ĐỀ NHỚ

Tiết trời đã chuyển sang thu. Cho dù có lơ là với hẹn ước của tháng ngày, người ta cũng bồi hồi nhận ra: thu đã về!

Cái nóng oi bức của mùa hè đã qua đi, cho gió heo may đưa mùa thu về, cho lá xôn xao, lao chao rơi rụng. Tiết thu se sẽ lạnh. Lá chuyển màu thay sắc. Hàng cây khoác lên mình những chiếc áo thu rực rỡ. Trời mùa thu đầy quyến rũ với lá vàng bay bay.

Canada, chừng như thơ mộng hơn khi mùa thu đến. Không phải ngẫu nhiên mà có hình ảnh lá phong trên Quốc kỳ của Canada. Màu sắc sống động khác nhau từ những dải cây lá phong ngút ngàn, đã tạo vẻ đẹp và tình cảm thật đặc biệt cho đất nước này. Hàng cây trải dài hai bên đường phố, khi thu sang, lá xanh nhuộm vàng, sang đỏ rực; tạo nên một phong cảnh vô cùng nên thơ. Sắc thu rực rỡ vào ban ngày với ánh nắng xen trong tàn lá, thơ mộng huyền ảo vào ban đêm dưới ánh đèn đường lung linh. Nhắc đến những nơi có mùa thu đẹp nhất xứ Canada, không thể không nhắc đến Vancouver. Ngoài các địa danh danh tiếng như Stanley Park, Van Dusen Botanical Garden, Trout Lake Park, Queen Elizabeth Park, University of British Columbia, Kitsilano…. Vancouver còn có nhiều khu phố nhỏ với những đoạn đường rợp lá mùa thu cũng rất đẹp, như Cambridge, McGill, Graveley,…

Thu về quyến rũ lứa đôi, hẹn hò cùng những người thích chụp ảnh. Các nhiếp ảnh gia cẩn thận chọn ống kính, tỉ mỉ tìm góc độ, chỉnh ánh sáng cho tác phẩm của mình có nét đặc biệt. Những người chụp ảnh không chuyên nghiệp tùy thuộc vào khả năng thông minh của máy ảnh, để máy tự ghi lại cảnh sắc thơ mộng của thiên nhiên. Có người tìm đến gốc cây đơn độc vun đầy lá rụng. Có người kiên nhẫn chờ lúc vắng xe, để ra đứng giữa con đường, ngút ngàn hàng cây với các màu lá khi vào thu.

Thu về, không quên mang theo những cơn mưa. Mưa thu se thắt lòng người viễn xứ. Như tâm tình của Tản Đà trong Mưa Thu Đất Khách:

Mưa mưa mãi, ngày đêm rả rích

Giọt mưa thu, dạ khách đầy vơi

Những ai mặt bể chân giời

Nghe mưa, ai có nhớ nhời nước non?

Thời gian xoay vòng, bây giờ ngày ngắn đi. Đã hơn sáu giờ sáng, mặt trời vẫn còn yên nghỉ, để đêm đen dài ra. Sáng thứ Năm, mưa từ sáng sớm. Tiếng mưa rì rào như thì thầm ru giấc ngủ dài thêm, cho người ta thèm muốn cuộn mình trong chăn ấm, cho vòng tay thêm quyến luyến người tình. David Ward, đã xong ca trực đêm tại công ty. Dạo này, tuổi đời thường hay nhắc anh: sắp phải về hưu. Anh khoác cái áo nhà binh lên bộ đồng phục nhân viên bảo vệ của công ty, còn mặc trên người. Màu xanh áo trận phai bạc từ năm nào anh không còn nhớ rõ, chắc phải từ trước khi anh giải ngũ, năm 1978. Sáu năm quân ngũ, với các “tours of duty” ở Cyprus và Egypt. David rất hãnh diện với cấp bậc hạ sĩ và cái áo khoác nhà binh bạc màu này, nhất là khi tham dự các nghi lễ với 3 huy chương trên ngực áo. Anh tự hào là con dân của bộ tộc Cree, là chiến sĩ trong lực lượng Aboriginal của quân đội Canada. Hạ sĩ David Ward đã nối gót những cựu chiến binh Aboriginal anh hùng lừng danh như Tommy George Prince, William Cleary, Sam Glade- Mi’kmaq, David Greyeyes, Tom Charles Longboat,… như Big Feather Dr. Gilbert Monture, bộ tộc Mohawk, đã từng là Canadian Executive Officer của đơn vị tổng hợp Canadian-American-British, trong cả hai thời kỳ thế chiến.

Sáng nay, bên cạnh hàng huy chương trên ngực áo, David cài thêm di ảnh Master Corporal Timothy Wilson, một bạn thân cùng quê quán ở Grande Prairie, Alberta. Wilson đã tử trận trong “tour of duty” lần thứ hai tại Afghanistan, năm 2006. Anh muốn Wilson thật kề cận bên mình.

Bên ngoài, trời Vancouver vẫn còn mưa. Mưa thu ướt và lạnh. David chẳng màng đến cơn mưa bây giờ mù mịt, mưa như trút nước, cứ đi đến Victory Square như đã định từ đêm hôm qua.

Hôm qua, Corporal Nathan Cirillo mới vừa bị tên khủng bố bắn tử thương khi đang đứng gát Canadian National War Memorial, Ottawa. Hai hôm trước, Warrant Officer Patrice Vincent bị kẻ khủng bố dùng xe cán chết tại tỉnh bang Quebec. Sau đó, từ Quebec đến các tỉnh bang khác, các cơ quan trách nhiệm an ninh lo ngại, khuyến cáo công dân nên tránh mặc quân phục đi riêng rẽ trong thành phố. Thế nhưng, sáng nay, David vẫn muốn tự mình đến Đài Tưởng Niệm Chiến sĩ tại Victory Square như một người lính, một cưu quân nhân, với áo trận và huy chương. Áo khoác nhà binh dày ấm được một lúc ngắn, nhưng rồi ướt sũng dưới cơn mưa tầm tã. Không ngại ướt lạnh và dù là cựu quân nhân, David Ward tự nhận trách nhiệm với chiến hữu đã nằm xuống và huynh đệ còn trong quân đội Canada; không vũ khí, anh đơn độc đứng canh gát nơi yên nghỉ của các chiến sĩ vị quốc vong thân và hiên ngang thách thức bọn khủng bố:

“We’re not going to hide and we’re not going to back down!”

David cương quyết:

“Some people say you shouldn’t wear your medals or make yourself known, but if they want me, they know where to find me!”

Anh bình thản giải thích thêm:

“I’m soaked through but I’m here to honour the young corporal who was murdered yesterday and to support all my brothers and sisters serving in Canada and overseas. We’re proud to be Canadians and proud to serve in the Canadian military. This (attack in Ottawa) shouldn’t have happened but now that it has, Canada has joined the real world.”

Với ngôn ngữ thẳng thắn, bình dị của một quân nhân, anh tâm tình với phóng viên báo chí:

“It doesn’t do any good to rant and rave. We’re Canadians and we go by the law, even though our emotions sometimes get the best of us.”

“Cirillo was “too young to go”. But we do our duty and that’s why I’m out here. Even though we are retired, we still get the call out. We come out to mourn for our brothers and sisters who need our help right now.”

Noi gương chiến hữu David Ward, nhiều quân nhân tại ngũ và cựu chiến binh trên khắp Canada đã tự nguyện, thay nhau thi hành trách nhiệm của người lính, đứng canh gát tại Victoria Square, cùng các đài Tưởng Niệm ở địa phương; liên tục từ 23 tháng 10 cho đến 11 tháng 11, ngày Remembrance Day. Và ngày Remembrance Day năm 2014 vẫn được cử hành long trọng như hàng năm. Mặc dù kẻ khủng bố đã liên tục giết người để đe dọa, dân chúng cũng không hề sợ hãi, đến tham dự Lễ với số lượng người đông nhất từ trước đến nay.

Mỗi năm, mỗi ngày Remembrance Day, từ sáng sớm đủ các sắc màu quân phục, những chiến binh trên đất nước Canada vẫn hiên ngang khoác quân phục, đi đến các đài Tưởng Niệm, để dự lễ.

Không phải chỉ một ngày Veterans Day để tưởng nhớ đến chiến sĩ trận vong. Trên đất nước Canda, từ thứ Sáu cuối cùng của tháng 10, cho đến ngày thứ 11 của tháng 11, Remembrance Day, người dân cài hoa Poppy màu đỏ trên ngực áo, để cám ơn cựu chiến binh và chiến sĩ đã vị quốc vong thân. Tình cảm của người dân đối với người lính thật sâu đậm, như lời thơ của cô học trò Katelyn Ip đã viết trong bài A Symbol of Remembrance:

“… Those soldiers were sons and daughters

of parents who loved them.

I look again at the poppy

taking note of its crimson petals,

I see teardrops

tears of sorrow

tears of pride and

my tears of gratitude.”

Khác với cái loại quân cũng gọi là quân đội, trong chế độ cộng sản!

Loại quân này nhằm phục vụ cho đảng. Chỉ thị của Hồ Chí Minh cho quân đội là phải “Trung với đảng”. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh cũng đã không ngần ngại xác nhận giáo điều vô tổ quốc của cộng sản Việt Nam khi tuyên bố:

“Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng “.

Thế đấy, đối với cộng sản, Đảng quan trọng hơn Tổ Quốc!

Quân đội, công an là các thứ công cụ để đàn áp dân chúng, bảo vệ đảng. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn gian manh, man rợ nào để củng cố chế độ cộng sản, kể cả bán nước cầu vinh.

Bởi thế, dưới chế độ chế độ cộng sản, người dân khinh bỉ công an, quân đội, những kẻ can tâm phục vụ cho đảng. Dân chúng Việt Nam xem quân đội cộng sản là bọn: “hèn với giặc, ác với dân!”

Cảnh sắc quyến rũ của mùa thu rồi cũng theo thời gian tàn phai. Hàng cây lá màu rực rỡ rồi sẽ chỉ còn cành nhánh khẳng khiu, trơ trụi.

Vòng sinh tử. Tuổi già. Định luật khắc nghiệt của tạo hóa không từ một ai.

Mỗi năm, mỗi Remembrance Day, khán đài danh dự dành cho các cựu chiến binh thời thế chiến trống vắng hơn, hàng ngũ cựu quân nhân của các quốc gia tham dự diễn hành một thưa ít hơn!

Năm trước đây, chứng đau khớp chân đã không cho David Ward còn sức để đứng nghiêm hay thao diễn nghỉ như một quân nhân được lâu, như khi đứng gát ở Victory Square, năm 2014. Mấy lần diễn hành đã qua, bước chân anh không còn sải dài nhịp nhàng theo tiếng trống, như khi diễn hành cùng các chiến hữu thuộc lực lượng Aboriginal; anh đã phải đi từng bước khấp khễnh.

Trên khán đài và trong khối diễn hành, những cựu chiến binh quen thuộc rồi cũng sẽ thiếu vắng dần. Thế nhưng, thời gian và tuổi đời sẽ không thể xóa mờ hình ảnh cùng các chiến công dựng nước và giữ nước oai hùng của họ; các thế hệ công dân mãi mãi ghi nhớ, như trong For The Fallen (1914), Robert Laurence Binyon đã viết cho những người đã nằm xuống để tổ quốc vẹn toàn, tự do của dân tộc được hồi sinh:

“They shall grow not old, as we that are left grow old;

Age shall not weary them, nor the years condemn.

At the going down of the sun and in the morning

We will remember them.

We will remember them.”

BK Bùi Đức Tính

Remembrance Day 2018

Quân nhân VNCH tham dự ngày Remembrance Day 2018

https://youtu.be/tmaqJrU9jho

Advertisements

Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí… đem mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh

Trần Văn Quí

Lá thư của em gái Trần Văn Quí:Anh tôi là cựu sinh trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Anh đã hy sinh tại Kontum ngày 6 tháng 2 năm 1974. Kỷ vật còn lại là tấm thẻ bài, vài tấm hình và một bức thư dài chưa kịp gửi, vì suốt thời gian hành quân không thể gửi thư về nhà được, kể cả kỳ tiếp tế vì máy bay có đáp xuống được đâu mà chuyển thư.

Anh viết “trên đỉnh đồi 949m nhìn về thành phố Kontum thấy nhớ nhà làm sao ấy, ở đây mỗi ngày chỉ viết 1 trang vừa làm nhật ký vừa làm thư, và cũng là lúc đang suy tư về gia đình đó! Bây giờ chỉ có cách chờ ngày về dưỡng quân mới bỏ thư được, chắc sau gần 1 tháng trời bặt tin bặt tức ở nhà cũng trông thư con lắm, nhưng vì chiến cuộc con chẳng biết làm sao hơn, nếu thư liên lạc thường xuyên không được thì sau ngày hành quân con sẽ gửi về nhà một lá thư dài thế này để bù lại những ngày gửi thư lẻ tẻ “.

Bức thư đó đã được tìm thấy trong túi áo của anh. Quanh xác anh nằm vương vãi 6 đôi dép râu, tay anh còn chốt lựu đạn. Một viên đạn xuyên sọ và xuyên đùi đã cướp đi mạng sống của anh khi tuổi đời chưa đầy 21. Suối Non Nước và đồi Tân Cảnh đã ghi lại dấu chân sau cùng của cố Thiếu Úy Trần Văn Quí.

Anh đã hy sinh cho non sông, xứng đáng là trai nước Việt hào hùng, đem mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh. Có thể nào tôi gửi được hình ảnh và cả bức thư lên trang web này (LiênTrường Võ Khoa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Nam Định Đồng Đế) để hương hồn anh được ấm áp bên bạn bè chiến hữu ????



Kính thưa Ba Má!

Con vừa nhận được 1 lá thư ở nhà đề ngày 21-11-73, chứ không nhận được lá thư 18-11-73 và con hồi âm liền đây!

Hiện giờ con đang hành quân trong 1 khu rừng rất rậm ở vùng Con-Sơm_luh cách thành phố Kontum khoảng 10km đường chim bay, con nhận được thư trong kỳ tiếp tế hôm qua 29-11-73, mấy hôm nay trung đội con đang đóng chốt nghỉ chân trên 1 ngọn đồi cao 949m, con giữ nhiệm vụ Trung đội trưởng, chỉ huy trực tiếp 1 trung đội người kinh với trách nhiệm chiếm giữ ngọn đồi này và an ninh những vùng xung quanh.

Thưa Ba Má, từ hôm ở tiểu khu Kontum chơi gặp trung sĩ Châu nhờ đưa thư tay về nhà đến nay đã hơn nửa tháng, và kể từ đó con ở miết trong rừng đến nay chưa nhìn thấy mặt trời cũng như nhà cửa làng mạc gì cả, xung quanh mình toàn là cây cối chằn chịt, hố sâu, suối vắng, và những thành núi thẳng đứng phải bám leo lên.

Con đến Kontum ngày 5-11-73 và ở phố chơi đến 13-11-73 con ra trình diện đại đội. Ngay hôm đó con nắm Trung đội trưởng Trung đội 3 Đại đội 2, và chỉ có 3 tiếng đồng hồ sau Đại đội 2 có lệnh giải tán để bổ sung binh sĩ qua 3 đại đội còn lại của tiểu đoàn 252, còn cán bộ của Đại đội 2 đi theo bộ chỉ huy nhẹ.

Sáng ngày 14-11-73 tiểu đoàn con làm lễ xuất quân, ở bộ chỉ huy chiến thuật bên sông Đáp-La cách thành phố Kontum khoảng vài chục cây số, buổi lễ vừa xong có 1 đoàn trực thăng khoảng 10 chiếc xuống chở tiểu đoàn con vào vị trí hành quân, con theo Bộ chỉ huy nhẹ đi chuyến máy bay sau cùng, với ba lô, súng, đạn và lương thực đầy đủ, con ngồi lên trực thăng thòng 2 cẳng ra và chĩa súng xuống đất vì trong máy bay người ta ngồi chật cứng rồi. Từ Bộ chỉ huy chiến thuật đến vị trí hành quân khoảng 15km đường chim bay, nếu đi bộ thì suốt ngày mới tới, bãi đáp ở đây là 1 ngọn đồi đã được dọn cây trống trãi, xung quanh gài toàn mìn và lựu đạn, chỉ có 2 con đường mòn rất nhỏ từ đó di chuyển ra xung quanh, khi đến bãi đáp, máy bay không đáp hẳn xuống mà cứ lơ lửng cách mặt đất khoảng 1,5km và con phải nhảy xuống nhưng không sao cả, chỉ xiểng niểng vì sức gió của cánh quạt.

Xuống máy bay rồi con theo Bộ chỉ huy nhẹ, đi theo đường mòn cặp theo triền dốc xuống núi, đường mòn ở vùng này toàn là lên dốc, xuống dốc hoặc lội dọc theo những con suối ngập cỡ đầu gối, và bây giờ con cũng như mấy ông Hạ sĩ quan trong đại đội phải tự lo cơm nước, đào hầm, canh gác v.v… giống như binh sĩ vậy, vì lúc này cán bộ không có lính trong tay. Sau khi đổ quân con di chuyển liên miên, không ngày nào được đóng quân cả, chỉ có buổi trưa dừng quân lại 1 vài giờ, cơm nước, nghỉ ngơi rồi lại bắt đầu di chuyển, đến chiều tìm những ngọn đồi cao, ở đó dừng quân để ăn cơm chiều và lo đào hầm hố phòng thủ, xong rồi căng poncho sửa soạn chỗ ngủ.

Trong cuộc hành quân này con quen với ông Trung sĩ Chinh năm nay 40 tuổi, ông hành quân ở vùng Kontum gần 20 năm nay, lúc trước ông làm Trung đội phó Trung đội, nhưng vì Đại đội bị giải tán binh sĩ, nên con đi chung với ông. Ông ta nấu cơm và nước cho con ăn chung, cũng như hầm hố, lều chỏng đều chung nhau cả, ông có nhà ở chợ Kontum và bà nhà cũng buôn bán tại đó.

Những ngày đầu đi hành quân con bị trợt té liên miên vì trời mưa tầm tả cả tuần lễ, con phải bám theo những nhánh cây leo lên đồi, nhất là đi dưới suối dễ bị té nhất vì nước chảy rất xiết và có nhiều tảng đá trơn lởm chởm; Trong hơn 1 tuần lễ đầu, ngày cũng như đêm, quần áo đồ đạc của con đều ướt sủng vì rừng này âm u quá, không có ánh nắng, mà dưới suối lại có rất nhiều con vắt, con này giống như con đĩa nhưng nhỏ bằng cây đinh 5 phân thôi, con vắt này cắn rất độc, ai lội qua suối cũng bị nó leo lên chân, bò lên mình, lên cổ để hút máu, nó có thể chui xuyên qua vớ để hút máu chân, có khi chui vô giày rất nhiều, mà đang lúc di chuyển dưới suối với trang bị nặng nề đâu ai còn để ý đến việc gỡ những con vắt, nên khi dừng quân nhiều người cởi giày ra thấy lưng một giày máu và vớ cũng ướt đẫm máu vì những vết cắn của con vắt, con cũng bị vắt cắn khá nhiều, nhưng nhìn thấy là bắt ngay, con này rất là dai và trơn nên tay ướt cũng khó bắt, vì cứ lo bắt vắt nên con vấp mấy tảng đá té như điên, về đêm trời cũng vẫn mưa, con và bác Chinh bứt lá cây lót xuống đất nằm nghỉ mệt chứ không sao ngủ được vì đồ đạc, mền, khăn, cái gì cũng ướt, ở đây là xứ muỗi sốt rét nhưng không ai mang mùng cả, con cũng vậy, nếu có đem mùng theo cũng không mang nổi và cũng không có chỗ để, vì ba lô của ai cũng có 10 ngày gạo và đồ đạc, súng đạn, hơn nữa xài mùng bất tiện lúc bị đột kích.

