Phi Vụ Tử Thần

Lý Tống

 

Những năm trước 1965, khi nói đến những chiến công hiển hách của Không lực Việt Nam Cộng Hòa, người ta thường nhắc đến những phi vụ oanh tạc miền Bắc. Nhưng từ khi các mặt trận giao tranh đã dần dần bị đẩy lùi về miền Nam, và đặc biệt sau khi Phi công Hoa Kỳ và các loại máy bay hiện đại như B52, F4, F105, A7… không còn trực tiếp tham chiến sau ngày Việt Nam hóa chiến tranh, và Không lực Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành nỗ lực chính duy nhất yểm trợ các đơn vị bạn dưới đất, một trong các trận oanh kích được đánh giá cao và thường được nhắc nhở là kỳ tích đánh sập cầu Dziên Bình của Không đoàn 92 Chiến thuật Phan Rang.

Cầu Dziên Bình là một chiếc cầu chiến lược quan trọng, con đường tiếp tế từ vùng ngã ba biên giới vào mặt trận Kon Tum đã được Hoa Kỳ kiến trúc bằng bê tông cốt sắt thật vững chắc trong những năm trước. Theo nhận xét của các Sĩ quan tình báo vùng II, chiến thắng Dziên Bình đã làm trì trệ nặng nề công việc tiến công xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Nếu không có trận Dziên Bình, chắc chắn ngày Quốc hận được dời về một thời điểm nào đó vào cuối năm 1974 thay vì 30-4-75.

Phi Vụ Tử Thần bắt đầu từ một buổi sáng mờ sương tại Phi trường Pleiku Vùng II Chiến Thuật, Đại Tá Lê Văn Thảo khẩn cấp triệu tập Phi đoàn 548 với những lời giận dữ :

– Các anh biết rằng, chúng ta đã áp dụng chiến thuật đánh BOBS (Beacon Only Bombing System) suốt hơn nửa năm vẫn chưa hạ được cầu Dziên Bình. Đó không phải là lỗi của ta, mà là lỗi kỹ thuật của Trung tâm hướng dẫn BOBS. Điều không thể chấp nhận là sáng hôm nay, buổi sáng xuất quân đầu tiên với kế hoạch tấn công mới, Phi hành đoàn cảm tử gồm hai người của đệ nhất Phi đoàn phản lực A37 lại quyết định rút lui một người sau một tháng tập luyện ròng rã loại bom mới Snack eye. (Một loại bom nổ dùng thả ở độ thấp, sau khi được thả, một hệ thống dù sẽ trì hoãn tốc độ rơi của bom, giúp cho phi công có đủ thì giờ đưa phi cơ ra khỏi vùng sát hại.) Bây giờ các anh, Phi đoàn A37 trẻ tuổi nhất Không lực Việt Nam Cộng Hòa, các anh có tình nguyện đảm nhận trách nhiệm nặng nề này không ?

Phi công Không lực Việt Nam Cộng Hòa không thiếu gì lúc phải bốc thăm vì số tình nguyện nhiều hơn số nhu cầu. Hình như chết đến nơi vẫn cười là một đặc tính cố hữu của những người lính mặc áo liền quần. Họ sống thật hồn nhiên, không tính toán, đi vào lửa đạn như đi dạ vũ, không khoác lác, không so bì, không kèn cựa.

Thế nhưng, đặc biệt với cầu Dziên Bình, người cảm tử quân cầm chắc cái chết. Phi đoàn 524 có lý do chính đáng để rút lui một trong hai chiếc phi cơ, bởi vì yếu tố bất ngờ chỉ dung tha phi cơ đầu tiên, chiếc thứ hai chỉ là một con mồi thiêu thân trong chiến thuật xung kích. Trận địa phòng không với hai Trung đoàn pháo cao xạ danh tiếng nhất miền Bắc kết hợp với hỏa tiễn tầm nhiệt SA 7 cùng hàng ngàn súng lớn, nhỏ khác của ba Trung đoàn Bộ binh Cộng Sản bố trí theo chiến thuật đan lưới để giữ vững một đầu cầu chiến lược quan trọng bậc nhất của vùng ba biên giới Việt Miên Lào. Thiếu Uý Bá đã ví von một cách sống động và đầy ấn tượng về sự khủng khiếp của hệ thống phòng không Dziên Bình : “Về đêm Dziên Bình bắt đầu khai hỏa trông giống như Thành phố San Francisco vừa lên đèn !”

