Yếu Lasan Taberd 72-73 nằm nguyên vẹn trong một góc tủ. Trong tập Kỷ-Yếu có liệt kê những cựu học sinh, giáo viên và ban giám thị trường với những sinh hoạt của trường bằng hình ảnh cũng như những trang dành để vinh danh những học sinh xuất sắc trong từng bộ môn và từng lớp. Tập Kỷ-Yếu được phát hành đặc biệt cho từng niên khóa với hình ảnh từng học sinh các lớp sắp sửa ra trường cũng như còn đang ở tại trường với đầy đủ dư liệu về tên tuổi, cảm nghĩ của các thầy cô cho từng năm học. Đây là một món quà rất quí giá cho học sinh về sau, có dịp xem lại những kỷ niệm thuở học trò…

Đã hơn 38 năm xa cách, cuộc đời trôi nổi bôn ba, nhưng những kỷ niệm thi đua học tập thời niên thiếu dưới mái trường Taberd vẫn không phai mờ trong ký ức. Nhân dịp tiểu hội ngộ với vài cựu Taberd như Đạo, Nguyễn Xuân Vũ, Nguyễn Ngọc Thuần, Việt và Tăng Hùng tuần rồi tại Montréal tạo cho tôi cảm hứng để viết vài cảm nghĩ này về trường Taberd. Nhớ những Sư huynh và thầy hết lòng giảng dạy để tạo cho đàn em những kiến thức căn bản cho cuộc đời. Có những Sư huynh, thầy và bạn đã vĩnh viễn ra đi, những người còn lại thì cái tuổi trẻ cũng không còn, là cựu học sinh Taberd nhưng dù ở phương trời xa thẳm nào, người ta vẫn không quên mái trường xưa tường vàng yêu dấu. Bao cảm giác bồi hồi khi những kỷ niệm hiện về theo trí nhớ, thầy cũ bạn xưa …

Bây giờ bạn bè cùng lớp ở tuổi trên năm mươi và cũng sắp về hưu. Chúng tôi nghĩ nhiều về Sư huynh, thầy cô đã từng dạy dỗ cho chúng ta nên người. Cho nên thông qua bài viết này như bài tỏ lòng kính trọng và cám ơn các Sư huynh và thầy cô đã dạy dỗ chúng em…

Taberd Saigon là ngôi trường mà tôi có nhiều ấn tượng nhất, vì đây là nơi mà môi trường cạnh tranh học tập mảnh liệt nhất trong cuộc đời học tập của tôi và cũng là nơi đã tạo nhiều kiến thức căn bản rất quan trọng giúp tôi làm hành trang du-học Canada năm 1973. Không thể nào quên được ngày cuối cùng đến trường để lảnh Kỷ yếu Taberd (Palmarès) và học bạ cuối năm, tôi cố gắng len lỏi vào sân tập thể thao của trường để tận mắt xem những cựu Taberd trình diễn văn nghệ như anh Joe Marcel, anh Trường Kỳ, ban nhạc Tùng Giang, v.v. Giờ đây các Frères Edmond, Bonnard, Nguyễn Ngọc Lộ, Félicien Huỳnh công Lương (Sư huynh Hiệu trưởng đã về với Chúa ngày 2-3-2010 hưởng thọ 91 tuổi), thầy Lê Mậu Thống, thầy Trương Đình Tấn, thầy Đặng Đức Kim, thầy Nguyễn Văn Đàng không còn dạy dưới mái trường thân yêu này nữa. Các thầy và Sư huynh giờ đây đang ở đâu, có còn sống khoẻ mạnh và an vui trong tuổi về hưu chăng!.

Taberd Sàigòn đã bị đổi tên sau tháng 4 năm 1975. Ngày nay mỗi khi tôi về đứng trước cổng Taberd Saigon, lòng tôi bùi ngùi và se thắt lại vì người ta đã thay vào cái bảng Lasan Taberd Saigon bằng hàng chữ xa lạ “Trường Trung Học PT Chuyên Trần Đại Nghĩa”.

Hy vọng một ngày nào đó trở về nơi xưa được nhìn thấy lại “Lasan Taberd Sàigòn”, được thấy lại các Sư huynh, bạn bè cũ, trường lớp xưa. Nhìn thấy đàn em thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, được nghe lời thầy giảng, giờ học tiếng Pháp, tiếng Anh từ ngôi trường mà từ đó tôi đã ra đi hơn 38 năm trời…

Nguyễn Hồng Phúc
Montréal Canada
(Taberd Lớp 12B2 – Khóa 72-73)

Xin hết.

Nguồn: https://saigonxua.org/di-tich/truong-la-san-taberd-ky-uc-ve-truong-taberd-tai-sai-gon.html

Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa – Ấp Chiến Lược

Trời vào Thu tháng 10, bâng khuâng nhớ ngày thành lập Đệ Nhất VNCH 26 tháng 10 năm 1956.

Mới đây, nhân nói về vụ Quảng Đức tự thiêu, có ông giới thiệu vào web Tâm Thường Định, đọc cái gọi là ” Một Số Hồ Sơ CIA Giải Mật về Cuộc Chiến Việt Nam “.

