Nước mắm là nước mắm – Vũ Thế Thành

Vũ Thế Thành

Tôi được giới thiệu một khách Ý tại một hội chợ cách nay vài năm. Cà phê chuyện vãn một hồi, ông bạn (trẻ) mới quen người Ý nói, nước mắm mà anh thấy ở hội chợ là có nguồn gốc từ Ý, có tên gọi là garum, cách nay cả hơn 2.000 năm.Và anh thao thao bất tuyệt về garum với vẻ tự hào. Nói rất bốc, nhưng khá bài bản với những gì tôi đã đọc về lịch sử garum ở châu Âu và Địa Trung Hải. Đợi cho anh ta xả hết máu tự hào, tôi hỏi:– Thế bạn có phân biệt được mắm và nước mắm không? (fermented fish and fish sauce). Same same– OK, vậy anh có phân biệt được fish sauce và nuoc-mam or Vietnamese fish sauce không?– Same same– OK, Vậy màu, mùi và vị của garum và nuoc-mam có same same không? (Are their color, smelling and tasting, and in all flavor same same?) .– Ngắc ngứ !Tôi nói, anh có biết để làm nuoc-mam, phải có tối thiểu cả 3 điều kiện:– Cá phải nhỏ để enzyme trong ruột cá “nhảy” ra khỏi ruột để phân giải protein thịt cá cho ra đạm amin tạo vị. Enzyme phải phân giải (disassociate) thịt cá càng sớm càng tốt để cạnh tranh với phản ứng phân hủy gây thối (decompostion). Mùi vị nước mắm sau thời gian ủ chượp 6-8 tháng mới thơm được.– Cá phải mập thịt mới phân giải ra nhiều đạm acid amin, vị nước mắm mới ngon được. Cá cơm (anchovy) và cá nục (Carangidae) ở vùng biển VN có cả 2 điều kiện trên.– Thời tiết phải nóng quanh năm, từ 35 – 40 độ C thì phản ứng lên men mới hoàn hảo được.Sao? Ý, châu Âu,.. có những điều kiện cá và thời tiết này không? Còn dịch (drip) rỉ ra từ cá và muối chỉ là cách bảo quản ngàn đời nay. Bạn lên miền Thượng, như vùng Tây Bắc, Đông Bắc… của Việt Nam để ăn thử món thịt trâu gác bếp ở đây xem có giống thịt xông khói của châu Âu không? Hay lại cho rằng dân Thượng nơi đây học cách làm thịt xông khói của Tây ?Khỏi cần thử tôi cũng biết mùi vị garum giống như tôi lấy bánh đa (rice-pancake) xúc ăn với Casu Marzu xứ bạn vậy. Casu Marzu là loại phó mát có giòi, đặc sản của Ý, có mùi rất…tàn bạo.Ướp muối hay xông khói là bản năng sinh tồn của nhân loại, nhằm bảo quản đồ ăn, chẳng ai học ai cả. Garum làm từ cá và muối. Nước mắm cũng làm từ cá và muối, nhưng garum không phải là nuoc-mam. Absolutely!Từ Garum đến nước mắm ViệtẨm thực phương Tây hiện đại đã bắt đầu dùng nước mắm như một loại gia vị để nêm nếm trong các món ăn. Nêm nếm thôi, chứ dùng như loại nước chấm (ăn sống) với món thịt luộc, cá lóc nướng trui… thì Tây chưa dám! Như thế cũng là hội nhập ẩm thực Tây – Ta lắm rồi. Sự hội nhập quốc tế này làm nảy sanh việc tranh giành nguồn gốc nước mắm, với nhiều tình tiết suy diễn ly kỳ.Garum là… garumChâu Âu cho rằng “nước mắm”, loại chất lỏng có được từ sự lên men muối và cá, đã có từ thời cổ Hy Lạp, thời đế quốc La Mã còn đang tung hoành, đại loại cách đây gần 2.500 năm. Họ có bằng chứng hẳn hòi chứ không nói khơi khơi. Dấu vết là những bình cổ mà họ cho là để đựng “nước mắm” được tìm thấy ở thành phố cổ Pompei (thuộc nước Ý ngày nay). Họ gọi thứ nước này là garum hay liquamen. Thật ra, garum không chỉ làm từ cá (không vẩy) mà còn từ nghêu sò vẹm… Và rồi, thứ nước thần thánh này theo con đường tơ lụa, truyền vào châu Á.Nói thế thì nghe có mùi… eurocentric (mọi thứ đều quy về châu Âu) quá! Chuyện đời đâu có đơn giản để hiểu, hễ thứ nước có được từ cá và muối đều gọi là nước mắm.Bảo quản là vấn nạn muôn đời của người thượng cổ, trung cổ, thậm chí cho tới thế kỷ 19. Nông sản có vụ, tôm cá có mùa. Chăn nuôi giết thịt heo bò, ăn không hết phải để dành. Để dành thì phải bảo quản, mà cách bảo quản sơ khai nhất là hun khói và muối. Châu Âu, châu Á, châu Phi… hay châu gì cũng thế. Bản năng sinh tồn dạy họ: Khói và muối, chứ chẳng ai truyền cho ai cả.Thuở ban đầu, nhân loại làm mắm để bảo quản tôm cua cá mực… Muối bất cứ loại thủy hải sản nào cũng đều cho ra mắm, nói nôm na là mắm cái, hay mắm nguyên con.Mắm là sản phẩm của quá trình lên men, khi mà một phần (chỉ một phần thôi) protein của thủy sản được phân giải (tạo vị), rồi làm cơ thịt của cá mềm ra và dịch lên men ứa ra từ cá. Đồng thời phản ứng phân hủy xảy ra cũng góp phần tạo ra mùi đặc trưng của mắm. Gọi là góp phần vì mùi mắm còn do tác động của vi khuẩn kỵ khí nữa.Dịch là thứ tinh túy từ cá. Tùy loại cá, tùy cách lên men, thứ dịch ít ỏi đó có khi lại thơm ngon (tùy khẩu vị) và quý hiếm. Hiện nay một số công ty Nhật vẫn tìm đến các cơ sở làm mắm cái ở miền Tây để mua thứ nước dịch này đem về chế biến lại.Cũng có tài liệu cho rằng, garum làm từ cá nhỏ, thêm ruột cá (?) và muối, rồi đem phơi nắng. Nước tạo thành là garum và chất sệt còn lại gọi là allex.Nước mắm là… nước mắmLàm nước mắm thì cá phải nhỏ, chỉ cỡ ngón tay trở lại. Sao vậy? Vì enzyme phân giải protein nằm trong ruột cá. Cá nhỏ thì enzyme từ ruột cá mới dễ thoát ra để hoạt động. Vì vậy, mức phân giải protein cao, nước mới ra nhiều (sản phẩm chính), và “mắm cá” chỉ còn là… xác bã. Rồi còn phải ủ chượp để có môi trường kỵ khí sanh hương.Làm nước mắm kiểu Việt Nam, thì nước mắm là sản phẩm chính, còn xác mắm hay bã mắm là sản phẩm phụ. Trước đây bã được đem làm phân bón, sau này vì lý do môi trường nên thành phế phẩm….Dịch “nước mắm” là “fish sauce” thì sượng lắm.
Thứ nước có được từ cá và muối, Tây cổ gọi là garum, Tàu gọi là ngư lộ, Nhật là gyoshō, Hàn Quốc là aekjeot, Philippine là patis… Còn tiếng Anh, gọi chung chung fish sauce.
Làm nước mắm công phu lắm, có khi mất cả năm hoặc hơn, hương nước mắm mới chín ngấu. Đó là chưa kể phải là nơi có khí hậu gần như nóng quanh năm và có nguồn cá thích hợp.
Châu Âu, Nhật – Hàn, Tàu là xứ lạnh, muốn lên men cá phải chượp ít muối. Ít muối thì sản phẩm mùi hăng, nặng lắm, do phản ứng phân hủy chiếm ưu thế.
Nhật – Hàn thường chỉ làm “nước mắm” từ mực, bạch tuộc hơn là từ cá. Màu sắc và mùi vị của loại “nước mắm” này thì miễn bàn.Miền Trung Nam bộ làm nước mắm từ cá cơm hoặc cá nục nhỏ xíu nhiều đạm, nên dễ lên men, lại ủ lâu nên hương vị cũng hoàn toàn khác. Từ miền Trung Bắc bộ trở ra, nước mắm cũng được làm từ cá nhỏ, nhưng là cá tạp, lại gặp thời tiết không thuận lợi, lạnh nhiều hơn nóng, nên phải đánh khuấy cho nát, cá mới lên men được. Mùi nước mắm, dĩ nhiên, nồng hơn nước mắm khu vực phía Nam.
Chỉ riêng nam-pla của Thái Lan là gần gũi với nước mắm Việt Nam hơn, nhưng cũng chưa thể đạt tới đẳng cấp như nước mắm Phan Thiết và Phú Quốc. Thái Lan xem ra phát triển về mắm hơn là nước mắm. Cũng nên biết nước mắm Thái hiện nay hầu hết là nước mắm công nghiệp (dùng hóa chất). Và nếu cần, gọi Thái Lan là “ông tổ” của nước mắm công nghiệp cũng không sai.
Do đó, “nước mắm” mà dịch sang tiếng Anh là fish sauce thì nghe… sượng lắm. Có ai dịch sandwich hay hamburger là bánh mì kẹp thịt đâu. Nước mắm là nước mắm, không thể dịch là fish sauce được.
Vũ Thế Thành

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/10/nuoc-mam-la-nuoc-mam-vu-thanh.html

‘Bài Hương Ca Vô Tận,’ nhạc tình mùa chinh chiến của Trầm Tử Thiêng

Vann Phan

SANTA ANA, California (NV) – “Hát nữa đi Hương, hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương/ Hát nữa đi Hương, hát lại bài ca tiễn anh lên đường…”

Bìa nhạc phẩm “Bài Hương Ca Vô Tận” của nhà phát hành Minh Phát năm 1967. (Hình: Tài liệu)

https://f7b8b1be83e1485f2627031848ac3a6f.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-38/html/container.html

Hương ơi! Trong giây phút biệt ly, xin em chớ để tâm hồn nặng câu lưu luyến mà hãy hát lại bài ca tiễn anh lên đường làm nhiệm vụ người trai thời ly loạn, cho dù đây cũng là điệu nhạc buồn muôn thuở của quê hương mình trải qua bao cuộc xung đột triền miên, từ thời thực dân xâm lược cho đến thời nội chiến từng ngày.

Nền hòa bình mà cả hai miền Nam, Bắc đã tốn biết bao xương máu mới giành được từ tay thực dân, đế quốc nay lại đang có nguy cơ tiêu tan chỉ sau ba, bốn năm tồn tại, vì tham vọng của bên này cứ muốn giành lấy độc quyền cai trị đất nước chứ không muốn để cho bên kia cùng tồn tại trong hòa bình, thực hiện quyền tự quyết định lấy tương lai chính trị và kinh tế của người dân sinh sống trên cả hai miền đất nước.

Và nếu không có sự đồng thuận nào về tương lai của dân tộc thì không ai biết chắc được cuộc chiến huynh đệ tương tàn này sẽ kéo dài cho tới bao giờ, trong khi cái chuyện miền Nam và miền Bắc có cơ hội được thống nhất một nhà để vợ chồng khỏi chia lìa, anh em không xa cách và mẹ con được sum vầy phải nói là một điều may mắn quá hiếm hoi.

Vậy thì, xin em cứ tiếp tục hát lên những bài tình ca quê hương muôn thuở, đừng bận lòng làm chi vì những khắc khoải đợi chờ cái ngày vui đoàn viên ấy: “Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu/ Cuộc phân ly may lắm thì qua mau/ Hát nữa đi Hương, hát để đợi chờ…”

Mặc dù đất nước mình đang lâm cảnh chinh chiến đau thương, khiến cho quê hương xơ xác, điêu tàn đến thế, nhưng “Hương ơi! Sao tiếng hát em nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào…” làm cho lòng người càng thêm nao nao xúc động.

Những khúc hát mà em ca, cho dù về những cuộc tình nồng thắm, hay ngay cả những đoạn tính buồn dang dở, những tan tác, điêu linh, bãi bể nương dâu mà người dân lành phải hứng chịu trong khói lửa chiến tranh cũng đều khơi dậy những rung động dạt dào như thuở nào trong lòng người dân miền Nam hiền hòa: “Dù em ca những lời yêu đương, hay chuyện tình gãy gánh giữa đường/ Dù em ca nỗi buồn quê hương, hay mưa giăng thác đổ đêm trường…”

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng chụp vào Tết năm 1975. (Hình: Đỗ Thái Tần)

Nhìn em ca thấy cả một trời hoa mộng, đôi môi em mấp máy dịu dàng và làn tóc mềm mại bồng bềnh như chơi vơi trên bờ vai em rung động nhẹ nhàng, vậy thì cứ hát mãi nghe em, để cho má em thêm tươi hồng và để cho người em giữ mãi nét thanh xuân: “Hát chuyển vai em tóc xõa bồng mềm, dịu ngọt môi em/ Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già…”

Không còn nghi ngờ gì nữa, giọng hát ngọt ngào và dạt dào tình cảm của em chính là món quà vô giá mà em thừa hưởng được từ mẹ hiền qua những bài hát ru con, những câu ca dao mà mẹ hát cho em nghe ngày em còn nằm trong nôi, và giờ thì em hãy hát cho cha nghe để người thấy ấm áp tuổi già: “Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi, mẹ ru em câu hát dài buông lơi/ Hát để yêu cha ấm lại ngày già…”

Rồi giọng hát đó của em bỗng chuyển thành não nuột với những ca khúc kể lể những đau thương của người dân vì cuộc chiến tranh phá hoại của Cộng Sản tại Miền Nam Tự Do mặc dù hòa bình đã đạt được ở hai bên bờ sông Bến Hải chia đôi đất nước, với những đoạn cầu đường mà người dân đi lại bị phá hủy, những chiếc xe đò chở người bị phục kích giữa đường và đoàn xe lửa Xuyên Việt vừa được chính quyền Quốc Gia tái lập thỉnh thoảng lại bị giật mìn làm hư hại, tất cả chỉ là nhằm phục vụ cho sách lược phá hoại nền kinh tế thời bình của miền Nam Việt Nam.

Thật không thể nào tưởng tượng nổi cái tàn khốc của chiến tranh khi cả một khu rừng đầy hoa thơm, cỏ lạ trên quê hương mến yêu bỗng một sớm, một chiều trở thành bãi chiến trường loang máu người đồng chủng: “Hát nữa đi Hương, câu nhạc thành nguồn gợi chuyện đau thương/ Hát kể quê hương núi rừng đầy hoa bỗng thành chiến trường…”

Chiến tranh ngày càng lan rộng, khiến cho hoạt động sản xuất nông nghiệp tại nhiều nơi bị đình trệ, và tại một số thôn làng chỉ thấy còn những cánh đồng trơ trọi, trên đó lúa dường như quá hoảng sợ đến độ không dám đơm bông, mặc dù các nông dân cần cù vẫn ngày ngày cày sâu, cuốc bẫm để có được hạt gạo nuôi sống con người.

Trong khi “Đồng tan hoang nên lúa ngại đơm bông” thì những chàng trai thế hệ phải đành lòng xa làng xóm thân yêu, vui vẻ lên đường nhập ngũ để bảo vệ non sông, tạo nên cảnh vợ trông chồng, mẹ chờ con trên quê hương nay không còn ánh trăng thanh bình nữa: “Thuyền ham vui nên nước còn trông mong…” Như thế đó, hỏi sao giọng hát em không nghe não nuột canh trường: “Khiến cả đêm thâu tiếng em rầu rầu?”

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đứng sau máy quay một chương trình truyền hình Người Việt. (Hình: Tài liệu)

***

“Bài Hương Ca Vô Tận” là một trong những bài hát đầu tay do nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sáng tác hồi cuối thập niên 1950 trên quê hương miền Nam Việt Nam và đã được nữ danh ca Thái Thanh trình bày, lần đầu tiên, tại Sài Gòn hồi năm 1959.

Đặc biệt, nhóm từ ngữ “Bài Hương Ca” ở đây không hẳn có nghĩa là “ca khúc mà một người con gái tên Hương hát lên” do bởi chữ Hương được viết hoa như một danh từ riêng. Theo một số tác giả nghiên cứu về dòng nhạc Trầm Tử Thiêng, “hương ca” ở đây có nghĩa là “ca khúc viết về quê hương,” nhưng vì tác giả đã tình tứ hóa và lãng mạn hóa hai chữ “hương ca” bằng cách viết hoa chữ “Hương” để mọi người nghĩ rằng đây là ca khúc do một nàng ca sĩ tên Hương hiền dịu trình bày. Và đây không phải là một bài hương ca bình thường mà là một bài “hương ca vô tận.”

Quê hương của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (tên thật là Nguyễn Văn Lợi) ở mãi tận xứ Quảng Nam. Người nhạc sĩ tài hoa này xuất thân là một nhà giáo ở Sài Gòn, và khi nhập ngũ thì phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trầm Tử Thiêng sáng tác rất mạnh, cả khi ở trong nước lẫn khi sống lưu vong tại Hoa Kỳ.

Ngoài “Bài Hương Ca Vô Tận,” các nhạc phẩm nổi tiếng của Trầm Tử Thiêng còn gồm có “Kinh Khổ,” “Đưa Em Vào Hạ,” “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy,” “Hòa Bình Ơi! Việt Nam Ơi!”, “Trộm Nhìn Nhau,” “Đêm Nhớ Về Sài Gòn,” “Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng,” “Mười Năm Yêu Em,” “Cám Ơn Anh” (với Trúc Hồ), “Bên Em Đang Có Ta” (với Trúc Hồ), “Một Ngày Việt Nam” (với Trúc Hồ)…

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tại Trung Tâm Học Liệu. (Hình: Tài liệu)

Theo tác giả Đông Kha trong “‘Bài Hương Ca Vô Tận’ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng – Những lời buồn bất tận của một thuở phân ly” trên trang mạng nhacvangbolero.com, ngày 29 Tháng Bảy, 2020, thì bản nhạc của Trầm Tử Thiêng còn có một phiên khúc cuối mà ít người hát, như sau đây: “Hát nữa đi Hương, câu nhạc bình thường một giờ đau thương/ Hát nữa nghe Hương cho rộn lòng ai ở ngoài chiến trường/ Chờ em ca cho ấm nguời ra đi, mình yêu thương trong tuổi đời si mê/ Hát nữa đi Hương đón nhau ngày về”(Vann Phan) [qd]



Nhạc phẩm “Bài Hương Ca Vô Tận”

Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương.
Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường.
Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu,
cuộc phân ly may lắm thì qua mau
Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ.

Đ.K:
Hương ơi… sao tiếng hát em,
nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào
Dù em ca những lời yêu đương,
hay chuyện tình gãy gánh giữa đường.
Dù em ca nỗi buồn quê hương,
hay mưa giăng thác đổ đêm trường.

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/bai-huong-ca-vo-tan-nhac-tinh-mua-chinh-chien-cua-tram-tu-thieng/

NGƯỜI THƯƠNG PHẾ BINH NGÀY TÀN CUỘC CHIẾN.

Cam Huynh

hinhkhiem

Hình Khiêm Tháng Tư năm 1975.

Hắn và tôi cùng ngồi chung một lớp từ năm bước vào lớp Đệ Thất. Hắn con nhà giàu đẹp trai. Ba hắn có chức có phận làm việc trong Chính phủ thời Việt Nam Cộng Hoà.Năm 1965…1966…1967 Quận Xuân lộc hoang sơ chung quanh là lô cao su là vườn cà phê đi vòng quanh mấy bước là giáp vòng cái quận. Thời đó cùng lớp với tôi đa số là con nhà lính, còn lại là con nhà chủ vườn cây ăn trái, vườn cà phê, con mấy ông có chức có quyền. Trong lớp chia làm hai nhóm ranh giới rõ ràng, con nhà lính đến trường bằng xe “ lô ca chân” con nhà quan con nhà giàu bảnh bao chạy xe Honda 67… Yamaha. ..Honda Dame bóc khói..