Ó Đen 548 Trung Tá Trần Mạnh Khôi (Ó Đen 01) Chỉ huy là một loại Hậu sinh khả úy, đã gây nhiều sóng gió khắp chiến trường. Nhưng sự hi sinh thảm khốc của sáu Phi công Phi đoàn trong một thời gian ngắn đã làm nhiều bàn tay lưỡng lự, nhiều quyết định đắn đo thận trọng. Nào Hỷ bị phòng không 57 ly bắn tử thương trên vùng trời Mộc Hóa không lấy được xác, nào Thức bị gãy cánh bay tại Ban Mê Thuật, chết không toàn thây, nào Kỷ rơi một cách thầm lặng khi hai trái bom vừa rời khỏi cánh trên đỉnh núi Bà Đen, nào Anh cắm mũi phi cơ xuống một hồ nước ở trên vùng phụ cận Đà Lạt, và hai người bạn Phi công khác, đâm sầm phi cơ vào núi chết tan xác, chỉ còn lại hai nón bay, sau một phi vụ trở về trong lúc thời tiết xấu cùng cực. Sự im lặng nghiêm trọng bỗng òa vỡ như tiếng xì lớn của một quả bóng quá căng vừa bị đâm thủng khi tôi đứng dậy, xung phong tình nguyện.

– Lý Tống !

Tôi nói gọn, đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm những đồng minh cảm tử :

– Ê ! Sư phụ chơi chứ !

Thiếu Tá Nguyễn Tiến Xương (Ó Đen 04) lấp bấp, ấp úng :

– OK. Sợ gì !

Tôi hất mặt về phía phải :

– Ê ! Minh chù, mầy còn chờ gì nữa !

Trung Uý Minh (Ó Đen 08) trọ trẹ giọng Huế :

– Đâu có ngán. Đồ đất sét !

Lúng túng chưa biết phải bắt cóc thêm tay độc thân lì lợm nào nữa thì Thiếu úy Hóa, một Phi công trẻ vừa du học Hoa Kỳ về, một tay điếc không sợ súng hăng hái đưa tay tình nguyện.

Phi vụ cảm tử bắt đầu, bốn chiếc A37 cất cánh rời Phi trường Pleiku. Đến không phận Kon Tum, phi cơ xuống cao độ dưới 500 feet, bay vòng, chờ giờ hẹn.

– Black Eagle Combat formation.

Tiếng leader Xương vang lên ngắn gọn. Bốn phi cơ theo đội hình chiến đấu hướng về cầu Dziên Bình. Trời mù tối vì thời tiết xấu. Chúng tôi bay len lỏi giữa các sườn núi thấp mây mù phủ kín bầu trời, thỉnh thoảng giật thót mình kéo mạnh cần lái vì những ngọn cây cao chợt xuất hiện trước mũi phi cơ. Sự phối hợp tác chiến khá chặt chẽ, khi 4 phi cơ do Đại Tá Thảo chỉ huy bay 20.000 feet vừa rải thảm hàng loạt bom xuống khu vực cầu Dziên Bình để đánh phủ đầu trận địa phòng không địch, và khi cột khói cuồn cuộn bốc lên, Thiếu Tá Xương cũng vừa báo cáo : “Số 1 in hot. ” Chiếc phi cơ từ dưới một khe suối bất ngờ phóng lên lấy cao độ rồi đâm bổ nhào xuống thả một loạt sáu trái bom. Bom cày nát con đường nhựa rộng và chấm dứt tại mép đầu cầu.

– Hơi ngắn. Số 2 off left.

“Hóa nhí” lủi dài theo bờ sông tẩu thoát sau khi ném một loạt bom rơi lỏm bỏm xuống sông, cặp sát mép trái cạnh cầu. Tiếng Không đoàn trưởng, gào thét trên tầng số khi số 2 vừa nghiêng cánh vào mục tiêu :

– Phòng không rát quá. Tất cả ra khỏi vùng, hủy bỏ phi vụ !

Tiếng hối thúc, tiếng la hét ngập ngụa trong nỗi kinh hoàng sợ hãi, trong nỗi cuống quýt lo âu.

– Ra hết. Nhanh lên không chết hết.