Gã nhà quê xứ Thủ ngay tình mon men vào đọc. Quen tật làm biếng, chỉ đọc các tiểu tựa, thấy toàn là những vấn đề moi móc Tổng thống Diệm và các yếu kém của chế độ nhằm mục tiêu lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm vậy thôi.

Đáng lẽ thì sổ toẹt cái cho rồi, nhưng đọc thấy cái tiểu tựa ” Chương trình Ấp Chiến Lược thảm bại lớn vì bị VC trà trộn vào ” chẳng đặng đừng click cái link vào đọc.

Cả cái điện tín mật chỉ có một câu chủ yếu: THE STRATEGIC HAMLET PROGRAM IS HIGHLY DANGEROUS BECAUSE, ALTHOUGH THE AMERICANS AND THE GOVERNMENT OF VIETNAM ARE EITHER UNWARE OF OR UNWILLING TO FACE IT, THE STRATEGIC HAMLETS ARE INFILTRATED WITH VIENAMESE COMMUNISTS (VC), WHOSE PRESENCE WILL MAKE ITSELFT KNOWN IN DUE COURSE. ( Tạm dịch: Chương trình Ấp Chiến lược  nguy hiểm cao độ bởi vì , mặc dầu người Mỹ và chánh phủ VN hoặc không quan tâm hoặc không muốn nhìn nhận, các Ấp Chiến Lược bị việt cọng xâm nhập mà sự hiện diện của chúng sẽ được xác nhận đúng lúc.)

Câu xác định nầy là một thứ xác định ” miển phí ” ( Affirmation gratuite ), nghĩa là lẽ tự nhiên, khỏi cần chứng minh. Từ thượng tầng quốc gia như Phủ Tổng thống cho đến các đồn nghĩa quân vẫn xãy ra ” nội tuyến, nằm vùng ” hà huống gì nơi các ấp chiến lược xa xôi, hẻo lánh.

Vấn đề đặt ra là: Các ấp chiến lược ấy có ngăn chận việt cọng kiểm soát dân tình, đời sống của người dân các ấp ấy hay không?

Tôi nói bằng kinh nghiệm bản thân:

Sau một năm phục vụ tại Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, tôi được thuyên chuyển về tỉnh tân lập Chương Thiện, giữ chức vụ Trưởng ty Nội an kiêm Đặc trách Ấp Chiền lược vào tháng 4 năm 1963.

Khi ấy việc xây dựng ấp mới đã ngừng lại. Công việc chính yếu lúc đó là tổ chức các đoàn ” thanh niên chiến đấu “, huấn luyện và võ trang tại chỗ.

Kết quả là lực lượng thanh niên chiến đấu phụ trợ các ” đội dân vệ ” giữ vững an ninh thôn ấp có hiệu quả.

Mặc dầu là một tỉnh kém an ninh bên rừng U Minh, các thôn ấp ban ngày khá an ninh. Chỉ khi đêm về du kích việt cọng mới xuất hiện quấy phá.

Sau đảo chánh 1/11/1963, tôi về Biên Hòa làm Chánh văn phòng Tỉnh trưởng kiêm Trưởng ban Ấp Tân Sinh ( New Life Hamlet ).

Khi đó tình hình các ấp thiệt là kém an ninh. Hầu như chỉ có các ấp ở Tỉnh lỵ, quận lỵ là tương đối an ninh. Phần còn lại là bất an ninh.

May mà Mỹ đổ quân vào đẩy lùi các đơn vị việt cọng trở vào các chiến khu, chương trình xây dựng – phát triển nông thôn mới khởi phát mạnh mẻ.

Khởi đầu, cố vấn Mỹ giúp tổ chức, huấn luyện và trang bị các đoàn ” cán bộ biệt chính ” ( Special Political Cadree ) mà thực chất là đòan cán bộ võ trang mở đường và bảo vệ các đoàn xây dựng ấp chiến lược.

Qua Đệ nhị VNCH, công tác xây dựng – phát triển nông thôn được lần hồi ổn định và cuối cùng với danh xưng ” Chương trình Bình định – Xây dựng – Phát triển Nông thôn “.

Theo như danh xưng 3 bước:

  • TỰ PHÒNG với công tác rào ấp – tổ chức đội Nhân dân Tự vệ giữ gìn an ninh thôn ấp.
  • TỰ QUẢN: tổ chức đoàn ngủ hóa dân ấp và bầu ra BAN TrỊ SỰ Ấp để tự quản trị công việc trong ấp.

TỰ TÚC PHÁT TRIỂN: Đề ra các dự án chăn nuôi – Đào ao thả cá – Đào mương dẫn nước cho nông nghiệp …

Giờ cuối, tỉnh Biên Hòa có 243 Ấp đều là ấp A- B, nghĩa là an ninh hoặc khá an ninh, chỉ có rất ít ấp kém an ninh.

Công việc làm hơn 12 năm ròng rả chỉ vắn tắt đôi hàng nhưng mỗi khi nghĩ tới bồi hồi trong dạ.

Từ những bước ban đầu ” Ấp Chiến Lược ” chỉ chú trọng về an ninh. Càng về sau càng có kinh nghiệm máu xương, vừa bình định vừa xây dựng và phát triển theo kế hoạch vững chắc và hữu hiệu.

Đời sống đồng bào nông thôn ngày càng ấm no, sáng sủa.

Bỗng nhiên giặc phương bắc ùa vào ” giải phóng ” trở thành nghèo đói triền miên và bị áp bức thậm tệ.