Binh chủng Địa phương quân thì hầu hết chỗ nào cũng sướng, nhưng ở Kontum thì khác hẳn, không phải đóng đồn hay giữ cầu, hoặc phè phỡn ở thôn ấp như Bình Dương chẳng hạn, hoặc địa phương quân ở Vùng 4, mỗi lần hành quân là vào nhà dân nhậu nhẹt ăn uống.

Địa phương quân ở Kontum chỉ được mỗi cái là khỏi lo vấn đề bị bắn sẻ vì ở đây toàn cây cối và dã thú chứ không 1 bóng người, quanh năm suốt tháng chỉ sống với núi rừng, chỉ có thể quay về xum họp với gia đình trong đêm trường thanh vắng, nhưng cũng chưa hẳn hưởng 1 giấc chiêm bao trọn vẹn vì còn phập phồng lo sợ cho chính bản thân mình và các binh sĩ thuộc hạ, mình phải gánh nặng trách nhiệm trên vai. Có lẽ số con phải khổ vì con đã tự ý chọn Kontum nên không than van với ai được, nhưng đối với gia đình con phải nói hết những sự thật phủ phàng cũng như những diễn tiến mà chính con gặp phải để Ba Má khỏi bận tâm, hoang mang vì con.

Đời sống ở đây nói đúng ra là nó gian nan hơn quân trường gấp bội. Trong cuộc hành quân cả Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn phó, ông nào cũng phải mang ba lô, lương thực và súng đạn, vì ở đây mỗi người đều tự lo cho mình cả, hành quân trong rừng 10 ngày tiếp tế 1 lần và mỗi cuộc hành quân từ 1 tháng trở lên, tệ hại nhất là vấn đề ăn uống, mỗi ngày chỉ ăn được 1 ca gạo, có khi với khô, có khi với muối, vì đồ ăn phải tự túc , có gởi tiền, tiếp liệu mới mua, còn gạo mỗi lần tiếp tế 10 ca, 1 tháng 3 lần và trừ lương 3.000 đồng 1 tháng, hành quân như vậy muốn ăn thêm nhiều cơm cũng không được, vì sức người chỉ mang được 10 ca gạo với các đồ trang bị khác. Lúc đầu mang gạo nặng quá, leo núi không nổi, con cho tụi nó bớt, đến gần 1 tuần sau con ăn hết sạch, không còn gì để ăn nữa, vì trong rừng này không có cái gì ăn được cả, may nhờ bác Chinh còn gạo chút đỉnh, ổng phải chia cho con nên 1 ngày mỗi người chỉ ăn được 1 chén cháo với muối hột để chờ ngày tiếp tế, lần đầu tiên ăn muối không quen nên tay chân bủn rủn, leo lên 1 ngọn đồi phải nghỉ hàng chục lần! Kontum là nơi cuối cùng, không còn đâu hơn nữa, mặc dầu tình hình đã yên đến 9-10 phần, ở đây ngoại trừ lính người Thượng ra, thì lính người Kinh toàn là những tên năm cha bảy chú, những tù giết người vừa ở quân lao ra, tên nào tên nấy đều mặt rằn dữ tợn; còn con, không hiểu ma quỷ dẫn đường thế nào mà ra đây đề bị đày ngang xương, lãng xẹt; con nghe tụi lính kể lại nỗi khổ trong quân lao, con thấy còn sướng hơn đi hành quân ở đây nữa, vì ở đó ăn uống đầy đủ, đi đứng thong thả, không làm gì hết, thân nhân có thể thăm bất cứ lúc nào và muốn tắm rửa ngày mấy lần cũng được. Bây giờ con mới thấy ở quân trường là sướng, vì tất cả những gì đều có cán bộ lo cả, lúc đó cứ tưởng đi học bãi là cực, những ngọn đồi ở Thủ Đức cao nhất chỉ có 30m thôi, nhưng đồi ở đây thấp nhất cũng 900m hoặc 1000m trở lên, và bây giờ mình là 1 cán bộ thì ngược hẳn lại, tự mình phải lo cho mình và cho các binh sĩ. Và lúc còn đi học lại là những lúc sung sướng nhất đời, vì còn sum họp với gia đình, còn hưởng được không khí ấm cúng với nệm ấm chăn êm, và ăn uống như vậu là đầy đủ quá, ấy thế mà còn chê khô, mắm nữa chớ!

Nhưng bây giờ thui thủi 1 mình ở nơi lam sơn chướng khí với biết bao nhiêu tử thần đang chờ chực, nhiều khi đóng quân gần con suối mát trong xanh, nhưng không dám xuống tắm vì sợ ăn B40 vì chiến trường ở đây chỉ tiêu thụ B40 và lựu đạn thôi! Hơn nữa tắm suối thế nào cũng bị vắt cắn có khi muỗi cắn còn nhiều hơn vắt nữa, cả 2 loài con nào cắn cũng bị sốt rét cả, chứng bệnh sốt rét này nguy hiểm vô cùng và người mắc bệnh này dễ chết nhất! Trường hợp bệnh nhẹ thì không chết nhưng khống có thuốc gì chữa khỏi cả, suốt đời cứ nóng nóng lạnh lạnh mãi, có lần con xuống suối múc lên 1 lon guigoz nước thật trong nhưng chưa uống vội, con đun sôi lên thấy những bọt nước đỏ ngầu như máu! Con phải vớt bỏ những bọt nước và để lắng những cặn đỏ mới sớt nước ra quậy với thuốc lọc nước rồi mới uống, ngoài ra con rất cẩn thận bôi thuốc muỗi khi ngủ nên tuy ăn uống cực khổ con vẫn khỏe mạnh như thường, nước suối ở đây rất độc, nó thấm qua những lớp lá cây và phân thú rừng, và nhiều nơi thây người chết nhiều quá chôn không kịp để nằm ngổn ngang trên mặt đất cũng bị nước thấm qua, bây giờ tình hình rất yên nhưng thỉnh thoảng đi ngang qua những đống xương người và những cái sọ ngổn ngang và mấy con quạ trên cây kêu kên những tiếng rợn người.

Thắm thoát 1 tuần lễ ăn muối đã qua, đến ngày 20-11-73 có 1 đoàn trực thăng đến tiếp tế, các binh sĩ được tiếp tế gạo và khô, mắm, còn cán bộ từ Hạ sĩ quan trở lên chỉ tiếp tế gạo thôi, còn đồ ăn phải tự túc, tức là có gởi tiền mặt cho tiếp liệu mới có. Như vậy con chỉ có gạo thôi, còn ông Chinh có đồ ăn ở gia đình gởi lên nên con ăn đồ ăn chung với nhau.

Trong kỳ tiếp tế này, trực thăng có đổ quân thêm 1 số nữa, trong đó có thằng bạn cùng Đại đội con ở Thủ Đức, từ hôm trình diện Tiểu khu Kontum nó bệnh rất nặng không đi đâu được, khai bệnh cũng không được luôn, nên kỳ tiếp tế nó bốc đi, đến nơi nó không nhảy xuống được mà máy bay cũng không đáp hẳn xuống đất, tới chừng máy bay cất lên cao khoảng 3m, nó bị đạp văng xuống đất, cả ba-lô, súng đạn cũng văng theo luôn! Ông Tiểu đoàn phó trông thấy cũng lắc đầu, cứ tưởng nó bị xóc cây nhọn vào người rồi! xuống tới nơi nó nằm liệt giường không đi đâu được, nhưng cũng may nó chỉ bị cây xướt rách áo thôi! Sau đó ông Tiểu đoàn trưởng ra lệnh có đám lính Thượng chặt sát gốc những gốc cây nhọn lởm chởm trong bãi đáp, nhưng vì bãi đáp rộng quá nên chặt suốt ngày cũng chẳng được bao nhiêu.

Từ ngày lãnh tiếp tế, bộ chỉ huy nhẹ đuợc đóng quân tại chỗ 5 ngày liền, và bắt đầu từ đó trời cũng hết mưa, 1 trận mưa sái mùa do 1 cơn bão đưa đến! và bây giờ con mới đi theo đường mòn, theo mấy ông người Thượng xuống 1 hố sâu dưới chân đồi, cách chỗ đóng quân 300m, ở đó có 1 con suối rất trong, lúc đó con có thể tắm rửa, bứt lá tàu bay và lá cây dến ở 2 bên bờ suối về nấu canh, có khi theo mấy ổng bứt măng le về ăn, và lấy nước uống cũng ở đây, măng le là những cây tre non chưa trổ lá, nó là những mục măng rất già, cao khoảng 4-8m, người ta chặt những cây đó xuống rồi bẻ những phần mềm trên ngọn ăn được, đôi khi mấy ổng cũng ném lựu đạn bắt cá, nhưng suối nhỏ quá, cũng không được bao nhiêu, mỗi quả lựu đạn chỉ được chừng 1 kg cá nhỏ thôi, ở đây tụi Thượng kiếm ăn rất giỏi, tụi nó làm bẫy bắt chuột, đào hang bắt heo đất, tụi nó ăn thịt không chừa con nào hết, nào cóc, nhái, rắn, rết tụi nó làm nốt, và thịt rừng mỗi ngày có ăn đều đều, bắt được con nào tụi nó cũng thui rồi mới làm thịt.

Thắm thoát cũng 5 ngày trôi qua, 5 ngày trời sống như chính phủ lưu vong, Đại đội con toàn là cán bộ chứ không có lính, lúc này đồ đạc cũng tương đối khô ráo nên đêm đến có thể thả hồn về nhà ẳm Út Lộc chút đỉnh, nhưng ác nghiệt thay, ban đêm là cả lớp sương mù dày đặc, phủ kín núi rừng, và khí lạnh của núi rất khủng khiếp, không có mền nào đắp ấm được, còn tấm ra trắng của con chỉ để lót nằm chứ không thể đắp được, vì đắp cũng vẫn lạnh mà còn mất yếu tố ngụy trang ban đêm, nên con đắp chung mền với ông Chinh, nhưng cái mền nỉ của ông chỉ còn một nửa, vì nếu để nguyên ông mang không nổi, lần đầu tiên hành quân trong rừng nên con không biết nhu cầu cần những gì để chuẩn bị trước.

Sáng ngày 25-11-73, Bộ chỉ huy nhẹ con di chuyển đến Bộ chỉ huy nặng Tiểu đoàn, Bộ chỉ huy nặng đóng trên 1 ngọn đồi cao 1.250m, cách chỗ con ở khoảng 5km, sáng sớm cơm nước xong là chuẩn bị đi liền, vì ông Tiểu đoàn phó đi sai phương giác nên tất cả đều bị lạc giữa rừng, và phải lên đồi xuống suối liên miên, mãi đến trưa mới tới chân ngọn đồi 1250m, ở đó nghỉ ngơi 1 chút rồi bắt đầu leo lên, ngọn đồi trông không cao bao nhiêu, nhưng leo mãi cũng không tới đâu cả, đến chiều tối mới lên tới đỉnh đồi, tới nơi con gặp 2 thằng bạn cùng khóa, được ở Đại đội 1 và bây giờ đại đội này di chuyển sang đồi khác nhường chỗ cho Bộ chỉ huy nhẹ ở; sau 1 ngày lội núi, mấy thằng thượng ở Bộ chỉ huy nhẹ có bắn được 1 con kỳ đà bằng bắp vế, bọn chúng thui lên rồi xào nấu theo kiểu thượng, con có ăn vài miếng nhưng tanh quá ăn ớn cổ, tụi con đang ăn uống ngon lành bỗng nghe những tiếng réo của đạn B40 ở dưới thung lũng phía Bắc, kế tiếp là những tiếng nổ long trời, rồi hàng loạt đạn M16, trong vòng 5 phút lựu đạn và M79 nổ như mưa bấc, chiếc máy PRC/25 ở Bộ chỉ huy tiếu đoàn báo về là Trung đội của 2 thằng bạn lúc nãy bị phục kích tan hàng tất cả, mấy thằng lính thượng lúc đó quen đường mòn, chạy rút đâu mất hết, còn thằng truyền tin người thượng sợ quá không liên lạc được gì, nó chỉ báo cho biết là hiện giờ chỉ còn 2 chuẩn úy và 1 truyền tin đang lạc dưới hố, và máy lại ngưng hẳn liên lạc, Bộ chỉ huy tiểu đoàn gọi pháo binh bắn xối xả về hướng súng nổ định thí quân, tới sáng mai lại yên hẳn và có máy liên lạc về được, Tiểu đoàn cho máy bay L19 dẫn đường tụi nó về, đến nơi chỉ còn có 5 người, 2 thằng lính bị thương bàn tay bị nghi là hủy hoại thân thể, 2 thằng chuẩn úy bị nhốt, còn thằng truyền tin bị đánh 20 roi và bị phạt mang 2 trái lựu đạn xuống suối kích đêm về tội không liên lạc thường xuyên về bộ chỉ huy. Sau ngày tiếp tế có 1 tuần mà lương thực gần hết rồi, gạo còn rất ít mà cá khô thì hết sạch, con xin được 2 nắm gạo của mấy đứa quen và phải đi xin từng muổng muối để ăn với cháo trắng.

Đến ngày 27 -11-1973 có lệnh tất cả các cán bộ của Đại đội 2 phải trở về ngọn đồi củ của Bộ chỉ huy nhẹ gần bãi đáp trực thăng, để đón nhận toán lính mới, vừa bổ sung cho Đại đội 2, toán lính này gồm 51 người, bị bệnh hết 3 chỉ còn 48 thôi, tụi nó phải lội bộ từ Bộ chỉ huy chiến thuật đến bãi đáp suốt 1 ngày trời, đến chiều tụi nó tới nơi, con và ông Chinh nhận được 13 binh sĩ, sau đó bị lấy bớt 5 người để bổ sung qua đại đội trinh sát, chỉ còn 8 người kể cả con và ông Chinh trung đội phó chỉ được 10 người, trong đó có 1 ông trung sĩ nhất rất già. Ông nào ông nấy cỡ tuổi 30 trở lên chứ không có nhỏ và tất cả đều là lính ở quân lao mới ra trường nên mặt mày thằng nào cũng có sọc rằn cả ! sau khi nắm trung đội 3 con được chỉ định dẫn lính lên ngọn đồi ở gần đồi ban chỉ huy đại đội ngay buổi tối hôm đó.

Trên đồi này là 1 cái chốt đã có hố phòng thủ sẳn, đỉnh đồi rất là lớn và cây cối âm u, con chỉ có 1 bản đồ Kontum, 1 địa bàn và 1 thằng truyền tin mang máy PRC/25 đi theo, ở đây con liên lạc thường xuyên về Ban chỉ huy đại đội, vì nếu cúp liên lạc 15 phút là đại đội sẽ kêu pháo binh phá hủy ngọn đồi này ngay, còn trường hợp bị hư máy phải tìm cách di chuyển chỗ khác, chứ mất liên lạc là coi như đã bị VC chiếm!

Sau 1 đêm canh phòng cẩn thận trên đồi, sáng sớm phải báo máy về đại đội là tình hình trong đêm vô sự, và sự yên ổn kéo dài đến trưa ngày 28/11/1973, có một loạt súng cối 61 ly pháo vào sân bay, vừa nghe nổ là con lấy địa bàn ra đo hướng nổ và ước lượng khoảng cách từ đồi mình đến chỗ phát ra tiếng nổ rồi báo máy về đại đội như các trung đội khác, mà đại đội đã chỉ định để tìm ra tọa độ của nơi bị pháo kích. Sau đó có lệnh ở đại đội đưa xuống chỉ định trung đội 3 để lại tại chốt 1 nửa quân số, còn 1 nửa đi theo trung đội trưởng và truyền tin về ban chỉ huy đại đội phối hợp với toán lính thượng đi lục soát quanh bãi đáp và cách bãi đáp 500 m, xung quanh bãi đáp không có đường mòn gì cả, cây cối chằng chịt phủ không thấy mặt trời, con để toán lính thượng đi đầu, đến đâu chúng chặt cây đến đó, lúc này con phải sử dụng địa bàn đo phương giác và ước lượng khoảng cách để đi, chứ không nhìn thấy sân bay nên tụi thượng cũng không biết đi hướng nào, đi khoảng 100 m phải báo máy về ban chỉ huy tọa độ điểm đứng lúc đó, ở bộ chỉ huy theo dõi con đi phương giác rất đúng, ước lượng khoảng cách bước đôi bị sai, vì phải xuống lồi lõm nên con phải đi thêm nửa giờ nữa để trừ hao khoảng cách đường chim bay, mãi đến 5 giờ chiều con mới trở về đến chân đồi, con cho lính nghỉ chân 1 chút rồi bắt đầu leo lên, lúc này sương xuống lành lạnh và sa mù bắt đầu phủ xuống, toán lính người kinh cũng nóng trở về đại đội nên dành đi trước toán lính người thượng, lên gần tới đỉnh đồi con con có cảm giác lạ lắm, khu đồi này sao âm u quá, con nghĩ thầm chắc mình bị đi lạc nhưng tại sao máy của bộ chỉ huy bảo cứ quẹo lên ngọn đồi bên tay trái là tới? tự nhiên con bị rùng mình mấy cái vì đám sương lạnh, con chỉ kịp niệm 1 câu : “Nam mô cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm bạch y quan thế âm bồ tát” vừa dứt là 1 loạt đạn M16 của toán lính đi đầu quét thẳng tới trước, loạt đạn vừa dứt con nghe tiếng la của người bị thương ở góc đồi đằng trước “Trời ơi tôi bị gãy cẳng”, tiếp theo là hàng loạt đạn nổ túi bụi, nhánh cây gãy răng rắc. Lúc đó con đang bối rối, không biết phải làm gì, chỉ cầm bản đồ, địa bàn đứng chết trân, chừng quay lại thấy lính của mình đều xuống hầm núp cả, chỉ còn có mỗi thằng lính thượng đang run sợ, nó chui qua bụi mây định bỏ chạy, con ngoắc nó lại bảo xuống hầm ngay,mày chạy mày chết, ông già nằm gần đó cũng la theo : “Ông chuẩn úy còn đứng đây mà mày chạy đi đâu ?”, lúc đó nó cuống quá vừa chạy vừa lết xuống hầm; và con đang ngồi sau 1 gò mối, xoay lại thấy thằng truyền tin ngồi dưới hầm ngoắc tay, con chạy lại nhảy xuống hầm với thằng truyền tin, lúc đó con mới hồi tỉnh trở lại. Con gọi máy về đại đội, máy báo cho biết là bị ngộ nhận, lúc đó tự nhiên tiếng súng im hẳn, mấy cây M79 bên này bắt đầu nạp đạn, con ngóc đầu dậy, thấy đằng góc đồi phía trước có 1 tảng đá lớn, biết ngay là chốt của trung đội 3, con chạy lên kêu “Bác Chinh ơi, bác Chinh”. Lúc đó mấy ổng đều rút chốt lựu đạn cầm sẳn trên tay, ông Chinh nghe tiếng kêu quen quen, nhận ra con ngay, ông la lên : “Ối giời, ông chuẩn úy của mình kia mà !”, chừng đó mấy ổng mới gắn lựu đạn trở lại, hai bên chạy đến bàn cãi nhoi trời đất, chỉ còn ông bị thương nằm dưới đất, ông này bị 1 viên M16 xuyên qua 2 bắp đùi, nhưng không trúng xương, viên đạn trổ ra 1 lỗ bằng miệng ly, lúc đầu thấy máu nhiều quá, con quýnh quáng cả lên, nhưng ông bị thương còn tỉnh lắm, ổng bảo con cởi dùm đôi giày, rồi cởi quần trận ra, lấy vớ băng lại cầm máu, làm xong tay chân con dính toàn là máu, những cục máu đọng lại trong ống quần giống như những cục huyết heo rất gớm, lát sau có y tá đến và khiêng võng ra bãi đáp tải thương.