Tôi và hắn học chung mấy năm liền hình như chưa bao giờ ngồi lại nói chuyện với nhau, hắn đẹp trai nhất đám con trai, lúc nào cũng gọn gàng tươm tất, tan trường hắn chiếm chệ trên chiếc Yamaha quần Pat ống loa xoè ra phành phạch trong gió cùng mấy chàng con nhà giàu lượn qua lượn lại… thấy ghét

Bọn tôi con nhà lính mà người ta thường có câu “tiền lính tính liền” mà y như vậy lương lính của ba tôi chỉ đủ nuôi vợ nuôi con tháng nào hết tháng nấy, cuối tháng mong cho tới đầu tháng lảnh lương , nên con của lính cuộc sống rất khiêm nhường. Nhà nghèo nhưng cũng phách lắm tôi không thèm để ý bọn con trai con nhà giàu cùng lớp, chê mấy chàng ”nhóc tì”

Lớn lên một chút biết làm điệu biết mắc cỡ trước đám con trai tôi nghinh cái mặt với bọn hắn, ghét tôi nên đặt cho tôi cái tên “trái táo” rồi cười hô hố, chắc tại tôi vừa mập vừa lùn..

Tôi quê, tôi giận Rồi lên lớp lớn hơn tứ tán chàng vào Đại học, chàng vào quân ngũ chàng hoa nở trên cổ áo, chàng mang “cánh gà” trên tay áo thiệt là đẹp. Con gái đứa lấy chồng đứa ngước cao hơn tiếp tục mài ghế nhà trường. Tôi bỏ Xuân Lộc trôi nổi kiếm miếng ăn cái mặc phụ giúp cho má cho ba bớt cái gánh trên vai, năm đó ba tôi giải ngũ về làm thường dân Bỏ Xuân Lộc tôi lấy chồng, mấy năm không về. Sau năm 1975 theo gia đình bên chồng về lại cái quận nhỏ ngày xưa, với bao kỷ niệm thời học trò…

Một ngày tôi gặp hắn trên đường ngược chiều, tay bỏ ra ngoài tay kia trong túi áo khoác.. Tôi nhớ liền tên của hắn…Nguyễn Hồng Khiêm, ngày nay hắn chững chắc bụi đời quá…Hỏi ra mới biết hắn bị thương trong trận đánh cuối cùng tháng tư năm 1975 còn mấy ngày nữa mất Xuân Lộc, hắn đã để lại một bàn tay trong cuộc chiến khi vừa qua tuổi hai mươi.

Làm thường dân sau cuộc chiến, hắn mặc cảm nên bên tay kia lúc nào cũng trong túi áo khoác…Tôi thương hắn thương những chàng trai trong thời binh lửa đã để lại một phần thân thể của mình trong cuộc chiến. Thương những chàng vừa hẹn hò với cô bạn học để rồi ra đi vĩnh viễn bỏ lời hẹn ước nửa chừng. Bạn tôi hắn cũng độc thân chưa vợ, ba hắn cũng bị bắt đi tù mãi mãi không trở về, hắn mồ côi mẹ khi còn rất nhỏ, hắn may mắn có được người chị tuyệt vời chi luôn bảo bọc thương đứa em không may mắn, ngày tàn cuộc chiến thành thương phế binh không ai công nhận. Chị lo cuộc sống cho hắn, từ đó hắn ẩn thân lo chăm sóc làm rẫy làm vườn cà phê của gia đình, thỉnh thoảng chạy ra phố lấp ló ngó thiên hạ. Hắn việc gì cũng làm được, cuốc đất làm vườn.

Tôi thường lan man trên YouTube tìm xem những clip về chiến tranh ngày Việt Nam trong cơn khói lửa, tôi bắt gặp “Phim Tài Liệu Về Những Ngày Cuối Cùng Của Miền Nam Việt Nam. Người dân di tản ngày 22/04/1975 tại Long Khánh, Trảng Bom, Vũng Tàu”. cảnh người dận chạy loạn có anh lính bị thương ôm bàn tay được tản thương, nhìn giống hắn quá. Tôi gọi cho hắn …Thì ra là hắn “Nguyễn Hồng Khiêm..”Tôi nói với hắn từ nay ông không còn phải mặc cảm nữa ông đã góp phần máu và thịt của ông cho đất nước..

Ông được phóng viên chiến trường của nước Pháp làm phóng sự, thế giới nhìn thấy ông. Hãnh diện và tự hào với chính mình với bạn với đất nước … Người chiến binh của QLVNCH nhé Nguyễn Hồng Khiêm…..Hắn cười Cám ơn cái tình bà dành cho tôi, những chàng trai trẻ của chúng tôi luôn hãnh diện là mình đã góp phần cho đất nước, dù ngày tàn cuộc chiến trở về hình hài không còn nguyên vẹn, sống trong cảnh đói khổ, thiếu ăn thiếu mặc.

Tôi vẫn tự hào tôi là người Quân Nhân của QLVNCH.Tôi đùa với hắn Bỏ bàn tay ra khỏi áo khoác khoe với đời..Hắn cười kè ..kè Quen rồi bà ơi…. tại hồi còn trẻ đi cua đào mắc cờ dấu … Nên quen ….Mỗi năm có dịp về họp bạn tôi và hắn thân nhau xích lại gần như thân thuộc. Qua rồi cái tuổi háo thắng ngạo mạn, ngày nay chúng tôi đã bước vào cái tuổi 6..con số thật đẹp. Thương bạn già thương “Người Thương Phế Binh” ngày tàn cuộc chiến.

Viết Tặng Nguyễn Hồng Khiêm

Feb 10. 2020

Cam Huynh

Nguồn: http://www.tongphuochiep.com/index.php/bao-chi/van/30368-ngu-i-thuong-ph-binh-ngay-tan-cu-c-chi-n-cam-huynh

QUÂN LỰC VNCH: ĐẶC KHU RỪNG SÁT ( RỪNG SÁC ) – TỈNH GIA ĐỊNH.

CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUÂN SỬ – QUÂN LỰC VNCH :

onnguosuviet.com

13 Tháng Mười 2021

Rừng Sác hay Rừng Sát (?) và Forest of Assassins (?)
Theo sách cổ Sác, chữ Nôm là rừng ngập mặn trên bãi sình lầy. .Cây sác còn gọi là cây mấm, mọc rất nhiều trong khu rừng ngập mặn này.. (còn có các cây ngập mặn khác như sú, vẹt, bần, đước.. ) chà là (nipa palm?), dừa nước..
Sát có thể giải thích là cây mọc sát mặt nước (?). Sát còn có nghĩa là Sát nhân, do đó Người Pháp gọi là Forêt des Assassins và Người Mỹ chuyển thành Forest of Assassins
Sác và Sát có thể là do cách phát ngôn của Người Miền Nam, không phân biệt c và t (?)
Khu vực Rừng Sác có hai con sông chính : Sông Lòng Tảo và sông Soài Rạp.. Hai nhánh sông này tách nhau tại Nhà Bè (Nhà Bè , nước chảy chia hai)
•Sông Lòng Tảo, chảy xuống hạ lưu khoảng 7Km lại tách hai : một nhánh giữ tên Lòng Tảo và nhánh kia có tên là sông Đồng Tranh : hai nhánh này đổ ra biển tại cửa Cần Giờ. Sông là thủy lộ chính để tàu bè ra vào Sài Gòn : Các tàu có tầm nước 12m có thể dùng thủy lộ bất cứ lúc nào, nhưng các tàu trọng tải lớn hơn phải chờ thủy triều.. Tàu bè thường mất 5 giờ để đi từ Cửa biển vào Sài Gòn.
Sông Lòng Tảo là tên gọi gom lại của 4 sông, dài khoảng 45Km : từ biển vào phải qua Vịnh Gành Rái bên sông Ngã Bảy, qua Mũi Nước Vận, theo một đoạn sông Lòng Tàu , sau đó qua Ngã ba Đồng Tranh, vào sông Nhà Bè đến Sài Gòn.
•Sông Soài Rạp chảy qua Tân nhơn, Rạch Vàm.. và ra biển theo Cửa Soài Rạp. Sông tuy có bề ngang rộng hơn sông Lòng Tảo nhưng lòng sông cạn , tuy nạo vét nhiều lần nên không thuận tiện cho tàu thuyền lớn khi vào cảng Sài Gòn.
•Di chuyển trong khu vực hoàn toàn dùng thuyền..Ngoại trừ tại Cần Giờ có một đoạn hương lộ dài 13Km nối Cần Thạnh đến Đông Hòa nhưng không sử dụng được do CS phá hoại..
•Hải Sử Tuyển Tập ghi : ‘ Chỉ trên một đoạn bờ biển dài độ 20Km, có 4 cửa sông rạch lớn của các dòng sông Soài Rạp, Đồng Tranh, Ngã Bảy, Rạch Tà chen..Những con sông đều có những bãi bùn lan xa ra cửa biển, nên dòng sông thường bị cạn, nhất là ở mạn dọi Gành Rái. Cửa Cần Giờ có bãi cát kéo dài đến 3Km. Cửa sông Soài Rạp rộng nhất trong các cửa sông ở Rừng Sác mở ra từ 5-8Km..
Các sông lạch ở Rừng Sác như sông Cái Giáp, sông Thị Vải, sông Gò Ga có độ sâu từ 15-20m. Riêng sông Ngã Bảy nối liền với sông Lòng Tảo là sâu nhất. Đoạn Vịnh Gành Rái có nơi sâu đến 29m..”
Vài điểm lịch sử :
Một số tài liệu khả tín ghi nhận những cư dân đầu tiên đến cư trú trong khu vực Rừng Sác vào thế kỷ 18, là những dân chạy loạn trong cuộc chiến Việt-Chân lạp và họ tạm ngụ tại Cần Giờ..khoảng 1802, một số dân di cư từ Phú Quốc đến và lập 3 ấp thuộc Làng Cần Thạnh..
Lúc Pháp khởi đầu cuộc đô hộ, họ đã buộc các dân thuộc các giáo phái chống họ, từ Cầu Địa Tây Ninh đến sống tập trung tại các vùng Thạnh An và Đông Hòa..Do mật độ dân cư còn thưa thớt nên người Pháp khuyến khích dân đến tái định cư tại Rừng Sác. Dân đến định cư sinh sống bằng các nghề đánh cá, khai thác củi, hầm than và trồng lúa (An thới Đông, Lý Nhơn).. cây ăn quả (Đông Hòa)..
Trong thời gian Nhật chiếm đóng Đông Dương, quân Nhật tuần tiễu vùng bờ biển và sông Lòng Tảo nối biển với Sài Gòn. Sau chiến tranh một số lính Nhật đã không chịu đầu hàng và trốn tránh trong khu vực Rừng Sát.
Khi người Pháp trở lại, HQ Pháp tuần tra và kiểm soát khu vực bằng một Dinassault (Hải đoàn Xung Phong của Pháp) có thêm sự trợ lực của 2 LCU, 1 LSIL và 1 LCT (tàu sửa chữa) (2). Pháp cũng đặt thêm 6 tiền đồn (quan trọng nhất là đồn Ngã Ba Đồng Tranh) dọc sông Lòng Tảo để ngăn chặn các vụ cướp bóc trên sông..
Năm 1954 , Lực lượng Bình Xuyên với sự yểm trợ của Pháp, chiếm đóng khu vực Rừng Sát và dùng làm căn cứ chống Chính Phủ của TT Ngô đình Diệm.. Căn cứ chính của Bình Xuyên là Giòng Chùa , một ngọn đồi nhỏ, cao hơn mặt nước 20m.
Giai đoạn này Rừng Sác thuộc Tiểu khu Chợ Lớn..
Ngày 21 tháng 9 1955, Quân đội Quốc Gia Việt Nam mở cuộc Hành quân Hoàng Diệu tấn công Lực lượng Bình Xuyên đang lập căn cứ chống Chính Phủ trong Rừng Sác . Trận đánh duy nhất tại Rạch Lá, một trung đội quân Bình Xuyên bị hạ, sau đó toàn bộ bị bao vây và ra hàng..

lt-dkrs

Về phương diện Hành chánh:
•Năm 1959 Chính phủ VNCH tách Quận Cần Giờ để lập Quận Quảng Xuyên thuộc Tỉnh Phước Tuy
•Năm 1965 hai Quận này chuyển sang thuộc Tỉnh Biên Hòa
•Năm 1970 Cần Giờ và Quảng Xuyên trở lại thuộc Tỉnh Gia Định.
Cần Giờ có 5 xã : Cần Thạnh, Long Thạnh, Đồng Hòa, Tân Thạnh và Thạnh An. Quận lỵ đặt tại Cần Thạnh.
Quảng Xuyên cò 4 xã : An Thới Đông, Bình Khánh, Lý nhơn và Tam thôn Hiệp. Quận lỵ đặt tại An thới Đông.
•Vài điểm về địa lý :
•Tài liệu Hải Quân VNCH:
HSTT trang 326 ghi : ‘Đặc khu Rừng Sát (chữ t) giữ một vị trí chiến lược quan trọng vì bao gồm mọi thuỷ lộ đưa từ biển Thái bình dương vào Sài Gòn và là cửa ngõ của Thủ đô Sài Gòn ra biển. Nằm giữa hai sông Lòng Tàu và Soài Rạp .Đặc khu Rừng Sát là một vùng đất dài khoảng 35Km, ngang 30Km với toàn đầm lầy và hàng ngàn con lạch chằng chịt . Các tàu bè viễn dương muốn đến SaiGon phải qua Vũng Tàu , và sau đó đi khoảng 70Km đường sông ngoằn ngoèo để cập bến Sài Gòn. Địa thế Rừng Sát rất hiểm trở, con nước lên với vận tốc 4 gút và cao khoảng 2.4m , khi rút xuống để lại một bãi sình lầy lún đến ngang ngực”
•Tài liệu Hoa Kỳ:
Theo tài liệu ‘Rung Sat Special Zone’’ (1965) : Đặc khu Rừng Sát Nằm cách Sài Gòn 43 Km (20 miles) về phía Nam/Đông-Nam, Đặc khu gồm 2 Quận Quảng Xuyên và Cần Giờ. Phía Bắc giáp các Quận Nhà Bè và Nhơn Trạch, phía Đông giáp các Tỉnh Long An và Gò Công. Ranh giới phía Nam là Biển Đông và phía Đông giáp Phước Tuy.. Diện tích khoảng 710 Km vuông (485 square miles)..Đặc khu đặt dưới quyền chỉ huy của Hải Quân VNCH, Bộ Chỉ huy đặt tại Nhà Bè (1); và về phương diện hành chính và tiếp liệu trực thuộc Tỉnh Gia Định.

Đặc khu Rừng Sác – dòng sông cũ

•Những hoạt động Quân sự :
Quân Lực VNCH :
Ngày 8 tháng 2 năm 1962, Chính Phủ VNCH công nhận Sông Lòng Tào là thủy lộ chính nối liền Sài Gòn và biển Đông và thiết lập Đặc Khu Rừng Sát, bộ Chỉ huy đặt tại An Thới Đông và trực thuộc Biệt khu 32 Chiến thuật. Lực lượng quân sự cơ hữu ban đầu của Đặc khu chỉ có hai Đại đội Địa Phương Quân.
Năm 1964 , Đặc khu Rừng Sát được giao cho Hải Quân VNCH điều hành về mặt quân sự (an ninh và hành quân). Đặc khu do một Sĩ quan HQ cấp Đại tá chỉ huy cùng 2 phụ tá cấp Trung tá: một về HQ và một về BB (Đặc khu trưởng sau cùng là một SQ TQLC) và có thêm sự yểm trợ của một SQ Không quân biệt phái liên lạc.
Lực lượng Bộ binh cơ hữu gồm 2 TĐ ĐPQ và 4 ĐĐ biệt lập (ĐPQ), giữ nhiệm vụ bảo vệ thủy lộ, đóng tại các đồn dọc lòng sông như Thiềng Liềng, Ngã Ba Giàng Xây, Tắc ông Nghĩa, Đập Đá Hàn, Ngã Ba Đồng Tranh.. Một pháo đội 105 tăng cường. Năm 1974-75 Đặc khu có TĐ 359 ĐPQ lưu động.
Lực lượng Hải quân gồm 2 Giang đoàn Xung phong, 1 Giang đoàn trục lôi và Liên đoàn Tuần thám. Ngoài ra còn có sự tăng phái của Liên đoàn Người nhái (LDNN)
Về Không quân , một biệt đội 2 trực thăng tăng phái..
Đặc khu trưởng (khi HQ chịu trách nhiệm) đầu tiên là các SQHQ Diệp Quang Thủy, Nguyễn Quốc Thanh và sau cùng là Đại tá TQLC Cổ tấn Tinh Châu.
(Ghi chú : Tại Quảng Xuyên có 5 ĐĐ ĐPQ và 2 Trung đội Nghĩa quân trú đóng tại Bình Khánh (ĐĐ 999), Tam thôn Hiệp (ĐĐ 117), Lý Nhơn (ĐĐ 782)và Tắc Ông Nghĩa (2 ĐĐ 902 và 601); Tại Cần Giờ có 5 ĐĐ ĐPQ (các ĐĐ 361, 647,783, 809 và 875) và 6 Trung đội Nghĩa quân cùng một Biệt đội An ninh-Tình báo ĐPQ. Lực lượng Cảnh sát gồm 48 nhân viên..Bộ Chỉ huy đặt tại Cần Thạnh..

Lực lượng CS .
CS dùng tên Ngụy trang T10 cho khu Rừng Sác sau đó đổi thành Đoàn 10
Năm 1966 , quân số CS tại Rừng Sác khoảng 600 quân chia thành 6 đại đội, 2 đội công binh hoạt động dưới nước (sau gọi là đặc công nước) , một đội cối 82 và DKZ 57. [D-1 hoạt động từ Đồng Tranh-Phước Khánh trách nhiệm tấn công Kho xăng dầu Nhà Bè ; D-2, trách nhiệm khúc sông Lòng Tảo từ Đồn Tắc Ông Nghĩa đến Tân Thạnh ; D-3 và D-5 khúc Đồng Tranh đến Tắc ông Nghĩa ; D-4 khu vực Sông Soài Rạp ; D-6 vùng Lý Nhơn]
Lực lượng du kích , địa phương khoảng 300 quân : các đơn vị có khả năng hoạt động như Du kích Xóm Thít (Tam thôn Hiệp) ; Du kích Bình An (Xóm lá)..chuyên lo phá hoại các Ấp Tân sinh của VNCH..
Cuối 1967 được tăng cường thêm 1 ĐĐ Công binh nước từ miền Bắc xâm nhập .. Năm 70-71, quân CS bị thiệt hại quá nặng hầu như không còn khả năng hoạt động. Từ cuối 1971, quân tăng viện từ miền Bắc giúp tăng quân số lên 14 ĐĐ : Từ hai cụm tập trung quân ở phía Nam Chàng Hảng và Sông Ông Kèo, Đoàn 10 rải quân trên tuyến 50Km từ Vũng Tàu lên hai bờ sông Lòng Tảo đến Nhà Bè..
(Sử CS ghi chép : từ cuối 1965 đến 30-4-75 Đoàn 10 đánh 595 trận, diệt 6200 quân địch, đánh chìm và bắn cháy 365 thuyền chiến, đắm 133 tàu tử 800-13 ngàn tấn và hạ 29 trực thăng ?! ..những con số..không tưởng !)
Tuy phải giữ nguyên tắc : ‘ thiệt hại phe mình phải giữ kín, hạ thấp và tăng số quân địch bị hạ (Việt-Mỹ) lên tối đa, nếu cần cứ tự tạo..’ Nhưng CS phải nhận :
“Hơn ba năm từ 1969-1971, 324 chiến sĩ, cán bộ Đoàn 10 lần lượt ngã xuống.. chiếm gần 1/2 số liệt sĩ Rừng Sác trong 8 năm (tổng cộng trên 800). Năm 1970 mỗi ĐĐ còn 10-15 người, quân số bổ xung không qua được hành lang ngăn chặn của quân Mỹ, Úc, Thái Lan..Súng B-41 chỉ còn 4 quả đạn..thuốc nổ chỉ còn 2 quả bom lép; Giữa 1971 đội vận tải.. chạy gạo (đội 84 tải gạo từ Nhơn Trạch, Thị Vải ) , hy sinh 1/3 quân số.. D- 5 chỉ còn 9 tay súng.. mỗi chốt chỉ còn 2-3 người..”
(Sẽ Tiếp Theo)

Nguồn: https://onnguonsuviet.com/p104a546/chuong-trinh-nghien-cuu-quan-su-quan-luc-vnch-