Ngày nay, hán ngụy vẫn khua chiêng ” Nông Thôn Mới ” mà ở miền cao:

Cô giáo trẻ chun bao nylon để anh chú kéo qua suối đi dạy.

Trò nhỏ đeo dây cáp qua sông đi học.

Bé gái tan học về đói lã người men theo cầu ván gập ghình té kinh chết đuối!

Đó là thảm cảnh xã hội ngày nay.

Mong sao bọn hán ngụy tranh giành quyền lực, giết nhau để câu sấm Trạng hiển linh mau lẹ:

” Bỉnh chúc vô minh Quang tự diệt

                                Trọng Ngân bạc Phúc sản tiêu tan “

                                 Nguyễn Nhơn

10/10/2018

Nguồn: http://quanvan.net/de-nhat-viet-nam-cong-hoa-ap-chien-luoc/

BÚT KÝ CHIẾN TRƯỜNG: KHOẢNG TỐI NHÌN LÊN – LƯỠI CÂU (phần 8)

https://bienxua.files.wordpress.com/2018/09/1434c-lt01.jpg?w=435&h=672

Ðào Ðức Bảo

Toàn đáp dạ rồi quay lui, tôi dụi mẩu tàn thuốc đã cháy nóng ngón tay xuống đất rồi ngửa cổ hớp miếng cà phê lạnh tanh. Ðã 3 ngày đêm toàn Ðại đội kiêng không nổi lửa, địch sát bên nách nên đành chịu.

Suốt thời gian rời căn cứ đến nay lan man đụng hoài khiến quân số hao hụt nặng. Theo gió lùa về đã nghe thoang thoảng có mùi hôi từ đống poncho trương phồng vì mưa nắng. Ðầu óc tôi tự nhiên như mất hẳn minh mẫn thường ngày. Tôi đang thật sự bối rối với hoàn cảnh hiện tại, lo cho những người sống kể cả những người chết. Tôi thật sự đơn độc trong trách nhiệm nặng nề của một viên Ðại đội trưởng đang bị vây hãm bởi địch quân đông gấp bội. Tôi thật sự đau xót nghĩ đến những gương mặt thân thương của thuộc cấp nay đang nằm yên trong từng chiếc poncho căng phồng nồng nặc. Mặc, chết thì thôi, còn sống tôi phải mang bằng được xác các anh em về cho gia đình dẫu phải đánh đổi bằng mọi giá. Nếu không phải vậy thì làm sao Ðại đội còn chịu bị vây hãm nơi đây suốt 3 ngày đêm. Những người sống vẫn còn thừa can đảm để vượt thoát khỏi vòng vây hãm. Nhưng chúng ta đã có với nhau quá nhiều kỷ niệm, quá nhiều chia xẻ trong các mặt trận cũng như những ngày ở hậu cứ, lẽ nào tôi và những người còn sống can tâm vứt bỏ đồng đội ở lại, làm sao chúng tôi còn có ngày ngẩng được đầu.

Cả khu rừng im vắng xen từng cơn gió xô đẩy những giọt mưa bám trên cành lá đổ xuống như có mưa bụi. Ðất ướt nhão, toàn Ðại đội như thể chui lên từ dưới hầm mỏ mà bụi than là đất quyện thuốc súng còn nồng nặc.

5 giờ 45 sáng, địch khai hỏa đồng loạt bằng đủ loại súng mở đầu cho trận tấn công như có ý đồ dứt điểm. Núi rừng vùng giao tranh sáng rực ánh đạn trong bóng đêm hỏa ngục. Những tên địch đen sẫm đang xông tới trên nền sáng của lựu đạn chiếu sáng phựt cháy. Phía Trung đội 3 đã có tiếng mìn claymore hòa tiếng thất thanh gào thét của kẻ địch trúng thương. Ðịch bò sát tiến ở cả 3 mặt. Pháo đội của Việt yểm trợ liên hồi, kéo gần, dạt trái dạt phải đều đặn từng tràng 105 ly nổ chụp. Tất cả không còn gì để lựa chọn. Nỗi gian truân và căng thẳng của những ngày qua đã khiến từng người lính trở nên huyễn hoặc trong ảo giác giữa cái sống và cái chết, như không có phân chia mà đã hòa nhập thành một. Tiểu đoàn phó Bảo và tôi, kể cả 2 y tá, kể cả 3 công binh tăng phái, kể cả 2 viên cố vấn, cả những người lao công đào binh còn sống, tất cả đã ngoài nhiệm vụ còn cộng thêm lúc là xạ thủ, lúc là phụ xạ thủ đại liên, lúc là khinh binh. Toàn thể hòa nhập làm một trong cái hỏa ngục vây hãm này. Dẫu chống đỡ thế nào thì các tuyến đã bị co lại ít nhiều. Tôi chìm trong cơn bối rối, sự sống của mọi người đang được đếm từng tiếng thong dong, đến tiếng đếm bao nhiêu thì đều chết cả hay còn ai sống được thì cũng vượt trên sự cầu mong. Mong muốn kéo được tiếng đếm chậm lại nhưng thực tế có đúng được với lòng ước muốn. Tôi gặp Trung úy Nguyễn kim Việt Pháo đội trưởng ở đầu máy của tiền sát viên Ðại đội. Âm thanh Việt dồn dập như lạc:

– Thiện Giáo, phải đã nguy lắm không?