Sau đó trung đội có lệnh di chuyển đổi chỗ cho trung đội 2 ở ngọn đồi nhỏ sát góc bãi đáp, đến bộ chỉ huy đại đội,con lấy bản đồ ra so lại bản đồ của đại đội, thấy mình đã đi lố quá 500m, con hỏi ông đại đội trưởng : như vậy tôi có bị phạt không? ổng bảo đừng lo sợ gì hết, không có gì đâu,chỉ buồn mỗi cái là bị lạc có 500m mà đã gặp việc không may, trong khi ổng đi lạc cả tuần lễ mà vẫn bình yên,ổng dặn con hễ ai có hỏi vụ này cứ nói là trung đội mình đi lục soát bị địch phục kích, như vậy người bị thương mới lãnh tiền được, rồi ổng làm báo cáo và gọi máy về tiểu đoàn, tối hôm đó con dẫn trung đội ra góc sân bay, thấy con còn hoang mang về cuộc chạm súng hồi chiều, thằng chuẩn úy Song còn gọi với theo, bảo con đừng sợ gì hết, chuyện rủi ro, không ai quở trách đâu. Lúc đó con cũng yên tâm phần nào, suốt đêm đó nằm ở chốt con trằn trọc mãi không ngủ được, vừa chợp mắt là thấy trước mắt mình toàn là máu đỏ ối ! và cứ như vậy giật mình mãi, ông Chinh nằm kế bên bảo là con mới thấy máu lần đầu chứ gặp nhiều rồi cũng quen, về đêm trong rừng rất vắng lặng, thỉnh thoảng có vài tiếng kêu rền đất của thú rừng, con vẫn thức nằm bất động, đêm đó con suy nghĩ lung lắm ! tư tưởng liên miên hết chuyện này đến chuyện nọ ! nghĩ cũng tội nghiệp cho thằng thượng hồi chiều vì quá sợ hãi mà chui vào bụi gai mây như con chuột ; mà không sợ hãi sao được ! khi đã lâm trận tức là khi tính mạng con người đã gần kề với sự chết chóc thì lúc đó sự sợ hãi của con người đến tột đỉnh ! và phần tâm trí bị tiêu tan đâu mất, thể xác con người lúc đó chỉ còn cử động như một con thú chỉ biết tìm lấy sự sống mà thôi. Nghĩ lại trách nhiệm của mình cũng khá nặng, chỉ sơ xẩy là thiệt hại bao nhiêu người, ở quân trường mình sơ sót điều gì bị la rầy nghe bực bội, nhưng không nguy hại gì cả, còn ngoài đơn vị không ai quở trách mình cả, nhưng trước mũi tên hòn đạn mà sơ hở một chút là lãnh đủ; chiến trường ở miền rừng núi khác hằn với miền đồng bằng, vì cây cối quá rậm nên cách khoảng 50 m người ta không nhìn thấy nhau, mà khi nhìn thấy bóng người thấp thoáng thì đã quá gần, các binh sĩ nổ súng liền chứ không đợi lệnh cấp chỉ huy như những cuộc tấn công, mà hôm đó toán lính ở trên đồi không có máy liên lạc nên mới xảy ra vụ ngộ nhận như vậy.

Sáng hôm sau Đại đội 2 có lệnh di chuyển đến bãi đáp khác, bãi đáp mà lúc trước con đổ quân xuống, ban chỉ huy Đại đội đóng tại bãi đáp, còn mỗi Trung đội đóng chốt trên các ngọn đồi xung quanh, trung đội con được lên ngọn đồi 949m và đóng tại đó, mỗi ngày ở Đại đội có gọi máy cho biết tọa độ ở vùng hoạt động, con phải để lại trên đồi 2- 3 người, còn lại bao nhiêu dẫn đến điểm họat động lục soát, ở ban chỉ huy đại đội liên lạc máy thường xuyên để theo dõi cuộc lục soát của mỗi trung đội. Có nhiều bữa cũng nhận lệnh đi lục soát, nhưng con làm biếng không đi đâu hết, chỉ nằm tại chỗ báo máy về đại đội những diễn tiến giống như đi thiệt, nhưng ở nhà vẫn sắp đặt địa bàn bản đồ định hướng sẳn sàng, nếu đại đội có hỏi hiện giờ anh di chuyển đến đâu, và cho biết điểm đứng hiện tại, thì cứ việc coi theo bản đồ mà nói, nếu đường di chuyển có con suối thì báo cáo là đến bờ suối v.v… Ở đại đội nó nằm một chỗ lật bản đồ điều khiển mình thì ở chốt mình cũng lật bản đồ đóng kịch trở lại.

Ở đồi 949m trung đội con đóng chốt cho đến ngày về dưỡng quân 10-12-73. Trong thời gian này mỗi ngày phải đi lục soát xung quanh khu đồi một lần, tối đến cho gài lựu đạn xung quanh và canh gác cẩn thận. Việc gài lựu đạn rất nguy hiểm, mấy hôm nay đại đội con bị thương dài dài vì toàn lính người kinh mới về đây chưa rành gài lựu đạn, nhiều ông rung tay quá làm bật kíp lựu đạn, nếu bình tĩnh đá văng quả lựu đạn thì không sao, nhưng mấy ổng cuống chân quá, không đá được chỉ còn chờ quả đạn nổ thôi.

Lúc đầu mấy ổng đòi canh gác lơ là, có nhiều ông vừa gác vừa ngủ, sáng ra ông trung đội phó phạt nặng những người đó ! nhưng con cản lại, lần đầu chỉ cảnh cáo thôi, sau đó con tập hợp trung đội lại, giải thích những công việc lợi hại của đơn vị. Trước nhất con để ông phó nói qua về tình hình quanh khu vực, xong rồi đến lượt con, trước nhất con dùng tình cảm để nói :“Trong trung đội chúng ta, toàn là người kinh với nhau cả, khác hẳn với người thượng, những người chỉ có thể sai khiến bằng bạo lực, còn chúng ta là những người có trình độ hiểu biết cao, tôi không muốn anh em làm việc một cách miễn cưỡng vì một áp lực nào, mà các anh em phải hợp tác với chúng tôi làm việc một cách vui vẻ trong sự ý thức và tinh thần tự giác của anh em, đối với tôi các anh em là những người đã từng trải nhiều kinh nghiệm, còn tôi như người em cần học hỏi nhiều ở anh em, tuy thế nhưng không phải là lý do để các anh em coi thường mệnh lệnh của chúng tôi, tuy tôi mới ra trường nhưng dầu sao tôi cũng đã mang cấp bậc này, như vậy trên vấn đề chỉ huy, chắc chắn tôi phải hơn anh em. Quan niệm của tôi không bao giờ ỷ vào lon lá để áp bức thuộc cấp của mình, tôi đồng ý về tuổi tác tôi kém xa các anh em, nhưng khi làm việc tôi vẫn trở về cương vị của tôi, trên phương diện chỉ huy tôi vẫn là người có quyền hạn đối với các anh em, tôi không muốn anh em bắt buộc tôi phải dùng uy quyền của mình đối với các anh em, nhưng nếu cần tôi vẫn sử dụng đến nó !

Một lần chót, tôi nhắc lại các anh em vấn đề canh gác, anh em canh gác là để bảo vệ mạng sống cho chính mình và bạn bè; nếu anh em lơ là trong việc canh gác, tức là anh em đã coi thường mạng sống của đơn vị … và ngay từ bây giờ hễ tôi hoặc ông phó bắt được người nào bỏ gác hoặc ngủ trong giờ gác tôi sẽ phạt đi kích một đêm, một mình mang 2 quả lựu đạn xuống suối, nếu ông nào không thi hành lệnh phạt của tôi, tôi sẽ báo máy đề nghị về đại đội, và hình phạt lúc đó không phải nhẹ nhàng như trước đâu !

Và tôi nhắc thêm một điều nữa là vấn đề săn bắn; chúng ta đang lúc hành quân, dĩ nhiên ai cũng đói khát mà thú rừng ở đây lại quá nhiều ! mà lệnh của tiểu đoàn không cho bắn những con lớn từ mèo rừng đến con mang, những con vật linh thiêng của rừng núi, các tiểu đoàn khác cũng vậy, tuyệt đối không được bắn những giống này, theo mấy ông thượng thì ăn thịt những con này rất xui xẻo, có lần tiểu đoàn bắn chết con mang, ăn nhậu xong là bị tấn công, thiệt hại gần hết ! Đó là những ý tưởng dị đoan của dân thiểu số, bây giờ chúng ta xét đến khía cạnh thực tế mà nói, khi ta bắn một phát súng tức nhiên mục tiêu của chúng ta bị lộ và địch sẽ theo hướng súng và tấn công chúng ta.

Riêng ở trung đội này, tôi tuyệt đối cấm các anh em săn bắn bất cứ con gì, từ chim chóc đến thú dữ,vì như vậy là thiệt hại an ninh cho chính chúng ta, và tôi cũng khó trả lời khi đại đội gọi máy hỏi lý do từng tiếng súng.

Qua những điều chúng tôi vừa trình bày, anh em có thắc mắc điều gì cứ việc thẳng thắn phát biểu, nếu ngoài phạm vi hiểu biết của tôi, tôi sẽ nhờ thượng cấp giải quyết.

Thưa Ba Ma, ra đơn vị rồi vấn đề nói chuyện trước nhiều người sao khó quá, nhiều binh sĩ già cả nhưng con phải kêu bằng anh em chứ không cách gì hơn được, và nói chuyện với thuộc cấp cũng mệt ở chỗ là phải thận trọng lời nói, chứ không ăn nói tự do bừa bãi như ở quân trường đựơc, vì ở quân trường tụi nó ngang tuổi và ngang cấp bậc nên nói sơ sót cũng không sao! Nhưng ở đơn vị người lính có nể phục cấp chỉ huy hay không là do lời nói đầu vậy! Trong buổi họp tiểu đoàn, ông tiểu đoàn phó có nói, các anh em ra trường có muốn làm cho lính nể thì rất khó, còn làm cho lính sợ thì rất dễ, đối với lính thượng mình nói như nước đổ lá môn, nhưng đối với người kinh vấn đề cư xử là quan trọng hơn cả! Đối với lính, mình nói phạt là phạt chứ không thể tha được vì nói mà không làm nó sẽ coi thường lời nói mình.

Từ hôm nắm trung đội đến nay con chưa phạt ai hết, mấy ổng cũng vui vẻ lắm, nhiều khi mấy ổng than cực than khổ, nhớ nhà nhớ vợ nhớ con, con cũng đành chịu chứ không biết nói sao hơn được, vì mình cũng chẳng khác gì mấy ổng, mà chẳng lẽ cấp chỉ huy lại than van với lính ! chỉ khi nào rảnh con liên lạc máy với mấy thằng cùng khóa tâm sự chút đỉnh thôi và tụi nó cũng than vãn như điên.

Ở trong rừng mãi buồn quá, suốt thời gian hành quân không thể gửi thư về nhà được, kể cả kỳ tiếp tế vì máy bay có đáp xuống được đâu mà chuyển thư, trên đỉnh đồi 949m nhìn về thành phố Kontum thấy nhớ nhà làm sao ấy, ở đây mỗi ngày chỉ viết 1 trang vừa làm nhật ký vừa làm thư, và cũng là lúc đang suy tư về gia đình đó !

Bây giờ chỉ có cách chờ ngày về dưỡng quân mới bỏ thư được, chắc sau gần 1 tháng trời bặt tin bặt tức ở nhà cũng trông thư con lắm, nhưng vì chiến cuộc con chẳng biết làm sao hơn, nếu thư liên lạc thường xuyên không được thì sau ngày hành quân con sẽ gửi về nhà một lá thư dài thế này để bù lại những ngày gửi thư lẻ tẻ.

Viết cho chị Hai

Chị Ngà !

Vừa nhận được thư chị tôi mừng không kể xiết, trong thư có nói lá trước 15-11-73 không có dán tem, bởi thế nên tôi không có nhận được.

Được biết gia đình đều khỏe mạnh tôi mừng lắm, còn Út đã biết bò rồi à ! “oa… oa” “cóp – hà” giỏi lắm phải không? Út biết ăn cơm chưa, hay còn đóp Guigoz, à Út bây giờ chắc không còn là Út Guigoz nữa nhỉ ! thương Út quá mà không biết sao về ẳm Út được ! Chắc ngày về Út đã biết đi học rồi, lúc đó nó không biết ông lính này đâu ! À còn thằng Trọng có được về phép không và có chịu được nổi cơm quân trường không? Bảo nó ráng học đi, được ở quân trường là sung sướng lắm đấy. Hôm 20-11-73 có tin thị xã Kontum bị pháo kích, nhưng lúc đó tôi đang hành quân trong rừng làm sao biết được, lúc đó chỉ nghe những tiếng hú đề-ba của hỏa tiển 122 ly và khi tới nơi thì VC chạy mất rồi chỉ còn lại 8 cái vỏ hỏa tiễn còn nóng hổi. Ở đây tối nào tôi cũng niệm phật, và có niệm chú Bạch Y nữa, còn vấn đề đi săn ở đây tôi tuyệt đối cấm ! Vấn đề ăn uống ở đây rất mắc mỏ, nhưng có khi nào ra phố đâu mà tốn tiền ! còn việc nước nôi ở đây rất phiền toái, tuy nước có thừa, nước rất trong nhưng rất độc, ở những nơi hiểm trở thế này,đòi hỏi con người phải thận trọng đủ thứ, từ miếng ăn, miếng uống đến đường đi nước bước v.v… Nhưng thường thường những lúc khó khăn gian khổ thế này, con người ta không bao giờ chết được, sự chết chỉ đến với con người trong những lúc sung sướng mà thôi !

Thành phố Kontum không giống như Sài gòn hay Trung Chánh, Bà Điểm gì cả, nó chỉ là một thị xã rất nhỏ trong khoảng ô vuông 2km cạnh, một dãy đất nằm dưới thung lũng xung quanh toàn là núi non trùng trùng điệp điệp. Cả thành phố Kontum chỉ có một cái chợ ở giữa, chợ Kontum chỉ bằng chợ Bà Điểm thôi, tại đây chỉ có 3 con đường lớn tráng dầu cỡ như đường Lê Văn Duyệt ở Sài Gòn, ngoài ra toàn là đường nhỏ rải đá hoặc đường mòn thôi, chỉ có lẩn quẩn trong phố là có người kinh còn xung quanh cách chợ khoảng 5 km toàn là những buông sóc người thượng, ra xa tí nữa thì toàn là rừng núi, những dấu vết của kỳ chiến cuộc Kontum kiêu hùng mà thây người nhiều quá, không thể nào mang ra hết được. Ở đây muốn về Pleiku chơi thì rất khó vì phải đi ngang qua đèo Chu-Pao ở đó có trạm kiểm soát rất gắt, và Chu-Pao cũng là một địa danh nổi tiếng hồi chiến cuộc, và bây giờ mới hiểu thấm thía chữ kiêu hùng của Kontum đó. Ở Pleiku lên Kontum thì rất dễ chỉ cần đi xe đò 2 giờ là tới nơi không có ai xét hỏi gì hết vì Kontum là chỗ cuối cùng của binh chủng địa phương.

Còn khí hậu ở tại thành phố Kontum tuy rất lạnh, nhưng dù sao cũng còn có xe cộ, và đông người nên cái lạnh còn chịu được,chứ ở trong rừng khí lạnh rất quáio đản, lúc giữa trưa mà chướng khí rợn người như đêm noel vậy ! còn về đêm chỉ trùm poncho lại ngủ thôi ít khi ra căn lều lắm ! Hiện giờ tôi hết tiền mà lương tháng 11 chưa có, chờ đến tháng 12 lãnh dồn. Ở đây tiền và đồ ăn cái gì cũng cần thiết nhưng ở Sài Gòn làm sao gởi ra được, tiền còn có thể gởi măn-đa chứ đồ ăn không bao giờ gởi ra được ! Thôi thì ở nhà đừng gởi gì ra hết vì tôi chỉ được về dưỡng quân có 10 ngày rồi lại vào rừng tiếp nên cũng không cần tiền làm gì, có thể 2 ngày phép về Kontum ăn cơm ở nhà ông trung sĩ Chinh được rồi.

Ở đây chỉ hy vọng về nhà được trong kỳ thi tú tài 2 , 01-06-74, còn vấn đề hình chụp chắc không có,chị lục lại trong tủ chỗ cuốn album xem có tấm phim nào không?

À, chị đã được miễn học Chí Linh rồi, cũng đáng mừng lắm đấy, vì chỉ có ở nhà là sướng nhất mà thôi!

Còn việc Lan đến nhà thăm 10-11-73 sao trễ quá nhỉ, phải sớm hơn 1 tuần là gặp tôi rồi; ối giời ! cô ta cũng chịu khó quá đấy. Ở Bình Dương mà lội mãi tới Sài Gòn tìm nhà để tặng quà, nghĩ cũng kiên nhẫn thiệt ! Ở quân trường cô ta thăm rất nhiều lần, nhưng toàn là lúc tôi về phép cả, chỉ gặp tôi một lần lúc gần mãn khóa thôi. Đối với gia đình Lan, tôi chỉ mến bác Mười và một người anh vì họ rất tử tế, còn đối với cô ta tôi chỉ coi như bạn, tôi chỉ gọi cô ta bằng tên chứ không bao giờ gọi bằng em như thằng Nguyên, vì có lần ở quân trường cô ta có gởi thư tỏ tình với thằng Nguyên rồi!

À, Dương Ngọc Nga ở 80 Âu Dương Lân cũng có gởi thư thăm tôi nữa hả ? Cô này tôi chỉ quen biết sơ sơ ở khu tiếp tân thôi mà cũng gởi thư từ lắm nhỉ ! Lúc ở Bình Dương tôi hay lại nhà cô Vân con của ông lái đò chơi, còn cô Nga thì làm chung chỗ với Vân, và cô ta giới thiệu Nga với tôi, chuyện đó tôi bỏ quên đến chừng sắp mãn khóa, 2 cô có vào thăm, lúc đầu tôi cũng không nhớ Nga là ai, chừng Vân nhắc lại tôi mới nhớ, lúc đó cô ta có gởi thư qua lại với tôi vài lần, tôi chỉ biết cô ta mồ côi cha, ở nhà bán tiệm vàng, và học tới lớp 3 thì nghỉ học đi làm, cô ta nói chuyện không được văn vẽ nhưng có vẽ thành thật lắm ! lúc đầu tôi không để ý nhưng sau tôi thấy cô ta dễ mến lắm đó!

Mấy cô gởi thư có gì quan trọng không? Còn tôi lúc này nãn quá không muốn gởi thư cho ai hết cả, chị viết thư trả lời giùm tôi nhé! Tôi chẳng biết tán tỉnh thế nào, nhưng vì mang tên là lính sữa Babilắc nên mấy cô mới làm quen đó!

Ở đây mấy ông binh lính hầu hết đều biết ăn nhậu,cờ bạc, chơi bời, nhưng riêng tôi, không bao giờ có chuyện đó, ăn nhậu đôi khi còn có chút đỉnh nhưng chơi bời tôi tuyệt đối không bao giờ có, vì tôi ghê tởm những chứng bệnh này đến tận xương tủy lận, ở trung đội có nhiều ông mắc bệnh lậu rất thảm thương, nhưng lúc về phép vẫn chứng nào tật nấy, mà mình cũng không cách nào ngăn cản họ được!

Đến ngày 10-11-72 lại có chuyến tiếp tế từ hạ sĩ quan trở lên chỉ tiếp tế gạo thôi chứ không có đồ ăn, các binh lính có đồ ăn nhưng rất ít, mỗi người chỉ có 1 miếng thịt heo chỉ vài trăm gram thôi, nói là thịt heo chứ thật ra chỉ là da và mỡ thôi, tôi xin được 1 miếng mỡ heo bằng lóng tay mà ăn thấy ngon không kể xiết vì cả tháng trời chưa khi nào được ăn một miếng đồ tươi như vậy.