Tinh thần trách nhiệm đối với sự an nguy của Phi công trong Không Đoàn đã buộc Đại Tá Không Đoàn Trưởng thay đổi ý định trong giờ phút hiểm nghèo nhất. Tôi mím môi, giả điếc, phải chơi đến cùng dù phải gãy cánh tại đây. Tôi ôm mối hận Dziên Bình nửa tháng qua, tôi phải rửa hận, phải phục thù. Phục thù chính bản thân mình bởi vì, trong một phi vụ đánh BOBS, Phi tuần 12 chiếc A3 7 do Đại úy Nguyễn Bảy (Ó Đen 05) Lead, trong khi đang bay 20.000 feet và thả bom theo tín hiệu Radio hướng dẫn, tôi đã tự ý lén bỏ Formation, một mình len lỏi qua các tầng cao độ dày đặc đạn phòng không. Đạn 23 ly rải những cánh hoa đen tử thần trên không trung như những bông sen chen chúc trên mặt hồ sen. Những hoa khói 37 ly treo lơ lửng như những chùm lan rừng. Thiếu Tá Trần Thanh Minh (Ó Đen 03) từng theo Tướng Nguyễn Cao Kỳ bay chinh phạt miền Bắc đã phải thú nhận :

– Suốt cuộc đời bay bổng, tôi chưa từng thấy trận địa nào phòng không kinh khủng như cầu Dziên Binh.

Tôi len lách giữa các ngón tay bạch tuột nhám nhít độc địa đang líu quíu vồ chụp cánh chim sắt, nghiêng cánh ở Turning base, cao độ 4,000 feet, đụng phải một đám mây nằm cản ở điểm quẹo in hot. Bị Overshoot, tôi trượt cánh phi cơ vào mục tiêu, cố trườn tâm điểm kính nhắm vào giữa cầu và bấm bom. Vì ảnh hưởng lực ly tâm do đạp ép Rudder quá mạnh, tất cả loạt bom chém trượt thành cầu rơi bỏm xuống sông. Nếu tôi đừng vội, nếu tôi bình tĩnh làm một Dry pass quành lại một vòng khác rồi bấm bom, nếu tôi… làm sao để tự thắng được cái bản ngã yếu đuối, làm sao để tự chủ trong những giờ phút cô đơn đầy hiểm nghèo đã trở thành người bạn đồng hành của người lính “Chết không chiến trường” như những phi công. Tôi đau khổ trằn trọc nhiều đêm vì chữ nếu. Phải phục hận ! Tôi bổ nhào phi cơ xuống mục tiêu, khói của loat bom “Hóa nhí” che lấp chiếc cầu, tay tôi khựng lại khi ngón cái đụng vào nút đỏ bấm bom trên cần lái :

– Số 3 dry pass. – Tiếng nói khô, sắc, lạnh lùng bất chợt phát qua cổ họng tôi.

Tôi gặt mạnh stick về phía phải, tiếng gào của Đại Tá Thảo trên tầng số khàn đặc và thất đảm :

– Ra ngay, ra ngay, phi vụ hủy bỏ.

Tôi không còn thấy lưới đạn phòng không vây bọc quanh mình. Phi cơ bị chòng chành mạnh bởi những khối lửa và sức nổ của họng súng phòng không, bởi những khối không khí hỗn loạn do sức đạn phóng đi. Lưới đạn lửa giăng kín hạn chế tầm nhìn xa.

– Số 4 in hot.

Nhiều tiếng la lớn trên tầng số :

– Sập rồi ! Sập rồi !

Trung úy “Minh chù” bất ngờ dứt điểm một cú đẹp đầu tiên. Tôi quành lại, bổ nhào xuống góp những trái bom khiêm nhường đánh bồi vào chiếc cầu vĩ đại đang sụp đổ. Vừa cất mũi phi cơ lên, tôi thót giật mình vì một quả hỏa tiễn Sam phóng lướt qua đầu. Không phải ! Đại Tá Võ Vãn Ân, Không Đoàn Phó, một sư phụ chịu chơi, vừa chơi bạo một cú Low pass trên cầu Dziên Bình để tìm cảm giác. Không đoàn 92 Chiến thuật Không quân Phan Rang được tưởng thưởng gần 100 Huy chương có giá trị và một số tiền lớn để tổ chức liên hoan. Trong lúc cụng ly, Thiếu Tá Nguyễn Thượng Tứ cười góp ý :

– Thằng đánh sập cầu Dziên Bình trái bom đầu tiên thật tuyệt. Nhưng thằng tình nguyện, động viên anh em tình nguyện và dám làm một Go around trên cầu Dziên Bình còn đáng phục gấp bội !