– Ðúng vậy, cảm ơn ông đã yểm trợ tận tình, xin giúp cho các hỏa tập cũ đều kéo vào thêm 50.

Việt nhanh nhẩu.

– Rồi tôi nhận, sẽ làm ngay.

– Ông rõ địa chỉ tôi chứ.

– Tôi rõ.

– Vậy sẵn sàng khi tôi bị tràn ngập, có bao nhiêu đạn bạn phang nổ chụp lên đầu dùm tôi.

Tiếng của Việt tha thiết:

– Tôi ghi rõ nhưng cố lên bạn. Ðó chỉ là điều cuối cùng.

– Phải cố thôi, dĩ nhiên đó là điều cuối cùng, tạm ngưng nghe.

Buông máy tôi yên lòng dù súng đạn 2 bên vẫn tung những ánh lửa rọi sáng đêm khuya. Việt đã ghi nhận những điều tôi dặn, chuyện mai hậu của Ðại đội 93 đã có bạn bè giúp đỡ. Ánh lửa vẫn phụt ra từ các nòng súng nhưng bớt sáng trong cái nhờ nhờ màu sữa của ánh bình minh đang heo hắt vào góc rừng. Ðại đội không co thêm nữa, may quá, đồng đội của tôi không co thêm nữa, tất cả dường như đang là một khối, bằng lòng hoặc sống hoặc chết nên không thể co thêm nữa, không thể làm điều tự sát đó.

Ban mai đã chiếu sáng khu rừng. Tiếng Trung úy Trương đăng Sỹ Ðại đội trưởng 51 Tiểu đoàn 5 bạn cùng khóa 21 gọi dồn dập trong máy xen âm thanh dập dềnh bước chân đi:

– Thiện Giáo đây Sỹ Biên.

Tôi mừng rỡ đáp nghe. Giọng Sỹ Biên mang theo hy vọng:

– Tao đang đến mày hướng sau lưng. Ð.m., rừng rậm quá lại còn phải nhổ chốt nên lội 2 bữa nay mới tới. Chỗ mày có nước không?

– Có ngay phía trước mặt tao nhưng hiện do địch kiểm soát .

– Vậy đỡ quá, cứ có là được.

– Với điều kiện nó bán cho mày.

– Thiện Giáo, mắc mấy tao cũng phải mua, khô khan quá rồi. Thôi nghe, gắng gồng đi đợi tao tới.

Tôi thở phào len chút nhẹ nhõm, té ra các quan trên cũng đã động lòng. Gương mặt Sỹ hiện ra như mới hôm nào tôi đón nó nhẩy ra khỏi chuồng cu ở trung tâm

Dù. Nó đáp xuống rồi 2 đứa kéo nhau ăn bún riêu ở quán nhỏ sát đó. Mãn khóa nó về Tiểu đoàn 5, có 2 dịp nhìn thấy nhau trong rừng Tây Ninh, chỉ kịp đưa tay ngoắc ngoắc rồi hướng ai người nấy đi tiếp. Giọng Thiếu tá Bảo nói bên tai: Tiểu đoàn phó Ðỉnh dẫn 2 thằng 51, 53 vào trước, mày lo sắp xếp bàn giao tuyến. Tôi gọi Trung đội 4 phía sau đón toán đầu của Ðại đội 51, dặn 3 Trung đội trưởng phải giữ vững vị trí và bung ra lục soát trong lúc địch đang rút. Ðảo một vòng quanh tuyến, quang cảnh chết chóc ngập trong khói súng khiến tôi muốn tê dại. Những người lính của tôi trộn lẫn với kẻ thù chết thật vô tư, tôi không thiết tha gì đến chiến lợi phẩm. Nửa giờ sau Sỹ và tôi xiết chặt tay nhau, câu đầu tiên nó hỏi:

– Bị nặng lắm phải không Bảo, nước ở đâu.

Tôi chỉ tay ra hướng con suối nhỏ:

– Nặng, ở đó, mày ráng táp qua hướng bên kia rồi hãy lấy.

Sỹ ậm ừ:

– Ừ được rồi, tao gặp mày trễ tại không có bãi phải đổ xa, lội thở không ra hơi, chốt nó giăng như lưới nhện.

Tôi vừa nói tao biết, vừa bước đến bắt tay Ðại úy Nguyễn văn Ðịnh Ðại đội trưởng Ðại đội 53:

– Cũng tại không bãi mà tao phải ôm nhiều poncho thành vướng cẳng.

Góc bên kia 2 Thiếu tá Tiểu đoàn phó 9 và 5 đang trò chuyện. Trong máy Tiểu đoàn, lệnh Tiểu đoàn trưởng Sơn Thủy bắt tôi kéo ra ngay và cố đi ngược tìm bãi để bốc càng sớm càng tốt. Tôi cho lệnh chất đống toàn bộ súng thu được của địch, dùng lựu đạn lân tinh đốt sạch. Với tôi cái quan trọng là những người còn sống và những poncho, đống chiến lợi phẩm không có ý nghĩa gì vào lúc này. Trước khi rời vùng tôi dặn Sỹ:

– Mày ở lại cẩn thận, giờ phút này nó chơi xả láng, đầu não nó tao nghĩ rút rồi mày không hy vọng chụp được đâu.