NHỮNG CÁI…KHÔNG BAO GIỜ QUÊN – CUA-ĐINH

CUA-ĐINH

Tưởng nhớ đến: Lâm Đế, Trọng Khẹt, Hảo Caribou..(tiếp và hết )

PHI VỤ TÀU PHÉP – dòng sông cũ

Về việc Tướng VC :Trần Độ.Tiện thể sẳn nhớ kể luôn việc nầy:
Chắc chư liệt vị còn nhớ tin Tướng VC Nguyễn chí Thanh ăn bom B52 , rồi chẳng bao lâu sau đó là trận tổng tấn công của VCvào dịp tết Mậu Thân 1968 thì báo chí , đài phát thanh lại loan tin rùm- beng là Tướng VC Trần Độ bị tử thương khi đánh vào Saigon!
Thế rồi mấy năm nay lại nghe tin có Tướng Trần Độ” phản kháng “chế độ, đòi sửa đổi nầy nọ…v.v . Ủa lại ông Trần Độnào nửa đây? Và gần đây nhất năm vừa qua ,Tướng “phản -kháng”(?) Trần Độ trước khi chết có gửi một lá thư lên bộ chính trị CS phân trần gì đó, có đoạn “ …trước đây Tâm lý chiến của Mỷ Nguỵ đã từng khai tử tôi “….Ý nói là phao tin đã chết.Thì ra chỉ có một ông mà chết hai lần.Lần sau nầy mới chết thiệt.Còn lần trước….dỏm ; không phải do Tâm lý chiến vẻ ra đâu; mà do quý quan An ninh,Tình báo của ta…nhầm:Cớ sự như vầy:
Những ngày sau tết Mậu Thân,PĐ vẩn cung ứng 1 trực thăng H34 ứng trực nằm tại sânTổng Tham Mưu để thi hành mọi phi vụ cấp thiết mà bên đó cần. Hôm đó anh Trần quế Lâm (Đế)ứng trực.Trong phi vụ tải thương ở ngoài ven đô phía Phú Lâm -Phú Thọ Hoà,ngay bải nghỉa trang; Lâm Đế thấy có những xác VC chết nằm rải rác,nhưng đặc biệt gần cái gò mả có 6,7 caí xác chết toàn mang súng K54 có vẻ như đám cận vệ ,nằm quanh một cái xác nọ có vẻ là… Ông Kẹ .Anh mới về báo sự nhận xétcủa anh với những vị chức- sắc bên TTM. Đến khoảng 3giờ chiều cùng ngày ,tôi được lệnh bay qua thêm một chiếc nửa tăng cường để chở thêm mươi quân nhân cơ hữu của TTM đổ bộ xuống ngay nghỉa trang đó, nhằm bảo vệ cho quý vị trách nhiệm bên chiếc của anh Lâm xuống xem xét.Khi tôi đáp xuống thì có 4,5 VCở đó mang súng ngắn hoảng sợ , chạy tán loạn ra ngoài ruộng , anh cơ phi của tôi xả súng đại liên ,nhưng chỉ thấy đạn bay tốc bụi đất gần chổ mấy tay VC chạy ,chứ chẳng trúng tên nào cả!Lính trên tàu tôi nhảy xuống bố trí cho chiếc của anh Lâm làm việc.Sau đó chiếc của anh Lâm mới … rinh một xác chết đem về TTM để giảo nghiệm.!
Xong nhiệm vụ tôi về lại PĐ ,một lúc sau Lâm Đế gọi phone về cho biết ,sau khi giảo nghiệm tử thi , lấy dấu tay..vv..và sưu tra lý lịch thì xác nhận đó là Tướng VC Trần Độ .Tin tức được loan truyền ra từ đó .Nghe tin đó anh Đặng kim Quy và anh Nguyễn hửu Nhàn giật mình ,hú hồn ,vì biết bộ chỉ huy VC đã về vùng nầy từ lâu ,mà hai anh đâu có biết; thường nhờ anh em PĐđi bay thả xuồng đó để …..bắn cò bằng súng carbine,rồi một chút đến rước về ! Củng may vì muốn giử bí mật nên hai anh không bị…làm thịt.

Đến bây giờ lại nghe tin về Trần Độ nửa, thì ra là ..bé cái nhầm.!
Tôi không dám ý kiến hoặc so sánh ngành an ninh tình báo của.ta,nhưng tin- tức thời sự gần đây thấy tình báo của DoThái mới hết sẩy!Làm sao mà thu lượm được tin tức một cách chính xác ngày giờ của các thủ lảnh Hamas di chuyển ,mà dùng trực thăng xịt rocket tiêu diệt từng người một!Chỉ riêng việc bắn rocket trúng phóc ngay chiếc xe là mục tiêu đang di chuyển , tôi củng bái phục rồi,tôi nghĩ chắc có laser hướng dẩn nên mới chính xác như vậy;chứ trực thăng vì có độ rung nhiều và tốc độ chậm hơn khu trục, nên bắn rocket rất ..rất là dể trớt quớt lắm.Ngoài ra còn phải kết hợp tin tức về giờ giấc ,lộ trình xe cộ… vv để cho máy bay xuất hiện đúng lúc nữa.Như vậy mới là siêu đẳng ,là bậc sư tình báochứ! Còn dân Palestine củng không vừa gì ,củng dể nể thật!!
Còn ta thì sao???Có hay biết gì không mà để cho bọn VC ;chỉ riêng việc tấn công vào các đô thị với quy mô lớn như vậy trong tết Mậu Thân , ắt hẳn củng làm chúng ta phải suy gẩm nhiều lắm..!!
Bạn bè xưa năm củ…
Hôm nay ngồi viết lại những dòng nầy ,trong lúc hồi tưởng lại chuyện xưa của những năm từ 1964 đến 1969,tôi không khỏi bồi hồi tấc dạ,củng gần 40 năm rồi mà sao cứ ngở mới đây thôi, hình ảnh những gương mặt chưa một nếp nhăn ,vóc dáng trẻ trung,những mái đầu xanh, những lúc kêu gọi tên tục của nhau mà chọc phá đùa giởn , sao mà nhớ quá ,sao mà thương vậy!Nhớ tất cả mọi người trong PĐtừ anh văn thư nhớ đi…và nhất là,làm sao mà quên được anh em Hạ sỉ quan cơ phi ,xạ thủ,cùng bay bổng sống chết với nhau trên một con tàu.
Thế sự thăng trầm ,vận nước nổi trôi ,vở tổ đàn chim tứ tán muôn phương… kẻ mất, người còn…mà xa nhau vạn dậm.!
Âm hưởng hai câu thơ củaVủ Đình Liên nghe sao mà thấy nao lòng:
Những người muôn năm củ
Hồn ở đâu bây giờ?!

Không thể kể hết ra đây ; xin nhớ đến một số người…..với hổn danh mà anh em trong đơn vị gán cho vì dáng vẻ ,hoặc vì sao đó do cái trực giác cảm nhận mà thốt ra rồi chết tên luôn ,khác hẳn với bí danh bí số của mấy anh Ba VC có suy tính để nghe thật êm dịu hoặc có vẻ chân chất thiệt thà, mà ” lận “mả tấu ,dao găm ở trong bụng và che dấu âm mưu thủ đọan gian manh !
Nhớ đến,:Anh Nguyễn kim Bông,Bông( Cô Tông )không rỏ nguyên nhân vì sao có danh đó, lúc tôi mới về PĐ thì đã có sẳn tên rồi,có lẻ Cô Tông là loại Bông vải.(?),bên Trưc Thăng còn mấy anh tên Bông nửa ,không cần nhớ nguyên họ tên ,chỉ cần nói Bông Cô Tông là biết ngay Ổng Không Đoàn Trưởng.
Anh Nguyễn văn Lắm ,Lắm U-NU, vì anh có gương mặt… lảnh tụ giống Thủ Tướng 0U –NU (?)của Miến Điện Tác giả đặt tên tôi,Cua Đinh đây rồi!Anh Lắm à:
Dù nhớ lời anh nói,nhưng thời gian bị tù cải tạo vì mợ cả Đọi thường trực ở trong bao tử nên tôi củng ăn nhiều “đồ” độc lắm (“đồ “là tiếng Nam ,chứ không phải tiếng Bắc đâu nhé): nhái qué chuyện thường không kể; con muổm nướng lên gọi là tôm càng bay;con rít rừng to màu xanh đen nướng lên ăn mà nhớ tới bang trưởng cái bang Hồng Thất Công(trong truyện Kim Dung)cắc kè ngon như thịt gà dể gì kiếm;rắn mái gầm nếu gặp, nó có… gầm lên xin tha mạng củng không được ân xá;chuột rừng hoạ-hoằng mới gặp.Coi vậy chứ tôi ăn uống củng có trình độ lắm nghe anh,chuột trong trại thật to ,lông thưa có lát chút đỉnh chắc củng già yếu rồi khi thấy người ta cứ thủng tha thủng thỉnh đi chứ chạy…. không nổi là tui chê!cùng với mấy con bò cạp nghĩ chắc là không có thịt thà bao nhiêu nên tôi củng không rớ!Vì mình ở trên rừng nên không gặp con cua đinh, chứ nếu gặp tôi củng đâu có ngán ,cái đời mình lúc đó kể như… cùi rồi sợ gì lở.Anh thấy toàn là đồ độc không? Mải đến bây giờ sáng nào ngủ dậy tôi củng nhìn xuống bàn tay xem có móng nào rụng chưa?Xin thưa chưa anh ạ!Chắc cở ..40 năm nửa lận !!!-Anh Vũ quang Triệu , về làm PĐT 211 năm 1969,có tên Triệu Voi ,hiền lành chân thật ,to lớn ,khoẻ mạnh đến độ thuở còn bay H19 lúc máy bay bị servo off ,tay lái nó nặng kể gì mà anh vẩn ung dung đáp nhẹ nhàng và có lần nắm cái núm indicator của Chân trời giả để reset; kéo … nhẹ thôi mà nó sút ra nên có biệt danh từ đó, chức vụ cuối cùng mới có… Không Đoàn Trưởng,ngườimà nhà văn Dương hùng Cường coi là có thiên phú vì biết lái máy bay trước khi biết cởi…. xe đạp.(??) .!Về sau có anh Nguyễn văn Thành bay UH1 củng vóc dáng và gương mặt hao hao giống nên củng được “ăn theo” hổn danh là Thành Voi !
Anh Nguyễn thanh Cảnh ,tướng đô con ,hiền lành nhân hậu có tên Quách Tỉnh; anh là người Huế nói giọng nghe còn nặng ,nhớ hồi anh còn là PĐ Phó 211, đầu năm 1969,trong một phi vụ đổ quân ,anh bay chiếc chỉ huy C&C ,tôi là Copilot,khi thám sát bải đáp, hoặc địa điểm nào nghi ngờ anh ra lệnh cho cơ phi ném khói đánh dấu để cho gunships bắn phá dọn bải:
– Đôi đi!
Anh cơ phi nhanh nhẹn ném 2 quả khói màu , rồi một chút nửa lại nghe :
– Đôi đi !
Lại một cặp khói màu , rồi cứ mổi lần có lệnh là một cặp , một cặp bay ra .Tôi củng không để ý sao anh cơ phi xài sang vậy , đến một lúc anh báo :
– Khói màu mình còn ít lắm Th / tá
– Tai sao không đôi mổi lần một quả thôi?
Lúc bấy giờ mới bật ngửa ra : Đôi đi là ném đi ,mà anh cơ phi hiểu nhầm đôi là hai nên mổi lần ..chơi một cặp !
Trong Phi Đoàn đa số pilot đều biệt danh ,có đến gần ¾ .Như các anh LỘC :
-Nguyễn hửu Lộc, Lộc Bừa vì anh có hàm răng hơi chênh một chút , qua bay cho biệt đoàn 83, tiền thân PĐ219 sau nầy, anh là PĐT một PĐ UH1 ở Biên Hoà ,anh baybổng… khỏi chê !dáng vẻ cao ráo hào hoa.Thuở còn hàn vi anh cùng với một số anh khác như K .Phát, anh Ninh, Ông kim Sanh…và nhiều người nửa…tôi củng có mặt,thường hay chung vào mấy cái phòng trống mà cờbạc, điều đặc biệt ít thấy khi nào anh thắng lắm!Nghe đâu bây giờ anh ở Cali,củng gần thiên đàng hạ giới Las Vegas,không biết anh có thường lên đó để ân oán giang hồ không? Đừng làm”thầy …cúng” nửa anh Lộc nhé!Nếu không đi thường thì lâu lâu củng nhớ phải duy trì khả năng chứ, đã biết rồi mà để lâu nó quên….uổng!Miệng ăn mắm ăn muối nhắc bậy ,anh bỏ qua cho!

PHI VỤ TÀU PHÉP – dòng sông cũ

– Lê văn Lộc , Lộc Bụng vì anh có cái bụng của bà bầu bốn tháng ;anh đã mất tại Vùng 4 vì SA7;
-Anh Lộc Khò, nghe danh không thôi củng đủ biết ,rất dể ngủ hể “xểnh ra “là ngủ, đi biệt phái vừa mới chợt tối , anh em còn đang đùa giởn ,cải nhau ỏm tỏi ,mà đã nghe tiếng khò khò của anh rồi, vì vậy anh em mới đùa rằng thằng nầy nếu mới cưới vợ, ngay đêm động phòng mà tân giai nhân còn đang nhẩn nha trút bỏ đồ phụ tùng, tế -nhuyển nầy nọ,quay lại là anh đã khò mất rồi , đối với anh có lẻ… ngủ là đủ rồi ,nên hiện thời anh vẩn còn” ở vậy”chưa có chị nào” nâng chăn sửa chiếu “cả; anh rất hiền hay cười cười chẳng mếch lòng ai,hiện anh còn kẹt lại ở VN ;
-Anh Phạm văn Lộc ,Lộc Đại Hàn anh từ Vùng 2 đổi về PĐ 211 cuối năm 1968,giống đến nổi Đại Hàn thứ thiệt ,có một lần nọ còn tưởng là phe nhà nên đã xổ tiếng Triều Tiên líu lo với anh một lúc ,sang đến Mỷ vẩn còn nặng nợ với nghiệp cầm …cần lái máy bay nên cầm tiền củng ..nặng !Mới gặp lại anh ,bây giờ đầu bạc trắng nên còn giống Đại Hàn ác liệt!
-Anh Lộc Đại liên , có tật nói hơi cà lăm ,là C/U Cơ phi, anh chuyển về PĐđầu năm 1967 ,năm sau không rỏ chuyển ngành đi đâu,và đến nay củng không biết tin tức gì về anh
-Còn một anh Lộc nửa mà tôi quên mất họ ,có tên là Lộc “Nức Trứng”là pilot, dáng người trung bình ,vui vẻ trẻ trung, chuyển về PĐ 211 lúc đóng ở Bình Thuỷ năm 1968 , để mô tả cái gì quá mức là anh xài chử” nức trứng “ ;như ngon nức trứng, đẹp nức trứng …,xài nhiều đến nổi mang danh đó luôn ,về một thời gian ngắn rồi lại chuyển đi nơi khác ,từ đó đến nay chưa biết tin tức gì về anh.
-Anh Robert Quang , là Trần xuân Quang ,còn được gọi là Má Robert nửa!Tôi và hầu hết anh em trong phi đoàn rất kính mến anh ,chẳng những bay hay êm ái nhẹ nhàng,kỷ thuật giỏi mà tính tình hiền hậu đạo đức,biết lolắng và sống hòa mình với anh em.Dù kêu là Má Robert chớ không phải là anh” lại cái”(gay) đâu. Nhớ lúc Tết Mậu Thân tất cả bị cấm trại ,nội bất xuất ngoại bất nhập ,là Trưởng Phòng Hành Quân ,anh lấy thức ăn trong Ration C chế biến lại kho nấu với rau cải các bạn đi bay ở các tỉnh đem về , ăn với cơm gạo xấythật vừa miệng đậm đà,tối lại còn cho ăn chè đậu nửa Nên anh em thấy công việc của anh như một bà mẹ mới mến gọi anh là Má Robert !Nghe nói thời kỳ bị tù cải tạo ở ngoài Bắc anh bị kỷ luật(cùm)củng vì cái tội thương anh em trong tổ ,mà anh là tổ trưởng dám nhổ sắn trộm của trại để cải thiện cho anh em ! Được biết bây giờ anh sống hạnh phúc an vui cùng gia đình bên ÚC,thuộc hàng Bô lão, khoẻ mạnh và béo tốt hơn xưa ,quên hỏi anh xem có phải nhờ thịt con Kangaroo không?
-Anh Nguyễn thanh Tùng ,dáng vẻ mảnh mai ,nhỏ con mặt mày non choẹt nên được tên là Tùng Lỏi,không dùng chử con vì kỵ huý với anh Minh Con.Tùng Lỏi là đồng -phạm với tôi trong vụ đè…Taxi,mà nếu xét kỷ ra anh là chánh phạm mới đúng,vì anh là người chỉ hướng tôi quẹo theo,không nghe người ta nói ma dẩn lối,quỷ đưa đường sao? Đùa với Tùng chút chơi,chứ thật ra nếu anh thiếu bình tỉnh để phụ giúp thì giờ đây không phải mồ đà xanh cỏ mà là “cồn rêu xanh” rồi!
-Anh Cao vănTư , hiền lành chất phát ,anh bay rất .. “độc”,có máy tóc xụ một bên giống chicken wing nên mang danh Tư Cánh Gà!Anh về bay cho Ông Tổng Tham Mưu Trưởng ,có hôm nghe anh trên tần số,
Lâm Đế gọi chọc:
-Ê ,Cao văn TƯ ơi, hôm nay rảnh hả, mầychở Anh mầy đi chơi dâu đó vậy?
Anh sợ đáp ngay:
– Thôi đừng nói bậy nghe !
Vì anh cùng họ với Đai Bàng mà Lâm Đế đâu có biết là Mặt Trời đang ngồi ghế Copilot!Anh Tư “nhột “ quá ,len lén tắt radio vì sợ Lâm Đế nói bậy tiếp ,một chút lại thấy Mặt Trời mở radio lại và tủm tỉm cười.,chứ không nói gì.Anh Tư kể lại vậy.
-Anh Nguyễn chánh Tâm ,Tâm Cóc ,không phải da mặt anh sần xùi như con cóc đâu ,mà trái lại mịn màng đẹp trai nửa ,nhưng anh rất ít nói nên “có câu cóc mở miệng “và có gương mặt chử điền giống cựu xếp , đàn anh Lân Cóc.
-Anh Phạm thành Quới,tính tình cẩn trọng, ăn nói chẩm rải,thật thà kể chuyện gì củng có đầu có đuôi chứ không đi đâu mà vội ,không ngắn gọn vắn tắt, ăn nói giống như mấy ông tiên chỉ thời xưa ở trong làng xả ,mà cao nhất là ông Cả,nên anh em cứ kêu Cả Quới đến bây giờ.