Sau chiến thắng Dziên Bình, Phi đoàn 548 thừa thắng xông lên nện một vố thật mạnh làm tan tác Tiểu đoàn chủ lực của Sư Đoàn 5, Sư Đoàn Sao Vàng của Cộng Sản, trong một phi vụ vào một đêm giông gió cuồng loạn. Phi vụ thành công do một lỗi lầm của tôi vì Thiếu Tá Chấn (Ó Đen 02) Leader, sau khi Cross check, thây phi đội hầu như đang bay trên vùng Phi trường Phù Cát, cho rằng đài BOBS nhầm lẫn nên không bấm bom. Tôi vì quen tay, nghe tiếng “Tè… ” tín hiệu dài là ấn nút nên tất cả Phi công trong đội hình bám theo phía sau đều đồng loạt thả bom theo loạt bom đầu của phi cơ tôi. Tôi bị khiển trách trên đường về thì… tin đại thắng vừa bay đến sáng hôm sau, bởi vì Cộng Quân đã đột nhập đến sát vòng đai Phi trường, và chính những trái bom tưởng thả nhầm lại tiêu diệt toàn bộ địch quân. Số tử thi địch quá nhiều không chôn kịp trong một tuần lễ đã sình thối làm nồng nặc cả vùng Phi trường Phù Cát.

Lý Tống

Advertisements

CHỊ HƯỜNG

Phạm Hồng Ân

Năm tôi mười lăm. Chị Hường đã mười chín, hai mươi tuổi. Năm đó, tôi chuẩn bị thi trung học đệ nhất cấp. Trong khi chị nghỉ học, ở nhà trông coi sản nghiệp của gia đình. Ba má chị là thợ máy, phải lên Sài Gòn, chạy theo công việc. Chị thui thủi một mình, nên thường ra quán kiếm tôi, nói chuyện dưới đất trên trời. Sản nghiệp gia đình chị, thật ra chỉ có một căn nhà để che gió che mưa, và một thẻo đất chứa đầy những chiếc Peugeot vẹo đầu sứt đuôi thời xa lơ xa lắc. Những chiếc xe rêu phong đã phủ đầy, cỏ dại mọc kín, vậy mà chúng vẫn nằm đó, ngó tuổi thơ chị Hường đi lên, một cách tội nghiệp. Chị càng lớn càng đẹp. Cái đẹp mộc mạc, mặn mà của loài hoa thôn dã. Lúc này, họa sĩ Lê Trung nổi tiếng trên báo chí. Tôi thường “cọp” báo hàng ngày, nên biết rõ về ông. Những bức tranh vẽ thiếu nữ của Lê Trung, thường để lại trong tôi ấn tượng rất đẹp. Chẳng biết ông họa sĩ tài hoa có bao giờ đến Cà Mau chưa? Có gặp chị Hường chưa? Sao mà những bức tranh thiếu nữ nào, cũng giống hệt bóng dáng diễm kiều của chị?

Ngoài giờ đến trường, tôi ghi tên thêm học thi. Nhà ông thầy dạy tư ở tận xóm tân lập, gần phi trường. Muốn đến học, tôi phải đạp xe trên mấy cây số, phải  còng lưng vượt qua cái cầu quay có con dốc cao dễ sợ. Khi đến nơi, phải đứng trước thềm nhà ông thầy vài phút, cầm cuốn tập quạt qua quạt lại cho bớt mồ hôi, mới yên tâm bước vào chỗ học. Thấy tôi cực khổ, chị Hường tình nguyện chở tôi đi học. Đến nơi, chị qua nhà thờ ngang đường, thơ thẩn gần hai tiếng đồng hồ, để chờ tôi tan lớp, chở về. Ngồi sau yên xe, gió thổi lất phất, vạt áo chị tung bay, thốc vào mũi tôi một mùi hương lạ kỳ.

Má tôi có cái quán cóc bên đường, bán tạp hóa và kẹo bánh lặt vặt. Cái quán, cách thẻo đất chị Hường chỉ một lối đi nhỏ. Ngồi trước quán, có thể nhìn thấy những chiếc Peugeot đen xì bên đó, nằm lúp xúp trong cỏ, và bóng dáng chị tha thướt trên sân nhà. Má thương chị, vì tính chị hiền lành, hay giúp đỡ má trong công việc khó khăn. Riêng tôi, tôi thấy chị còn đẹp, thùy mị, và có thể là đối tượng của ông họa sĩ Lê Trung nổi tiếng. Thương chị, má thường giao quán cho chị , giao cả tôi cho chị trông nom, nhắc nhở học hành. Đôi khi, ban đêm, chị ngủ lại quán với tôi, như người thân trong gia đình. Cho tới một hôm, anh tư tôi từ Sài Gòn trở về. Mùa hè, anh được nghỉ học. Anh muốn về quê tìm lại tuổi thơ, đang lẩn trốn đâu đây, quanh bờ ao, vạt cỏ. Nhưng chưa bắt gặp tuổi thơ, anh đã chớm thấy tuổi xuân trên đôi môi hồng thắm của chị Hường. Tuổi xuân lung linh những nụ mộng. Tung tăng một đóa hoa còn khép cánh e lệ, giữa trời xanh.