Sỹ gật gật đầu ngoắc tay chào quay lui lo bố trí Ðại đội.

Ðường rừng xa thăm thẳm, hướng quay về nặng nề với một nửa quân số vừa chết vừa bị thương. Phải mất 2 ngày 2 đêm khiêng vác và nhổ chốt toàn bộ mới kéo được ra đến bìa rừng. Gần tắt nắng mới hoàn tất việc tản thương. Thiếu tá Bảo về lại căn cứ bằng chiếc tàu cuối cùng, tay anh vẫn thói quen giữ vành mũ sắt, hét lớn bên tai tôi trong tiếng cánh quạt trực thăng bốc gió ầm ĩ:

– Mai sớm dẫn con cái về, vài bữa nữa gặp ở căn cứ, tao về trước nghe.

Tôi đáp vâng rồi khom người chạy về hướng bìa rừng nơi sẽ đóng quân đêm trong lúc trực thăng cất cánh lên cao khuất dần trong ánh hoàng hôn. Sau 4 ngày 3 đêm bị vây hãm, sau 2 ngày đêm khuân vác đồng đội, tôi mang cả áo quần giầy saut đất cát nằm thẳng cẳng trên chiếc võng mắc giữa 2 gốc cây bìa rừng. Hết nhìn vào hướng trong rừng mỗi lúc một tối dần, cho đến lúc tắt hẳn ánh sáng của một ngày khi đêm đen đã hoàn toàn phủ xuống. Cái nơi đó, cái nơi tôi vừa rời xa, khoảng cách chỉ 2 ngày 2 đêm lội bộ, hiện nay, 2 Ðại đội đầy đủ quân số của Tiểu đoàn 5 đang trấn giữ. Nửa đêm những tiếng đạn pháo xé gió bay ngang đầu và đổ xuống vùng nơi Sỹ đóng, tôi nghe chấn động từ xa dội về. Lại thêm những chiếc đèn dù chiếu sáng dật dờ bay bay trong âm vang của các loại đạn vọng về, đơn vị bạn tôi đang giao tranh nơi mịt mùng của vùng Lưỡi Câu sâu thẳm.

3 ngày sau, buổi trưa tôi kéo Ðại đội về đến căn cứ hỏa lực. Nhớ lại những buổi trời chiều đóng quân khi vừa rút ra, không khí Ðại đội như phủ màu tang tóc. Từ Ban chỉ huy cho đến các Tiểu tổ, những mất mát những thiếu vắng gây nét trầm uất trên từng gương mặt những người còn sống. Thả dọc theo tuyến đóng quân, tôi đón nhận tiếng chào hỏi của đồng đội sao như nghe có nước, dù hình như ai cũng giả vờ bình thản để che dấu nỗi đau thương đang phủ chụp xuống từng người. Biết đâu trong đêm khuya, khi chỉ còn một mình ngồi gác giặc hay khi chỉ còn một mình úp mặt tìm giấc ngủ, những giọt nước mắt chắt chiu dành cho ngày về gia đình, ai cản được không đổ ra trong đêm vắng cho bạn bè.

Về đến căn cứ hỏa lực thay cho Ðại đội 94 của Ðại úy Tâm K18 trực thăng vận vào rừng, quân số Ðại đội tôi chỉ còn đủ đóng thưa thớt giữ an ninh phòng thủ vòng đai. Nửa đêm tôi chìm sâu trong giấc ngủ không mộng mị, cái giấc ngủ lún sâu trong nỗi tận cùng nhọc nhằn thê thảm. Tôi chợt giật mình thức giấc khi Trung sĩ I Khang đánh thức từ chân võng:

– Trung úy, có Thiếu tá Hiếu Tiểu đoàn trưởng truyền tin muốn gặp trên miệng hầm.

Tôi uể oải xuống võng, mắt hấp háy ra hướng cửa hầm mường tượng như đã có nắng lên cao, chui đầu ra gặp ngay Thiếu tá Tôn thất Hiếu:

– Trung úy Bảo, Thiếu tướng Tư lệnh gọi anh trình diện tại T.O.C. Tiểu đoàn. Rồi không đợi tôi đáp, Thiếu tá Hiếu nói tiếp với giọng dặn dò kèm ánh mắt như chia xẻ:

– Anh nhớ trang bị đầy đủ, cũng đừng quên mang thêm XM16.

XM16, cây súng trường tối tân nhất của Mỹ trang bị và vị Tư lệnh muốn các Ðại đội trưởng tác chiến ngoài cây colt 45 ly phải cầm theo nó. Có lẽ ông nghĩ đứa nào đã làm Ðại đội trưởng thì phải mọc thêm tay, ông có biết đâu ngay cây colt 45 mấy khi thằng Ðại đội trưởng có thì giờ sờ đến báng súng. Cũng lại là hình thức trình diễn tương tự cái xẻng gấp phải gài sau đít các sĩ quan lớn nhỏ sau này của mấy ông Tướng mới gắn sao. Thiếu tá Hiếu nói với lại trước khi quay đi:

– Anh cho mấy đứa lau sạch súng kẻo lỡ ỗng khám thì kẹt.