Sau đó có lệnh di chuyển đến vị trí khác, 1 ngọn đồi cách đó khoảng 5km đường chim bay, nhưng đi đường rừng phải mất chừng 1 ngày trời mới tới. Lúc đầu đi bằng phương giác rất chính xác nhưng phải băng rừng mệt quá, tôi phải cho lính đi theo đường mòn, đi đường mòn thấy khỏe thiệt, vì không phải chặt cây cối gì hết, nhưng đi loanh quanh rất xa, mà trên bản đồ lại không có đường mòn! Như vậy đi đến đâu chỉ báo cáo cảnh vật xung quanh về đại đội, để đại đội ấn định vị trí đóng quân, đến một lúc trung đội tôi di chuyển đến một ngọn đồi trọc, trên đó có để 3 cây M72 mới toanh, tôi báo cáo về đại đội là đã đến 1 ngọn đồi và những gì có trên đó, thì thằng điều khiển máy ở đại đội lại ấm ớ làm sao, nó không biết phải vị trí đóng quân ở đó không, nó bảo cứ tiếp tục đi theo đường mòn, đến nửa giờ sau ông đại đội trưởng đến điều khiển máy, tôi nói là trung đội tôi đã qua khỏi ngọn đồi đó hơn nửa giờ rồi, ông ta hoảng hồn nói cho trở lại ngọn đồi đó ngay vì đã đi quá mấy cây số rồi! Lúc đó vừa mệt vừa sùng nhưng cấp trên sơ suất như vậy mình biết khiếu nại thế nào! Thôi đành phải trở về vậy!, Khi đến nơi rồi ai nấy đều mệt rã rượi, cũng chỉ vì một câu nói sơ suất ở trên mà cấp dưới phải chịu hậu quả như vậy!

Sống trong rừng rú sao cuộc sống tẻ nhạt quá ! Sự lạnh lẽo ở chốn hoang thiêng làm cho con người ta già đi thì phải, thật vậy! có lần tôi nhìn vào gương thấy mình đã thay đổi hẳn hồi đó, mặt mày già dặn, râu tóc xồm xoàm như những người đứng tuổi vậy!

Hành quân cả tháng trời nhưng thật ra tôi chỉ được tắm rửa có mấy lần! mặc dầu có biết bao nước trong suối mát, nhưng từ đỉnh núi đóng quân đến con suối dưới chân núi xa khoảng 1 km đường dốc đứng mà phải đi bằng 2 chân lẫn 2 tay mới mong khỏi bị lăn xuống núi, đã vậy có phải là yên ổn đâu, ở suối là nơi dễ bị phục kích nhất. Trong cuộc hành quân này tiểu đoàn tôi bị chết cũng khá nhiều chỉ vì xuống suối múc nước mà thôi.

Còn vấn đề lương bổng ở đây không thể làm đơn mượn trước được, tôi phải đành chịu cực 2 tháng đầu vậy, và cuối tháng 12 lãnh lương 2 tháng dồn cũng khoảng hơn 20 ngàn vì còn ăn lương trung sĩ khoảng 13 ngàn 1tháng, nhưng trừ tiền cơm cũng khá nhiều, hơn nữa địa phương quân không có tiền phụ cấp đắc đỏ hay tiền hành quân gì hết vì nó không có quyền lợi như các sư đoàn, và kỳ lương này tôi cần mua sắm nhiều thứ nên không thể gởi măn-đa về được đâu, thôi để chờ kỳ lãnh lắp-ben vậy!

Hiện giờ tôi vẫn mạnh khỏe và vẫn vui vẻ trên đường hành quân, tuy gian lao nhưng không có gì nguy hiểm cả, tình hình Kontum lúc này cũng lắng dịu rồi ! như vậy phần tôi coi như tạm yên, ước mong một ngày nào đó sẽ được về sum họp với gia đình như thường đêm trong giấc ngủ !

Đến đây tôi tạm dừng bút, chúc Ba Má và cả gia đình được bình yên ! còn Út lúc nào cũng mạnh giỏi và nghịch ngợm nhiều thật nhiều cho mau lớn, thương Út nhiều lắm đó !

Sau cùng tôi có lời chúc gia đình Bác Ba cũng như những người thân thích với gia đình mình được nhiều may mắn. Nhờ chị chuyển lời chúc Lan, Nga, Tuấn v.v… những người bạn thân tuy xa nhau nhưng tâm hồn vẫn còn sum họp với kẻ ly hương…

Con của Ba Má

TB: Tôi thường niệm phật và đọc chú Bạch Y mỗi đêm, bây giờ tôi thuộc lòng viết lại, chị dò coi đúng không nhe.

“Nam mô cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát” (3 lần)

Nam mô phật, nam mô pháp, nam mô tăng, nam mô cứu khổ cứu nạn quan thế âm bồ tát, đát chả đá án dà la phạt đá, dà la phạt đá , dà la phạt đà, la đà phạt đá, la da phạt đá, sa há, thiên la thần, địa la thần, nhân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Hồi ức về Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10 đã hy sinh trong trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974 – Nguyễn thành Trạng

Nguyễn thành Trạng

Ho tong ham Nhut Tao HQ10. TVQ Collection

Tôi còn nhớ Khoá 6 OCS (tôi là một thành viên) tốt nghiệp vào ngày 26 tháng giêng D.L năm 1971 (trước Tết VN vài ngày). Vì có phái đoàn văn nghệ từ Việt Nam được gửi sang (Khánh Ly, Ngọc Minh, em của Khánh Ly là Ngọc Anh…) đến trình diễn tại trường OCS vào ngày Tết nên trường giữ K6 lại để vui xuân tại trường, sau đó mới chuyển qua Sanfrancisco huấn luyện về tác chiến sông, rạch khoảng 2 tuần lễ. Khoá 6 OCS về lại VN giữa tháng 2-1971 vào lúc khuya tại phi trường Tân Sơn Nhứt.

Trước khi được Bộ Tư Lệnh Hải Quân làm lễ gắn cấp bực sĩ quan, K6 phải trải qua khóa học một tuần lễ tại Cậu Lạc Bộ Sĩ Quan Hải Quân để thích hợp phong cách sinh hoạt của Hải Quân Việt Nam do lịnh của Tư Lịnh Phó Hải Quân: Phó Để Đó Lâm Ngươn Tánh. Sau khi mãn Khoá học này, tiếp đến lễ gắn cấp bực sĩ quan, ngày hôm sau là chọn đơn vị.

Ngày lễ gắn cấp bực Sĩ Quan cho K6 vào buổi sáng tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sài Gòn do Tư Lệnh Phó Hải Quân Lâm Ngươn Tánh chủ toạ, tháp tùng Tư Lịnh Phó còn có một số sĩ quan Hải Quân cao cấp. Sau buổi lễ có tiệc trà chúc mừng tân Sĩ Quan Hải Quân K6 OCS, dịp này tôi gặp Tham Mưu Phó Quản Huấn là HQ Đại tá Bùi Hữu Thư, tôi hỏi ông:

Thưa Đại Tá! ngày mai là ngày chọn đơn vị, xin Đại tá giúp ý kiến, tôi nên chọn đơn vị nào?  

Đại Tá Thư: Nếu còn PCE (Patrol Craft Escort-Hộ Tống Hạm) thì anh chọn PCE, đây là đơn vi cực khổ nhứt, sau đổi bất cứ đơn vị nào anh cũng không sợ.

Theo lời khuyên của Đại Tá Thư, hôm sau là ngày chọn đơn vị trong hội trường của Hải Quân Công Xưởng, theo thứ hạng tốt nghiệp, đến phiên tôi (hạng 25/62), đã chọn: PCE-Hộ Tống Ham Nhựt Tảo HQ10.

Trước khi tân đáo Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10, tôi phải mặc đại lễ lên trình diện Bộ Tư Lịnh Hạm Đội, Tư Lịnh Hạm Đội lúc đó là HQ Đại Tá Nguyễn Thanh Châu ( cao bồi Châu, sau cùng là Phố Đề Đốc, hiện ở bên Pháp K3NT), Tư Lịnh Phó kiêm Tham Mưu Trưởng là HQ Đaị Tá Bui Kim Nguyệt (K3NT). Sau lễ trình diện các tư lịnh, ngày hôm sau tôi mặc tiếu lễ trình diện Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10, là HQ Thiếu Tá Lê Văn Thự (K10NT, sau nảy là Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm Lý Thuờng Kiệt HQ16 tham dự hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974). Hạm Truổng LVT người ốm, cao trông rất khắc khổ, khó tánh… ông căn dặn tôi là không được đi chơi với hạ sĩ quan và đoàn viên. Ngòai Hạm Trưởng Thư ra, HQ10 còn có những Sĩ Quan sau: HQ Đại Úy Phan Văn Phưởng (Hạm Phó K13NT), ba Sĩ Quan ngành chỉ huy K19NT, các Thiếu Úy Lê Văn Từ (thủ Khoa K19), Trần Đức Hợp, Lê công Thành, 3 Sĩ Quan ngành cơ khí: Trung Úy Đặng Văn Quảng (K17NT-Cơ Khí Trưởng) và 2 Thiếu Úy tốt nghiệp Hàng Hải Thương Thuyền: Phạm Văn Giai, Nguyễn văn Siêu.

Ngoài ra có 1 Sĩ Quan Chiến Binh chưa học hải nghiệp: Thiếu Úy Lê Kim Một (sau này là tùy viên Tư Lịnh Hạm Đội HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn- kể nhiệm Đại Tá Châu)

Là Sĩ Quan mới ra trường, cấp bậc nhỏ nhất theo truyền thống Hải Quân tôi được giao chức vụ: Sĩ Quan Ẩm Thực kiêm Phát Hướng Viên của HQ10, khi tàu đi công tác tôi là sĩ quan phụ Tá trưởng phiên hải hành cho Thiếu Úy Lê Công Thành.

Chuyển công tác đầu tiên của tôi trên HQ10 là biệt phái cho Vùng 3 Duyên Hải.

Tư Lịnh Hải Quân Vùng 3 Duyên Hải là HQ Đại Tá Trịnh Xuân Phong (K2 Breast-Pháp). Nhiệm vụ HQ10 là tuấn tiễu trên biển từ Vũng Tàu đến Côn Đảo, cứ 6 ngày trên biển về bến nghỉ 3 ngày (Cát Lở hoặc về Saigon). Đi chuyến công tác đầu tiên này tôi mới biết thế nào sự khó chịu của “say sóng. Sau tôi khoảng 2 tháng có Nguyễn Thanh Hưởng tốt nghiệp Khoá 8 OCS thuyên chuyển xuống HQ10. Biệt phái cho Vùng 3 Duyên Hải khoảng 2 tháng HQ10 được về bến Sai Gon để bảo trì, sửa chữa. Trong thời gian này, HQ Đại Úy Trần Mạnh Thường (K14NT) đuoc Bộ Tư Lệnh Hải Quân bổ nhiệm xuống HQ10 làm Hạm Phó thay thế Đại Úy Phuơng (đi làm Hạm Trưởng PGM).

HTH Nhut Tao HQ10.jpg

Nghí bến khoảng 2 tháng, HQ10 đuoc lịnh biệt phái cho Vùng 5 Duyên Hải. Tư Lịnh Vùng 5 Duyên Hải lúc đó là HQ Đại Tá Phạm Gia Luật (Cao Bồi Luật K4NT), HQ10 tuần tiểu từ Mũi Cà Màu đến Hòn Khoai-Côn Đảo. Giống như chuyến công tác trước ở Vùng 3 Duyên Hải, khoảng 2 tháng công tác ở Vùng 5 Duyên Hải HQ10 về bến Sài Gòn sửa chữa. Trong thời gian này thì HQ Trung Tá Nguyễn Thái Lai (K8NT) được Bộ Tư Lệnh Hải Quân bổ nhiệm xuống làm Hạm Trưởng HQ10 thay thế HQ Thiếu Tá Lê Văn Thư. Khác với Hạm Trưởng Thư, Hạm Trưởng Lai nói năng nhỏ nhẹ, thích trò chuyện với Sĩ Quan… Sau khoảng 2 tháng nghỉ bến ở Sài Gòn, HQ10 đuoc lịnh biệt phái cho Vùng 1 Duyên Hải. Tư Lịnh Vùng 1 Duyên Hải lúc đó là HQ Đại Tá Hồ Văn Kỳ Thoại (cấp bực sau cùng là Phó Để Đốc K4NT).

Chuyển công tác này vì một trong 3 sĩ quan trưởng phiên hải hành là Thiếu Úy Trần Đức Hợp đã thuyên chuyển về Căn Cứ Hải Quân Đồng Tâm (Mỹ Tho) nên tôi được chỉ định thay thế Thiếu Úy Hợp, sĩ quan phụ tá cho tôi là Thiếu Úy Hoàng Công Thành (K21NT). HQ10 tuần tiểu từ Cù Lao Chàm, Cụ Lao Ré (Quảng Ngãi) đến vĩ tuyến 17 (Quảng Trị). Chuyển công tác này, tình hình chiến sự ở Vùng 1 Duyên Hải bình thường, cứ tuấn tiễu 6 ngày trên biển về Đà Nẵng nghỉ bến 3 ngày. Khoảng 3 tháng biệt phái cho Vùng 1 Duyên Hải, HQ10 đuoc lịnh về lại Sài Gòn nghỉ bến, sửa chữa. Tôi nhớ lúc ấy Khoảng tháng 11 dương lịch năm 1971, về nghỉ bến kỳ nầy Tôi nghĩ HQ10 sẽ ăn Tết tại Sài Gòn, nhưng vì nạn bè phái, nên HQ10 đuoc lịnh rời bến Sài Gòn vào chiều ngày 30 Tết năm 1971 (khoảng tháng 1 năm 1972 dương lịch) chạy ra Vùng 1 Duyên Hải thay thế một Tuần Dương Hạm (tôi không nhớ rõ là HQ2 hay HQ3?) để chiến hạm này về Sài Gòn ăn Tết.

Sự kiện tiêu cực này tôi chẳng bao giờ quên.Trước khi HQ10 đi công tác, HQ Đại Úy Nguyễn Ngọc Hùng (k15NT) được thuyên chuyển làm Hạm Phó thay HQ Đại Úy Trần mạnh Thường. Ngoài ra còn có HQ Trung Úy CK Nguyễn Kim Chương (K16NT-Cơ Khí Trưởng) và HQ Trung Úy Trần Anh Tuấn (thủ khoa K18NT, cán bộ Trường OCS mới từ Mỹ về) cũng mới tân đáo. Những tháng đầu năm 1972 tình hình chiến sự ở Vùng 1 Duyên Hải vẫn bình thường, cuối tháng 3-1972 thay vì về hậu cứ Sài Gòn, HQ10 nhận lịnh là phải tiếp tục ở lại Vùng 1 Duyên Hải vì Công Sản mở chiến dịch tấn công toàn quốc, trong đó có tính Quảng Trị. HQ10 vào thời điểm này không được nghỉ bến như trước (đi tuần 6 ngày nghỉ bến 3 ngaỳ) mà phải tuần tiễu trên biến 24/24, chỉ được phép vào Đà Nẵng để lấy dầu, đi chợ mua lương thực hoặc sửa chữa ở Căn Cứ Tiếp Vận Đã Nằng. Khoảng giữa tháng 4 (không nhớ ngày. năm 1972) HQ10 vào cặp cầu Bộ Tư Lịnh Vùng 1 Duyên Hải – Đà Nẵng để Hạm Trưởng HQ Trung Tá Nguyễn Thái Lai đi họp, trước khi đi họp ông căn dặn chúng tôi không được đi xa chiến hạm. Tối về, Hạm Trưởng Lai cho biết Quảng Trị đã bị công sản chiếm, Sư Đoàn 3BB và Tiểu Khu Quảng Trị đã đi tản nhưng có lịnh trên là Duyên Đoàn 11 và Căn Cứ Hải Quân Cửa Việt (Quảng Tri, sát Vi Tuyến 17) phải tử thủ, không được di tản.Vì thương anh em Hải Quân ở Cửa Việt tôi nhìn gương mặt Hạm Trường Lai lúc đó rất buồn. Sau đó HQ10 tiếp tục ra khơi tuần tiễu, bắn hải pháo yểm trợ các đơn vị ở trên bờ, đặc biệt là ở Mũi Batangan thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Gần 1 tuần sau HQ10 đượ c lịnh ra Cửa Việt để cứu anh em hải quân, người nhái và dân, quân, cán chính… bị kẹt ở Cửa Việt. Khoảng 4 giờ chiều (không nhớ ngày) tháng 4 năm 1972, Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10 cùng với 2 chiến hạm bạn: Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ6 (Hạm Trưởng là HQ Trung Tá Nguyễn Văn Hớn K5NT) và Hộ Tổng Hạm Kỳ Hoà HQ 09 (Hạm Trưởng là HQ Thiếu Tá Trần Đức Cử K9NT) đã có mặt tại Vùng Biến Cửa Việt.

HTH Nhut Tao HQ10.

Lúc ấy trên bộ có 1 chiếc T54 của CS cháy bụi bay mù mịt, HQ 09 (Hạm Trường Cử) hạ nòng súng đại bác 76.2 ly đã bắn cháy chiếc 54 này, HQ 09 và HQ 10 tương đối nhỏ vào gần sát bờ để di tản người, kể cả tài sản của dân. Gần khuya , cuộc di tản ở Cửa Việt đã thành công tốt đẹp, gần 2.000 người đã được đưa về Đà Nẵng. Sau đó HQ10 vẫn tiếp tục đi tuần ở Vùng 1 Duyên Hải,vào lúc này các chiến hạm Hoa Kỳ vào hải phận VN rất nhiều, nhất là khi nhìn trên mảnh ảnh rada của chiến hạm thì mới biết rõ. Tiếp đến, khoảng tháng 5 (không nhớ ngày) năm 1972, HQ10 nhận lịnh rời Vùng1 chạy vào Cam Ranh trình diện BTL Vùng 2 Duyên Hải,Hạm Trường Lai cho biết ông trình diện HQ Đại Tá Nguyễn Phổ để nhận chỉ thị kế hoạch cứu Trung Đoàn 40 BB thuộc Sư Đoàn 22(Tư Lịnh là Đại Tá Lê Đức Đạt đã tử trận ở Tân Cảnh), Trung Đoàn này đang bị CS bảo vây tại Căn Cứ Đệ Đức, phía Bắc tỉnh Bình Định-Qui Nhơn.Vào lúc đó,để cứu Trung Đoàn 40 thoát chết chỉ có lực lượng Hải Quân thôi (vị Bộ Bình và Không Quân không đủ điều kiện để cứu). Tôi còn nhớ tham gia kế hoạch này có 3 Chiến Hạm:Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10(Hạm Trường là HQ Trung Tá Nguyễn Thái Lai, có 4 sĩ quan OCS gồm tôi (K6), Nguyễn Thanh Hưởng (K8) 2 Sĩ quan mới tân đáo Nguyễn Hồng Hà (K12), Son Lunsadi (K12), Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ11 (Hạm Trường là HQ Thiếu Tá Vũ Hữu San (K11NT) sau được thằng Trung Tá là Hạm Trường Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư tham dự trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974, sĩ quan OCS có Nguyễn Hữu Lộc (K7), Dương Vận Hạm Cam Ranh HQ500 (Hạm Trường là HQ Trung Tá Nguyễn Văn Dinh (K8NT), có 2 Sĩ quan OCS: Phạm Ngọc Kính (K6), Lệ Đinh Đăng (K10). Trong Căn Cứ Đệ Đức lúc đó có một sĩ quan Hải Quân OCS là HQ Thiếu Úy Nguyễn Văn Sang (K12), trước đó Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải biệt phái anh làm Sĩ Quan Liên lạc nên anh cũng bị kẹt cùng Trung Đoàn 40BB.