Từ ngày đó, chị Hường quên tôi, như quên một món đồ không cần thiết nữa. Tôi tự đạp xe đi học thêm. Khi cong lưng đạp kịch liệt lên dốc cầu, tôi kêu lớn tên chị, réo gọi chị như oán trách, giận hờn. Ban đêm, tôi ngủ chèo queo trong quán. Càng lạnh, tôi càng nhớ vòng tay ấm của chị, càng tưởng hơi thở êm đềm của chị đang phà bên tai tôi, thầm thì những lời khuyên bảo đậm đà. Suốt tháng nay, hai người hò hẹn, đưa nhau đi mất tiêu. Có bữa, má tôi phải đi kiếm khắp nơi. Vì cái món ruột, mà anh tôi thích, má đã sẵn sàng để đãi anh. Từ ngày đó, chị Hường được má tôi công nhận là một phần tử trong gia đình. Chị tạm quên những chiếc Peugeot chết tiệt để làm quen với những viên kẹo óng ánh sắc màu, nằm la liệt trong cái quán má tôi.

Chẳng hiểu tình cảm của hai người thế nào, mà anh tôi, bỏ xứ biền biệt. Chị Hường đếm từng ngày, từng tuần, từng tháng, rồi từng năm, rồi từng năm nữa…anh vẫn không trở về. Tội nghiệp, chị mòn mỏi đợi chờ, héo hắt dung nhan, người lúc nào cũng rũ xuống, như một đóa hoa sắp rơi. Má tôi buông tay đầu hàng. Má không biết thằng con trai của mình nghĩ gì, khi cô dâu đã dâng đến trước mặt, khi mọi chuyện đã hoàn tất, chỉ chờ sự trở về của chú rể. Tôi nhìn chị Hường đau khổ, lòng không cầm được xót thương. Muốn nguôi ngoai, tôi quay qua làm thơ, diễn tả nỗi thất tình của một người yêu bị bỏ rơi. Bài thơ ấu trĩ đó, lại lọt vào mắt chị. Đêm, ngủ trong quán, gần tết, gió bấc lạnh thấu xương. Tôi day lưng về chị, nằm co quắp, ngủ ngon lành. Tôi tỉnh dậy, vì có cánh tay ấm áp dang ra, kéo nhẹ tôi vào lòng. Và tiếng thỏ thẻ của chị, vang lên trong đêm khuya.

– Bộ em thất tình hả Bé? Con trai mà thất tình, kỳ lắm nha!

Tôi vươn vai cho tỉnh ngủ,rồi rúc sâu vào ngực chị. Một mùi hương kỳ lạ từ da thịt chị phả ra, làm tôi ngây ngất.

– Sao chị biết? Chắc coi lén thơ phải không?
– Thấy em làm thơ, chị tò mò. Té ra em bỏ học, chạy theo một cô gái.

Tôi muốn phân trần với chị, về bài thơ. Tôi làm thơ vì xót thương chị. Vì không chịu nổi cảnh một người yêu chờ mãi một người yêu. Nhưng thôi, hãy để chị nghĩ đến tôi như kẻ thất tình, có vẻ hay hơn, có vẻ lãng mạn hơn đôi chút.

– Em tưởng tượng chị ạ! Em vẫn học thi, có bỏ đâu?

Chị Hường ôm tôi, nhẹ nhàng. Những lọn tóc dài rớt xuống mặt tôi, trong đêm tối, sao nó huyền ảo, lung linh như bức tranh vẽ thiếu nữ của họa sĩ Lê Trung. Tôi mơ màng, quay lại, quấn chặt lấy chị. Và bên tai, vẫn văng vẳng tiếng thỏ thẻ của chị.

– Bé nè! Bé đẹp trai. Hổng có thất tình, nghe chưa?