Cám ơn lòng tốt của Thiếu tá Hiếu có lời căn dặn, chẳng những không lau mà tôi cũng chẳng mang theo XM16. Chụp chiếc mũ sắt lên đầu tôi bước về hướng T.O.C. với không một ý nghĩ. À có, tôi vừa nghĩ đến đã bao ngày rồi hình như tôi chưa có dịp đánh răng buổi sáng.

Ðến cửa trung tâm hành quân Tiểu đoàn đã thấy Thiếu tá Hiếu đứng đó, ông không nói gì chỉ đưa tay chỉ vào phía trong như ra dấu muốn nói cứ vào thẳng là có sẵn ông Tướng trong đó. Tôi thừa biết anh Hiếu chả dại dột đưa tôi vào trong. Mấy năm đi bay theo ông Tư lệnh đã cho anh quá nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp, lúc nào, thời điểm nào, không khí nào thì nên ló mặt ra hoặc thu người vào. Anh đứng đó đợi tôi vào trình diện là xong việc. Bây giờ anh có thể thở hắt ra khoan khoái ngắm cảnh núi rừng Cam-Bốt buổi bình minh.

Vừa đút đầu vào phòng hành quân Tiểu đoàn đã nghe tiếng Thiếu tá Bảo đập vào tai với giọng ngao ngán: Trình Thiếu tướng, nếu Thiếu tướng check lại với cố vấn Mỹ những điều tôi vừa trình bày có gì không đúng, tôi xin tự sát ngay tại đây. Tôi hồi hộp: Thôi rồi, nhất định là căng thẳng lắm rồi. Thêm bước nữa trước mặt tôi là bóng dáng dềnh dàng của Thiếu tướng Dư quốc Ðống Tư lệnh Sư đoàn đang gườm gườm như bóng tượng đồng cùng lúc bên trái sát vách tấm bản đồ Thiếu tá Bảo dựa lưng uể oải. Tôi đưa tay lên vành mũ sắt chào và làm thủ tục xưng danh trình diện. Ông Ðống không trả lời câu anh Bảo vừa khẳng khái nói, lại hỏi ngay tôi:

– Anh là Trung úy Bảo Ðại đội trưởng 93?

– Thưa Thiếu tướng, là tôi.

Ông gằn giọng quát:

– Anh đánh giặc kiểu gì mà để thiệt hại nhiều vậy.

A, lại có người hỏi tôi đánh giặc kiểu gì để thiệt hại nhiều. Mắt liếc nhìn Thiếu tá Bảo bên trái, tôi không ngại ngùng:

– Trình Thiếu tướng, tôi đánh giặc với chiến thuật giống hệt như lời căn dặn của Thiếu tướng trước khi vào vùng.

Nguồn:

Tôi Salvo Rockets vào hang động Non Nước – Queen bee-1

Queen bee-1

Theo những điều khoản giao ước trong Hiệp định hoà-bình (Peace Talk) tại Hội đàm Paris, sau ngày 27, tháng Giêng 1973, trong phần ranh giới được gọi là Da-Beo, nếu nơi nào có lá cờ MTGPMN, có nghĩa là nơi đó thuộc phần đất của họ. Là người được Tư lệnh Không Ðoàn 41 ủy nhiệm (từ 1970 lúc nầy PÐ-213 có TTVT) chức vụ “Chống Pháo Kích, Phòng Thủ Phi Trường”. Nếu ban ngày thì phối hợp cùng Biệt Khu Quảng Ðà đổ quân tóm gọn, còn ban đêm, tôi được lệnh tiềm kích vùng tự do oanh kích (free-zone) như dưới chân núi Sơn Gà và đường di chuyển Hoả tiễn 122 và 107ly Katyusha từ thung lũng phía Tây Happy-Valley (TQLC Mỹ đặt tên) mà không cần có lệnh của B.K Quảng-Ðà.

Tôi không làm sao quên được vào sáng ngày hôm ấy (27/1/73) nơi nào có cờ MTGPMN là phần đất của Việt Cộng: Đúng 8 giờ sáng, một đoàn trực thăng CH-53 Jolly-Green của TQLC Mỹ, đồn trú tại sân bay Non Nước, bay hợp đoàn rất đẹp ngang Sông Hàn thả khói màu như từ giã vĩnh-viễn chiến trường VN, đánh dấu quân tác chiến Mỹ vào và rút ra khỏi VN cũng bằng đơn-vi TQLC nầy theo đúng lộ-trình Commando Vaught của định-kiến-3 (axiom-3). Bên cạnh đó không xa, chùa Non Nước tức Ngũ Hành Sơn, cờ MTGPMN treo chung quanh hang động. Thiết vận xa V-100 của Tiểu khu Quảng Đà đến nơi nhưng không thể nào vào được để gỡ cờ xuống vì bị B-40 và 41 dàn chào xối xả, buộc phía VNCH phải dừng lại xa tằm đạn để chờ lệnh. Trong hang động rất kiên cố, vững chắc, không có bom đạn nào mà tiêu diệt chúng được kể cả B-52. Tôi được lệnh vì cũng là người chịu trách nhiệm an ninh vòng đai phi trường, hướng dẫn hai chiếc trực thăng võ trang trực chỉ về phía Non Nước với hai sĩ-quan Bộ binh ngồi cạnh 2 ghế sau, Đại tá Chi huy trưởng Đặc khu Quảng-Ðà và Thiếu-tá Quận trưởng Quận Hòa Vang.