Theo kế hoạch, khoảng giữa khuya 3 chiến hạm trên với các khẩu đại bác 76.2 ly, 40ly… cơ hữu đã bắn dọn đường từ căn cứ Đệ Đức chạy dài đến biến, Trung Đoàn 40BB đã theo “con đường máu trên đã “di tản chiến thuật” ra đến bờ biển an toàn. Tại đây đã có những chiếc chiến đỉnh loại LCM chờ sẵn sát bờ biển để “bốc” Trung Đoàn chuyến họ lên Dương Vận Hạm Cam Ranh HQ500. Kế hoạch giải cứu thành công tốt đẹp trong đêm, HQ500 chở Trung Đòan 40BB về Qui Nhơn. Sau đó HQ10 vẫn đi tuần ở Vùng 2 Duyên Hải, khi thì cặp cảng Qui Nhon, khi thì vào lấy dầu, sửa chữa ở Cam Ranh. Mãi đến tháng 10 (không nhớ ngày) năm 1972, HQ10 đuoc lịnh về hậu cứ Sài Gòn vì sắp đến ngày sửa chữa” đại kỳ”. HQ10 về bến đuoc lịnh cặp ở cầu E. Trước khi cho phép thuỷ thủ đoàn về thăm gia đình, Hạm Trường Lai triệu tập họp sĩ quan, nhìn những đàn em gậy gò, xanh xao,hốc hác… có người chỉ còn da bọc xương (Cơ Khí Trưởng HQ Trung Úy Cơ Khí Nguyễn Kim Chưởng). Gương mặt Hạm Trưởng Lai lúc đó trông rất buồn, đến nay tôi còn nhớ một câu nói của ông đầy tình chiến hữu của một đàn anh trong phiên họp như sau ”Trong lịch sử Hải Quân từ ngày thành lập đến nay và cho đến mãi về sau, tôi nghĩ sẽ không có một chiến hạm naò đi công tác dài lâu như HQ10 chúng ta, tôi mong tất cả các anh nên hãnh diện điều này”. Sau khi HQ10 về bến khoảng 1 tháng, tiếp đến HQ10 vào ụ lớn sửa chữa, Hạm Trưởng HQ Trung Tá Nguyễn Thái Lai và Hạm Phó HQ Đại Úy Nguyễn Ngọc Hùng đuoc lịnh đi học về tham mưu, HQ Trung Uý Trần Anh Tuấn được chỉ định Xử Lý Thường Vụ Hạm Trưởng. Riêng tôi tháng 12-1972 được lịnh thuyên chuyển về Giang Đoàn 47NC( Chỉ huy Trường là HQ Đại Úy Ninh Duy Định K14NT) hoạt động ở Vùng Mộc Hoá-Tuyên Nhơn. Đầu năm 1973 Giang Đoàn 47NC giải tán, tôi chuyển về Giang Đòan 44NC (Chỉ Huy Trưởng HQ Thiếu Tá Đặng Kìm Lê KQ/TĐ) hoạt động vùng Long An-Bến Lức.

f6cbb-HoTongHamNhatTao_HQ10

Tháng 1-1974 đang ở hậu cứ Bến Lức bất ngờ tôi có đọc công điện Hải Quân báo: Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10 đã hy sinh tại Hoàng Sa (19-1-1974), tôi rất đau lòng, chảy nước mắt vì có quá nhiều kỷ niệm buồn vui gần 2 năm trên chiến hạm này, sau khi đã phục vụ trải qua 2 đời Hạm Trường và 3 đời Hạm Phó, HQ10 là khúc ruột của tôi, là nơi đã học hỏi được rất nhiều. Sau đó tôi có đến Bệnh Xá Hải Quân thăm những anh em HQ10 sống sót (nhờ tàu Hoà Lan cứu), anh em rất cảm động, Trung Sĩ BT Nguyễn Văn Bằng (người đánh máy chữ, kế toán giúp tôi trong Ban Ẩm Thực) vừa khóc vừa kể cho tôi nghe chi tiết trận hải chiến Hoàng Sa, vừa nhắc tên những người đã chết. Trong số những anh hùng hy sinh trong Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974, suốt đời còn lại tôi sẽ không bao giờ quên hai người lính già Hải Quân đã từng chia sẻ vui buồn với tôi khi còn phục vụ trên Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ 10, đó là:

1-Thượng Sĩ Nhứt Trọng Pháo NGUYỄN HỒNG CHÂU (Quản Nội Trưởng)

2-Thượng Sĩ Nhứt Vận Chuyển HOÀNG NGOC LỄ (Phụ Tá Sĩ Quan Vận Chuyển)

Hôm nay, nhân Đại Hội OCS 16-2016, năm thứ 41 tưởng niệm HQ 10 đã hy sinh, tôi xin đóng góp vài kỷ niệm về HQ 10, là chút tình chiến hữu cùng màu cờ sắc áo. Vì thời gian khá lâu, nay đã bước vào lớp cao niên, chắc chắn bài viết này có nhiều thiếu xót mong quý niên trưởng, các chiến hữu và quý anh, chị cảm thông. THÂN.

NGUYỄN THÀNH TRẠNG U6 

Ghi chú:

*** Mỗi chiến hạm đều có mẹ đỡ đầu: Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10 Mẹ đỡ đầu là phu nhân Tống Trưởng Công Chánh Kỹ Sư Trần Ngọc Oành.

***Thời gian phục vụ trên HQ10 (tháng 2-1971 đến tháng 12-1972) tôi đã trải qua hai vị Hạm Trường và ba vị Hạm Phó như sau:

  • Hạm Trưởng Lê Văn Thư và Nguyễn Thái Lai.
  • Hạm Phó Phan Văn Phưởng, Trần Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Hùng.

*** Phụ lục:  Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ 10.  

Không biết Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ 10, có phải vì mang con số 10 định mệnh (!) mà đã có những sự việc xảy ra trùng lắp với số 10. Theo lịch sử chiến hạm, tôi đã đọc cách nay 45 năm (1971-2016), xin tóm lược như sau:

I-Tuổi thọ HQ10 là đúng 10 năm (1964-1974)

Hạm Trường đầu tiên của HQ10 là HQ Thiếu Tá Nguyễn Văn Ánh lãnh tàu từ Mỹ về năm 1964 đến năm 1974 thì tàu hy sinh tại Hoàng Sa (Hạm Trưởng thứ mười cuối cùng là HQ Thiếu Tá Nguỵ Văn Thà) 

II-Hạm Trưởng HQ10 từ (1964-1974) có 10 sĩ quan chỉ huy theo thứ tự:

1-HQ Thiếu Tá Nguyễn Văn Ánh, (chức vụ sau cùng: Đại Tá)

2-HQ Đại Úy Bùi Hữu Thư, (chức vụ sau cùng: Đại Tá)

3-HQ Đại Úy Vũ Trọng Đệ, (chức vụ sau cùng: Đại Tá)

4-HQ Đại Úy Lưu Đình Phú, (chức vụ sau cùng: Trung Tá)

5-HQ Đại Úy Nguyên Địch Hùng, (chức vụ sau cùng: Trung Tá)

6-HQ Thiếu Tá Vũ Nhân, (chức vụ sau cùng: Trung Tá)

7-HQ Thiếu Tá Lê Văn Thự, (chức vụ sau cùng: Trung Tá)

8-HQ Trung Tá Nguyễn Thái Lai, (chức vụ sau cùng: Trung Tá)

9-HQ Thiếu Tá Nguyễn Văn Đức, (chức vụ sau cùng: Trung Tá)

10-HQ Thiếu Tá Nguy Văn Thà, (chức vụ sau cùng: cố Trung Tá)

III-Chuyển công lâu dài nhứt: 10 tháng (Từ tháng 1-1972 đến tháng 10-1972

*** Mùa Xuân California, Năm Bính Thân 2016.

Nguôn: http://www.doanketvnch.com/hoi-uc-ve-ho-tong-ham-nhut-tao-hq10/

Điệp Mỹ Linh – Một Đoạn Đường *

ĐIỆP MỸ LINH

Qua khung kính cửa sổ phi cơ, Hạnh thấy những ánh đèn ly ty lùi lại trong bóng đêm. Khoảng không gian giữa những chấm sáng ly ty đó và chiếc Boeing đồ sộ này chắc xa lắm, nhưng Hạnh tưởng như nàng thấy rõ những con đường mòn len lõi trong rừng thông, từng làn sóng òa vỡ lao xao trên ghềnh đá và những bệ xi-măng vỡ vụn của một phi trường bỏ hoang. Phi trường đó mang tên Orote Point. Cái tên lạ, vô nghĩa như khoảng thời gian dài vô vị trong căn lều vải, trên những chiếc ghế bố nhà binh.

Những tháng ngày nhàm chán trong căn lều vải Hạnh chỉ biết lắng hồn nàng vào kỷ niệm, ấp yêu dĩ vãng để quên đi hiện tại và không nghĩ đến ngày mai. Những lần đếm bước dưới gốc thông già, Hạnh nhớ những đồi thong xanh ngút ngàn trên Dalat khi nàng còn bé, học trường Domainde Marrie; và con đường mòn quanh co trên ngọn đồi thoai thoải sau chùa Hải-Đức, Nha Trang. Những chiều lặng lẽ bên bờ cát, nghe gió thì thầm, nhìn sóng tung tăng, Hạnh nhớ khung trời cũ, nơi có giải cát vàng, màu nước biếc và mối tình thơ dại. Kỷ niệm cứ chờn vờn quanh đây, chợt đến, chợt đi như thời tiết bất thường của đảo Guam hoang dại.

Dù đảo Guam và Orote Point không phải là nơi đáng yêu, nhưng đã là nơi Hạnh cảm biết thế nào là tủi nhục khi sắp hàng lãnh từng dĩa cơm nhão; thế nào là thương nhớ khi nhìn về phương trời xa, tưởng như thấy được ánh mắt đăm chiêu của Mẹ, mái tóc bạc phơ của Cha; thế nào là bần hàn khi con thèm lon nước ngọt mà Hạnh không có tiền mua! Bây giờ, chuyến bay này sẽ đưa Hạnh về California, nơi đó tương lai hứa hẹn nhiều khó khăn, lắm bất trắc.

Những ngày ở Camp Pendleton, California, cũng chẳng khác gì Orote Point. Mùa Hè thật nóng bức, oi nồng. Ngày dài như không dứt. Đêm về lạnh buốt, sương giăng mờ lối. Những ray rức, lo âu, tiếc nhớ lúc nào cũng dày vò, gậm nhấm tâm hồn khiến cơ thể của Hạnh tàn tạ, héo hon!

Đang cùng các con sắp hành nhận lãnh cơm trưa, Hạnh thấy Phi – chồng của Hạnh – từ văn phòng của Trại đi đến, bảo:

-Em về lấy giấy tờ lên văn phòng làm thủ tục xuất trại. Một thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến, tên Smith, bảo trợ. Để các con sắp hàng đi ăn trước; mình về ăn sau.

Hạnh lặng lẽ theo Phi trên con đường đất đỏ gồ ghề. Đến nơi, bà Betty bảo Phi điện thoại viễn liên – chính phủ Mỹ trả tiền – với gia đình Smith để bàn tính ngày giờ đi. Hạnh cảm thấy vui vì các con sẽ nhập học kịp niên khóa. Hạnh muốn “trực diện với tương lai xem nó ra làm sao” chứ chôn chân trong trại để mặc cảm lưu đày hành hạ, Hạnh cảm thấy khổ sở vô cùng!

Vừa cảm thấy thơ thới, Hạnh chợt khó chịu vì nghe những tiếng “yes, sir” của Phi khi Phi điện đàm với Smith. Niềm đắng cay từ đâu ùa đến khiến Hạnh muốn khóc. Không muốn khóc sao được khi mà, mới ngày nào, cố vấn Taylor than phiền: “Nhiệm vụ của tôi là cố vấn cho đơn vị này. Nhưng không bao giờ anh hỏi ý kiến tôi; không bao giờ anh cho tôi đi hành quân chung; như vậy thì nhiệm vụ của tôi là gì?” Phi cười dòn: “Anh không là cố vấn cho ai cả. Chúng tôi, người lính V.N.C.H., hành quân để chống lại sự xâm nhập có chủ mưu của Cộng Sản Bắc Việt. Nhiệm vụ của anh là gọi máy bay tản thương khi đơn vị của tôi đụng độ, có thương vong.” Đôi mắt xanh biếc của Taylor nhìn sửng Phi trong khi tiếng cười cao ngạo của Phi vang vọng. Vậy mà bây giờ một tiếng “yes sir”, hai tiếng “yes sir”! Hạnh nén tiếng thở dài, nhìn mong ra cánh đồng cỏ úa.

Không biết cuộc đời thực tế ngoài kia có tươi đẹp như lời thư khoe khoang của các bạn đã xuất trại trước đây hay không, nhưng chắc chắn một điều là Hạnh sẽ sống đúng nghĩa của một người bình thường, gạc bỏ được mặc cảm vô dụng, vô vọng như hiện nay.

Hạnh nhìn quanh trại lần cuối rồi vội bước lên xe bus với cõi lòng buồn vui lẫn lộn. Thôi, vĩnh biệt nhé, vùng thung lũng buồn!

Từ khoảng không gian xa lắm của chiếc Boeing Hạnh thấy ruộng vườn xanh tươi. Bỗng nhiên Hạnh cảm thấy lòng chĩu nặng u hoài; vì Hạnh chợt nhớ đến những chuyến trực thăng từ Gò Dầu Hạ về Bến-Lức. Quê mình sao nghèo quá! Vườn cao su xác xơ trụi lá, đồng lúa hoang tàn và những đồn lẻ tẻ dọc bờ sông còn hằn nhiều dấu pháo kích của Cộng quân. Kia là đồn Trà-Cú, hậu cứ của Giang Đoàn 53 Tuần Thám, dưới sự chỉ huy của Hải-Quân Thiếu Tá Nguyễn Thìn – người còn được biết đến dưới danh xưng nhạc sĩ Trường Sa.

Những lần ghé đồn Trà-Cú, Hạnh thích ngồi một mình trong nắng ấm, nơi bãi đáp trực thăng, để nghe cỏ rì rào trong tiếng gió lao xao. Nhìn từng chiếc Khinh Tốc Đỉnh (PBR) rời bến với thủy thủ giày “sô” áo trận, tự dưng Hạnh tưởng như nghe được giai điệu dịu dàng, thiết tha của tình khúc Rồi Mai Tôi Đưa Em của Trường Sa. Hạnh “ngân nga”nho nhỏ những câu nàng chợt nhớ: Còn đây không gian xưa quen gót lầy. . Ngồi nghe yêu thương đi xa tầm tay. Giữa tiếng ru trầm vào cơn mê này…”(1). Có sống trong bối cảnh này Trường Sa mới để lòng mình lắng xuống, đọng lại thành những cung bậc làm nhức nhối lòng người. Hạnh hồi tưởng lại ánh mắt xa xăm của Trường Sa khi Trường Sa từ giã Phi tại Guam để theo thương thuyền Việt-Nam Thương Tín trở về Việt-Nam! Trường Sa, một nghệ sĩ với tâm hồn ướt lệ, người hùng Tuần Thám với sức chiến đấu dũng cảm và tình yêu Quê Hương thiết tha!

Bây giờ tất cả đã xa thật xa trong không gian ngăn cách, đã qua rồi trong thời gian biền biệt trôi. Nhưng với Hạnh, những tháng ngày êm mơ trên Quê Hương là những kỷ niệm ngọc ngà, không bao giờ nhạt phai.

Chiếc Boeing đã rời xa những áng mây rực rỡ của một chiều Hè trong vùng Cali tươi mát, đưa gia đình Hạnh về vùng sa mạc nóng bức Arizona. Phi cơ lượng nhiều vòng trên thành phố, đủ thời gian cho Hạnh ghi nhận cảm xúc đầu tiên: “Yuma, một thành phố lạc lõng như tâm hôn tôi lúc bây giờ! 6g25 chiều 20-07-1975”.

Những ngày đầu tiên không làm sao tả xiết những bỡ ngỡ, ngại ngùng. Nhưng sự bở ngỡ ngại ngùng này không thể nào so sánh với cảm tưởng lạc loài vào sáng Chủ Nhật đầu tiên gia đình Hạnh theo gia đình Smith đi nhà thờ! Các con của Hạnh ngơ ngác như lạc vào rừng hoang! Phi ra vẻ trịnh trọng để che giấu cử chỉ bối rối. Tiếng Organ ngân dài những bài thánh ca khiến tâm hồn Hạnh lân lân như siêu thoát. Khi Linh Mục bắt đầu giảng kinh, Hạnh nhìn lên tượng Chúa với lòng thành khẩn: “Lạy Chúa! Xin Ngài tha tội cho con. Con đã vì sự sống, vì thọ ơn mà đến đây; nhưng trong lòng con lúc nào hình ảnh Đức Quán Thế Âm cũng ngời sáng!” Không hiểu tại sao ý nghĩ này lại làm cho Hạnh tủi thân. Hạnh âm thầm thấm nhẹ nước mắt!

Đã nhiều lần – khi mọi người, ngoại trừ Hạnh, vui đùa bên hồ bơi – bà Smith nghe tiếng piano vẳng ra từ phòng gia đình tình khúc Come Back To Sorrento, bà Smith biết Hạnh chơi đàn. Vì vậy, khi thấy thái độ u buồn của Hạnh, Bà Smith mời Hạnh vào ca đoàn.

Hôm sau, nhật báo và đài truyền hình địa phương đến phỏng vấn Phi và Hạnh. Hạnh và Phi phải dồn nén tình cảm để trả lời rất khéo léo nhiều câu hỏi rất “hóc búa” của những phóng viên chuyên nghiệp. Để trả lời câu cuối của cuộc phỏng vấn, Phi cho biết chàng ước mong được làm thợ máy sửa xe hơi.

Ngay chiều đó, Phi nhận được điện thoại của hãng xe Datsun. Họ mướn Phi ngay. Lương $3.50 một giờ. Họ cho Phi biết Phi có thể khởi sự làm việc vào ngày hôm sau và họ sẽ thuê đài truyền hình quay phim để quảng cáo.

Phi nhờ Thiếu Tá Smith đưa đến thư viện, mượn cuốn tự điển Pháp Anh. Suốt đêm đó Phi thức trắng để học những danh từ về máy xe hơi.

Chiều hôm sau, cả nhà quay quần bên TV. Khi thấy trên màn ảnh hiện ra câu: “Hãng xe Datsun của chúng tôi vừa thuê được một thợ máy lành nghề từ Việt-Nam”, cả nhà cười rộ lên. Ông thợ máy Việt-Nam ra tay: Cầm “wrench” không đúng vị thế, vặn ốc không nổi! Sau một lúc hì hục, ốc hơi lỏng và dầu xe “tưới” lên mặt, lên áo quần của “ông thợ máy Việt-Nam lành nghề!”, Cả nhà ôm bụng cười vang. Hạnh không thể cười mà Hạnh cũng không thể nín cười! Hạnh lẻn ra sân cỏ. Nỗi u buồn, niềm cay đắng, sự xót xa cứ mơ hồ, bàng bạc, giăng mắc trong lòng, Hạnh chỉ biết ngồi im nơi sân cỏ!

Bóng tối đến tự lúc nào Hạnh cũng không hay. Phi dựng xe đạp vào tường, hỏi:

-Hạnh! Em làm gì đó?

Hạnh cúi mặt, không trả lời. Phi đến, ngồi cạnh, cầm tay Hạnh:

-Sao buồn quá vậy? Nhớ nhà, phải không?

Hạnh lần tay mình vào tay Phi như tìm nguồn an ủi. Bỗng Hạnh nhìn vào mắt Phi, giọng thảng thốt:

-Tay anh phồng hết! Nhìn xem, những mụn nước no tròn. Sao anh nói láo với họ làm chi cho khổ thân?