Cho tới một hôm, chị Hường ra đi. Ngày chị đi, tôi không hay. Khi biết được, cánh cửa nhà chị đã khóa kín. Hàng bông huệ sân trước, rũ lá, khô cành. Đứng trong thẻo đất chị, bên cạnh đống Peugeot tật nguyền, tôi cảm thấy cô đơn muốn khóc. Xung quanh đây, từ căn nhà chị đến cái quán má tôi, dường như đầy dẫy bóng dáng chị, dường như đó là phần thân yêu, buộc chặt vào đời sống tôi, không thể bứt rời.

Những ngày sau, tôi như một kẻ thất tình, thật sự. Tôi bắt đầu chìm ngập theo thơ. Tôi bắt đầu uống rượu, tụ ba tụ năm với bạn bè, say khướt trong những đêm muốn nổi điên. Nhưng tôi vẫn học. Vì học để vươn lên, để thoát khỏi bàn tay nhầy nhụa của chiến tranh. Đến năm tôi chuẩn bị thi tú tài II, chị Hường bỗng trở về. Chị đi thẳng vào quán, ôm má tôi, nức nở. Cả nhà ngạc nhiên. Má tôi cảm động, bật khóc. Tôi ngỡ ngàng, ngó chị. Vừa mừng, vừa xót thương vô vàn. Chị không còn là thiếu nữ mộng mơ của Lê Trung nữa. Chị đã già dặn, đã vàng võ hơn xưa. Hình như chị đang lao lung. Đang bị cuộc đời quăng vào nơi chốn bất an.
Thăm má một lát, chị vội vàng từ giã đi. Tôi chạy theo, nắm tay chị, kéo lại.

– Tối rồi. Chị ngủ lại đây cho vui. Mai sẽ về.

Chị Hường bùi ngùi nhìn tôi. Tôi se sắt nhìn lại. Tôi thấy đôi mắt chị long lanh ngấn lệ.

– Không được em ạ! Chị có bạn. Bạn chị đang chờ.

Từ đó, tôi mất chị Hường luôn.
Mãi sau này, lên đai học. Rồi đi lính. Tôi có ý định tìm chị, nên lang bạt khắp nơi. Chẳng mãn nguyện, tôi tìm trong thơ, trong rượu, trong nhan sắc của mỗi gái điếm. Tôi nhào vào cuộc chiến như nhào vào cuộc tình. Đánh rồi rút. Yêu rồi đi. Chẳng cần ngày mai. Chẳng cần tương lai. Cho tới một hôm, tôi về Vũng Tàu. Đêm ở đây yên lành. Biển ở đây êm đềm. Trời đẹp như thế này, sao không thả ra phố làm một cốc cà phê cho ấm dạ? Tôi lủi vào góc một quán nhỏ, ngồi nghe dòng nhạc Trịnh bay nhảy trên môi Khánh Ly. Quán thưa người, có vài cặp đang thu mình ở các góc vắng, thầm thì. Tôi chờ cà phê bằng những ngụm thuốc lá. Lâu rồi, những ngụm khói vô tri này đã trở thành bằng hữu, bên cạnh tôi, trong suốt các nỗi buồn. Nó cũng hút tung bụi thơ lấm tấm từ hồn tôi, truyền tình cảm xuống bàn tay, bắt viết nên từng con chữ vấy huyết, tận cung tim. Vì vấy huyết, tôi yêu các con chữ này, đến hơi thở cuối. Tôi không bỏ thơ. Có thể, từ lâu, nó đã là phần tế bào, trong khối óc tôi.

– Bé! Bé đấy ư? Bé đi lính hồi nào vậy? Trời ơi! gặp em, chị mừng quá.

Một thiếu phụ rời khỏi cánh tay ông đại úy Biệt Động quân, xà xuống bên tôi.

– Trời! Chị Hường. Lâu quá, không gặp chị. Chị khỏe không?

Tôi trân trối ngó chị. Nhan sắc tàn phai, năm xưa, đã phục hồi. Khuôn mặt sáng hơn. Đôi môi vươn cao, chín mọng. Chị siết chặt  tôi, gật đầu. Những giọt nước mắt rơi xuống, cảm động. Ông đại úy tiến tới, bắt tay tôi. Màu áo vằn vện của ông, khiến tôi nhớ đến anh tôi, cũng đang lăn mình trong chiến trận. Tới giờ, tôi vẫn chưa hiểu, tại sao anh tôi nỡ đành bỏ rơi chị Hường?

– Anh Khả, chồng chị. Chị theo ảnh về Biên Hòa sống, lâu rồi.