-Anh Phan tất Đắc , mặt mày trắng trẻo mịn màng ,bụ bẩm giống như hình em bé trong hộp sửa BABILAC,nên còn gọi là Đắc Sửa(đã bị nạn mất cùng với Tướng Đổ cao TRÍ ở Tây ninh) một hôm bay chung với anh Nguyển văn Hảo, đang bay thình lình anh Hảo chỉ kịp trân mình nhéo vào tay cuả anh Đắc , điến hồn hét:
-Caribou!.
Một chiếc Caribou chần dần xẹt lên ngang qua bụng . Hú vía Chắc chẳng có..” ma” nào thấy nhau cả!Nghe anh Đắc kể lại và thấy anh Hảo cao, tay chân củng lỏng khỏng củng giống thân hình chiếc Caribou nên mang danh Hảo Caribou từ đó.Anh là Sỉ quan Hành Quân của PĐ211, bay củng … “chì” lắm đã từng bị cánh quạt đuôi của UH1 hư mà đáp an toàn Tội nghiệp đi sông đi biển không chết mà chết lổ… chân trâu nhà tù VC ngoài Bắc! Đuợc biết vợ con anh đang ở Cali.
Tên Trọng thì có:
– Nguyển tấn Trọng ,Trọng XÌ vì anh to con và rậm râu gíống Mể .Sau nầy anh biệt phái qua Biệt đoàn 83,và cuối cùng chuyển qua Chinook bị bắn rớt ở Tàu Ô An Lộc, bị bắt và được trao trả tù binh ,cái số anh chỉ bị tù một lần thôi ,nên anh và gia đình đã đến Mỷ năm 75
-Nguyễn văn Trọng ,Trọng Khẹt ,dáng vóc trung bình ,lì lợm ,bay giỏi và siêng năng ,chắc thuở nhỏ bị sâu răng nên anh cứ… hít hít rồi thành tật ,cứ nghe khẹt khẹt hoài .Anh là PĐT UH1 Ở Biên Hoà,bị đi tù và chết ở trại Hỏa Lò Hà Nội .
Tôi có nghe nhiều bạn đồng tù kể lại anh là một trong nhóm khoảng trên 20 người chống đối trong nhà tù VC , trưa thường leo tường đi đánh mấy tên Ăng- ten ở các buồng khác trong trại Hà Nam Ninh
.Bị VC nhốt cách ly ở Hỏa Lò đến chết !Các chiến hửu nào có biết rỏvề Trung Tá Nguyễn văn Trọngvà nhóm nầy; xin kể lại những hành động ngoạn mục, hào hùng của nhóm Rất cám ơn!Nghe đâu nhóm có nhiều thành phần: có anh là giáo sư Trung học PÉTRUS KÝ,có anh Cảnh sát độc nhản , được phong là Tướng Moshe Dayan(DoThái) ..v..v..Tôi rất thân với anh , được biết vợ và 2 con gái của anh củng được.qua Mỷ
-Anh Trần quế Lâm , Lâm Đế,anh là PĐT cuối cùng của PĐ211 thay anh Nguyễn thanh Cảnh lên chức vụ cao hơn.Trong những năm 1965,66 phi trường Bình Thuỷ chưa có,PĐ thường biệt phái 2 chiếc H34cho Quân khu 4,,phi hành đoàn tối về ở trong một building vảng lai ngoài phố, gần bến Ninh Kiều;.anh chàng Lâm nhà ta thả rề rề ra mấy chổ bán khô cá đuối ,khô mực nướng ,cốc ổi …với những cái bàn gổ và chiếc ghế con con ,anh thoải mái an vị kêu vài xị đế loại ngon ngồi nhâm nhi và đưa cai bằng miếng khô , miếng ổi ,anh chê la-de nó lạt . Đúng là dân chơi thứ thiệt,anh củng nhìn nhận có vô chút đỉnh lái máy bay nó mới đầm !Với đám pilot trẻ thì xem đây là một hiện tượng…nên có hổn danh Lâm Đế từ đó .
Tôi và anh củng rất thân với nhau.
Nhớ lại những năm 68,69 hằng ngày đều có hợp đoàn bay hành quân trưc thăng vận cở 10chiếc ,sau khi đổ quân tất cả về nằm chờ (standby) ỏ các phi trường nhỏ của Tỉnh lỵ .Cơm trưa xong xuôi mới tụ tập nhau đấu láo ,chọc phá nhau.Có lần anh kêu tôi :
-Cua Đinh ơi , tao mới vừa tìm được tiểu sử của mầy, lại đây nghe tao đọc nè.
Anh tằng hắn lên giọng :
-Thiều công tử vốn giòng hào kiệt
-Xếp bút nghiêng theo việc kiếm cung
Nghe được lắm!Rồi anh lại tiếp:
-Thiều tiên sinh vốn người phương Nam,sinh trưởng tại tỉnh Bến Tre ,quận Ba Tri ,huyện Giồng Trôm,hạt…Cù Lao Rồng(quê của mấy người..cùi),tên cái hạt nầy phải đổi ra tiếng Nho nó mới hay ;Rồng là Long rồi ,còn Cù lao chử Hán là gì ta?Một anh bạn nào đó nói
-Cù lao là Lẩu đó.Bộ không nhớ đi nhậu ,kêu một cái cù lao ăn với bún đó sao?
-Đúng rồi ! Hay… hay.!Cù Lao Rồng tức là Lẩu Long .Vậy là mầy ở hạt Lẩu Long đó nghe Cua Đinh!
Cả bọn cười cái rần! Đang quê độ ,phát… nực củng tức cười vì kiểu kẹt…chử Nho nầy . Sau khi nghe giảng nghĩa…đùi, ngẩm nghĩ mới thấy dùng chử Lẩu ở đây thật là … “đắc địa”!
Sau 75,hơn mười lăm năm tôi mới có dịp gặp lại anh bên Mỷ ; câu đầu tiên anh cười hỏi:
-Mầy định chừng nào về thăm lại hạt Lẩu- Long của mầy đây?
Anh thường điện thoại cho tôi ,kể tên một số KQ quen đã nằm xuống,và khuyên tôi nên bớt đi cày ,retire sớm mà hưởng đời đi.Nhưng rốt cuộc ,tôi bàng hoàng ,vô cùng xúc động khi nghe tin anh mất bất ngờ vì đau tim ! Đến bây giờ tôi củng vẩn còn thường nghĩ và nhớ đến bạn lắm, Lâm Đế !!!!Có những anh không có nét gì đặc biệt để chọc mà vẩn không tha;như anh Lê tiết Chinh, bảnh trai ,hiền lành ,nho nhả củng bị kêu là Lê mất Trinh ,rồi lại anh Đặng kim Quy,con người đạo mạo như một nhà giáo , đàng hoàng , ít có ồn ào thường được gọi là thầy Quy.mà củng bị ..khều ra ,hôm nào nhẹ nhàng thì:
Ê ,bi ,xi (a,b,c) bắt thầy Quy rang muối!
Làm anh củng phải phì cười! Còn có hôm ,anh Lâm Đế cao hứng thì chọc anh Quy bằng một câu 7 chử nghe thật đậm – đà ,mà tôi không dám viết ra đây vì thuộc loại cấm …đàn bà .Dù cho có vị nào bảo đừng ngại,tới… luôn đi bác tài, cứ viết ra đi vì có ai còn là con trai hay con gái nheo nhẻo nửa đâu,không răng mô!! Thật tình không dám ,chỉ xin gợi ý: Đây là câu đối lại chan -chát với câu gì mà trong sách xem tướng có nói;
-Không có Mao chủ tịch,nghèo tận mạng (Âm h…vô mao, bần chí tử!)
Anh Qui xin lổi… viết lại ,anh Quy có còn nhớ không?Nếu anh không nhớ được thì củng chẳng sao ,hảy sống vui vẻ với anh em chừng 30 năm nửa rồi đi tìm Lâm Đế mà hỏi nhé!
Còn nhớ ….nhớ nhiều , và củng nhớ đừng để quý vị bảo: thôi đủ rồi…Tám ; nên xin chấm hết.!

CUA ĐINH
(10/2004)

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1196010926&first=1680&last=1739

BẮC ĐẨU NGUYỄN NGỌC BÍCH – Ls NGUYỄN NGỌC ANH TRANG

Ls NGUYỄN NGỌC ANH TRANG

Mỗi năm vào cuối tháng năm, tôi thường xem Memorial Day Concert ở Washington DC trên TV. Chương trình bắt đầu với lời tưởng niệm: “ALL GAVE SOME, SOME GAVE ALL” làm tôi bùi ngùi nhớ đến anh Bích cũng như các cựu chiến binh của QLVNCH. Anh tôi hy sinh cả sinh mạng của anh vào cuộc chiến đấu để bảo vệ quê hương. Trong sáu người con của ba má tôi, người anh lớn này có cá tính đặc biệt, độc lập từ ngày thơ ấu. Chị Huệ và tôi đi đến trường tiểu học trong Chợ Lớn cách nhà vài cây số. Mỗi ngày, anh Bích có trách nhiệm đưa 2 em gái đến trường và đến rước em về sau giờ tan học.

Rồi một buổi trưa, Má tôi rất ngạc nhiên khi thấy Huệ và Trang từ trường về nhà có “hai” mình. Tôi giải thích là vì trời mưa, chờ lâu quá mà không thấy anh đâu hết, nên hai đứa con quyết định đi về, không chờ anh Bich nữa. Từ ngày này trở về sau, anh Bích không còn phải đưa đón hai em thêm lần nào nữa.
Khi Ba tôi đổi đi Vĩnh Bình làm việc, Ba Má đem theo bốn đứa con nhỏ. Hai đứa con lớn của Ba Má ở lại Sài Gòn, trọ một người bà con để học tiếp chương trình trung học. Học trò ờ trường Pétrus Ký phải mặc đồng phục, quần xanh dương, áo sơ mi trắng. Một lần anh tôi bị rượt chạy trong sân trường, vì anh mặc áo sơ mi đủ màu, anh né tránh vào nơi nào đó, lột bỏ cái áo nầy ra thì trở nên học trò áo trắng ! Anh ham chơi hơn ham học, nên đến lớp đệ nhất, Ba Má đem anh về Long Xuyên để theo dõi anh học thi Tú Tái. Tư gia chánh án Long Xuyên nằm ở một góc đường , trước mặt nhà băng qua đường là tòa án, bên hông nhà băng qua con đường kia là Tòa Tư dinh Tỉnh Trưởng.Anh tôi hay đi qua nhà ông Trung tá , tỉnh trưởng Nguyễn văn Minh cởi ngựa, vì vậy ông bà Minh biết anh khi anh chưa được 20 tuổi.
Buổi tối trước khi đi thi, anh Bích học làm toán trên bảng đen treo trên tường ngoài phòng ngủ của Ba Má . Anh lục đục với tiếng phấn viết trên bảng cả đêm, làm Má không ngủ được ! Rồi anh đi qua Cần Thơ thi tú tài toàn phấn. Chiều ngày thi đầu tiên, cả gia đình tôi đang ở công viên Nguyễn Du gần nhà chòi thì thấy anh Bích từ từ đi đến. Rất ngạc nhiên, Má tôi hỏi; – Sao con về sớm quá vậy? . Anh tôi giải thích là bài thi làm tệ lắm, chắc không có hy vọng gì đậu nên bỏ cuộc. Vì bị Ba Má rầy la lớn tiếng, nên hôm sau anh Bích trở qua Cần Thơ thi tiếp.
Đậu xong Tú tài, anh được Ba Má gởi ra mõ than Nông Sơn học với hy vọng anh sẽ được học bổng qua Pháp đi học kỹ sư hầm mõ (chớ không phải đào mỏ).
Không bao lâu, anh bỏ Nông Sơn trở về Sài Gòn. có lẽ vì anh đã có bạn gái, rồi có con với cô nầy.
Làm sinh viên thì không làm sao có tiền lo cho gia đình, anh Bích tình nguyện vô trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, tốt nghiệp khóa 18.Tôi nghĩ là lúc này, anh tôi chưa có ý định chống cộng gì cả.
Anh chị em tôi, ai học xong trung học thì cũng bước chân vô Đại học Luật Khoa! Anh Bích cũng ghi danh học thêm ở đây, chắc để làm vui lòng Ba Má. Khi đi vô thi viết năm thứ nhất, anh gặp một ông tuổi trung niên , hỏi ông coi giảng đường số 2 (nơi anh phải thi) nằm ở chỗ nào! Ông này, chắc là Giáo Sư của trường, nhìn anh như một người ở hành tinh nào xuống. Giảng đường số 2 rộng lớn nhất của trường, phần lớn các môn học của năm đầu giảng dạy ở đây, có sinh viên nào mà không biết? Nhưng anh Bích không biết gì cả, vì anh ôm sách học ở nhà.
Anh tôi không có tiếp tục học Luật mà chắc cũng không muốn, vì anh còn bận rộn học để tốt nghiệp khóa 13 Sĩ quan căn bản Thiết giáp. Không nghi ngờ gì hết là anh thích cầm súng hơn cầm viết. Như vậy bắt đầu cuộc đời binh nghiệp của anh Bích.
Sau khi tốt nghiệp sĩ quan, anh tôi bắt đầu đi chiến đấu, càng “đánh giặc”, anh càng thù ghét Cộng Sản. Giữa thập niên 1960, anh bị thương lần đầu, gãy tay ở Bến Cát. Cuối năm 1967 hay đầu năm 1968, anh bị thương lần thứ hai ở ngoài Huế. Anh được đem về Tổng Y Viện Cộng Hoà, được gắn thêm bù lon trong đùi.
Nhờ vậy anh trở thành quân nhân loại hai, được vô văn phòng làm việc chớ không phải ra chiến trường nữa. Tết Mậu Thân, đang nằm dưỡng bệnh ở Y Viện Cộng Hòa, nghe radio kêu gọi nếu quân nhân nào nghĩ mình còn khả năng tác chiến thì hãy ra trình diện.
Mặc dù là quân nhân loại 2, anh Bích xin xuất viện, nhận lãnh mấy chiếc xe tăng đem đến đóng ở Gò Vấp, chuẩn bị tác chiến.Má tôi nhận được tin này mà không muốn tin một chút nào hết. Sau Tết Mậu Thân, Ba Má tôi xin với Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cho anh vô làm Tùy Viên Quân Sự, anh tôi làm ở đây mấy tháng cho đến khi ông Lộc không còn làm thủ tướng nữa.
Vào khoảng cuối năm 1968, lúc Thiếu tướng Nguyễn Văn Minh là Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô, anh tôi theo ông Minh, lo liệu về Chiến Dịch Bài Trừ Ma Túy. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, anh Bích hút thử á phiện rồi hút thật sự…Má tôi quá kinh hoàng, tìm đủ mọi cách cho anh cái thuốc phiện, sau cùng anh cũng cai được.
Không muốn làm bài trừ mà túy nữa , vì sợ bị ảnh hưởng xấu trở lại, anh Bích tình nguyện trở ra chiến trường.
Rất khó thay đổi tánh tình”ba gai” của mình , nhưng anh Bich không phải bị kỷ luật nhà binh.
Khi anh mở hàng rào giây kẽm gai trốn đi chơi, cấp chỉ huy trực tiếp của anh nói: Đừng lo gì hết, Bích không khi nào đào ngũ cả, trước sau vì nó cũng trở vô trại!.Tánh tình cởi mở, rộng rãi anh tôi rất được chiến hữu thương yêu. Anh cùng bạn bè đi ăn hột vịt lộn, mấy quả trứng này vừa mới đem ra khỏi nồi luộc không cầm được, anh tôi mở bóp ra phát cho mọi người một tờ giấy bạc để bọc trứng cho bớt nóng. Một lần khác đang ngồi nhậu với đồng đội, thì có một vài quân nhân khác xin được vô nhậu chung cho vui.Vì vậy, anh Bích không có đủ tiền để trả cho cuộc vui nầy.Anh đưa cho bà chủ quán một trái lựu đạn để làm tin, nói ngay hôm sau anh sẽ trở lại trả đủ tiền và nhận lại trái lựu đạn nầy.
Bà chủ quán có quen với Má tôi kể lại chuyện này và nói: Tôi nhận ra Bích là con trai của chị, mà nó không hề biết tôi là ai!
Tôi nhỏ hơn anh 7 tuổi,ít có dịp ở gần anh thường xuyên, nên hai anh em ít có nhiều kỷ niệm thân tình.
Một lần về phép thăm nhà, anh gặp tôi ở ngoài sân và hỏi: Nghe Ba Má nói Trang đang đi học Luật phải không? Đây là một trong những lần rất hiếm hoi anh nói chuyện với tôi. Trong gia đình,Má là người bạn thân của anh, mặc dù anh không bao giờ muốn nghe lời Má khuyên nhủ. Má tôi nói Bích lì lợm lắm, nhưng nó không khi nào cải vả với Má.Mỗi khi Má nói những gì nó không muốn nghe, như nó phải làm gương sáng cho các em, nó chỉ lặng thinh rồi tiếp tục làm theo ý nó!
Với thời gian qua, khoảng cuối thập niên 70, chiến tranh VN là đề tài nóng bỏng của nhân dân ở trong hay ngoài quân đội.
Anh Bích về phép, xin với Má tôi: Nếu có chuyện gì không hay xảy đến cho con, xin Má đem Phi Ánh, con gái lớn của con về nuôi nấng, dạy dỗ.
Má tôi trả lời: Má nuôi con không thành ý nguyện như Má muốn, làm sao Má nuôi cháu nên người được? Nghe vậy, anh Bích khóc rồi nói: Chiêm tinh gia Huỳnh Liên coi tử vi con, nói con không có sống quá 30 tuổi đâu, thôi Má để cho con sống cuộc đời theo ý muốn của con.
Về sau nầy, không biết bao nhiêu lần tôi nghe Má tôi nhắc lại câu nói này của anh tôi. Không làm gì khác được, Ba Má tôi đành để cho anh Bích sống cuộc đời theo ý muốn của anh.
Khi được biết cậu Mười, em út của Má, tập kết ra Bắc đã trở vô Nam và đang nằm vùng ở Cũ Chỉ, Hậu Nghĩa, anh Bích nói với Má: Nếu con mà gặp Cậu Mười, con cũng không tha thứ cho Cậu đâu. Khi Bà Ngoại lén lúc vô thăm Cậu Mười, cậu nói với mẹ nên khuyên các cháu đang chống Cộng nên tìm cách giải ngũ ra khỏi QLVNCH hay là “móc nối” với Cậu để làm gián điệp, cung cấp tin tức cho VC (kiểu ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản).
Nếu không, đến khi Việt Cộng thành công, Cậu Mười không làm sao che chở các cháu được hết!Tôi luôn tưởng tượng đến hình ảnh Cậu Mười và anh Bích gặp nhau sau 30/4/1975, nếu anh tôi còn sống.
Cuộc chiến Việt Nam càng ngày càng trầm trọng, thêm nhiều chiến sĩ bị thương hay hy sinh trên chiến trường mà không ai đoán được kết cuộc như thế nào.

Người tử trận 3 lần: Cố Thiếu Tá “Bắc Đẩu” Nguyễn Ngọc Bích – biển xưa

Mùa hè đổ lửa 1972, anh Bích là Chi đoàn trưởng Chi đoàn 2 thuộc Thiết đoàn 18 Kỵ Binh của Quân Đoàn III QLVNCH. Được lệnh đến tăng cường cho chiến trường Quảng Trị, các Thiết Vận Xa M-113, rất thông dụng trên sình lầy, đi dần đến phía bắc sông Thạch Hãn. Ngày 28/4/1972, anh Bích đứng trên thiết xa, anh thích chỉ huy trong vị trí này chớ không chịu ở trong xe, trúng quả pháo 130 mm, tử trận tại chỗ.Anh tôi hưởng dương 29 tuổi.
Quan tài của anh Bích được chở bằng quân xa GMC hướng về sông Mỹ Chánh. Ngày 29/4/1972, khi quân xa đến cầu Ga thì bị trúng đạn quả tiễn tầm nhiệt AT-3 nên anh tôi bị “tử trận” lần thứ nhì và được cho vào cái quan tài thứ nhì.
Nhất quá tam, đến ngày hôm sau quân xa bị mắc lầy, trúng đạn pháo kích thêm một lần nữa, “tử trận” lần thứ ba nên anh tôi cần có cái áo quan thứ ba.
Đến nhà báo tin buồn cho Bà Má tôi, vị sĩ quan Thiết giáp nói là chiến trường miền Trung còn đỏ lửa, nên việc di chuyển thi hài anh Bích về gặp nhiều trở ngại, nhưng ông hứa bằng mọi cách sẽ đem anh về với gia đình và tang lễ sẽ được cử hành theo ý muốn của Ba Má tôi.
Hơn hai tháng sau, Đại úy Thiết giáp Bắc Đẩu Nguyễn Ngọc Bích về nhà thăm Ba Má một lần cuối cùng, rồi tiếp tục đi lên Nghĩa Trang Quân Đội BH.