Một đoàn xe phóng viên báo chí ngoại quốc đang qua cầu Delattre, trong đó có tam trùng Phạm Xuân Ẩn làm việc mật thiết với các phóng viên CIA đội lốt, nổi tiếng như Walter Cronkite, Robert Shaplen, Kenneth E Sharpe, Neil Sheehan… Nếu họ đến kịp chụp hình và quay phim ở đây thì coi như Saigon mất phần đất nầy trong mô hình tình trạng Da-Beo, đúng theo mưu đồ của các phóng viên CIA nầy, nhưng …?

Hai chiếc trực thăng võ trang đang làm vòng tròn trên bầu trời Non Nước chờ nhận chỉ thị của vị có thẩm quyền; Vị Ðại-tá rống cổ gọi vị Tư lệnh Vùng-1, Tướng Ngô Quang Trưởng, nhưng chẳng thấy ông chịu trả lời (kể từ giờ phút nầy khó mà hiểu được lập trường của Tướng Trưởng, Mỹ có thể giữ vợ con ông để làm con tin?) Ðây là một sư kiện rất quan trọng, táo bạo, nên nói thật ra chưa chắc ai tin, nhưng không thế che mắt thế gian trong thanh thiên bạch nhựt như thế nầy, kể cả địch và bạn, dân và quân đều thấy, cả ngàn người đều biết, và dĩ nhiên những hình ảnh sự kiện nầy sẽ được lưu giữ trong National Archives của Mỹ và điều đương nhiên các phóng viên nầy phải nói lên trong báo chí dù rằng họ quá thất vọng khi không chụp được những bức hình có giá trị và sống động theo đơn đặt hàng!

Nhiều câu hỏi trong đầu tôi: “Tướng Trưởng là một vị Tướng tài, làm nhiều nhưng nói ít, vị Tư-lệnh duy nhứt mà tôi rất kính trọng, ông luôn đi sát với lính trong bất cứ tình huống nào; không đồn bót nào mà ông không ghé thăm để động viên binh lính nhưng có một điều chắc chắn là Tướng Trưởng rất nghe lời Mỹ? Sự nhậm chức Tư Lệnh Vùng-1 nầy là không do TT Thiệu mà do sự đặt để cũa Mỹ để tái chiếm Cổ-Thành Quảng Trị vì còn quá sớm, chưa đúng thời điểm (Decent Interval) hoàn thành mục-tiêu “định-kiến-1” (axiom-1) Nếu Võ Nguyên Giáp làm ẩu thì 3 pháo hạm và B-52 sẽ tiêu diệt ngay.

Tôi hối thúc: “Đại tá quyết định lẹ đi tôi e không kịp!”

Đoàn xe chở báo chí bắt đầu quẹo phải 90 độ xuống phía Nam Non Nước, có nghĩa là còn 12 phút nữa sẽ đến đây.

Tôi thét to lên: “Đại tá quyết định nhanh lên… nhanh lên!”

Chờ thêm vài phút nữa mà vị Ðại tá không có ý kiến gì chỉ có rống cổ kêu gào vị Tư lệnh cố-tình lánh mặt (chiến tranh VN có ẩn nhiều bí mật bên trong khó mà hiểu nổi) Tuổi trẻ dễ điên tiết; Tôi nổi điên, liều mạng, không sợ sệt hay do dự; tức khí chửi thề loạn xạ lẫn-lộn với tiếng phẫn nộ chát-chúa a-tòng của động cơ, rồi đơn phương ra lệnh cho chiếc võ trang số hai chuẩn bị vào trục tác xạ

– “Hai… Chuẩn bị vào đội hình tác xạ”

Tôi bật nút an-toàn lên vị trí tác xạ từng hai trái hỏa tiễn một lần.

– “Một… vào trục”

Để cho đoàn xe không trông thấy, tôi chúi mũi lấy trục từ Nam lên Bắc, song song với bờ biển. Bấm nút tác xạ, hai trái hoả tiển hai bên phụt ra bay chệch bên trái của hang động.

– “Hai…vào trục”

Hai hoả tiễn phụt ra xuống thấp hơn, trúng vào chiếc nhà lá trước hang động bốc cháy. Nhà nầy thường trưng bày bán những mặt hàng như: còng đeo tay, tượng Phật, sư tử, con cá bằng loại đá thạch điêu khắc. “Không sao … chiến tranh phải chịu chấp nhận sự rủi ro tàn phá, nhưng cũng may không có một ai nơi đó!”

Tôi bắt đầu vào trục lần thứ hai, không thể chậm trễ được vì đoàn xe gần tới nơi, cũng không thể chúi mũi tác xạ như phi cơ khu trục chiến thuật hay bay cao như B-52 vì như thế tạc đạn cũng như bom không thể lọt vào hang động. Như thế thì không cách nào tiêu diệt để hạ cờ chúng xuống, mà phải vào trục nằm sát song song với mặt đất để cho cái cửa hang động được phô diễn tối đa trước tầm mắt của phi công lúc nầy mới bóp cò hỏa lực.

Tôi ra lệnh chiếc thứ Hai cùng “Salvo”có nghĩa là chơi hết hoả tiễn cùng một lúc vì không còn kịp nữa rồi – Tôi bật nút salvo

– “Mộ… vào trục”.