Phi ngồi bệt trên cỏ, cười cười:

-Em nên biết, ở xứ này, một người thợ giỏi làm nhiều tiền hơn một “thầy” không có bằng đại học. Mình đã mất tất cả. Mình phải gầy dựng lại cuộc đời cho tương lai các con. Thằng Bob – manager của dealer và cũng là một cựu sĩ quan Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt-Nam – biết anh nói láo rồi! Nhưng nó thích anh. Bob hứa cho anh học nghề có trả lương. Hồi chiều Bob đã đưa anh ghi danh tại AWC (Arizona Western College) học về Electrical Engineering. Anh cũng đã ghi tên em rồi, em sẽ chọn phân khoa sau. Bob lại cho anh mượn tiền mua dụng cụ thợ máy; mỗi tháng mình trả góp $50.00. Mai em và anh đến AWC thi nhập học.

Nghe giọng Phi đầy tự tin và vui thích, Hạnh cảm thấy yên lòng.

Hạnh và Phi đã chuẩn bị cho buổi thi nhập học; nhưng khi số bài thi được phát ra và mỗi người ngồi riêng một phòng thì Hạnh cảm thấy số vốn Anh ngữ của nàng tan loãng thật nhanh! Nhìn tập bài thi dày cộm, cố ôn lại những gì đã học từ hai năm tú tài ban Anh văn và những năm miệt mài ở Hội Việt Mỹ, Hạnh cảm nhận được điều mỉa mai: Số Anh ngữ của nàng chỉ “lỏm bỏm” như những hải đảo lạc loài trong đại dương mênh mông!

Sau khi Phi lãnh tuần lương đầu tiên, Hạnh hoàn lại tiền ăn cho gia đình Smith rồi thuê nhà dọn ra ở riêng.

Căn nhà không lớn, chỉ ba phòng ngủ, phòng khách và nhà bếp; nhưng vì không có bất cứ đồ vật gì trong nhà cho nên ngôi nhà trở nên thênh thang, lạnh lẽo. Những người láng giềng tóc màu đem đến tặng gia đình Hạnh các thứ cần thiết như nồi, chảo, chén dĩa, khăn trải giường. Cứ sau mỗi cử chỉ nhân ái họ lại nhắc gia đình Hạnh Chủ Nhật đi nhà thờ!

Đứng chung với ca đoàn của nhà thờ, trên bục gỗ, Hạnh vừa nhìn bản thánh ca vừa hát vừa liết xuống những người đang ngồi bên dưới và thấy Phi ngủ gật trong nhà thờ! Sức người có hạng. Phi đã làm hơn sức của một người bình thường. Thời khóa biểu của Phi: Từ 5:00 giờ đến 8:00 giờ sáng, quét dọn quanh hãng xe. Từ 8:00 giờ đến 12:00giờ trưa, thợ máy. Từ 12:00 đến 1:00 trưa, cho ngựa của Bob ăn cỏ trong khi Phi ngấu nghiến vội vàng miếng bánh mì thị nguội do Hạnh làm từ tối hôm trước. Từ 1:00 đến 5:00 chiều, thợ máy. Từ 5:00 đến 6:00 đạp xe – xe đạp được nhà thờ cho mượn – đến AWC. Từ 6:00 đến 11:00 đêm học tại AWC. Thứ Bảy Phi cưa cây hoặc làm sân vườn cho hàng xóm.

Công việc của Hạnh có vẻ nhàn hạ. Sáng, 7:00 đạp xe đến hãng may, làm cho đến 4:00 giờ chiều; về nhà dạy Anh văn cho các con, lo bữa cơm chiều rồi đạp xe đến AWC học đến 11:00 đêm.

Niên học chấm dứt Hạnh cũng không cảm thấy như mùa Hè hiện diện; vì Yuma chỉ có cát, đá và cây xương rồng chứ không có hoa phượng!

Dưới ánh nắng như thiêu đốt và trong từng cơn gió lùa sức nóng hừng hực từ những vùng cát mênh mông, Phi và Hạnh mỗi người vẫn nhẫn nại đạp xe trên những con đường thiếu bóng cây. Nhà thờ lại cho biết, chủ nhân hai chiếc xe đạp tỏ ý muốn lấy lại. Nhận thấy không thể nào đủ sức và thời gian để đi bộ, Phi không còn cách nào hơn là trình bày mọi điều với Bob. Bob cười xòa, vỗ vai Phi:

-Anh làm việc tốt. Tôi sẽ bán và cosign để anh có thể mua một chiếc xe. Mai đưa gia đình anh đến, chọn xe nào anh và gia thích rồi cho tôi biết.

Từ đó Hạnh và Phi mới hiểu: Người không mang nợ thì khó xin mua chịu; kẻ mang nợ nhiều lại dễ vay tiền!

Mỗi chiều, cho xe chạy chầm chậm trên xa lộ, nhìn những áng mây trong khung trời lộng gió, Hạnh cảm thấy nhớ nhà da diết! Hạnh nhớ và thương cả những điều không tốt đẹp của Quê nhà, rồi bất giác “ngân nga” nho nhỏ: “Trên đường về nhớ đầy. Chiều chậm đưa chân ngày. Tiếng buồn vang trong mây … Chim rừng quên cất cánh. Gió say tình ngây ngây. Có phải sầu vạn cổ, chất trong hồn chiều nay…Tiếng buồn vang trong mây…”(2)

Bao mùa Hạ đã qua đi, vẫn không tiếng ve sầu, không màu phượng đỏ. Nhưng mùa Hè này, Hạnh và Phi cảm thấy lòng rộn ràng mừng vui vì cả hai đang xúng xính trong áo rộng và mũ đen. Khi nghe tên được xướng lên và Hạnh từ từ bước lên bục gỗ trong buổi lễ ra trường, Phi và các con vỗ tay không ngớt; đến phiên Phi bước lên bục gỗ Hạnh không thể giấu được dòng nước mắt vui mừng!

Cuộc vui nào rồi cũng qua đi để trả Hạnh trở về với những bương chải, vất vả và ưu tư của cuộc sống. Chỉ sau một thời gian ngắn, Phi được công ty điện lực thuê và Hạnh là chuyên viên kế toán cho ngân hàng.

Gia đình Hạnh dời vào một ngôi nhà khang trang thuộc một khu vực trung lưu. Hạnh tưởng rằng với việc làm tốt và cuộc sống của một chàng “cổ trắng” Phi sẽ vui vẻ; Hạnh không ngờ lại thường bắt gặp Phi thơ thẩn nơi sân sau, ánh mắt đăm chiêu, vần trán nhíu lại như đang suy nghĩ điều chi rất quan trọng.

Một hôm, đi làm về, Phi vào nhà bằng ngã sau. Hạnh chỉ lên đầu tủ lạnh:

-Có thư anh Dinh gửi cho anh.

Phi không giấu được ngạc nhiên lẫn vui mừng:

-Nó ra tù rồi à?

-Em đã mở thư đâu. Anh mở xem.

Phi mím môi thật chặt khi đọc bản sao “Giấy Ra Trại” Dinh gửi kèm.

Ngoài những sáo ngữ rỗng tuếch, Phi nhíu mày nhìn mấy dòng: “…Thi hành án văn,  quyết định tha số…ngày…năm 1984. Can tội: Trung Tá chỉ huy trưởng. Bi bắt ngày…tháng 6 năm 1975”. Phi xếp phong thư cho vào túi, đứng bất động. Chín năm đằng đẳng một đời trai bị đọa đày trong cay đắng, tủi nhục! Phi ở đây, mỗi khi nhận được thư nhà gửi qua Canada hoặc Âu Châu – rồi từ các nước đó bạn của Phi và Hạnh mới chuyển thư đến Mỹ – Phi vẫn cảm thấy hận thù dâng chất ngất vì tin Mẹ và các em của Phi đói khổ ở vùng kinh tế mới, còn nhà của Mẹ thì “được” cán bộ quản lý!

Biết Phi là người có chí lớn, Hạnh tôn trọng những suy tư của chồng. Sau khi nghe Phi thở dài, Hạnh bảo:

-Anh vào tắm nước nóng, nằm nghỉ cho bớt giao động. Khi nào cơm xong, cu Út sẽ vào mời anh.

Tắm xong, Phi mở ngọn đèn nhỏ cạnh giường, đọc lại thư của Dinh. Ánh sáng lờ mờ gợi lại trong hồn Phi vùng ánh sáng yếu ớt, vàng vọt trên các chiến đỉnh và chiến hạm. Ánh đèn nhạt nhòa không đủ sáng để xem bản đồ hành quân. Bản đồ hành quân với những đường li ti ngoằn ngoèo như những động mạnh và tĩnh mạch trên cơ thể của Quê Mẹ tan thương! Ôi, Quê Hương! Chúng tôi đã chiến đấu đơn độc, trong những điều kiện nghèo nàn, thiếu hụt cho nên không biết bao nhiêu bạn hữu và đồng đội của tôi phải gục ngã! Máu của bạn tôi, của đồng đội và máu của tôi như những lượng phù sa bồi đắp miền Nam nước Việt. Bao nhiêu bạn hữu và đồng đội của tôi vẫn còn bị đày đọa trong chốn lao tù, tôi phải làm gì? Tôi không thể an tâm sống yên lành, hạnh phúc. Khi thấy quân phục trắng, tôi nhớ Ngụy Văn Thà và trận thư hùng với Trung Cộng tại Hoàng Sa! Khi thấy màu áo hoa rừng, tôi khóc Phan Văn Sanh, tiếc Trần Văn Thiết! Thấy màu áo kaki, tôi thương Hoàng Xung! Thấy quân phục Không Quân tôi lại nhớ Nguyễn Cư, v.v…Xin cho tôi được minh mẫn, đủ nghị lực để chọn hướng đi cho đoạn đường còn lại của tôi…

“Ba!” tiếng gọi nho nhỏ của Út cắt đứt dòng ý tưởng của Phi. Nhìn ra cửa, thấy Út đang lấp ló, có vẻ e dè vì tưởng Phi đang ngủ. Phi hỏi:

-Gì, con?

Út vừa bước nhè nhẹ vừa hỏi nhỏ như ngại người khác nghe:

-Ba muốn nghe chuyện này không, Ba?

-Chuyện gì, con?

Út cười, sà vào lòng Phi:

-Chuyện của con.

-Nghe chứ, con. Nói đi, Út.

Út nhìn Phi với nét mặt quan trọng:

-Con mới tìm ra một thằng Việt Cộng!

Ngạc nhiên, nhìn Út một chốc rồi Phi cười lớn:

-Làm sao con biết Việt Cộng là ai mà con nói?

Không muốn tuổi thơ của con sớm vướng hận thù, Phi tiếp:

– Thôi, nói chuyện khác đi, con.

-Ba này! Tại Việt Cộng mà mình phải chạy trốn, qua đây, để tụi Mỹ kỳ thị. Con biết chớ bộ!

-Mỹ không kỳ thị đâu, con. Nếu Mỹ kỳ thị thì làm thế nào Ba Má và các con được đi học cùng trường với người Mỹ? Ba Má được làm việc chung với người Mỹ và mua nhà cùng khu vực với người Mỹ?

-Không kỳ thị sao tụi nó gọi con là Chino?

-Có thể họ tưởng con là người Tàu, Chinese.

-Má nói tụi Tàu xâm lấn nước mình hoài, đô hộ nước mình cả ngàn năm; rồi cũng tụi Tàu giúp Việt Cộng đánh chiếm, đuổi mình khỏi Việt-Nam. Con ghét tụi Tàu! Ai gọi con Tàu thì người đó kỳ thị.

Phi sửng sờ, không ngờ Út lớn hơn chàng nghĩ. Phong chuyển câu chuyện:

-Thôi, con kể Ba nghe  chuyện thằng Việt Cộng đi, Út.

-Hồi Hè mới bắt đầu, cô giáo dẫn một thằng con nít Á Đông vô lớp con. Nó không biết tiếng Anh. Nó ngồi cạnh con. Nó nói nó là người Việt-Nam. Nó nói nhà nó nghèo lắm, vì mới từ đảo qua, Ba Má nó cũng không biết tiếng Anh. Con thấy nó rất tội nghiệp, mỗi ngày đem thức ăn trưa, con làm thêm để đem theo cho nó. Con giúp nó làm bài. Nó nói nó thích con. Con hỏi nó: “Mày ở Việt-Nam mà Bắc hay Nam?” Nó nói nó ở cái tỉnh ở giữa cho nên nó không biết Bắc hay Nam. Vì muốn biết nó có phải “phe mình” hay không, con hỏi nó: “Cờ của mày màu gì?”  Nó nói con ngu, Việt-Nam có một lá cờ chớ mấy. Con bảo nó: “Mày vẽ lá cờ của mày ra là tao biết liền.”  Sau khi nó vẽ, con xin cô giáo cho con ngồi chỗ khác. Con không cho nó ăn trưa nữa. Con “nghỉ” nó ra rồi!

Câu chuyện Út kể khiến Phi cảm thấy buồn thêm. Phi vò tóc con:

-Con thương lá cờ của mình; vậy con có thương nước mình không?

-Thương chớ!

-Nếu con thương nước mình thì con cố chăm học để sau này về giúp nước, nghe, con.

-Làm sao về được, Ba? Việt Cộng còn ở đó mà!

Suy nghĩ giây lâu, Phi thở dài, không hiểu có nên cho con biết ý định của chàng hay không! Một chốc sau, Phi hỏi dò:

-Nếu có người đuổi Việt Cộng đi, con nghĩ sau này con có về giúp nước mình hay không?

-Về chớ! Mà ai đuổi Việt Cộng đi hả, Ba?

Phi xoay người Út, nhìn vào mắt Út:

-Nếu Ba trở về Việt-Nam đánh đuổi Việt Cộng đi để mai sau con trở về giúp nước mình, con chịu không, Út?

Út nhìn Phi không nháy mắt rồi bất ngờ Út vùi đầu vào ngực Phi, nín lặng! Phi cảm thấy se thắt trong lòng! Phi hôn lên tóc con và cảm nhận được niềm xúc động dâng ngập bờ mi!

Tiếng Hạnh vọng lên từ nhà bếp:

-Út! Mời Ba ra ăn cơm, con.

Phi ngồi giậy, đỡ Út đứng lên:

-Đi ăn cơm, con!

Út vẫn lặng thinh, mắt nhìn xuống, mặt nó trông buồn lắm! Phi ôm con thật chặt, bảo:

-Út! Con hứa với Ba rằng con sẽ không nói lại với bất cứ người nào – kể cả với Má – về những gì Ba đã nói với con, nha, Út. Con cũng không nên buồn; vì con buồn là Ba buồn. Con thương Ba, nghe lời Ba dạy, nha, Út.

Út gật đầu, bậm môi, quẹt nhanh hai dòng nước mắt. Phi chưa kịp đứng lên, Út đã ôm lấy cổ Phi thật chặt như sợ Phi sẽ vuột đi!…

*********

Suốt buổi ăn trưa Phi trông buồn lắm! Phi ít nói hơn mọi khi; nếu phải nói, giọng Phi đặc, nghèn nghẹn như cố nén từng khối u ẩn vào lòng! Phi cố tránh ánh nhìn của Hạnh. Hạnh cảm biết có điều gì rất khác thường; nhưng dự tính chiều về sẽ có nhiều thì giờ để vợ chồng nói chuyện nhiều.

Đưa Hạnh ra bải đậu xe, như mọi khi, Phi mở cửa xe cho nàng. Trước khi Hạnh cho xe nổ máy, Phi nhìn Hạnh thật lâu, giọng âu yếm:

-Em trở lại đi làm đi. Anh không sao đâu.

-Sao anh trông có vẻ bất thường!

Không đáp lời Hạnh, Phi quay lưng, bước nhanh về phía xe của chàng, nói vọng sang:

-Anh không sao. Bye, Hạnh!

Hạnh lui xe. Chạy từ từ trên bãi đậu, nhìn vào kính chiếu hậu, Hạnh thấy Phi vẫn ngồi im trong xe, dõi mắt theo nàng.

Chiều, đang sửa soạn bữa cơm tối cho gia đình, nghe tiếng chuông cửa, Hạnh bảo Út ra xem, nếu người quen thì mở cửa, người lạ thì không.

Út chạy vào:

-Má, Má! Có ông Mỹ nào đó… “muốn” Má.

Hạnh vội tắt bếp, bước ra phòng khách, quên “chỉnh” Út về tiếng Việt “ba rọi”. Qua khung kính nhỏ, Hạnh ngạc nhiên khi thấy ông Sếp của Phi, vẫn còn mặc “đồ lớn” và thắt cà-vạc. Hạnh mở cửa, tươi cười:

-Hi, Jack! Ông mạnh giỏi chứ?

Vừa bước vào phòng khách Jack vừa đáp:

-Cảm ơn. Tôi vẫn khỏe. Hạnh và các cháu vẫn khỏe chứ?

Hạnh bắt tay Jack và đáp:

-Cảm ơn ông. Chúng tôi đều khỏe; còn Helen và Mark thì sao, thưa ông?

-Ô, cũng bình yên.

Hạnh chìa tay về phía xa-lông:

-Mời ông ngồi. Tôi nghĩ Phi đang trên đường về; không lâu đâu.

Jack ngập ngừng:

-Cảm ơn Hạnh. Tôi…tôi muốn nói chuyện với Hạnh.

Hạnh ngồi vào xa-lông, giọng ngạc nhiên:

-Vậy à? Vâng, mời ông ngồi.

Vừa ngồi vào xa-lông đối diện, Jack vừa nhìn quanh, có vẻ lúng túng. Bất chợt thấy khung ảnh của Phi treo trên tường, Jack vội bước đến. Hạnh bước theo. Giọng Jack tò mò:

-Phi mặc quân phục trông khác quá! Ảnh này chụp bao lâu rồi?

-Ảnh đó chụp năm 1972, sau khi Phi bị thương tại Chương Thiện.

-Phi bị thương nặng không?

-Nặng chứ! Nhưng đó không phải là lần đầu tiên và cũng chẳng phải lần sau cùng Phi bị thương…

Hạnh bỏ lửng câu nói vì thấy thái độ của Jack hơi khác thường, rồi tiếp:

-Jack! Ông cần gặp tôi có điều gì quan trọng lắm, phải không? Trông ông có vẻ bồn chồn, sốt ruột.

-Vâng, tôi có chuyện rất quan trọng muốn nói với Hạnh.

-Mời ông ngồi. Tôi nghĩ, ông nên chờ Phi về rồi hãy nói; bởi vì, dù chuyện gì ông nói với tôi thì tôi cũng phải nói lại với chồng tôi cả. Có lẽ kẹt xe cho nên Phi về trễ hơn mọi ngày. Nhưng tin tôi đi, phi sẽ về bất cứ phút nào.

Với thái độ hơi vụng về vì xúc động, Jack vịn vai, từ từ đưa Hạnh đến xa-lông:

-Làm ơn ngồi xuống, Hạnh!

Hạnh ngồi vào ghế, nhìn Jack đăm đăm và linh cảm được điều gì đó rất mơ hồ. Jack nhìn Hạnh:

-Hạnh, nghe đây! Hạnh phải bình tĩnh và can đảm để nhận một tin rất quan trọng. Phi không về nữa!

Trong khi Hạnh giật mình, nghĩ rằng Phi bị tai nạn và đã chết thì Jack run tay lấy từ túi áo một phong thư. Trao bì thư cho Hạnh xong, Jack ngồi vào xa-lông đối diện, tiếp:

-Hãy can đảm, Hạnh! Phi đã chọn đúng đường của một thanh niên thời đại. Hạnh và các cháu nên chấp nhận để Phi yên lòng dấn thân cho lý tưởng.

Hạnh nghe u u bên tai như đang lên cơn sốt hoặc chính nàng không hiểu tiếng Anh! Hạnh đón lấy phong thư với trong trạng thái chối bỏ, như không tin lời Jack. Khi xé bì thư, thấy nét chữ của Phi, tay Hạnh run không thể cưỡng được! Hạnh cố chú tâm nhìn những dòng chữ của Phi nhưng Hạnh không thể kiểm soát cử chỉ và ý nghĩ của nàng:

Hạnh em,

Chưa bao giờ anh xúc động như hôm nay,khi viết những dòng chữ này! Anh muốn viết nhiều và rất nhiều nhưng sao anh viết không được!