Chị Hường chỉ tay về ông lính, giới thiệu. Anh Khả hùng dũng, oai nghi với bộ quân phục. Anh trò chuyện cùng tôi, cười cợt như đã quen từ lâu. Sau đó, chúng tôi cũng chia tay. Chị Hường lại thút thít. Chị ôm vai tôi, không muốn rời. Mùi hương kỳ lạ năm xưa lại phả vào mũi tôi, khiến tôi xúc động. Những giọt nước mắt tự nhiên lăn xuống, rơi trên tóc chị.

Tôi trở lại Cà Mau, lần cuối, lúc chế độ cộng sản nhuộm đỏ miền nam. Trở lại thăm thằng em út đang lặn ngụp trong đời sống cơ hàn. Tiện thể, thăm bạn bè. Những đứa học chung lớp. Những đứa từng làm thơ, từng uống rượu nổi điên, trong những đêm hào sảng. Cũng muốn gặp lại chị Hường, xem đời sống chị ra sao, sau khi anh Khả gãy súng. Cà Mau, những năm đó, thảm thương. Dân số tăng nhanh. Cuộc sống bần hàn hơn xưa. Người ta tranh nhau kiếm sống. Tranh nhau buôn bán. Có nhà, tuôn hết những vật kỷ niệm trong gia đình ra đổi gạo, ăn qua ngày. Tôi tìm không gặp một thằng bạn nào. Dường như, cuộc sống khó khăn đã lôi tụi nó đi khắp nơi, bươn chải. Còn thằng em tôi, mua nợ một chiếc gắn máy cà tàng, chạy xe ôm, nuôi con hằng bữa. Nhưng tôi gặp chị Hường. Chị phất lên như diều gặp gió. Chị đang an hưởng trong cảnh lầu cao cửa rộng. Ba má chị, sau 30 tháng tư, trở về, là cán bộ cao cấp của phe bên kia. Ngày xưa, họ tung tin đi Sài Gòn làm thợ máy, nhằm che mắt thiên hạ. Tôi gặp chị không khó khăn. Vì nghe tin tôi về, chị vội vã tìm tôi.

Chị Hường chở tôi trên chiếc xe Honda đàn bà. Chị ghé nhiều chỗ. Mỗi chỗ, chị dừng lại lâu, cho tôi nhớ kỷ niệm. Tôi nhớ nhất cái quán má tôi. Những đêm giáp tết, trời lạnh tái tê, tôi và chị Hường ôm nhau ngủ, một cách hồn nhiên. Cái quán bây giờ không còn nữa. Mảnh đất đó đã bị người trong bưng, túa ra, chiếm mất rồi. Chạy loanh quanh một chập, chị Hường tấp vào một quán cà phê bên đường. Quán vắng khách. Những cái bàn lộ thiên, trải dài ngoài vườn. Không khí thiên nhiên, hợp với tâm hồn thôn dã của chúng tôi. Chị Hường chọn cái bàn sâu nhất, giữa hàng cây rậm rì, xanh mướt.

– Mấy năm trước, má rời Cà Mau, chị mất liên lạc với má luôn. Những năm sau này, chị tìm em khắp các trại tù miền nam, nhưng vô vọng. Bộ người ta đưa em ra bắc hả ?
– Không chị. Em bị nhốt ở miền đông. Rừng Xuyên Mộc.

Chị chăm chú nhìn tôi, thở dài.

– Anh Khả mất. Chị như người không có linh hồn. Buồn thật buồn em ạ!

Tôi giật mình. Người đại úy mà tôi chỉ gặp một lần đã mến phục. Mất rồi sao? Tôi nóng nảy.

– Ảnh mất lâu chưa? Lâu chưa?
– Ảnh tử trận. Trước tháng tư chỉ vài tuần.

Nói xong, chị đưa hai tay ôm đầu, vò tóc, nghẹn ngào. Tôi ngậm ngùi. Nhớ đến anh tôi. Anh tôi cũng vậy. Cũng thời gian đó, anh tôi mất tích ở đại lộ kinh hoàng, trong toán quân di tản về miền nam. Nhưng tôi không dám thở than điều này. Chẳng ích gì. Chỉ làm cho vết thương lòng chị Hường, vấy thêm đau nhức.
Chị Hường tiếp tục tức tưởi.

– Bây giờ, chị đã có chồng. Ba chị bắt, ép gả cho một ông cán bộ.

Tôi tròn xoe mắt. Chị lấy cán bộ? Thôi rồi, chị đã phản bội anh Khả, phản bội quê hương, đất nước. Nhất là, chị phản bội tấm lòng của em. Chị biết chưa? Tôi hét lớn. Nếu có thêm vài ngụm rượu, chắc chắn tôi sẽ nổi điên, đập phá tứ tung.