Bây giờ anh tôi nằm ở trên đồi.
Kỷ vật anh để lại cho gia đình tôi là một cái vỏ đạn cà nông 105mm, mỗi năm Tết đến Má tôi chưng bông mai vàng trong đó. Ngàn dặm ra đi ,nhưng mỗi năm Tết đến, tôi vẫn luôn mong ước là được có lại có võ đạn này.
Vietnam Veterans Memorial ở Washington DC rất trang nghiêm, đặc biệt, không như các đài kỷ niệm khác. Tên của hơn 58 ngàn chiến sĩ Quân đội Mỹ hy sinh trong cuộc chiến này được ghi trên một bức tường dài bằng đá màu đen. Nếu các chiến sĩ QLVNCH đã nằm xuống có được một đài kỷ niệm tương tợ như vậy, bức tường đen phải dài, dài hơn nhiều lắm.
Đôi khi tôi nghĩ mình cần phải kể lại những gì mà thật ra mình không muốn nhớ lại chút nào hết. Đã bao nhiêu năm qua, nhưngg mỗi khi nghe Thái Thanh hát bài “Kỷ vật cho em”, nhất là vào những ngày mùa đông giá lạnh ở đây, tôi vẫn không cầm được nước mắt../.
LS NGUYỄN NGỌC ANH TRANG

TB: Viết để tưởng nhớ đến anh của tôi, Đại Úy NGUYỄN NGỌC BÍCH đã hy sinh tại mặt trận Quảng Trị năm 1972.
Câu chuyện hào hùng và thương tâm của anh tôi đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác qua nhạc phẩm: Bắc ĐầuXEM BÀI CÓ HÌNH ẢNH ĐÍNH KÈM
Nguyễn Vạn Bình

Nguồn: dacsanydan@yahoo.comBẮC ĐẨU NGUYỄN NGỌC BÍCH.pdf-http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/10/bac-au-nguyen-ngoc-bich-ls-nguyen-ngoc.html

Thêm chuyện bá láp về Cô Vít : Cô Đen ta gây .. loạn ? – Lý Sự Cùn

Lý Sự Cùn

   Chuyện về Cô Vít đúng là.. Chuyện dài ‘nhandantuve’, trong nhà ngoài phố gây lộn xộn khắp nơi trên thế giới, vui nhất là cái ‘clip’ ghi lời tuyên bố của Ngài Duc Dam (?) họ Vu nghe xong .. cười té ghế !

     Mời quý Cụ xem .. trước khi xem, lấy dây xanh tuya buộc mình vào ghế đó..  Clip về Ngài Duc Dam (?) họ Vu :  Clip được đặt ở cuối trang.

Lão Lý Toét kể các chuyện tào lao bị các vị ‘nữ lưu’ rầy rà quá : viết nhảm nhí chuyện Cô Mu, chuyện Ngựa (dám nhắc.. thượng mã) rồi chuyện con heo .. ! Quý ‘nàng’ cao tuổi, nhưng còn trẻ, mắng là đồ .. già dịch !

   Bài này Lý Toét xin.. ‘đàng hoàng’ hơn một chút !

Số là.. Nàng tiên xẩm cánh dơi, đi mỹ viện Tàu, sửa sắc đẹp, biến hóa thành các Nàng Alpha, Bê ta.. không ‘hấp dẫn các ông CDC Mỹ, nàng sửa thêm nữa thành Nàng Đen Ta và còn có thêm nét đẹp khác để thành Nàng Mu..

   Nàng Mu.. đến, được chiêm ngưỡng, nhưng tự nhiên ‘ra đi không một lời từ biệt !

(Lý Toét nhớ hồi đó Ông Tài tử Nguyễn Long có làm xi nê : “Thúy đã đi rồi !’ có bài hát , tạm mượn để tiếc Cô Mu : “ Mu ơi, Mu ơi ..Mu đã đi rồi../ Nàng đi về đâu.. cho thế nhân sầu..)  Cứ theo Ông CDC thì Mu là người đẹp Colombia, xuất hiện vào tháng giêng 2021, đến 39 quốc gia (trong đó có Mỹ, tại (Cali và Florida..).. giã từ Xứ Cờ Hoa từ Tháng 7, độ nhiễm chỉ còn 0.2% trong các ca..dương tính với Covid tại Mỹ. Nàng chê Mỹ và ở lại quê hương Columbia ( hiện vẫn chiếm 39% các ca nhiễm..)

  Nàng Đen-ta nay, một mình một chợ, đang gây loạn ‘giang hồ’.. bắt đầu từ Xứ Sương mù (phớt tỉnh Ăng Lê) lan đến Xứ Do gốc của Kinh Thánh!

  Nàng Đen-ta xuất thân (tháng 10-2020) cũng kỳ dị.. vì từ Xứ Phật (!).. tên cũng ngộ Đen ta, gốc tiếng Hy lạp Delta, từ điển Mít, giải thích là Tam giác phì nhiêu, châu thổ sông, có rạch chạy ra, nhiều cây cỏ ; nước Ta có Đen ta Bắc Kỳ (sông Hồng), Đen ta Nam Kỳ (sông Cửu), cũng lạ là có Đen ta không cây cỏ (?) như Đen ta sông Nile, khô cằn ?.. rồi có thêm Tam giác Vàng (quý thật?) rồi Tam giác Quỷ (ghê quá); nhưng tên Đen thì tam giác phải đen?  Lý Toét hỏi thêm Bác Xã Xệ thì Bác mắng : “Lão già rồi, hỏi chi dớ dẩn, coi chừng ăn bạt tai đó..”.Lý Toét hại quá, tuy không hiểu, đành tịt về ý nghĩa của Đen ta..?

  Từ Delta ban đầu, mà các Nhà thông thái gọi là B.1.617.2 sau đó ghi thêm AY.1, AY.2,AY.3.. rồi nhiều quá xá tiếp nên gọi thêm chữ Delta plus.. Đen ta.. cộng? chưa thấy có.. Đen ta ‘trừ”?

 Cũng theo CDC thì Delta hiện chiếm đến 80-90% các chủng gây nhiệm Covid tại Hoa Kỳ? và Cô Delta này có võ công kỳ lạ là ‘thay đổi các protein trong gai’ (Nữ nhân càng đẹp.. càng nhiều gai?. Ông Kim Dung có kể một cây gọi là “Tuyệt tình hoa.. đụng vào gai là.. tiêu diêu miền cực lạc!)..gai của Cô Đen-ta còn ghê hơn vì kết hợp thêm các protein của các Cô bạn Bê-ta và Gam-ma.. Rồi CDC cho biết thêm 13 % của các ca nhiễm tại Mỹ là do nhóm bạn’ Delta plus ’mang các số AY.1.AY.2 và AY.3..CDC cho biết.. Delta lây lan rất nhanh và rất mạnh (nhanh hơn Alpha đến 60%) và có khả năng .. tránh né các thuốc chủng lô can như thuốc chủng Tàu.. thuốc chủng Nga?

   Bản báo cáo trên Fortune (Aug 31, 2021) ghi các chi tiết về các thuốc chủng Sinovac và Sinopharm dùng tại Brazil, United Arab Emirates cho thấy chỉ sau 2-3 tháng của mũi chủng thừ nhì.. thì khả năng bảo vệ của thuốc chủng chỉ còn ở mức 20-30% (?)..

 Brazil, Malaysia và Thái Lan đã.. chấm dứt việc xài đổ made in China; tuy nhiên các Ông WHO vẫn khuyên..’ nước nào không có sự chọn lựa thì cứ xài đồ Tàu, ‘có còn hơn không’ vì  nếu không ..thì tắt thở nhanh hơn? (Tàu đã đưa ra thế giới trên 2 tỷ liều.. vaccins và đang dự tính.. xâm lăng thế giới bằng sản xuất và ‘biếu không’ thêm 5 tỷ liều (nước lạnh cũng là thuốc mà?)

    Thuốc chủng Nga thì .. bí mật hơn? Dân Nga không chịu xài (kể cả ông Putin, chỉ đem con gái ra quảng cáo là đã chích thuốc chủng Sputnik-5) Dân chỉ có 35 % chịu chủng ngừa (AP ngày October 19, 2021).. Nga đang có số nhiễm covids tăng cao đến mức ông Putin cho toàn quốc.. nghỉ chơi.. một tuần (The Moscow Times- Oct-20,2021)

    Lý Toét ‘cảnh báo’ Cô Đen ta gây loạn là dựa theo tin của Bác Xã Xệ bên Tây đọc báo của các Ông Thầy Thánh Kinh Do thái.. “Có vẻ là đáng tin cậy?”  “ Tin Ăng lê ghi là Cô Delta plus.. nay có đến 56 thành viên, dành nhau chỗ đứng, và thành viên ‘sáng giá’ nhất là cô AY4.2 đang xuất hiện tại Anh. Cô này xuất sắc hơn vì có tài lây lan tăng hơn các bạn đến 10-15%

So sánh độ lây lan của các chủng Covid-19

   Ông Giáo sư Cyrille Cohen của Phòng Nghiên cứu Immunology ĐH Bar-Ilan (Do thái) giải thích AY4.2 xuất phát từ AY.4 và là ‘cháu nội’ (sub-lineage) của dòng giống Delta-plus.

  Tính đến 15 tháng 10 thì Cơ quan Y Tế  Anh cho biết 10% các ca nhiễm covids tại Anh là do chủng này và nếu theo đà này tăng thêm 10% nữa thì sẽ trở thành một vấn đề đáng lưu ý..

    Giáo sư Gottlieb của FDA  ghi rõ thêm :

Ngày có số ca nhiễm cao nhất tại Anh trong 3 tháng qua, là ngày giới chức Anh xác định là Chủng AY.4 chiếm 8% của số ca. AY.4 có biến chủng mới C:Y145H và FDA đang theo dõi rất kỹ về khả năng gây nhiễm và lây lan .. của chủng này..

AY.4 mutants
Theo các chuyên viên về vi trùng và siêu vi trùng thì hai biến chủng đáng lo ngại nhất là Y145H và A222V vì khi chúng phối hợp sẽ tạo ra ‘chủng quái vật’ gây lan và chống lại các thuốc chủng đang có nhất là các loại thuốc chủng dùng nguyên tắc cổ điển (dùng siêu vi đã gây bất hoạt như thuốc chủng Tàu).  Một số ca nhiễm chủng mới này đã xảy ra tại Hoa Kỳ, Đan Mạch và mới nhất là tại Do Thái (hiện nay 99.7% các ca nhiễm mới tại Mỹ được xác nhận là do chủng Delta).

   New York Post (October 20, 2021) cho biết :

    Giám đốc CDC, Bà Rochelle Walensky nói rằng.. đừng có lo “Delta” gây loạn.. vì chúng chưa tập họp tại Hoa Kỳ, chưa đủ ‘đông’ đâu! Hơn nữa các phương tiện chủng ngừa và điều trị hiện nay của Mỹ vẫn.. dư sức ‘dẹp loạn’ : chủng và bịt vẫn còn hiệu nghiệm.. Bà chưa cho biết Cô Delta AY4.2 này..đang ở đâu trên đất Mỹ (chắc phải nhờ ..FBI chăng?).. Ông Gottlieb (phe Trump cũ) lại tỏ vẻ lo lắng (xem trên), các Ông Ăng Lê thì ‘lo hơn’.. BBC là ‘run ‘nhất ?(BBC News 19 October 2021)

Cô Delta gây loạn: Bác Sĩ lo nhưng các Ông ‘chế’ thuốc chủng lại .. ‘hồ hởi phấn khởi’

   Nature (News 20 October 2021) loan tin :

https://doi.org/10.1038/d41586-021-02854-3

  Ba Ông ‘trùm’ vaccin Mỹ Pfizer, Moderna, và.. J&J đều lên tiếng trấn an dân Mỹ (đã chi cả trăm tỷ đô để mua vaccins của ba Ông). Cô Đen-ta AY4.2 biến hóa .. thì vaccin ‘tam hãng’ này cũng sẽ .. biến hóa theo”.

   Ông Trùm Pfizer, Albert Bourla, ngon lành nhất:  Đứng cạnh Ông Tổng Biden trong một cuộc họp báo tại St Ives (Anh), trước ngày Họp Thượng đỉnh G-7 , ông trùm phán “ Nếu ..cần có một loại vaccin mới chống Covid-19 (kiểu Đen ta gây loạn?).. Pfizer sẽ có liền trong vòng 100 ngày”.

Hai xếp lớn

   Ngon lành thiệt.. có vaccin sớm là hốt bạc nhanh? nhưng báo  Nature đặt câu hỏi : “Làm sao có vaccin khi Covid chưa làm loạn? Đoán cách nào đây? và FDA có nhắm mắt OK liền không?

     Hai hãng Pfizer và Moderna lo bảo vệ ‘nguồn kim ngân’ nên luôn ‘updated’ vaccin (?) để theo kịp Cô Đen-ta, bằng cách tiếp tục thử nghiệm vaccin đang có, thay đổi ‘công thức’ để.. chạy theo biến chủng? (học kiểu.. đoán chủng cúm hàng năm ‘đón trước’ chủng .. sắp đến, và đoán sai thì.. trớt quớt (!) ngừa chủng này nhưng chủng khác đến thì chỉ còn cách uống.. Tamiflu?).

   Các Ông Pfizer và Moderna  chắc chắn thuốc chủng hiện nay ‘làm được một điều là sau khi chủng đủ hai liều (nay thêm liều thứ ba) thì dù bị Cô Đen-ta tấn công (các ông BS gọi là ‘breakthrough infection’ (nhiễm phá rào) thì “cũng khó vào nhà thương hơn và không sợ bị nhét ống cùng văng ti la to..”

   Ông Moderna cũng phải chạy đua vì.. chậm chân là húp cháo! Moderna, theo bà Phó xếp Jacqueline Miller thì họ đã nộp cho FDA về kết quả sơ khởi các  thử nghiệm một vaccin mới “đa tài= multivalent’ chống đỡ cả bộ đôi Beta và Delta.. không ngán cô Đen-ta gây loạn.

   Ông Ăng Lê AstraZeneca (vaccin loại .. virus-vector) không nhanh được như hai Ông Mỹ vì phương pháp chế vaccin rắc rối và đòi hỏi kỹ thuật sản xuất ‘chậm hơn’? nhưng cũng đang tìm và thử.. Chờ xem .

   Lý Toét, dốt đặc, đang tự hỏi.. Cô vít Đen ta chưa gây loạn thì vaccin làm ra đón trước sẽ được ‘đánh giá hiệu quả cách nào đây? Nature cũng hỏi : “how to determine the true efficacity of variants vaccines ?” Làm sao ‘tuyển mộ người tình nguyện’ chịu.. thử trước đây? rồi các thử nghiệm so sánh kiểu thuốc thật/thuốc vờ..vân vân..

  Thành ra “ true efficacy” lại là .. đo sự gia tăng các kháng thể hay lượng tế bào B?

Các nhà chuyên môn.. còn đang bàn và cãi ..

 Lý Toét nản quá.. chợt nhớ Ông Nhân Dụng xúi ‘lên đồng’ hỏi Thánh! vậy xin hẹn Quý bạn già chờ Thánh phán nhé..

                                                                                         Lý sự Cùn 10/2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Áo Lụa Còn Đâu! – Khuyết Danh

Khuyết Danh

Nắng Saigon anh đi mà lạng quạng

Bởi vì em mặc váy áo mỏng tang

Anh nhìn em đang khoe của hở hang

Lên cơn rét …  váy không còn chỗ ngắn

Anh vẫn nhớ, em ngày xưa xinh xắn

Áo dài bay trong ráng đỏ mây chiều

Nhưng sao nay, em thay đổi quá nhiều

Cuồng đuổi sát những mô đen bốc lửa

Gặp một bữa, anh hết hồn một bữa

Gặp hai hôm, xây xẩm cả mặt mày

Em ra đường chỉ vài kẻ khen hay

Còn tất cả đều nhìn em ngao ngán

Xưa em đẹp với áo dài duyên dáng

Xưa em xinh với áo ngắn bà ba

Nay nhìn em, anh bỗng sởn da gà

Bởi em mặc toàn thời trang kinh dị

Nghĩ lại đi,  hỡi người em yêu quý

Giữ hộ anh nét mộc mạc bà ba

Anh mãi yêu những vẻ đẹp quê nhà

Giữ hộ anh tà áo dài mê hoặc!

Khuyết Danh

Nguồn: http://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2021/10/ao-lua-con-au.html

Cuộc hành trình của Colin Powell – Ngô Nhân Dụng

  • Ngô Nhân Dụng

24/10/2021


Tướng Colin Powell tại tượng đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam, 11/11/2007.
Tướng Colin Powell tại tượng đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam, 11/11/2007.

Nghe tin ông qua đời, tôi mới nhớ ra Tướng Colin Powell là chính khách Mỹ duy nhất mà tôi đã ngồi nghe đọc một bài diễn văn từ đầu tới cuối. Nghe các nhà chính trị nói không phải là một điều thích thú gì vì mình biết họ chỉ nói để kiếm phiếu. Hồi ở Việt Nam tôi chỉ nghe hai nhà chính trị đọc diễn văn từ đầu tới cuối, vì làm việc cho chính phủ nên phải đến ngồi nghe. Các diễn giả lý luận rất sắc bén; nhưng giọng nói đều đều như các thầy giáo của họ không làm cho trái tim mình rung động một chút nào.

Colin Powell thì khác. Tôi tình cờ được nghe ông nói trong một bữa tiệc gây quỹ của Đại học Cal State Fullerton. Nghe Colin Powell nói tôi mới biết tài hùng biện của một chính khách ở xứ này. Ngay từ phút đầu, sau khi thực khách đã ăn đĩa tráng miệng, ông Powell đã lôi cuốn mọi người với những câu pha trò hấp dẫn mà tế nhị, không “rẻ tiền.” Giọng nói ấm áp, rõ ràng, lời lẽ giản dị. Trong nửa tiếng đồng hồ nghe ông, có lúc ai cũng phải bật cười, rồi khi được ông khích động những tình cảm cao thượng trong lòng, tất cả lại bùi ngùi cảm động.

Sau chiến thắng ở Iraq lần thứ nhất, năm 1991, Colin Powell là một ngôi sao đang lên. Ông trở thành Tham mưu trưởng Liên Quân trong hai đời tổng thống, George H.W. Bush và Bill Clinton. Nhiều người trong đảng Cộng Hòa đề nghị ông ra ứng cử năm 1996. Năm 1995 ông đã xuất bản cuốn tự truyện về “Cuộc Hành Trình” của mình, “My American Journey.” Các chính khách sắp ứng cử tổng thống đều chuẩn bị theo sách này. Tổng thống Bill Clinton lúc đó đang bị đàn hạch vì chuyện trai gái trong Tòa Bạch Ốc. Powell có nhiều hy vọng thắng, sẽ thành vị tổng thống Mỹ đầu tiên là con của một di dân da đen!

Nhưng cuối cùng Powell không ứng cử. Có tin tiết lộ rằng bà vợ ông khuyên can. Mặc dù tư tưởng ông có khuynh hướng bảo thủ, nhưng bản chất ông chỉ là một người chỉ huy, một nhà quản trị. Ông khó thay đổi chính mình khi cần chiều theo thị hiếu của cử tri. Cũng không mang một “ngã mạn” đủ mạnh để thu hút quần chúng vốn thích những “người hùng.” Nhưng một lý do khác, có thể vì ông và bà Alma Johnson Powell nghĩ rằng dân Mỹ chưa sẵn sàng bầu một tổng thống da đen.

Bà Alma Johnson sanh ra ở Birmingham, Alabama, nơi tinh thần kỳ thị chủng tộc rất mạnh; các nhóm “da trắng thượng đẳng” từng đốt nhà thờ của người da đen. Bố mẹ ông di cư từ Jamaica, Powell may mắn sanh ra ở Harlem năm 1937, lớn lên ở South Bronx, New York, chung quanh toàn là di dân đủ thứ sắc tộc, không ai quan tâm đến màu da hay tôn giáo của người hàng xóm. Ông gia nhập quân đội, nơi mọi người được đối xử bình đẳng hơn bên ngoài. Đó là “gia đình” thứ nhì của ông, suốt đời. Chỉ đến thời 1950, được thuyên chuyển tới căn cứ Fort Benning, tiểu bang Georgia ở miền Nam, ông mới nếm mùi bị phân biệt chủng tộc.

Trong cuốn tự truyện Powell kể lại, “Tôi có thể đến tiệm Woolworth mua cái gì cũng được, nhưng không được phép vào quán ăn, … không được bước vào phòng vệ sinh dành cho người da trắng.” Một bữa ông ra khỏi căn cứ, ghé vào một quán hamburger. Biết người da đen không được vào trong tiệm, ông đứng ngoài cửa sổ đặt món ăn. Cô gái da trắng bên trong, muốn giúp ông, hỏi: “Ông là người Puerto Rico?” “Không.” “Ông là sinh viên Phi châu du học?” “Không. Tôi là một sĩ quan, người Mỹ, Da đen, I’m a Negro.”

Cô gái phân trần: “Tôi từ tiểu bang New Jersey, miền Bắc xuống đây. Tôi không biết tại sao, nhưng người ta bảo tôi không thể bán thức ăn cho ông.”