Tôi nheo mắt nhìn vào máy nhắm gunsight, bấm nút, phi cơ như muốn khựng lại trong tích-tắc, các hoả tiễn bay vèo ra để lại làn khói trắng mông lung với mùi vị khó ngửi. Tiếng nổ ầm ầm vang dội trở ngược, những cột khói toả ra dựng đứng xung quanh hang động.

“Ah … Có được hai trái chui vào hang động”, tôi định ra lệnh cho chiếc Hai ngưng tác xạ vì hai trái chui vào được là đủ sức tiêu diệt những ai dẫu nằm sâu trong đó. Nhưng đã trễ, chiếc Hai đã vào trục; Chiếc Một của tôi đang quẹo gắt qua phải tách rời trục tác xạ, lượn cánh nhìn những cuộn khói trắng đục đang luồn lách trong hang, bốc lên từ từ chậm chạp phủ kín những kẽ đá chung quanh.

Tôi lẩm bẩm “Nam mô A Di đà Phật, mong rằng các Thầy không còn ở trong Chùa” thì cũng vào lúc nhiều tiếng nổ ở dưới bụng phi cơ của tôi khiến Trực thăng của tôi phải chao đảo trong chốc lát vì sự nhiễu loạn không khí theo sau một loạt nổ liên hồi của salvo.

– “Hai… báo cáo hết hỏa lực”

Chỉ mới bay vòng lại, thì thấy binh sĩ tiểu khu Quảng Đà và thiết vận xa V-100 tiến vào, trong nháy mắt cờ VNCH mọc lên thay thế cờ MTGPMN. Một lát sau, đoàn xe phóng viên, ký giả báo chí ngoại-quốc đến thì mọi việc đã xong xuôi. Tôi không cần quan tâm gì đến hai vị ngồi phía sau phi cơ, rồi ra lệnh cho chiếc thứ hai về phi trường Đà Nẳng đổ xăng.

Như vậy, tôi phải bị ra toà án quân sự hay ít nhứt cũng phải chịu phạt 60 ngày trọng cấm bị gia tăng vì bất tuân thượng lệnh, thi hành oanh kích không có lệnh nơi thượng cấp. Trung tướng Trưởng đã có chỉ thị rõ ràng: “Các anh em phi công khi thấy xe tăng, Molotova, bộ đội BV di chuyển trên đường Hồ Chí Minh, dù trong tầm oanh kích của ta thì cũng đừng hành động gì; cứ để cho chúng tiếp tục vào Nam!” Có nguồn tin cho rằng Tướng Trưởng muốn cho họ đi qua để nhẹ áp lực Vùng-1, nhưng có người cho rằng vì áp lực của Mỹ có dính dấp đến các điều khoản đã ký trong bản hiệp định Paris. Có một lần phi tuần viên A.37 đã không tuân theo phi tuần trưởng oanh kích theo dấu đánh trái khói hướng dẫn của L-19 quan sát mà lại oanh kích vào đoàn xe nhỏ nên làm cho phái đoàn CS đàn anh bị tử thương. Viên phi công nầy bị tù trọng cấm vì không thả đúng mục tiêu như phi tuần trưởng dẫn đạo cho cuộc oanh kích; Anh giảng-giải nguyên nhân thả khơi khơi trong núi phí bom đạn, khi có mục tiêu rõ ràng sao không thả. Hậu quả anh bị tù trọng cấm nhưng không nặng lắm. Còn lần nầy tôi oanh kích vào Ngũ Hành Sơn, trước mắt các báo chí quốc tế thì chắc chắn đi đoong cuộc đời binh nghiệp rồi còn gì! Cùng với Vùng-2, ở phía Bắc Kontum, phi công Phạm Gia Đôn oanh kích tiêu diệt đoàn xe molotova mà Tướng Trưởng vừa tha. May thay cho tới ngày mất nước, hai phi công vô kỷ luật nầy được các đại quan tha mà Ma cũng không thèm bắt…

-Tự nhận định hành động vô kỷ luật của mình, đứng trên vị trí là một chiến sĩ yêu nước của QLVNCH, vì Tổ-quốc, Danh-dự, và Trách-nhiệm tôi hoàn toàn đúng, nhưng về quân kỷ thì tôi hoàn toàn sai, “oanh kích không có lệnh của thượng cấp”
-Ðứng trên lập trường Dân Tộc, tôi sai… tôi chỉ đúng 33%+ vì dân tộc Việt Nam hiện tại có ba màu cờ!
-Ðối với quốc tế và tinh thần Hiệp định hoà bình Paris 27/1/1973 tôi hoàn toàn sai
Phải thành thật phản-tĩnh, tự kiểm trả lại tính trung thực cho lịch sử để các sử gia hậu cận đại dễ bề đúc kết, nghiên cứu, góp nhặt những dữ-kiện với các liên hệ thực tế về cuộc chiến Việt Nam mà thế giới cũng như ông Tổng Thư Ký LHQ, U-Thant cho rằng “Một cuộc chiến bẩn-thỉu, cuộc chiến không có kẻ thắng người bại, mà chĩ có duy nhứt một sự tàn phá khủng khiếp về người và vật”

Queen bee-1