Em đã vò võ nuôi con suốt bao nhiêu năm dài để anh lê bước trên những dòng sông nhuộm máu, chống Bắc quân xâm lược; mấy năm trên xứ người cơ cực em lại chung vai gánh vác để gia đình và các con có được ngày nay xáng lạng. Bây giờ, một lần nữa anh lại xa em để mong góp sức dựng lại cơ đồ.

Đời anh đã gắn liền với binh nghiệm hơn 17 năm. Nay anh không thể an nhàn hưởng thụ mà quên đi những người bạn đã nằm xuống và những đồng đội đang khóc hận chốn lao tù! Đoạn đường trai trẻ anh chưa hoàn thành được sứ mệnh đối với Tổ Quốc; đoạn đường còn lại anh nguyện sẽ lấy xác thân này, cùng với bạn hữu, dành lại Quê Hương mà Cộng Sản Việt-Nam đã chiếm đoạt.

Ngày trước anh đưa em đi trong vội vàng, sợ hãi; nhưng anh sẽ đón em về trong môi cười rạng rỡ và ánh mắt tin yêu.

Cầu nguyện cho Quê Hương, cho các bạn và cho anh, em nhé!

Anh,

Phi

Từ từ gấp lá thư lại, Hạnh nhíu mày, thở mạnh rồi dựa vào thành ghế. Một lúc sau, Hạnh ngẫng lên, nhìn chăm chăm vào khung ảnh của Phi. Và, thật bất ngờ, Hạnh tưởng như thấy được Phi bước lên chiếc PBR (khinh tốc đỉnh) có nhiều ăng-ten cao; rồi từng chiếc, từng chiếc PBR rời bến, tiến về vùng hành quân. Trong khi hình ảnh đoàn PBR trở nên nhỏ dần, nhỏ dần thì tiếng hát xưa thoang thoảng trong ánh chiều: “…Còn đây không gian xưa quen gót lầyNgồi nghe yêu thương đi xa tầm tay. Giữa tiếng ru trầm vào cơn  mê này…”(3)

*Truyện này được sáng tác vào đầu thập niên 80; cảm tác từ chuyện thật của một Sĩ Quan QL/VNCH.

1 và 3 – Rồi Mai Tôi Đưa Em của Trường Sa

2 – Chiều, thơ của Hồ Dzếnh nhạc của Dương Thiệu Tước

ĐIỆP MỸ LINH

Người y tá

Trần Mộng Lâm

Câu chuyện này tôi muốn viết đã lâu, nhưng không hiểu sao cứ đắn đo, vì nó có vẻ cá nhân quá. Viết ra, mọi người có thể hiểu lầm là muốn tự mình ca tụng mình. Hôm nay, viết lại để trả một món nợ mang nặng trong lòng. Mục đích của bài viết này chỉ để ghi lại tấm thảm kịch của những người sống cùng thời với tôi, cùng là nạn nhân của cuộc chiến Việt Nam thế kỷ 20 và cùng đau đớn hứng chịu những hậu quả của nó. Chiến tranh đổ xuống những thường dân không trông mong gì hơn là được sống một cuộc sống an bình. Tóm lại, đây là một truyện thực, người thực ngoài đời.

Tôi hành nghề y khoa đã hơn năm chục năm nên dĩ nhiên có rất nhiều người y tá đã giúp tôi trong khoảng thời gian dài này, y tá Việt có, y tá ngoại quốc có, nam có, nữ có, già có, mà trẻ có, nhưng trong số những người này, duy nhất chỉ có một người mà tôi gắn bó nhiều nhất, chia sẻ nhiều nhất những kỷ niệm vui buốn. Đã trên 40 năm kể từ ngày chúng tôi gặp nhau. Khi ấy, tôi mới ra trường và bước chân vào quân đội. Trong cuộc đời nhà binh của tôi, tôi chỉ phục vụ trong duy nhất một đơn vị. Đó là quân y viện Phan Thanh Giản tại thành phố Cần Thơ. Tôi ở đây gần 10 năm, chỉ vào U Minh trong những tháng năm tù tội 1975-1977 và năm sau cùng bị đưa vào tỉnh Vị Thanh dậy học (trung học Y Tế Hậu Giang) trước khi vượt biên nên có thể nói, với tôi, vùng 4 và nền văn minh sông nước, tôi rành sáu câu.

Cuộc đời, nói theo Phạm Duy, lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt, nên từ một trai trẻ chưa tới 25 tuổi, thoáng một chớp mắt đã trở thành một ông y sỹ hồi hưu già ngồi ở Montréal viết những hàng chữ này, rất hâm mộ khi nghe người bạn nối khố Nguyễn Thanh Bình than rằng: Cuộc đời sao chỉ giống như một giấc mơ thôi. Nguyễn Thanh Bình cũng vừa rửa tay gác ống nghe như tôi. Trong số bạn bè, có lẽ chúng tôi là một trong những người gắn bó với nghề nghiệp lâu hơn cả. Về hưu không có gì làm, thời gian trở thành trống vắng khi người ta quen làm việc mỗi ngày, lúc nào cũng túi bụi với những việc cần giải quyết. Nay bỗng nhiên không còn gì để tính toán nữa, nên hụt hẫng trong những ngày đầu, không biết làm gì cho hết ngày giờ. Khi ấy, những kỷ niệm hiện về, với những ân hận, những hối tiếc và những câu hỏi: Sao hồi đó mình lại làm như vậy? Sao hồi đó mình không làm như vậy?

Những ngày đầu tiên trong cuộc đời y sĩ của tôi là một trại bệnh khoảng 80 bệnh nhân nằm chen chúc với nhau, một vài khi 2 người một giuờng khi quá nhiều bệnh nhân. Giúp việc, có một ông thượng sĩ già và 4, 5 người y tá trẻ. Từ một sinh viên miệng còn hơi sữa, tôi rất mắc cỡ khi thượng sĩ Hiền luôn miệng hỏi mỗi buổi sáng trước khi tôi bắt đầu đi khám bệnh, có ông và các y tá khác đi theo, giống như hồi tôi thực tập tại trường y khoa:

– Thầy uống cà phê không, để trò pha.

Ông ta đáng tuổi cha tôi nhưng ông có thói quen nói như thế với các đồng nghiệp của tôi, không sao sửa được và sau đó, nghe mãi thành quen, tôi cũng không phản đối gì nữa. Thượng sĩ Hiền sống rất tội nghiệp với đồng lương ít ỏi và một bầy con. Ít năm sau, trước khi đất nước rơi vào tay kẻ thù, đứa con trai trưởng của ông cũng nối nghiệp cha và cũng trở thành y tá trong quân đội miền Nam. Sau này, khi mất nước và đi tù CS trở về, tôi nghe người ta nói ông kiếm ăn bằng việc vá xe tại đâu đó trên một góc phố của Cần Thơ nhưng không gặp lại ông. Cả thầy, cả trò đều túng quẫn khi vận nước đổi thay.

Trong quân y viện (QYV), giúp việc cho tôi ngoài thượng sĩ Hiền còn có những người y tá trẻ hơn trong đó phải kể đến anh Đến. Sau khi tôi đi học tập trở về, Đến có tìm đến tôi và bóng gió nói là có thể giúp tôi vượt biên nhưng lúc đó, tôi rất sợ, không tin ai, biết đâu CS lừa mình, sai lầm và quá tin người có khi mang họa, nên tôi không dám nhận lời ngay, chỉ ỡm ờ nói để suy nghĩ lại. Nay y tá Đến đã sang được Úc và nghe đâu làm ăn khá giả, và thành công bên xứ người. Về các nữ quân nhân, có hai cô đều mang lon trung sỹ là các cô Hường và Thiện, Miên lai. Hai cô này uống rượu rất giỏi. Sau 1975, khi ấy tôi còn ở Cần Thơ, hai cô có đến nhà, mua cá, tôm, rượu trắng. Ba thầy trò uống với nhau một bữa đã đời rồi từ biệt nhau, đời ai nấy lo sau cơn quốc biến. Từ đó đến nay, tôi không được biết tin tức về các cô.

Những năm ấy, Cục Quân Y cho phép các y sĩ mở thêm phòng mạch bên ngoài để kiếm thêm tiền và đồng thời cũng để trợ giúp ngành Y tế tỉnh Cần Thơ đang thiếu y sĩ. Các bác sĩ làm việc tại phòng mạch rất sớm về buổi sáng, sau đó vào QYV làm việc. Buổi chiều, sau việc công, lại trở về phòng mạch lo khám cho bệnh nhân tư của mình. Khi bận trực, tùy ý thay đổi giờ khám bệnh tư nhưng công vụ là quan trọng. Tóm lại, nếu hoàn thành tốt đẹp bổn phận của mình trong QYV, thì không ai quở trách ai. Vì những lý do đó, đời sống người y sĩ có thể nói là sung sướng.

Khi mới xuống QYV, tôi một thân một mình, không chịu một gánh nặng về gia đình nào, tôi không nghĩ đến việc mở phòng mạch để kiếm tiền. Tôi chỉ làm việc trong QYV, ở trại sĩ quan độc thân không tốn tiền, ăn cơm tháng không bao nhiêu, còn lại là cà- phê, ăn nhậu, đá gà, thảnh thơi thơ túi rượu bầu. Có điều chiến tranh lan tràn, và nhiều ngày thương binh chở về QYV sau mỗi trận đánh khiến mình không sao có thể thờ ơ với cuộc chiến. Nhân khi Cục Chiến Tranh Chính Trị mở khóa căn bản về Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) tại Đà Lạt, tôi xin với anh chỉ huy trưởng, bác sĩ HNT, một đàn anh rất khả kính và thương đàn em, được tham dự khoá này, đặt tên là Khoá 7 căn bản CTCT. Anh Tùng chấp nhận.

Tôi lên Đà Lạt và vào ở trường CTCT. Tôi là người y sĩ độc nhất vào thời điểm đó quan tâm đến vấn đề CTCT, về những Lý Thuyết Duy Tâm, Duy Vật, về Karl Marx, về Lenine, về Engels, về Hengel… nghĩa là về những vấn đề không liên quan gì đến y khoa hết. Trường đại học CTCT nằm đối diện với trường trung học Bùi Thị Xuân của Đà Lạt. Những ngày học tập tại đây đã để lại trong lòng tôi những kỷ niệm khó quên về Đà Lạt, về Đồi Cù, về Hồ Than Thở, về những nàng kiều nữ mà thời cuộc đưa đẩy, đa số đều trở thành ý trung nhân của các chàng trai hùng, vì ở Đà Lạt, còn có quân trường Võ Bị Quốc Gia danh tiếng mà vài năm trước, tôi đã trải qua giai đoạn quân sự gian khổ trong nhiều tháng trời. Chính nhờ các quân trường này mà tôi, vốn chỉ là một thư sinh, yêu mến đời quân nhân và sự kỷ kuật của quân đội.

Sau khoá 7 CTCT, tôi trở lại QYV, và được bổ nhiệm làm trưởng khối CTCT của QYV, phụ tá cho tôi là anh Nguyễn Văn G., trước có theo học dược khoa, nay trở thành một sỹ quan hành chánh quân y. Anh G. sau tình cờ gặp lại tại Montréal. Anh làm cho một nhà thương cho người già, Hopital Chinois, nay chắc cũng về hưu rồi. Như vậy tôi kiêm nhiệm 2 nhiệm vụ, coi trại bệnh nhưng cũng phụ trách mọi việc về CTCT, đón tiếp các phái đoàn nghệ sĩ, ca sĩ xuống trình diễn giúp vui, ủy lạo thương bệnh binh, trong đó có các người nổi danh như Vân Hùng, Kim Xuyên (hay Kim Tuyến?), Tú Trinh, v.v… tổ chức các lớp học đào tạo y tá cho quân đội, người ta gọi là lớp CC1. Nói cho ngay, mọi việc do anh G. lo phần lớn. Công việc chánh của tôi vẫn là điều trị.

Sau khi ổn định rồi, và thấy quen việc, tôi nghĩ tới việc làm thêm ngoài giờ. Lúc bấy giờ, Cần Thơ đã đủ các phòng mạch của các đồng nghiệp dân y cũng như quân y rồi, rất khó chen chân, tôi xuống Trà Nóc thuê một căn nhà làm phòng mạch. Muốn tới Trà Nóc, từ Cần Thơ phải đi về hướng Bình Thủy. Khi tới Bình Thủy rồi, phải tiếp tục đi nữa, khoảng 10, 15 phút sau nếu chạy xe Honda, sẽ tới Trà Nóc. Tại Trà Nóc, có phi trường quân đội. Tiếng là như vậy nhưng Trà Nóc nghèo nàn, trái với Bình Thủy. Dân Trà Nóc phần lớn là gia quyến của các quân nhân, nghèo nàn, rách rưới, nhiều khi khám bệnh không nỡ lấy tiền, cho nên có thể nói tôi mất nhiều thời gian và sức lực nhưng chẳng thu lại những kết quả về tài chánh mà mình mong muốn gì. Sau gần một năm làm việc tại Trà Nóc, tôi không nhớ trong trường hợp nào, có người giới thiệu cho tôi một người y tá kỳ cựu tại Bình Thuỷ, nơi trù phú hơn nhiều. Người y tá tôi muốn nhắc ở đây là anh Đinh Công Nhã.

Bình Thủy chỉ là một quận lỵ thuộc ngoại ô Cần Thơ, trên con đường từ Cần Thơ đến Long Xuyên. Lúc bấy giờ tại Bình Thủy, người dân khi có bệnh ít khi đi khám bác sĩ. Họ tin cậy vào hai người mang danh y tá chích dạo nhưng không biết có bằng cấp thực thụ hay không. Hai người y tá đó là Ba Mãnh và Hai Nhã. Hai Nhã chính là người nói trong bài viết này. Trong hai người y tá đó, Ba Mãnh có nhiều thân chủ hơn Hai Nhã, có lẽ vì gia đình anh kỳ cựu ở đây, hay lý do chính là anh ta là Việt Cộng nằm vùng. Sau 1975, người ta mới biết là Ba Mãnh là cán bộ Việt Cộng, lúc đó quá muộn rồi.

Hai Nhã, tên trên giấy tờ là Đinh Công Nhã khi đó chưa tới 40 tuổi nhưng đã có vợ và hai con, một đứa gần 10 tuổi tên Đinh Công Giao và một đứa khoảng 4 hay 5 tuổi tên Lộc, mà anh ta gọi là Lộc xinh, có lẽ vì cháu trông rất xinh. Việc bất hạnh là Lộc bị chứng tê liệt của trẻ em nên không đi đứng được. Suốt ngày tôi thấy Lộc lê lết trên nền đất, dùng hai tay chống để di chuyển. Hai Nhã không phải dân Bình Thuỷ cố cựu. Ông nội anh từ ngoài miền Trung lưu lạc vào trong Nam và làm nghề thuốc Bắc, thuốc Nam gì đó nên tính đến anh, mới được 2 đời. Anh ta ngoài việc làm y tá kiếm ăn, rất nghệ sĩ, chơi đàn ghi ta, hát những bài ca mà chúng ta quen gọi là nhạc vàng. Hai Nhã rất tức tối vì không có nhiều thân chủ bằng Ba Mãnh nên từ khi được biết tôi, anh mời tôi về Bình Thủy mở phòng mạch, anh sẽ làm y tá cho tôi khi tôi khám bệnh. Anh ta tìm thuê cho tôi một căn nhà tại chợ cá Bình Thủy và lo đủ mọi chuyện, tôi không phải mất công, mất sức gì. Làm với tôi, Hai Nhã có được lợi thế là chỉ phải làm độ 2 giờ buổi sáng và 2 giờ buổi chiều, khi tôi khám bệnh, ngoài ra anh đánh đàn, nhậu nhẹt. Có được Hai Nhã, tôi khỏi phải tìm thân chủ vì họ biết anh từ trước, nay lại có tôi thì họ càng tin tưởng hơn. Tóm lại, một cuộc hợp tác win-win cho hai chúng tôi. Hai Nhã có bệnh lao từ nhiều năm về trước, nay đã lành nhưng khi chụp hình phổi, hình quang tuyến đầy những vết nám.

Mùa Hè đỏ lửa 1972, chiến sự lan tràn. Những trận đánh trên chiến trường Miền Trung làm hao hụt quân số trầm trọng. Chính quyền Miền Nam lúc đó tăng tuổi quân dịch nên dù đã gần 40, Hai Nhã vẫn còn ở trong tuổi bị trình diện nhập ngũ. Anh lo lắng hỏi tôi là anh có phải đi lính hay không. Vì đã biết trước là với hình phổi của anh, dù anh có tình nguyện, anh vẫn bị quân đội từ chối. Tôi cười nói với anh:

– Anh thì lo gì, anh thuộc thành phần lính chê. Cứ trình diện đi, người ta sẽ cho về.

Nghe lời tôi, anh trình diện nhập ngũ và được đưa về Trung tâm 4 Tuyển Mộ Nhập Ngũ. Vào thời điểm này, trung tâm đầy nghẹt người được tập trung về đây để làm hồ sơ, phân loại, ai bị bệnh sẽ được đưa ra hội đồng Miễn Dịch, ai đủ sức khoẻ sẽ được đưa ra các quân trường. Các tân binh vì chật chội đông người, lại lo lắng vì lệnh động viên, nên ai nấy trông bèo nhèo thấy thảm. Vệ sinh và ẩm thực lại thiếu thốn, ở trong trung tâm, dĩ nhiên rất khổ. Hai Nhã nói với tôi:

– Ông có bảo lãnh cho tôi về nhà trước khi ra hội đồng Miễn Dịch hay không?

Việc bảo lãnh để anh ra khỏi Trung tâm Miễn Dịch đối với tôi không khó. Tôi làm tại QYV nên những sỹ quan tại đây đều biết tôi, kể cả ông trung tá Chỉ huy trưởng Trung tâm. Tôi lại quen thân với nhiều đồng nghiệp làm y sỹ bên đó. Vấn đề là tôi không muốn nhờ vả. Nhờ họ chuyện này, họ sẽ nhờ lại chuyện khác, lúc đó khó ăn khó nói, nhất là tôi có chân trong các hội đồng y khoa, hội đồng miễn dịch. Tôi nói với Hai Nhã:

– Anh chịu khó ở trong ít ngày, thế nào cũng được về mà.

Cái mà tôi không ngờ được là vì những điều kiện vệ sinh không được tốt, Trung tâm 4 Nhập Ngũ năm đó xẩy ra nạn nhiễm trùng do méningocoques hay cầu trùng đau màng óc. Bệnh này nếu tập trung tại màng óc thì còn hy vọng nhưng nếu lan ra tổng quát, gọi là septicémie à méningicoques thì chết chắc. Khi đó tôi đang làm tại trại Bệnh Nặng và chịu trách nhiệm điều trị những bệnh nhân này. Tôi làm việc túi bụi với sự cố vấn tích cực của một sĩ quan quân y Mỹ cố vấn. Anh này đem về cho tôi những tài liệu y khoa mới nhất và can thiệp để phòng thí nghiệm một bệnh viện quân y Mỹ chịu làm cho chúng tôi những thử nghiệm mà phía Việt Nam chưa làm được. Tôi chọc vào tủy sống và lấy ra những nước tủy sống, có khi đục như nước vo gạo trong đó đầy những con vi trùng. May mà tôi không bị lây vì hồi đó, điếc không sợ súng, bác sỹ, y tá, y công không đeo khẩu trang, không thay áo choàng, không có găng tay như ở bên này mỗi khi có cơn dịch. Tôi nhận thấy nếu các bệnh nhân chuyển đến tôi, thân thể đầy những vết tím bầm (purpuras), thì họ đã bị septicemie, và họ sẽ chết rất mau sau đó, cho dù chúng tôi cố gắng đến thế nào. Công việc làm tôi quên rằng người y tá cánh tay mặt của tôi đang nằm tại nơi xẩy ra bệnh dịch.