Quán hamburger này không bán cho “negro.” Cô đề nghị sẽ đem cái bánh ra cửa sau đưa ông, cho khuất mắt mọi người. Nhưng Colin Powell từ chối, không chấp nhận giải pháp “đi cửa sau.”

Colin Powell đã đi cửa trước, cứ thế tiến tới. Hai lần chiến đấu ở Việt Nam, lên đại tướng, là người trẻ tuổi nhất nhậm chức tham mưu trưởng, làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Reagan, làm bộ trưởng ngoại giao thời Tổng thống George W. Bush. Ông được gắn Huy chương Tự Do (Presidential Medal of Freedom) hai lần.

Năm 1991 Colin Powell nổi bật khi quân Mỹ đánh đuổi quân Iraq ra khỏi xứ Kuwait. Quân Mỹ theo lệnh của Tổng thống George W.H. Bush (ông bố) đã dừng chân giữa sa mạc, cho tàn quân Iraq thoát chết chạy về nước. Mười năm sau, thời Tổng thống George W. Bush (con) đánh dấu một điểm “u tối” trong cuộc đời. Thuyết trình trước Liên Hiệp Quốc, ông chỉ lên các bức hình do vệ tinh nhân tạo chụp, tìm cách chứng minh cho cả thế giới thấy Saddam Hussein đã tích trữ các bom vi trùng và bom hóa học, có thể cả bom nguyên tử; để biện minh nước Mỹ phải tấn công Iraq.

Sau khi quân Mỹ chiến thắng, mọi người không thấy một thứ vũ khí hủy diệt tập thể nào. Cả Tòa Bạch Ốc, chính phủ Mỹ và Ngoại trưởng Colin Powell, đã tin tưởng vào các tin tình báo sai lầm. Chính phủ Anh và Liên minh NATO cũng tin như họ. Cuộc chiến Iraq kéo dài cho tới bây giờ.

Đó là một bài học cho Colin Powell. Trước khi tấn công, ông đã nói chuyện với Tổng thống Bush, nêu ra các vấn đề sẽ phải đối phó sau khi chiến thắng. Nhưng sau khi quân Mỹ đánh bại Saddam Hussein, mọi công việc được trao cho Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, và người của ông ta là Paul Bremer. Mọi quyết định ở ngoài tầm tay của ông ngoại trưởng. Ông Rumsfeld ra lệnh giải tán quân đội Iraq, hàng trăm ngàn người bỗng dưng thất nghiệp, dần dần biến thành quân khủng bố. Khi dân chúng Iraq kéo tới phá cả viện bảo tàng để hôi của, ông Rumsfeld phủi tay, coi đó là chuyện thường tình. Powell không được hỏi ý kiến lần nào.

Từ đó Powell nhận ra rằng quân đội không phải là thứ “khí cụ” giản dị cho các vị tổng thống Mỹ an bài việc thế giới. Từ đó, xuất hiện một “Lý thuyết Powell” về chiến tranh. Ông chủ trương nước Mỹ chỉ nên tham chiến khi không con đường nào khác. Trước hết, phải xác định rõ ràng mục tiêu của cuộc chiến, một mục tiêu chắc chắn có thể đạt được, và phải có sẵn một chiến lược rút lui. Cuộc chiến tranh phải có một mục tiêu chính trị rõ ràng, được dân chúng trong nước và được các nước đồng minh ủng hộ. Phải sử dụng tất cả sức mạnh kinh tế, tài chánh cho cuộc chiến với một lực lượng quân sự bảo đảm thành công chắc chắn.

Colin Powell lớn lên trong một nước Mỹ đang thay đổi. Cha mẹ ông được hưởng chính sách mở cửa thâu nhận di dân. Ông nhập ngũ mười năm sau khi quân đội không còn phân chia các đơn vị theo màu da. Ông rất hãnh diện cả cuộc đời ông được dạy dỗ tại các trường công lập, kể cả trường Đại học Thành phố New York (City College of New York).

“Tôi là một sinh viên CCNY tiêu biểu. Ngôi trường được lập ra để đón nhận các thanh niên nam nữ của các gia đình di dân nghèo. Các bạn học của tôi có khả năng không kém gì những sinh viên Harvard, Yale hay Princeton. Họ chỉ thua kém vì gia đình không có tiền và thiếu quan hệ móc nối. Nhưng khi ra trường họ vẫn có thể cạnh tranh và qua mặt các cựu sinh viên những đại học lớn nhất nước.”

Thành công trong cuộc đời của Colin Powell là một bài học cho con cháu các di dân. Có người coi ông là một bằng chứng nước Mỹ không còn vấn đề màu da nữa, nhất là sau khi con một di dân da đen đã được bầu làm tổng thống. Thực ra trong xã hội vẫn nhiều người còn mang tâm lý phân biệt chủng tộc, có lúc họ cũng rất lớn tiếng. Trong nước Mỹ vẫn có những người giàu càng giàu thêm, nhiều người nghèo từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhưng phải công nhận xứ sở này cho mọi người nhiều cơ hội thay đổi và tiến lên. Con cháu người Việt tị nạn ở Mỹ có thể coi Colin Powell là một tấm gương đáng noi theo. Chính các thế hệ di dân nối tiếp nhau góp phần làm nước Mỹ tiến bộ hơn, nhân đạo hơn, và hòa hài hơn nữa.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/colin-powell-chien-tranh-viet-nam/6282854.html

Ngày Ấy Một Chặng Đường – MĐ Nguyễn Tấn Vinh


Chuyện kể lại của MĐ Nguyễn Tấn Vinh

This image has an empty alt attribute; its file name is cac-chien-si-nhay-du-vung-tay-sung-chien-dau-sang-ngay-30-thang-4-1975.jpg

Cuối tháng ba năm 1975. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được không vận về Saigon. Lịnh ứng chiến một trăm phần trăm. Ba lô súng đạn giá ngay sân cờ. Mười mấy chiếc GMC túc trực sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào.

Tôi mệt mỏi ngồi xuống chiếc ghế sắt cũ kỹ trong câu lạc bộ sĩ quan tiểu đoàn. khẽ cựa mình, tiếng kẽo kẹt khô đét, lì lợm của chiếc ghế làm tôi khó chịu. Sài gòn tháng Ba vẫn thoang thoảng gió xuân muộn, cái cảm giác mát rượi dễ chịu từ cơn gió, không khỏa lấp được nỗi âu lo của một kẻ đứng trước cơn bão cát, chỉ còn chờ những hạt cát sắc cạnh, cháy bỏng táp vào da thịt.

Tổ mẹ nó… tôi lầm bầm chửi đổng, ở đâu cũng đem thân che bão, mà toàn là bão lửa, thứ bão lì lợm, chết người. Mới mệt nhoài leo lên, leo xuống ngoài Thường Đức! Đổ không biết bao nhiêu là máu để lên ngồi trên chỏm núi đá có cao độ 1062, ngồi hút thuốc, nhìn mông lung, cái mông lung vô hồn của một vùng đất chết… đất chết thật đó.

Xác người la liệt, nối đuôi nhau, nằm chồng chất lên nhau. Nằm sấp, nằm ngửa trong giao thông hào quanh ngọn đồi; nằm rải rác dài dài từ đỉnh đồi xuống chân núi. Xác nguyên vẹn cũng có, xác “banh ta long” cũng có. Mùi tử khí hôi thối cuồn cuộn giữa trời xanh. Cũng may là chỉ còn lại xác phe địch, xác phe ta thì đã gói ghém đem về.

Nhục, người lính phụ máy cho truyền tin tên là Nhục, hỏi:

“ Kỳ cục thật, khi không dành nhau một chỏm núi. Khi không nướng hết mấy trăm mạng người, rồi khi không… xuống núi, bỏ lại hết; xuống núi… xuống núi, bay gấp về Sài gòn. Vậy sao không bay về từ Huế, mà giành giật làm chi, nướng Lính làm chi mà giờ chiếm được rồi rút bỏ?

Tôi hằn học… ĐM mầy hỏi mấy ông ở trên kia kìa!… tôi chỉ lên trên mấy chiếc trực thăng đang nghiêng mình chém gió…. Tao cũng như mầy thôi! Biểu húc là húc… bất kể cha già mẹ yếu….. Mẹ nó! Hai thầy trò, một tên Vinh một tên Nhục… nó mới về trung đội, chân ướt chân ráo là ông trung đội phó “ấn” cho tôi. Nó hợp với tên ông thầy. Vinh Nhục. Nhục Vinh, hai người đèo bồng cho nhau lấy hên. Hên đâu không thấy, đang nghĩ ngợi lung tung lại thấy nó lại thấy nó lọ mọ đi vô:

* Thiếu úy! Đại đội mời họp…. Mới về tới SàiGòn có mấy hôm. Rồi! Xong! Bữa cơm tối tại nhà Quận coi như đi đong. Mới hôm qua tôi đã hứa với em, thế nào anh cũng về “Ngồi với Ba Mẹ em một bữa”. Tôi ngậm ngùi nhìn Quận! Em mong manh quá để có thể chia sẻ với tôi một đời giông bão. Tội cho em! Yêu làm chi người lính Dù, để rồi đời con gái, tuổi thanh xuân phải từng đêm nhung nhớ, đợi mong trong âu lo, phiền muộn! Yêu một lần nhưng nhung nhớ một đời vì một năm chỉ gặp nhau vài lần sau những ngày chiến trận, gặp nhau trong khoảnh khắc để ôm nhau quyện lấy nhau trút hết nỗi nhung nhớ yêu thương qua nụ hôn nồng cháy. Thôi anh đi đây đám bạn đang chờ!…..

Đấy tình yêu của người chiến binh Dù mong manh và ngắn ngủi. Khi đơn vị được về Saigon là đám Sĩ Quan trẻ chúng tôi tụm nhau uống rượu tìm say để quên đi những thống khổ, những mất mát đau thương của chiến hữu nơi trận mạc.

******

Sau những tháng ngày quần thảo với cộng quân tại mặt trận Thường Đức, Lữ Đoàn 1ND.Tham chiến toàn bộ cùng các TĐ.1-8-9. Với 100% quân số vì thời gian dài nằm trấn giữ biên cương nơi tuyến đầu sau hiệp định Ba lê. Từ lúc nhập cuộc tháng 8/74 cho đến tháng 11/74, qua các trận đánh nẩy lửa, nhất là trận 1062. Quân số tử vong và thương vong rất lớn vì địch quân hơn 3 sư đoàn, gồm pháo binh hạng nặng 130 ly, và phòng không yểm trợ tối đa. Chúng tôi chỉ một LĐ mà đánh giặc theo kiểu tiết kiệm vì lúc đó Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ. Hoàn toàn không có sự yểm trợ của đồng minh và hỏa lực.Nhưng LĐ1 ND đã hoàn thành nhiệm vụ trong danh dự của binh chủng nhất là chiến thắng vẻ vang tái chiếm đồi 1062 và đẩy lui địch quân vào sâu gần chi khu Thượng Đức.

Riêng TĐ 9 ND đã tiến chiếm thêm ngọn đồi B2 phía sau lưng 1062. Trấn giữ làm bàn đạp cho bước kế tiếp để tiến chiếm lại chi khu Thượng Đức và cũng là tiền đồn bảo vệ cho ngọn đồi chiến lược 1062.

Thế nhưng có lệnh rút bỏ 1062. Sau khi nhận lệnh, các trung đội trưởng đã nhận lãnh các antenna điện tử 3 chân màu xanh lá cây để đặt lại các ngọn đồi, kể cả 1062 để toán tác chiến điện tử ở Non Nước, Đà Nẵng theo dõi tiếng động của bước chân người di chuyển.

Còn chúng tôi toàn bộ TĐ 9ND rời bỏ 1062 trong đêm tối. Tr/úy Thăng Đ/Đ trưởng 94. Gọi các Tr/đội trưởng về họp ban lệnh hành quân và cho lệnh các tr/đội di chuyển.

Chúng tôi lãnh mỗi người một ổ bánh mì với đường, dự trù cho bữa ăn trưa ngày hôm sau. Cấp trên cho biết, khi ra khỏi vùng pháo kích của địch quân thì sẽ có xe GMC đón ra ngoài.

Tiểu đoàn bắt đầu di chuyển lúc 12 giờ đêm, đội hình hàng một trong đêm tối thinh lặng. Người sau nối đuôi người trước. Tr/đội 2 của tôi đi sau cùng của ĐĐ Và ĐĐ94 bao chót của TĐ.

Sau nhiều giờ men theo dấu chân đường mòn của người đi trước lên đồi xuống suối, trời bắt đầu mưa nhẹ hạt, cơn mưa kéo dài cả tiếng đồng hồ. Đường mòn nhỏ trở nên trơn trợt làm cho sự di chuyển khó khăn và chậm chạp. Nhất là các binh sĩ bị bệnh sốt rét bắt đầu lên cơn.

Khoảng 4 giờ chiều chúng tôi đến một con suối cạn thì bắt gặp một số đông binh sĩ của các đại đội khác rớt lại vì bệnh và đuối sức; đặc biệt một người lính tr/đội 2 của tôi bị sốt rét lên cơn không thể di chuyển vì quá yếu.

Tôi ra lệnh cho người khác mang ba lô cho anh ta, nhưng sau vài bước chân chậm rãi mệt nhọc, cuối cùng anh ta ngất xỉu. chúng tôi không có cáng để khiêng vì y tá của đại đội đã đi trước quá xa.

Tôi gặp Th/úy Thành thuộc ĐĐ90 cũng là người chú bà con với tôi, anh ta đã nóng giận khi thấy các binh sĩ ngồi bẹp xuống đất không thể di chuyển nên quát tháo và hối thúc họ lên đường vì sợ đêm tối buông xuống mà chúng tôi còn rất xa TĐ.

Cuối cùng chúng tôi thay phiên dìu người lính sốt rét của tôi đến chân ngọn đồi trọc. Đường mòn trơn trợt quá leo lên tụt xuống đã rất khó cho người khỏe mạnh chứ nói chi đến kẻ bịnh. Tôi cho một binh sĩ kéo tay hắn ta và tôi thì đẩy đít nó lên gần tới đỉnh đồi, hởi ôi người lính phía trước nắm lấy thân cây bằng ngón tay cái để lấy đà kéo lên nhưng thân cây đã gãy với sức nặng của hai người. Chúng tôi bị tụt xuống lại chân đồi. Quá mệt mỏi chúng tôi đuối sức. Cố hết sức chỉ đưa hắn ta lên gần nửa ngọn đồi và để nó nằm lại đó, tôi lấy Poncho và mền đắp cho anh ta. Khi tôi lên được đỉnh đồi chỉ cách thêm 25 thước; gặp một chốt của TĐ7 ND. nhờ họ đem võng xuống khiêng anh ta lên để nằm lại đó hôm sau tản thương.

Chúng tôi tiếp tục lên đường khoảng 7:30 chiều hôm đó. Sau cùng, toàn bộ tr/đội 2 và các bệnh binh của TĐ đã ra đến điểm hẹn của TĐ. Mọi người rã rời, mệt lả vì đói khát. Một cuộc triệt thoái không bao giờ quên trong đời binh nghiệp.

Sau Khi triệt thoái khỏi 1062, đơn vị đang đóng quân tại Quận Đại lộc tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng. Tiểu Đoàn bung rộng ra các xã Hòa Vang, Hòa Mỹ, Hòa Phước.. Đối với Nhảy Dù mà được đóng quân trong Ấp, Xã có dân chúng là một đặc ân lớn (một hình thức dưỡng quân sau những ngày đánh đấm tơi bời hay nằm tuyến phòng thủ đối diện địch quân trên những cao điểm chiến lược, chiến thuật quá lâu).

Buổi sáng, đang nhâm nhi ca cà phê (cái ca sắt của lính) thì Dũng âm thoại viên gọi:

“Thẩm quyền! đích thân 21 trên máy”.

— 19 tôi nghe 21.

– Anh cho kiểm điểm lại quân số, bao nhiêu ông già 60, bao nhiêu cấp số đạn? Báo về Đại Đội trong ngày hôm nay.

Linh tính cho biết có chuyện sẽ nhập cuộc tôi vội hỏi

-Mình vào vùng hả Đích Thân? Trám tuyến hay có đồ chơi ?

– Về Saigon. Nhưng tuyệt đối bảo Mật cho đến khi rời tuyến.

– nhận rõ 5/5 Đích Thân.

Những ý tưởng về Saigon gặp em, đi xi-nê dạo phố, cafe ở Rex lòng tôi tràn ngập niềm vui. Tôi cho gọi 4 tiểu đội trưởng đến cho lịnh kiểm điểm quân số. Súng đạn để báo về ĐĐ.

Hôm sau những người lính Mủ Xanh (TQLC) từ Huế vào trám tuyến hoán đổi cho chúng tôi, khi tất cả đã hoàn tất. Chúng tôi những người lính của TĐ 9 Nhảy Dù lên xe GMC ra phi trường Non Nước để được không vận về Saigon.

Khoảng 10 giờ sáng đoàn xe bắt đầu chuyển bánh một hiện tượng bất ngờ xảy ra. Đó là dân chúng túa ra chạy theo xe hai bên đường la lớn:

“Nhảy Dù đừng đi! Nhảy dù đừng đi! Ở lại với chúng tôi!”.

Một số đông đồng bào lại gồng gánh bắt đầu di tản. Vì thấy tình hình dân chúng quá hoang mang chúng tôi được lệnh ở lại đợi tối khuya dân chúng ngủ rồi mới lên đường.

Về đến hậu cứ trại Châu văn Tiếp trong Hoàng Hoa Thám lệnh ứng chiến 100%. Ba lô súng đạn được giá ở sân cờ Tiểu Đoàn. Xe GMC túc trực 24/24 chúng tôi có thể đi hành quân bất cứ lúc nào. Thế là giấc mơ gặp Em tan biến. Nhưng có nhờ nhắn tin em đã vào hậu cứ thăm tôi.

Nằm ứng chiến tại hậu cứ hơn một tuần thì được lịnh hành quân tái chiếm Xuân Lộc, Long Khánh. Lịnh xuất phát bảy giờ tối. Đoàn xe không mở đèn, âm thầm lăn bánh, cho đến khi ra khỏi vòng đai thành phố mới được mở đèn.

Tôi ngồi ghế trưởng xa trên chiếc xe thứ nhất của đại đội. Đoàn quân xa di chuyển khỏi cổng tiểu đoàn, tôi bỗng nôn nao như linh cảm chuyến đi này là lần cuối cùng tại hậu cứ… có khi nào mình sẽ đi mãi không về. Trong ánh đèn hiu hắt, vàng vọt ở cổng doanh trại, hình như Quận đang đứng đó, tôi chỉ kịp nhìn thấy chiếc Yamaha màu xanh và một ánh mắt nhìn theo. Cố nhoài mình ra cửa xe, tôi vẫy tay gọi lớn …. Quận! … Quận…! Anh đi….

Những băn khoăn về gia đình, cha mẹ, dấy lên tràn ngập tâm hồn tôi. Tin chiến sự miền Trung đã mất, cả dòng họ tôi chỉ mỗi người chú ruột là Cảnh Sát chi khu Bình Sơn may mắn di tản vào được Saigon theo đoàn người chạy loạn.

Khoảng một, hai giờ sáng xe đổ quân ở ngã ba Dầu Giây, tỉnh Long Khánh. Cả tiểu đoàn ép sát vào bìa rừng cao su chờ đợi. Bảy giờ lịnh của đại đội cho các trung đội tập họp ở bãi đất trống gần quốc lộ, chờ trực thăng đến bốc.



Tiếng phành phạch của cánh quạt trực thăng xa xa vọng lại rồi liền sau đó “những con quạ đen khổng lồ” xuất hiện bốc chúng tôi vào vùng hành quân. Trước khi lên trực thăng tôi còn thấy có phóng viên ngoại quốc phỏng vấn một vài người trong đoàn quân của TĐ 9 Nhảy Dù lại ra tuyến đầu ngăn chận địch quân trong giờ thứ 25.

Trực thăng đổ chúng tôi xuống rừng cao su Xuân Lộc. Lấy đội hình tiến quân. Trung đội 2 của tôi hàng ngang đi đầu, trung đội 1 và 3 hai hàng dọc bên trái và phải, trung đội 4 hàng ngang sau cùng tiến bước theo những gốc cây cao su thẳng hàng ngay lối như một cái hộp di chuyển trong cánh rừng. Nếu đụng địch hướng nào chúng tôi cũng sẵn sàng chống đỡ và yểm trợ cho nhau. Người lính mang máy đưa ống liên hợp cho tôi và nói Đích Thân 21 gọi

– 19 đây 21

– 19 tôi nghe đích thân.

– Anh cho con cái đi chậm giữ im lặng quan sát thật kỹ phía trước, vì trước mặt chúng ta là vùng phi oanh kích.

– Nhận rỏ 5/5 đích thân.

Nửa tiếng sau khinh binh ra dấu dừng bước và cho biết thấy căn nhà trước mặt, tôi báo máy về đại đội và gởi ba người bò lên sát căn nhà.

Không có dấu hiệu của địch, chúng tôi vào nhà thì có hai người đàn bà nói giọng Quảng Nam họ cho biết căn nhà ông Năm là chủ nhân, họ chỉ là người làm công. Tôi hỏi ông Năm đâu họ nói vừa mới lái xe đi khi trời vừa sáng.

Căn nhà thật khang trang, phòng khách có bộ ghế gỗ quí màu vàng óng ánh và trên tường treo những đầu nai có sừng to. Tôi báo về đại đội và nghe giọng nói của Đích Thân Lê Mạnh Đường tiểu đoàn phó vẳng theo loa trong máy đại đội…

Chúng tôi tiếp tục di chuyển theo hướng tiến quân trên bản đồ. Bỗng dưng nghe tiếng hỏi ai đó? Tiếp theo, tiếng súng nổ, hỏa lực rất hùng hậu đủ các loại vũ khí.

Tôi nép vào một gốc cây và quan sát, lệnh cho tiểu đội bên phải theo các gốc cao su tiến sát lũy tre và hàng rào kẽm gai trước mặt. Chỗ này không dễ gì liều mạng để “nhào dô”.

Kiểu phòng thủ của Ấp chiến lược, rất cứng để làm chậm sức tấn công của địch trong khi chờ viện binh, với hàng rào tre gai và lởm chởm kẽm gai. Chắc chắn sau đó sẽ là giao thông hào và các hỏa điểm.

Tôi phân vân…có phải địch đã chiếm vị trí này? Hay quân bạn?… Kệ mẹ nó, mầy bắn tao thì tao dứt mầy cái đã… tính sau!! Nhảy Dù mà!

Tôi cho tiểu đội khinh binh xử dụng cùng một lúc bốn trái M72 thổi vào bụi tre non thưa thớt với ý định đục một lỗ thủng để xung phong, một trái đạn lọt xuyên qua trúng căn nhà bốc khói sập mái. Súng nổ càng dữ dội hơn, có tiếng la ngay trước mặt “ĐM đem cây đại liên 60 lại đây”.

Tôi ngóc đầu lên sau gốc cây cao su và thấy lố nhố người di chuyển dưới giao thông hào, đầu đội đủ các thứ nón và một số để đầu trần. Tôi gọi máy về đại đội xác nhận lại có thể chúng ta đánh nhầm quân bạn vì địch quân không chửi thề ĐM (nó có chửi thề thì phải là đéo mẹ). Nhưng Đại Đội Trưởng Thăng khẳng định trước mặt hoàn toàn là địch không một đơn vị bạn nào theo tin ban hai của tiểu đoàn.

Tiếng súng thưa dần một người mặc quân phục bộ binh tay cầm Speaker phone loại ấp chiến lược hô to:

– Chú ý nếu các bạn là QLVNCH thì bỏ súng đứng lên. Câu nói nầy như là lời kêu gọi đầu hàng của địch quân nên chúng tôi vẫn nằm yên tại chỗ, ông ta tiếp tục kêu gọi và tiếng súng im hẳn tôi nói với Lê Ta đang nấp sau cây cao su trước mặt tôi. “Lê Ta mầy đứng lên nói là Nhảy Dù đây”.

Lê Ta tần ngần… “ĐM. mầy đứng lên ép sát vào thân cây đưa cánh tay trái có phù hiệu ND ra nếu nó bắn trúng chỉ bị thương tay trái tao cho di tản”. Lê Ta đứng lên, người đàn ông trông thấy hắn liền hỏi:

– Chỉ huy anh đâu?

Tôi đứng lên, tiến đến ông ta. Tôi nhận ra ông là một thiếu tá bộ binh.

Khi vừa qua khỏi bờ giao thông hào thì một số người chĩa súng vào tôi than khóc đòi trả mạng của cha, chú cho họ. Tôi lúng túng vì sợ họ mất bình tĩnh cướp cò tôi sẽ chết oan. Ông thiếu tá bộ binh kêu gọi họ bình tĩnh bỏ súng xuống nhưng vô hiệu.

Từ xa bên trái có một người mặc bộ đồ đen tuổi trung niên tiến về chúng tôi vừa đi ông ta vừa hỏi:

– Cái gì thế?

Tuyệt nhiên mọi người im lặng, tôi hỏi người bên cạnh được biết đó là ông Cha xứ của ấp Bảo Định. Trung úy Thăng, đại đội trưởng lên gặp Cha, trao đổi với nhau chúng tôi được biết ông đã cùng dân làng quyết tử thủ nên mới có sự nhầm lẫn đáng tiếc xảy ra.

Được biết, trung tá Nguyễn Văn Nhỏ Tiểu đoàn trưởng TĐ 9 chúng tôi bị thương ở cổ vì mảnh đạn súng cối 60 của Cha xứ bắn ra. Lính tôi ba người bị thương một nặng đổ ruột. Bên phía dân làng hai người chết, ba bị thương trong căn nhà sập vì M72 trong đó có một ấp phó an ninh.

Trưa hôm đó Cha xứ cho giết heo khoản đãi. Chúng tôi tạm dừng quân chờ tải thương trước khi tiếp tục di chuyển.

Trung đội phân tán vào các vị trí quanh ngôi nhà thờ nhỏ. Tôi cởi nón sắt và tự nhiên quỳ xuống làm dấu thánh giá. Hình như đã lâu, tôi đã quên mất lời kinh nguyện, có điều gì như một lời hối lỗi chạy nhanh qua và mất hút cuối tầm mắt hướng về Cung Thánh.

Ngọn nến leo lét như một hy vọng nhỏ nhoi, nhưng bền bỉ niềm tin làm tôi xót xa nghĩ ngợi…. Cả một Quân đội đã không bảo vệ được người dân mà để họ phải cầm súng!

Tôi rùng mình…liệu cái xứ đạo nhỏ bé nầy còn sống được bao nhiêu người khi bánh xích T54 tràn qua?… Xin Chúa thương xót chúng con…tôi lẩm bẩm cầu nguyện và không biết phải xin Chúa cho tôi điều gì khi quanh tôi đã có quá nhiều tan nát.

Cuối cùng thì không có tải thương. Chúng tôi phải mang theo thương binh và tiến sâu vào các rừng cao su cũng như các vườn cây ăn trái của Tướng Tỵ. Tái chiếm lại những vùng bị địch quân chiếm đóng. Mặt trận càng ngày càng khốc liệt.

Tôi lại được lịnh 94 vào bắt tay với đại đội của Nguyễn Quốc Bảo Huệ tiểu đoàn 8. Khi đến vườn chuối, trung đội 2 của tôi đụng nặng. Địch quân núp dưới hầm có nắp làm bằng thân cây cao su và cây chuối, phủ lá chuối rồi đắp đất bên trên rất kiên cố. Nơi đây là ổ súng cộng đồng thượng liên và B40 hỏa lực địch rất dữ dội (xin nói rõ chiến trường ở đây là đồng bằng trong các vườn cao su và trái cây nên đôi bên dùng hỏa lực súng cá nhân và cộng đồng tấn công nhau. Không như chiến trận vùng 1 ở mặt trận Thường Đức 1062. Núi đồi dốc đứng đánh nhau bằng lựu đạn nhiều hơn)

Địch quân chống trả mãnh liệt quyết cầm chân chúng tôi không cho qua khỏi vườn chuối để trám tuyến cho Bảo Huệ.

Đánh nhau từ sáng đến trưa chúng tôi không vượt qua được vườn chuối và thiệt hại khá nặng. Cuối cùng phải chọn hai chiến binh tình nguyện bò sát hầm địch quân, tung lựu đạn vào hầm. Diệt được ổ súng thượng liên, chúng tôi xung phong băng qua vườn chuối đến bìa rừng cao su, cố gắng bắt tay với tiểu đoàn 8, nhưng bị khựng lại.

Địch quân ngồi trên ngọn cây cao su khạc đạn xuống lính ND dưới đất. Lại lãnh thẹo thêm mấy con nữa. Quá đau lòng tôi điên tiết hô xung phong và cùng binh sĩ bắn xối xả lên các ngọn cây để trút hết căm hờn, xác địch quân rụng như mít chín .

Những ngày kế tiếp được lịnh ra nằm giữ pháo binh. Buổi sáng trung úy Thăng gọi tôi qua lều gặp ông cho lịnh dẫn đại đội trừ đi lục soát, anh nói tôi muốn chọn trung đội nào nữa tùy ý, chỉ súng đạn đi lục soát chiều về. Tôi về lều chuẩn bị thì anh Thăng gọi trở lại và nói lịnh tiểu đoàn là cà đại đội đi lục soát.

Tôi gặp thượng sĩ thường vụ là Đặng Văn Chinh biệt danh Năm Râu, trước của lều. Anh nhìn tôi rồi vừa nói vừa ở túi áo lấy ra một gói nylon loại đựng gạo sấy, đưa cho tôi bảo .

– Ông bọc theo cái nầy hôm nay nhìn ông thấy dữ nhiều lành ít.

Tôi hơi thắc mắc nhưng vẫn nhận cái bịch nylon và bỏ vào túi áo bên trái.

Chúng tôi đi trong rừng cao su bỏ hoang vì chiến tranh nên cỏ mọc cao trên đầu gối, không chạm địch, tình hình yên tĩnh, đến trưa tôi nghe tiếng động bên hông phải dừng lại quan sát nhưng không thấy động tĩnh gì. Tiếp tục di chuyển thì nghe tiếng xào xạc và nhìn thấy cỏ lau lay động, linh cảm địch đã phát hiện và bám theo chúng tôi. Tôi báo cáo lên đại đôi và tiếp tục di chuyển, cho đến khi tiếp cận với một trảng trống. Khoảng đồng trống cách xa chừng 1000 – 1500 mét về bên phải, địch quân lố nhố sát bìa rừng cao su. Tôi báo máy lên anh Thăng và xin pháo binh dập chúng, nhưng không nghe thấy tác xạ. Sau nầy nghe nói tiểu đoàn không xin được pháo vì … pháo binh đã hết cấp số đạn quấy rối, chỉ còn rất ít, phải để dành khi đụng trận. Chiều lại, đại đội cho lịnh trung đội một của thiếu úy Chu Y Quí khoanh tròn tại chỗ còn tất cả tiến thêm khoản 500 thước cũng khoanh tròn đóng quân. Chúng tôi vừa đào hầm hố cá nhân xong thì súng nổ bên hướng của trung đội 3 rồi súng nổ vang trời khắp nơi.

Anh Thăng ra lịnh không được bắn cho đến khi nào thấy địch, vì sợ nó dụ chúng tôi bắn hết đạn. Đêm về tôi cho toán nhỏ đi kích đêm trong vườn mảng cầu bên tay phải. Nửa đêm một toán nhỏ địch quân mang mấy ba lô cơm vắt đi tiếp tế ngang qua. Toán kích đêm của trung đội tôi bắn hạ và lấy được ba lô cơm vắt về chia cho cả đại đội ăn tạm, nhờ đó chúng tôi sống qua hai đêm ba ngày bị bao vây.

Nơi đây không thức ăn và nước uống cũng đã hết. Tôi đã uống nước sương đọng lại trong chén mủ cao su lâu ngày vàng ói và tanh hôi vì quá khát.

Sáng ngày hôm sau anh Thăng gọi tôi qua hầm BC của anh, và chỉ cho tôi phía trước mặt có cái chòi nóc lợp tôn và bảo tôi phải mở đường máu ra đến cái chòi tôn đó mới bắt tay được với đại đội 93.

Khoảng cách cỡ 100 thước. Tôi gọi trung sĩ Thành đến để bàn bạc về việc phải mở đường máu ra chòi tôn. Bất ngờ, một loạt AK bắn thẳng vào người tôi, tôi ngã sấp xuống nửa người dưới hố, mặt tôi nóng rang, đưa hai tay vuốt mặt xem không thấy máu, nón sắt tôi rớt ra ngoài Dũng, người lính mang máy đưa nón sắt cho tôi đội lại lên đầu năm dấu đạn lún sâu vào nón sắt nhưng không lủng.

Thấy tôi lồm cồm ngồi dậy trên miệng hố. Anh Thăng la lớn:

“ĐM chúng nó nói anh có bùa hộ mạng đúng thật rồi”.

Anh bảo khi nghe loạt đạn và nhìn thấy tôi ngã sấp tưởng là sẽ gói xác chứ đâu ngờ tôi vô sự. Thế là việc mở đường rút quân của trung đội 2 tôi không thành. Anh Thăng gọi xin tiểu đoàn cứu ứng, chúng tôi đã hai đêm hai ngày dài không ăn không uống. Vì tất cả ba lô đã đề tại chỗ, đi về trong ngày nhưng chúng tôi đã bị bao vây.

Tiểu đoàn cho biết sẽ có thiết giáp và tùng thiết đến kéo chúng tôi ra. Đại đội cho lệnh tất cả xuống hố cá nhân tránh đạn lạc, vì pháo binh sẽ nổ rất sát và hỏa lực của thiết giáp sẽ bắn qua đầu.

Đại liên của Thiết Giáp nổ liên tục càng bắn càng tiến gần về chúng tôi để mở vòng vây. Chúng tôi được Thiết Giáp vô tiếp tế thức ăn nước uống rồi chiều lại rút ra với tiểu đoàn.

Khi đó khoảng 5-6 giờ chiều băng ngang qua giữa rừng cao su và vườn mảng cầu có ngã ba đường quẹo phải nhưng thiếu úy Quí lầm đường quẹo trái nên đi lạc và bị địch quân bắt làm tù binh. Sau nầy Quí cũng đi Mỹ diện HO.

Tối đến chúng tôi ra đến bộ chỉ huy tiểu đoàn, nhìn thấy cảnh y tá chích thuốc cho các thương binh nặng rồi để nằm lại tại chỗ còn tất cả cột dây trắng nơi tay trái hàng một nối đuôi nhau di tản rút khỏi Xuân Lộc. Khi ngang qua ấp Bảo Định và Ấp Bảo Bình giữa đêm khuya dân chúng thức dậy theo chúng tôi ra quốc lộ di tản về Phước Tuy.

Khoảng một giờ chiều tôi đến đồi đá gặp ngay trung tá Lê Hồng Lữ đoàn phó. Ông ra lịnh bằng miệng cho tôi… “ông thiếu úy dẫn trung đội lên chiếm ngọn đồi cho tôi mau”.

Nhìn theo ngón tay chỉ về hướng ngọn đồi đá trước mặt tôi nhìn thấy có cây cờ xanh đỏ cắm trên đỉnh đồi. Không do dự, tôi liền dẫn lính cùng chạy lên xung phong đánh chiếm ngọn đồi. Vì lữ đoàn phó ra lịnh trực tiếp bằng miệng ai dám cãi lời?

Chúng tôi chiếm ngọn đồi hạ cây cờ không khó khăn vì .. khôngcó địch. Được biết chỗ ấy lúc đêm khuya, bộ chỉ huy lữ đoàn 1 và bộ chỉ huy tiểu khu Long Khánh di tản đến đó đã bị phục kích nên khựng lại.

Tiểu đoàn được lịnh rẽ phải đi trong rừng cao su về Phước Tuy. Về đến Phước Tuy đại đội 94 đóng quân trên núi ông Tịnh gần sân bắn của quân trường Vạn Kiếp.

Chiều hôm sau anh Thăng theo xe phát lương về Saigon tôi được chỉ định Xử Lý Thường Vụ Đại Đội Trưởng 94.

Lúc bấy giờ có ba thiếu úy tăng cường về 94. Có hai người khóa 29 Đà Lạt ra trường non vì mất Đà Lạt và một người từ đơn vị bộ binh quân khu 2 di tản, xin về ND. Tôi chỉ thị 2 ông Đà Lạt về nắm trung đội 2 thay thế tôi và ông kia về trung đội một.

Tối đến Đích Thân Chi Lăng ban ba của tiểu đoàn lịnh cho tôi đưa đại đội xuống đường lộ để vô bảo vệ thị xã Phước Tuy.

Tôi lên máy thông báo cho các trung đội trưởng kế hoạch chuyển quân. Hai trung đội đi trước vào đổ quân gần sát thị xã làm đầu cầu chờ trung đội 3 và 4 đi sau vì chỉ mỗi một chiếc GMC.

Chuyến sau vừa qua khỏi ngã ba Vũng Tàu thì một loạt súng nổ vang từ bìa làng bên tay trái, người tài xế hốt hoảng, xe chệch xuống lề đường bên phải bờ ruộng lúa đã gặt xong. Tôi ra lịnh cho binh sĩ ép sát lề đường, và báo máy về tiểu đoàn. Sau đó tiếng súng im bặt không có tổn thất, quá may mắn!

Lúc bấy giờ trung tá Lê Hồng vào tần số đại đội hướng dẫn tôi trực tiếp trên máy chỉ tôi cách tiến quân vô thị xã và bố trí đóng quân… khuya hôm đó thì bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 và Trinh sát 1 rút quân.

Gần sáng địch quân pháo kích. Cơn mưa pháo dội xuống thành phố Bà Rịa trong chốc lát tan hoang, đổ nát, chết chóc thê lương!!

Tiếng máy gọi về báo cáo tổn thất của các trung đội, chưa kịp ra lịnh cho các trung đội trưởng thì máy của tiểu đoàn gọi xuống ra lịnh cho tôi… tôi lúng túng vì lần đầu tiên phải ứng xử trong tình huống tai bên trái nhận lịnh từ tiểu đoàn, bên phải áp sát ống liên hợp vào tai, miệng thì ra lịnh cho cả trung đội trên cương vị người đại đội trưởng tại mặt trận.

Tiếp theo là chiến xa địch tràn vào thị xã Phước Tuy. Chiếc T54 chạy ngang qua mặt chúng tôi cách hố cá nhân của mấy thầy trò tôi vài thước, K Tem (gốc người thiểu số) dương khẩu M72 chưa kịp bóp cò vì còn nhắc tôi ghi tên để lãnh tiền thưởng có công diệt chiến xa. Rất may nếu không tôi đã bị sức phụt hậu của M72 ngay mang tai thì chắc đi đoong.

Vì bị trung đội 3 của Bền thổi M72 quá rát, xe lùi lại, trở đầu. Khi vừa qua khỏi chúng tôi mấy thước, K Tem thổi trái M72 ngay đít xe; bốc khói, xe đâm vào bồn chứa nước của thành phố.

Tiếp theo, nhiều chiếc PT76 và T54 tiến vào; có cả bộ binh tùng thiết khạc đạn như mưa. Cùng lúc địch quân pháo kích khắp nơi trong thị xã.

Chúng tôi chiến đấu đơn độc không có pháo binh và phi pháo yểm trợ. Chống cự với địch quân đông đảo, hỏa lực mạnh gấp trăm lần trong suốt buổi sáng, đại đội 94 nát như giẻ rách!

Thành phố đổ nát điêu tàn, cảnh chết chóc thê lương của dân, của lính, của giặc thù sau cơn lốc bão lửa ập xuống.

Cuối cùng thiếu tá Lê Mạnh Đường tiểu đoàn trưởng ra lịnh cuốn chiếu, chúng tôi may mắn còn gặp một chiếc M113 cuối cùng di tản, xe bị đứt xích bên phải nhưng vẫn ì ạch lăn bánh. Họ cho chúng tôi lên xe chạy ra cầu Cỏ Mây.

Sau khi giựt sập cầu TĐ 9 án ngữ tại đây.

Chiều ngày 29/4/75, tiểu đoàn 9 di tản từ cầu Cỏ Mây về bến Đá, Vũng Tàu cùng với thiết vận xa M113 tăng phái.