Hôm đó tôi trực. Vào hồi tám hay chín giờ buổi tối, xe Hồng Thập Tự của Trung tâm 4 chở sang QYV một số các tân binh bị bệnh. Tôi ra nhận bịnh. Hỡi ơi, trong số các người này, có Hai Nhã. Tôi chạy vội đến anh, vạch áo ra xem, thất kinh khi thấy đầy những vết purpuras. Anh Nhã cũng nhận ra tôi và còn tỉnh táo. Tôi còn nhớ câu sau cùng anh nói:

– Găp bác sĩ ‘mình’, sống rồi.

Bác sĩ ‘mình’ là tiếng ưu ái anh dùng để gọi tôi. Ý của anh là tôi sẽ cứu anh thoát chết trong khi trong đầu tôi chỉ là tiếng than:

– Thôi rồi, mình hại anh ấy rồi! Bây giờ đã quá trễ, làm sao cứu được anh ta.

Quả thực, anh mất khi trời gần sáng.

Cái chết của Hai Nhã là một cú sốc nặng cho tôi. Lúc nào, khi nhớ lại chuyện này, tôi cũng bị lương tâm cắn rứt. Đã nhiều lần tôi tự an ủi mình, là không phải tôi gây ra chiến tranh, không phải tôi ban hành luật động viên và về việc vệ sinh, việc phòng ngưà bệnh tật thì hoàn toàn do bên Trung tâm 4 Tuyển Mộ Nhập Ngũ. Tuy vậy, câu hỏi tại sao tôi không lãnh anh ra ngoài khi trình diện vẫn dằn vạt tôi là đã quá do dự, đã quá e dè, đã quá nghĩ đến tai tiếng của cá nhân mình mà bỏ rơi anh, ngay cả khi anh cần tôi nhất!

Hai Nhã chết, Tôi có đến đưa đám. Sau khi người ta chôn cất anh, tôi nói với vợ anh:

– Tôi rất ân hận. Chị cho tôi biết tôi có thể làm gì để giúp chị.

Vợ Nhã nói với tôi:

– Bác sĩ có thể giúp tôi nuôi cháu Giao được không.

Tôi đem Đinh Công Giao, đứa con côi cút của anh về ở với tôi. Mọi người ngạc nhiên không hiểu tại sao tôi lại làm thế nhưng tôi thấy không cần giải thích gì hết. Đó là thời gian những năm đầu của thập niên 70, khi tôi ở trong một căn nhà tại Lộ 20. Giao tuy nhỏ tuổi, vẫn có thể nấu cơm, giặt quần áo, quét dọn nhà cửa. Sống với tôi, Giao được sung sướng hơn, ngược lại, tôi dậy cho Giao biết chích thuốc, và nhận biết các bệnh thông thường. Những năm cuối trước khi mất nước, Giao theo tôi ra phòng mạch, làm những việc mà ngày trước cha nó làm.

Vận nước nổi trôi, năm 1975, mất nước. Tôi còn ở tại Cần Thơ và chờ đợi xem người ta sẽ đối xử với mình ra sao.

Người cán bộ CS tiếp thu QYV tên Tám Thiện. Lúc đấy mới lòi ra là trong QYV có người nội tuyến. Anh ta là một nhân viên phòng quân lương, rất lù đù, không ai để ý đến. Anh này nói với chúng tôi: Các anh bị nhiễm độc quá nhiều vì bọn thực dân Mỹ. Cách Mạng sẽ khoan hồng cho các anh Học Tập Cải Tạo coi như giúp các anh trở lại làm người lương thiện. Nghe mà ứa gan. Trong khi chờ đợi, tôi vẫn làm việc tại trại bệnh nhưng các bệnh nhân đã bị đuổi ra ngoài hết rồi, còn việc gì để làm.

Tôi về nhà nói với Giao:

– Thể nào tôi cũng không còn được ở đây lâu nữa nhưng trước khi tôi đi, cháu mang giấy bút ra đây.

Giao nghe lời. Tôi viết trên tờ giấy trắng những dòng chữ này:

“Tôi, bác sĩ Trần Mộng Lâm, chứng nhận đã huấn luyện và đào tạo Đinh Công Giao thành một người y tá. Đinh Công Giao có sự hiểu biết và có khả năng hành nghề y tá một cách an toàn cho người bệnh với những chứng bệnh thông thường.”

Viết xong, tôi đưa cho Giao và dặn nó khi cần đưa ra như một văn bằng. Sau này, khi tôi đi cải tạo trở về, Giao có đến thăm tôi và cho biết nhờ vào cái giấy chứng nhận thổ tả tôi viết, Giao kiếm được một chỗ làm trong tổ Y Tế của Bình Thủy và có việc làm. Tôi dặn Giao sau này đừng đến tìm tôi nữa, lịch sử đã sang trang, tôi không muốn cái dĩ vãng ngụy quân của tôi sau này sẽ di hại đến đời cháu. Điều an ủi tôi là, một phần nào, tôi đã trả nợ cho Đinh Công Nhã tuy tôi chẳng có một trách nhiệm trực tiếp nào về cái chết của anh. Bi kịch của Đinh Công Nhã chỉ là một phần rất nhỏ trong cái bi kịch lớn của toàn thể Miền Nam.

Sau khi đi học tập cải tạo về, năm 1978 tôi xuống thuyền và đi khỏi cái phần đất đã để lại cho tôi những kỷ niệm không thể nào quên. Tại Canada, tôi làm lại cuộc đời và may mắn được làm việc lại trong lãnh vực quen thuộc: y khoa. Phụ giúp với tôi có rất nhiều người y tá khác nữa, da trắng, da màu, nhưng không có ai liên lạc mật thiết như người y tá của tôi, một thời nào khi tôi còn trẻ tại Bình Thủy Cần Thơ. Những đứa con lớn lên tại Montréal hoàn toàn không biết gì đến dĩ vãng của bố. Chúng cũng có những người y tá khác giúp chúng làm việc. Nhìn những hình ảnh chúng và những y tá quây quần chung quanh trong facebook, tôi thấy lại tôi của những ngày xưa thân ái, nhưng đó lại là những chuyện khác, của một thời xưa xa vắng lắm rồi. Tôi không muốn các con tôi biết nhiều về những câu chuyện đau thương này. Khơi lại chuyện xưa, nào có ích gì, chỉ làm phức tạp thêm cuộc sống, vốn đã phức tạp lắm rồi. Tôi muốn các con tôi, như là cô gái con của Doctor Zhivago trong cuốn phim cùng tên, lao vào đời sống mới của chúng, làm những việc chúng muốn, và giữ được sự lạc quan, yêu đời mà chúng may mắn có được trong một mảnh đất không hề biết đến chiến tranh nhờ vào những cá nhân không mang tham vọng trở thành cha già của dân tộc mình như tên Hồ Chí Minh của Việt Nam… Hồ Chí Minh, tên không bao giờ đáng nhớ tới, nói tới.

Chiến tranh Việt Nam sau cùng nghĩ lại cũng chỉ là một tấn bi hài kịch mà đoạn kết chỉ là một mối đe doạ bị mất nước, bị tiêu diệt của một dân tộc tự coi mình là con Rồng, cháu Tiên, nhưng khờ khạo đem kẻ thù vào nhà. Âu cũng là định mệnh.

Mây bay theo gió, gió cuốn mây đi, thời gian như một dòng sông, nước chảy không bao giờ ngừng, mới đó mà đã mấy chục năm. Tết năm nay là cái Tết thứ 40 của tôi tại Montréal. Tất cả rồi sẽ mờ đi, sẽ biến mất, nhưng hình ảnh của Hai Nhã vẫn còn mãi trong trí nhớ của tôi, hình ảnh của một người yêu đời, với cây đàn ghi ta trong tay, và những buổi ăn nhậu của chúng tôi, cùng những người dân Bình Thủy khác, rượu nếp than, những con gà nòi trong trường gà… tóm lại, với Miền Tây, không biết bây giờ ra sao.

Tết Montréal lạnh, rất lạnh, khác hẳn ngày xưa, khi tôi còn trẻ, với những cái Tết Tây Đô, muôn đời khó quên.

Trần Mộng Lâm

Người Lính – Gìa Búi Đức Tính

“Người lính già xa quê hương
nghe trong tim đêm ngày trăn trở” *

Vancouver đã vào mùa thu từ lâu nay. Thời tiết sắp sang mùa đông. Nắng hay mưa tiết trời đều lạnh. Lắm khi trời nắng còn lạnh hơn lúc có mưa nhiều.

Từ chỗ đậu xe bên kia đường 12th, đi sang cổng phía nam của bệnh viện, Vancouver General Hospital, không xa cho lắm, chỉ chừng 50 bước chân. Rời khỏi xe, là biết trời đang lạnh. Cái lạnh khi thời tiết sang tháng Mười, làm các ngón tay co rút và lẫn tránh vào nơi ấm áp bên trong lớp vải áo quần. Cơn gió lùa qua, cái lạnh buốt trên làn da mặt; làm người ta hối hả bước nhanh chân hơn.

Gần bốn giờ chiều rồi!

Tội nghiệp cho những người kém may mắn, không nhà, sống lây lất qua ngày, lang thang ngoài khu phố. Giờ này, chắc họ đã phải tìm kiếm một mái hiên hay góc nhà để giữ một chỗ, hầu trốn tránh mưa gió, để còn sống sót, qua thêm một đêm trong giá lạnh; một đoạn đời còn lại, với từng ngày cứ phải lanh quanh, lẩn quẩn với lắm thứ bất hạnh, đen đủi…

Sau lớp kính dày của cửa vào, bên trong bệnh viện ấm áp, dễ chịu hơn. Màu sắc, trang trí chung quanh đây trông mỹ thuật, đem lại cảm xúc nhẹ nhàng, trang nhã. Nhưng cái gì đó vô hình, qua ánh mắt, trong hơi thở, len thấm vào lòng người tìm đến bệnh viện, làm lòng người bồi hồi, chùn bước. Ưu tư, lo lắng đến với người đến thăm viếng, vương vấn theo người ra về. Bên trong có nhiều căn phòng nhỏ. Từ tầng dưới đến các tầng trên, có hơn ngàn giường bệnh. Bệnh nhân được di chuyển lên tầng thứ 16, được hiểu rằng mình đang đến kề cận hơn với Đấng Tạo Hóa. Trong đây, cả ngàn đớn đau, quyến luyến…

Vòng đời!

Qua cửa chính, quanh sang trái là lối vào khu Jim Pattison Pavilion. Trên tầng thứ 8, phòng 740 là căn phòng nhỏ, dành cho một người. Trên giường bệnh, người lính già nằm như đang ngủ, thân quyến của anh chắc vừa bước ra ngoài. Người đi thăm ái ngại, tần ngần, xót xa đứng nhìn anh. Người lính già ốm gầy và trông già đi thật nhiều. Hơi thở anh ngắn. Màu da thiếu cạn sắc hồng của sinh lực. Nét mặt cùng những chuyển động quanh môi và mắt của anh, cho biết: anh không đang thật sự yên nghỉ.

– Anh còn thức?

Nghe tiếng hỏi nhỏ, anh xoay nhìn sang tiếng người quen còn đứng bên ngoài phòng. Ánh mắt anh vui mừng, ân cần:

– Vô đây!

– Ngại anh đang ngủ…

– Ngủ nghê gì!… nằm đó vậy mà…

– Anh… uống chút nước?

Hướng ánh mắt đến ly nước, trên chiếc bàn nhỏ bên giường:

– Ừ,… lấy cho anh ly nước…

Xoay ống hút cho anh ngậm, hút nước. Anh nuốt chậm, đến lần thứ hai thì ngưng, nói: “cám ơn”. Yên lặng một lúc, anh ngập ngừng:

– Thiệt!… từ khi vào lính… quân trường… tù đày… vượt biển… chưa bao giờ… bị khổ… như lúc này!….

Tiếng anh nói nghe thật yếu, thoang thoảng. Anh thở dài, nhìn ra khung trời thu hẹp giữa hai cánh màn…

– Chào mừng “Đàn Em”!

Mấy chữ “Chào mừng Đàn Em!” của toán Huynh Trưởng đến đón các Đàn Em mới vào quân trường, nghe như là thân thiết, đầy tình cảm. Có điều, âm vang của Huynh Trưởng sao kinh hồn, khô khan. Huynh Trưởng đã làm cho cả một đám đông, có đến gần ngàn người, đang được gọi là Đàn Em, cảm thấy rợn người.

Đoạn đường chiến binh đầu đời, trên chiếc quân xa GMC đưa vào quân trường, thật êm đềm. Mới đấy, trong phút chốc, tất cả an vui, hồn nhiên của tuổi trẻ đã tan biến, còn lại là ngỡ ngàng.

Túi xách, túi đeo, túi lớn, túi nhỏ, mớ gia tài của tuổi học trò bồng bềnh, bây giờ trở thành những món đồ thừa thãi, vướng víu, mỗi khi thi hành lệnh di chuyển vào khối, vào hàng….

Bóng mát và hàng bã đậu bên Vũ Đình Trường trong này, trông cũng giống những cây bã đậu trên con đường học trò, nơi tuổi mới lớn tình tứ khắc tên với yêu thương và hứa hẹn. Nhưng Đàn Em thừa hiểu: Hết rồi những hẹn hứa với thơ mộng, mộng mơ!

Đàn Em nhìn nhau, linh cảm cái gì đó kinh hoàng như lời đồn, như truyền thuyết.

Trăm con tim rung động!

Đàn Em mất tinh thần!

Đàn Em đứng yên, im lặng, nhìn Huynh Trưởng chờ đợi!

– Thao diễn… Nghỉ!

– Nghiêm!

– Đàn Em chuẩn bị?

Đàn Em lí nhí nói theo các Huynh Trưởng hướng dẫn:

– Sẵn sàng!

Huynh Trưởng chỉ huy thất vọng:

– Huynh Trưởng chưa nghe!

Thế là, mấy Huynh Trưởng hướng dẫn ngoài hàng nối theo hét lên:

– Yếu đuối quá!

– Đàn Em quờ quạng quá!

– Hô lớn lên coi mấy “Ông”!

– Hô lớn như Huynh Trưởng coi!

Đàn Em im lặng, biết lỗi.

Vũ Đình Trường im lặng, chờ đợi.

– Thao diễn… Nghỉ!

– Nghiêm!

Tiếng hô “Nghiêm!” từ xa, mà nghe như Huynh Trưởng đang đứng bên cạnh từng Đàn Em.

Huynh Trưởng nghiêm nghị nhìn khắp Đàn Em.

Vũ Đình Trường ngột ngạt!

– Đàn em chuẩn bị?

– Sẵn sàng!

Vũ Đình Trường vang dậy tiếng “Sẵn Sàng!”!

Đàn Em đã sẵn sàng!

– Ba lô?

– Lên!

– Đằng trước, chạy đều… Bước!

– Một! Một! Một Hai Ba Bốn! Một!

Rập! Rập! Rập! Rập!

Đàn em ráng chạy theo nhịp đếm của Huynh Trưởng!

Tiếng chân của Đàn Em nghe lạch bạch, rối loạn, lung tung; xen trong tiếng giày trận chắc nịch, nện mạnh mà thật nhịp nhàng của các Huynh Trưởng chạy hướng dẫn.

Vũ Đình Trường như cứ lớn rộng thêm, mênh mông hơn, mờ mịt hơn. Chân rã rời, hành trang nặng trĩu trên tay, trên vai. Chạy hoài, vẫn còn nghe Huynh Trưởng đếm nhịp.

Vũ Đình Trường nóng gay gắt, không khí khô khốc.

Tuổi trẻ thở dồn dập, áo quần xốc xếch. Tuổi trẻ lếch thếch, thê thảm, ráng sức chạy theo các Đàn Anh. Không mấy chốc, tuổi trẻ lao chao, lần lượt nghiêng ngã, nằm dài trên lớp sỏi nóng bỏng của Vũ Đình Trường hay tơi tả bên những chiếc lá bã đậu rơi rụng dưới hàng cây.

– Một! Hai! Ba! Bốn!

– Một! Một! Một Hai Ba Bốn! Một!

Rập! Rập! Rập! Rập!

Rập! Rập! Rập! Rập! Rập! Rập! Rập!

Tuổi trẻ nằm nhìn trời cao, nghẹn thở; tưởng như mình “chết được, chắc sướng hơn!”. Đàn Em chưa kịp yên thân, đã thấy mấy Huynh Trưởng như những “hung thần” ập ào tới thăm hỏi:

– Đàn Em yếu đuối quá?

– Tính “qua mặt” Huynh Trưởng hả “Ông”?

– Đứng dậy coi “Ông”?

– Chạy tiếp theo Huynh Trưởng coi “Ông”?

Rập! Rập! Rập! Rập!

– Một! Hai! Ba! Bốn!

Tiếng chân, tiếng đếm nhịp, tiếng la hét, thúc dục vang dậy.

Vũ Đình Trường chói chang ánh nắng, bụi tung mịt mù.

Vũ Đình Trường mênh mông, lờ mờ trong đôi mắt kiệt lực.

Đoạn đường chiến binh chỉ mới là khởi đầu!

Đàn Em có “yếu đuối” thật!

Đàn Em có “ma giáo”, có “qua mặt” Huynh Trưởng thật!

Nhưng Đàn Em đã nhận hiểu Trách Nhiệm, đã theo gót chân, theo nhịp đếm của Huynh Trưởng để trưởng thành và hãnh diện quỳ xuống nhận “Alpha” trên vai áo, từ các “Đàn Anh”.

Huynh Trưởng không còn là những “hung thần” mà thật sự chính là những Đàn Anh tận tình với Đàn Em, thật thương kính!

Và rồi, tuổi trẻ đã đứng dậy, hiên ngang trong quân phục Đại Lễ. Đàn Em được rời Trường Mẹ.

Tuổi trẻ đã thật sự trở thành người lính, với lời thề: Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm. Người lính già giặn hơn, già đi thật nhanh trong khói lửa, qua chiến trận. Người lính già gan lỳ hơn, chay đá hơn trong các trại tù gọi là “cải tạo của cộng sản.

Đoạn đường chiến binh bất tận!

Tuổi trẻ biết xót xa mất mát bên thi thể không vẹn toàn của đồng bào, chiến hữu. Và tuổi trẻ đã biết đến cái đớn đau thật tột cùng, khi mất cả quê hương!

Dạo này mưa nhiều hơn ở những miền đất thấp và nhiều hôm có tuyết rơi trên vùng núi, miền cao. Hôm nay, trời mưa suốt cả ngày. Chưa đến 3 giờ chiều, trông âm u, tưởng chừng như chiều tối. Mưa tầm tã. Đất trời buồn bã.

“Người lính già xa quê hương
Nhưng trong tim chưa tàn ánh lửa
Vẫn ước một ngày theo bước Quang Trung
Vẫn thấy quê hương đêm ngày réo gọi
Vẫn thấy trong tim canh cánh đường về
Vẫn thấy nơi đây chỉ là đất tạm
Thầm hẹn ngày về chết giữa quê hương” *

Tiếng hát thật buồn, ngân vang trong khúc phim ngắn về một đoạn đời của người lính già.

Lòng người đến chào tiển anh, lặng đi trong bùi ngùi.

Bây giờ, người lính già đang nằm đây, trong ôm ấp của lá quốc kỳ, chắc hẳn anh “thấy còn hơi ấm non sông”!

Người lính già đã về yên nghỉ trong bình an!

Bùi Đức Tính

* Người Lính Già Xa Quê Hương – Nhật Ngân

Nguồn: http://batkhuat.net/van-nguoilinhgia.htm