Chúng tôi xuống các ghe đánh cá của dân chúng neo gần đó đã được Lữ Đoàn chiếm giữ. Khoảng 1-2 giờ sáng đến Vàm Láng, Gò Công, các đại đội trưởng phải liên lạc và gom quân về lại trên từng chiếc tàu của mình.

Mỗi đại đội một chiếc riêng, bộ chỉ huy tiểu đoàn cũng trên một chiếc riêng biệt cùng với khoảng ba mươi quân nhân của Thiết Giáp, có ông đại úy chi đoàn trưởng tên Lượng.

Sáng ngày 30/4/75 ông Đường ra lịnh cho 94 tôi đổ bộ vô bờ tại chợ Vàm Láng. Nhưng khi tàu vào gần bến súng nổ dữ dội về hướng chúng tôi; không vô được nên phải trở ra neo tàu gần các đại đội khác.

Gần trưa ngày 30/ 4/75 ông Minh tuyên bố đầu hàng. Ông Đường gọi máy các Đại Đội trưởng đến tàu của ông họp. Tôi cùng với Dũng người hiệu thính viên, lấy chiếc ghe đuôi tôm chạy lại tàu ông Đường. Sau khi tuyên bố tình hình chiến sự, cho biết vì ông Dương Văn Minh đã ra lịnh đầu hàng chúng ta cũng rã ngũ. Ổng có nhận được nguồn tin từ Quân Đoàn 4 cho biết hướng đi phương giác 17 ra hải phận quốc tế sẽ gặp hạm đội 7 của Mỹ, nếu ai muốn đi thì theo ông, còn ai muốn về với gia đình thì tùy ý.

Chúng tôi về nói lại với lính của mình, một số ít lên bờ số còn lại quyết định đi cùng với tôi. Tôi hỏi người tài công, anh ta cho biết dầu chỉ còn đủ chạy về đến Vũng Tàu vì họ đi đánh cá gần biển Thái Lan khi về đến đây bị chúng tôi bắt. Thế là tôi lấy chiếc ghe đuôi tôm chạy xin dầu từ các tàu chung quanh nhưng chỉ xin được mười mấy lít.

Tôi lấy ống nhòm nhìn ra biển thấy được một chiếc tàu đang chạy về hướng chúng tôi, liền nói Dũng mang máy lên ghe đuôi tôm chạy ra chận đầu, tôi đã chặn bắt được chiếc tàu sắt to lớn, màu trắng có đầy đủ dụng cụ hải hành như antena và rada.

Dẫn chiếc tàu ấy vô lại tàu đánh cá để đưa nguyên đại đội 94 lên định cùng đi Mã Lai với họ. Nhưng ông Hồi gọi máy lên báo cho ông Đường là tôi bắt được chiếc tàu sắt to ngon lành và có ông thiếu tá Hải Quân làm tài công. Thế là ông Đường gọi máy lịnh cho tôi đưa chiếc tàu sắt mới bắt được lên cho ông. Và ông Đường cùng bộ chỉ huy tiểu đoàn và binh sĩ của đại đội 90 lên tàu sắt. Để lại ông đại úy Lượng và lính Thiết giáp trên chiếc tàu cũ của ông. Phần tôi về lại chiếc tàu đánh cá cùng đại đội 94.

Đến 4 giờ chiều khởi hành ông Đường trên chiếc tàu sắt sơn màu trắng dẫn đầu các tàu của từng đại đội 91, 92, 93 và 94 chạy theo. Chiếc tàu của Thiết giáp chạy sau cùng. Đến tối tàu của tôi hết dầu gọi ông Đường xin cấp cứu ông trả lời …đang ở trước quá xa không thể quay lại, bảo tôi lên các tàu của những đại đội khác. Lúc đó anh Tường đại đội trưởng 93 chạy ngang qua tôi nhưng tàu anh lính đông quá không thể chở thêm. Tôi gọi ông Đường cầu cứu và ông bảo tôi còn tàu của Thiết Giáp.

Tôi liên lạc với ông Lượng, ông không muốn cứu chúng tôi. Tôi hăm dọa là sẽ bắn M72 chìm tàu ông nếu không cứu tôi. Tôi nghe được ông chủ tàu nói vào máy ông Lượng là tàu lớn còn rộng chỗ có thể chở thêm cả trăm người, nên đồng ý ghé qua vớt chúng tôi.

Lúc bấy giờ có khoảng mười mấy người lính 94 cùng ở lại với chiếc tàu hết dầu. Khi lên tàu với Thiết Giáp, đại đội 94 tôi còn tất cả là 86 người có Lê Ta, Hạ sĩ nhất Cáp Cội, Dũng mang máy cho tôi và Bình, K Tem người đệ tử khỏe mạnh hiện sống ở Dallas và Bò, Thanh thợ cắt tóc, Cảnh y tá, Minh cá trê y tá, Tám rau má, Quang lòi… và thằng Nhục, “phụ tá truyền tin”

Sau khi lên tàu cùng với Thiết Giáp, tôi ngủ một giấc thì ông Lượng gọi dậy nói gọi cho ông Đường không được. Tôi gọi cũng không được và nhìn vào hải bàn trên tàu của ông chủ thấy hướng 17 ở vòng đỏ.

Chúng tôi đi lạc hướng, tôi mở địa bàn ra và đưa mũi tàu về đúng hướng 17 ly giác, một lúc sau bắt được tần số của tiểu đoàn và nhìn thấy đoàn tàu của ông Đường chạy bên phải. Chúng tôi liền chạy theo cho đến tối thì gặp hạm đội Mỹ.

Lúc tàu chúng tôi chạy theo đoàn tàu tiểu đoàn, quân số ĐĐ 94 là 86 người kể cả tôi, máy truyền tin PRC 25 vẫn liên lạc với TĐ và vẫn nhận lịnh từ Đích Thân 504 Lê Mạnh Đường; súng ống còn đầy đủ cả cối 60 ly. PhíaThiết Giáp 26 người. Dân sự 8 người tất cả. Nhưng cuối cùng dân sự chỉ có 4 người lên tàu Mỹ trong đó có Vợ tôi bây giờ Nguyễn Thu Vinh.

Sau khi theo được đoàn tàu tiểu đoàn, tôi định nhắm mắt ngủ tiếp thì thằng Nhục tới khều khều:

– Thiếu úy! Xuống sau bếp ăn chén cơm nóng có thịt kho nữa.

Tôi hỏi:

– Cơm thịt đâu ra mà ăn?

Nó ra dấu im lặng vừa nói nhỏ cứ xuống ăn đi. Thế là chúng tôi, Dũng và Nhục, ba thầy trò ra sau bếp. Trời!! tôi trố mắt nhìn nồi cơm trắng bốc khói và nồi thịt kho đậm màu cánh dán, óng ánh trong nước mỡ của thịt quá tuyệt vời. Tôi định bụng chỉ ăn mỗi đứa một chén thôi. Nhưng sau bao nhiêu ngày chiến trận khốc liệt đói khát không có cơm nóng như thế này nên chúng tôi đã không cầm được sự cám dỗ của lòng háu ăn nên thanh toán sạch sẽ cả cơm và thịt trong nháy mắt.

Hehehehehe Nhảy Dù mà, đánh nhanh rút lẹ. Ngồi trên Divan với điếu thuốc trên tay say sưa với cảm giác mặn ngọt và béo ngậy của những miếng thịt kho với cơm nóng, bữa ăn ngon nhất trong năm của đời lính trận, bỗng nhiên một cô bé đến bên tôi cất tiếng nhẹ nhàng:

– Thiếu úy! Thiếu úy có thịt hộp không? Cho em một lon.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Cháu xin thịt hộp làm gì?

– Dạ ở đây mới nấu nồi cơm và kho nồi thịt cả nhà chưa kịp ăn giờ ra sau bếp không biết ai đã ăn hết cơm và thịt. Cô bé trả lời và nói tiếp:

– Trên tàu đồ ăn như cá khô thì nhiều nhưng Ba em ăn cơm phải có thịt quen rồi.

Tôi áy náy và hối hận cùng với nỗi xấu hổ không biết đục mặt đi đâu. Không biết trên mặt, trên môi tôi có còn dính chút mỡ heo nào không. Lỡ rồi, tôi phải đóng cho tròn vai:

– Ê Nhục! Mầy coi còn hộp “ba lát” nào không… đưa cho “cháu” đây.

– Ủa! Mình mới được trực thăng thả đồ tiếp tế hả thiếu úy? Cái thằng ôn dịch, còn chơi tôi. Tôi biết chắc cả đại đội không có đứa nào còn thịt hộp vì chúng tôi đã đánh nhau suốt cả tháng trời không được tiếp tế ngay cả đạn dược cũng không, lấy đâu ra thịt hộp lương khô!!

Nhờ có bữa cơm nóng với thịt kho trên tàu thế mà duyên nợ đã đưa đẩy chúng tôi đến với nhau nên vợ thành chồng.

Chiều hôm sau khoảng 2-3 giờ, lịnh của Tiểu đoàn gọi xuống báo cáo quân số tổng cộng bao nhiêu? Và dân sự bao nhiêu người để Tiểu đoàn báo cho Lữ đoàn và thông báo cho hạm đội Mỹ.

Tôi hỏi ông chủ tàu:

– Bác có đi không? Nếu bác đi thì cho biết tất cả bao nhiêu người .

– Tôi phải đi chứ tôi Công Giáo di cư mà. Chúng tôi có 8 người cả cô con gái và những người thợ giúp việc trên tàu.

Tôi lên máy báo về Tiểu đoàn, nửa tiếng sau ông già nói với tôi lấy tên ra, người công giáo không thể làm điều bất nhân được vì vợ tôi và các anh em nó, ông chỉ tay về cô bé, còn ở Vũng Tàu.

Tôi gọi máy báo gạch tên những người dân sự ra, sau đó ông lại xin ghi tên đi, sau nhiều lần đi và không đi. Cuối cùng ông quyết định không đi, tôi lúc đó, nói với ông rằng:

– Thưa Bác cháu xin lỗi bác trong mấy ngày qua cháu có lớn tiếng và có lúc đã làm bác buồn giận, nhưng đó cũng chỉ là vì tánh mạng của các anh em đồng đội cháu thôi. Xin bác tha thứ.

– Cậu nói vậy thì cũng thuộc loại người tốt biết điều.

Và quay sang phía cô bé tiếp lời nó 18 tuổi rồi tôi gởi nó theo cậu, tôi về chở mẹ và các anh em nó ra lại tôi nhớ hướng đi rồi.

Khi ra đến hạm đội 7 của Hoa Kỳ tàu chúng tôi được hướng dẫn đến chiếc tàu lớn. Họ thả thang xuống chiếc tàu chở hàng và lính dưới tàu chen chúc, hối hả leo lên chiếc thang dây. Thấy mọi người mất trật tự nên người Mỹ trên tàu kéo thang lên. Sau đó có tiếng loa kêu gọi bằng tiếng Việt:

– Ai là sĩ quan dưới tàu thì đưa tay lên!

Tôi và đại úy Lượng thiết giáp cùng tất cả sĩ quan đều đưa tay lên. Họ nói tiếp:

-Ai là người cấp bậc lớn nhất để tay lại còn tất cả bỏ tay xuống. Ông ra lịnh cho lính ông xếp hàng một, thứ tự lên tàu. Đại úy Lượng ra lịnh nhưng không một ai chịu vô hàng ngay thẳng. Tôi nghĩ lính Nhảy Dù sẽ không nghe lịnh của ông Thiết giáp, khi chưa có lệnh của cấp chỉ huy, liền đứng ra truyền lịnh cho anh em vào hàng. Sau đó, họ lại thả thang dây xuống.

Hai người lính MP của Mỹ xuống gặp tôi đứng ngay cầu thang vừa nói vừa đưa tay ra hiệu cho tôi cởi dây ba chạc đeo khẩu Colt 45 và anh ta lấy cây Colt của tôi bấm nhả băng đạn rồi bỏ cây súng vô túi quần. Tôi nói còn rất nhiều súng, tay chỉ về đống súng dưới mấy tấm poncho và họ đã giở mấy tấm poncho và vứt hết súng đạn đủ loại gồm cả cối 60 ly đại liên M60 xuống biển; ngay cả máy PRC25 còn đang liên lạc với Đích Thân Lê Mạnh Đường.

Họ sắp xếp cho thường dân lên tàu trước và Cô bé con ông chủ tàu cùng người anh em họ và chú họ lên tàu. Tôi đến dặn dò …và quên không hỏi tên. Tôi hứa, “thế nào chú cũng tìm gặp cháu”.

Chúng tôi lần lượt lên tàu và MP Mỹ lục soát chúng tôi thật kỹ vứt bỏ tất cả những vật bằng kim loại ngay cả cây ghim túi. Tôi là người lên sau cùng và chúng tôi ngồi phía sau con tàu, phía trước là dân sự rất đông. Chính giữa được ngăn chận bởi dây thừng và có lính TQLC Mỹ đứng canh không cho lính qua khỏi dây hướng dân sự.

Như vậy, tôi đã lạc mất Cô Bé. Chúng tôi được biết là tàu dự định đón 2000 người nhưng cuối cùng đã lên đến trên 5000 cho nên lương thực không đủ cho số người quá tải. Thế nên họ yêu cầu chúng tôi lính tráng trai trẻ ăn ít một chút nhường phần cho phụ nữ và trẻ con cùng người già cả.

Sau một ngày hai đêm lênh đênh trên biển, cuối cùng chúng tôi được biết tàu sẽ ghé vào Subic Bay của Phi Luật Tân. Chúng tôi xuống đấy ăn uống ngủ một đêm sáng hôm sau được phi cơ C130 chở qua đảo Guam. Sau khi xếp hàng ăn sáng xong về lều thì gặp lại cô bé, lúc bấy giờ cô bé diện đồ Tây, trông lớn và xinh hơn lúc mất…nồi thịt kho.

Gặp nhau cô bé vui ra mặt, nụ cười tươi như một đóa hoa thật đẹp. Tôi phải công nhận lần đầu tiên nhìn thấy người con gái cười đẹp như vậy. Tôi nói với nàng chờ tôi ở đây để cùng đi qua Guam. Tôi về lều gọi anh em, khi ra lại không thấy cô bé vì dòng người rất đông lũ lượt tiến về hướng phi đạo.

Đến Guam tất cả anh em 94 cùng ở chung một lều, mỗi ngày sắp hàng đi ăn nhà ăn gần bên lều. Một hôm, tôi nói với anh em là đếm xem cả khu trại có bao nhiêu nhà ăn rồi chia nhau ra xếp hàng hết các nhà ăn. Thằng Nhục lại hỏi:

– Chi mất công vậy thiếu úy!

– Tao tìm người.

Tôi cho biết ý định của tôi là nhờ tất cả anh em đi ăn khắp nơi để tìm cô bé. Hai hôm sau đang ngủ trưa thì Tài đui thức tôi dậy báo tin đã tìm gặp được cô bé và đưa tôi đến gặp.

Gặp lại nhau lần nầy tôi ngỏ ý hỏi nàng có muốn về lều của tôi ở không? Sau một chút do dự nàng trả lời bằng lòng đi, và xách vali theo tôi về lều. Ba ngày sau chúng tôi làm thủ tục để vào các trại định cư trên đất Mỹ.

Khi người làm giấy hỏi tên cô bé trả lời Nguyễn Thu Vinh. Tôi ngạc nhiên tự nhủ cô bé ghẹo tôi vì có lẽ nàng đã nhìn thấy tên tôi trên ngực áo. Nhưng khi đưa thẻ học sinh ra tôi mới hết ngỡ ngàng. Trong đầu tôi lóe lên một ý nghĩ ngày xưa gặp thằng đệ tử tên Nhục để suốt thời gian binh nghiệp vinh nhục có nhau, cuối cùng lãnh cái nhục đau thương đầu hàng trong uất hận, nhục mất nước! Giờ lại gặp người con gái tên Vinh. “Vinh Vinh” không biết tương lai tôi và em có vinh quang, vinh hiển như ý nghĩa của tên gọi? Hay lại phải đắng cay bất hạnh! Đúng là định mệnh đã sắp xếp cho tôi một cuộc đời!

Cuối cùng tôi cũng được vinh phúc trong cuộc sống gia đình. Và chúng tôi đã đến trại Tỵ Nạn England Air Force Base ở tiểu bang Florida. Sau đó được một người Mỹ bảo lãnh chúng tôi ra thành phố Alexandria, Louisiana tháng 6 năm 75. Không ngờ sau nhiều lần ngần ngại chọn người bảo trợ chúng tôi bị rơi vào tình huống bị bảo trợ bỏ rơi (lúc bấy giờ gọi là Pon sô lủng).

Không nơi cư trú, không nơi nương tựa; hai vợ chồng đang lang thang ngoài đường nơi xứ lạ quê người để tìm điện thoại công cộng gọi về cho văn phòng tỵ nạn, tình cờ có một chiếc xe trờ tới dừng lại người phụ nữ Á Châu ngồi ở ghế hành khách hỏi:

– Where you come from?

Tôi trả lời:

– Việt Nam.

– Trời ơi anh Việt Nam hả? Thế rồi chị nói chồng dừng xe lại, anh chàng Mỹ trắng mở cửa bước xuống bắt tay tôi và móc túi áo lấy gói thuốc mời tôi một điếu. Và mở cốp xe bỏ chiếc vali của bà xã và mời chúng tôi lên xe sau khi nghe câu chuyện chúng tôi trao đổi với chị Hoa về chuyện bị bảo trợ bỏ rơi. Thế là chúng tôi về nhà anh King chồng chị Hoa trong phi trường quân sự ở Alexandria tá túc.

Một tuần sau King xin cho tôi cùng đi làm thêm với anh buổi chiều từ 5 đến 11 đêm. King làm việc trong văn phòng, anh là một Quân Nhân binh chủng Không Quân. Tôi theo anh trong toán dọn dẹp đổ rác các văn phòng làm việc của lính KQ trong căn cứ.

Hai tháng sau tôi được nhận làm việc toàn thời gian trong nhà thương Rapid Hospital. Chức vụ “bác sĩ chùi rửa nền nhà và đánh bóng nền nhà”

Sau một năm làm việc tại nhà thương, tôi đã thi đậu bài test của chương trình CETA đi học nghề được lãnh lương chính phủ trợ cấp $2.05 một giờ (lương căn bản lúc năm 75) và tôi học nghề auto mechanic. Lúc ấy vợ mang bầu bịnh ốm nghén không thể đi làm, tôi phải làm thêm ban đêm từ 5 chiều đến 11 giờ khuya, rửa chén trong nhà hàng tàu.

Khi vợ sinh được một tháng thì xin việc làm. Em vừa làm vừa học lại. Năm 83 chúng tôi dọn về Port Arthur TX, mở nhà hàng sinh sống đến năm 93 sang tiệm.

Vợ tôi làm thư ký cho nhà thờ còn tôi làm manager cho một super market của Mỹ. Hơn bốn mươi năm làm việc không ngừng nghỉ có khi phải cày ngày lẫn đêm mười mấy tiếng để trả nợ áo cơm nơi xứ người, giờ đây các con đã trưởng thành. Tôi quyết định nghỉ hưu sớm để ở nhà nấu cơm, kho thịt trả lại món nợ nồi cơm và thịt kho năm xưa!!

Vinh Tấn Nguyễn và Vinh Thu Nguyễn gặp nhau trên biển, vượt ngàn trùng hải lý đến được bến bờ tự do Mỹ quốc và cưới nhau tháng 7 năm 75 tại Mỹ.

Con gái đầu lòng sinh năm 76 tại Mỹ, cháu tên Việt Nam là Nguyễn thị Hải Lý (kỷ niệm chuyện tình ba mẹ vượt ngàn trùng hải lý) tên Mỹ là Hayley Thu Nguyễn.

Cháu đã được nhận vào trường West Point ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Nhưng cuối cùng từ chối và theo học ngành y khoa ra trường mở phòng mạch khám toàn khoa.

Thằng con trai thứ nhì sinh năm 81 là Dược Sĩ, cháu gái út sinh năm 93. Đang xin vào trường nha khoa.

Hy vọng nếu được nhận thì có cả bộ ba Sĩ. Xin cảm ơn Trời, cảm ơn em đã cho anh tình yêu, một mái ấm gia đình, cho anh món quà vô giá là ba đứa con thật tuyệt vời !

X-MAS 2017

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/14745-ng%C3%A0y-%E1%BA%A5y-m%E1%BB%99t-ch%E1%BA%B7ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng?26835=