Chị Hường khóc rống lên. Tiếng khóc ai oán biết bao. Xót thương biết bao. Tiếng khóc làm tôi nguôi giận, hối hận, và tự trách mình sao quá đỗi hung tàn. Tôi lặng lẽ đứng dậy, đến bên chị Hường vuốt vai, vỗ về.

– Em xin lỗi chị. Giận quá, mất khôn. Chị biết không? Em căm thù giặc. Căm thù đến hơi thở cuối cùng.

Tôi chưa nỡ bỏ Cà Mau đi sớm. Vì thằng em đơn chiếc. Nó vừa nuôi con, vừa chạy xe ôm kiếm sống. Vợ nó, làm ăn xa. Lâu lâu mới thăm nhà một lần. Nó cần tôi ở lại đây, trông mấy đứa nhỏ, chừng tháng sau, mẹ chúng sẽ trở về. Thương em, tôi chấp nhận lời yêu cầu của nó. Cũng là dịp, tôi có thời gian tìm bạn, xem bạn có công việc nào giúp mình sinh sống không?
Một hôm, thằng em phóng xe về, la lớn.

– Chị Hường đang bị công an bắt kìa, anh Bé.

Tôi đang bới cơm cho con bé, nghe đến tên chị Hường, bỗng hoảng hốt, chạy ra.

– Sao bị bắt? Làm gì bị bắt?
– Chị cầm dao đâm chồng, khi ổng đang ngủ. Ớn quá!

Tôi nhào lên xe thằng em, đốc nó chạy nhanh đến nhà chị Hường.
Đám đông bao quanh căn nhà. Công An cố gắng đẩy dòng người hiếu kỳ sang một bên, lấy chỗ cho xe cộ chạy qua. Tôi lủi vào dòng người, cố chen ra phía trước, dáo dác tìm bóng chị Hường. Trong nhà chị, công an dày đặc. Họ đứng che lấp khoảng cửa, bít kín hiện trường để làm việc gì đó, với kẻ gây án. Thất vọng, tôi chỉ còn biết lắng nghe dư luận xầm xì.

– Nạn nhân được xe cứu thương chở đi rồi. Máu ra nhiều quá, tôi e khó sống.
– Giết được thằng nào hay thằng nấy. Ở đâu, về đây làm trời.

Nóng lòng quá, tôi khều một ông kế bên, hỏi nhỏ.

– Thủ phạm bị đưa đi chưa chú? Hay đang còn trong nhà?
– Chưa đưa đi đâu. Người ta còn điều tra mà.

Lát sau, đám công an đưa chị Hường ra xe. Lúc này, hai tay chị bị còng, bẻ quặt ra phía sau. Tôi cố vượt đám đông, tiến tới gần chị.

– Chị Hường!

Chị quay lại, thấy tôi. Ánh mắt bỗng trở nên nghiêm nghị, sắt đá và cương quyết. Đám công an lôi chị, vượt lên, đi thẳng về chiếc xe bít bùng. Nhưng tôi vẫn nghe rõ giọng chị, oang oang trong gió.

– Chị trả thù chồng. Nó giết anh Khả.

PHẠM HỒNG ÂN
(09 ngày qua Mỹ 25.17)

http://www.bienkhoi.com/so-76/chi-huong.htm

Một Trung đội Trưởng Nghĩa Quân

Huy hieu Ngha Quan QLVNCH.jpg
Cao Bá Tuấn
NGUOI LINH VNCH.jpg
Rất vui được nói chuyện với chú. Chú có thể cho biết tên tuổi, cấp bậc, đơn vị:
– À, tôi tên Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân, sáu mươi sáu tuổi.
– Ngày 30/4/75 chú còn ở trong quân đội?
– Tới ngày 6/5/75…
– Nghĩa là chú vẫn cầm súng sau 30/4/75?
– Tụi tôi vẫn chiến đấu mặc dù đã biết có lệnh đầu hàng.
– Chú nghĩ gì về cuộc chiến tranh VN?
– Rất đơn giản: bên mình Việt Nam Cộng Hòa phải tự vệ vì bị bên kia là Việt cộng tấn công. Hễ buông súng là chết….
– Chú có thể giải thích rõ hơn một chút.
– Tụi nó đánh mình, phá hoại nhà cửa đất nước mình, bổn phận mình là phải chống trả để tự vệ. Cũng giống như bị cướp vào nhà, mình không muốn vợ con bị hại thì mình phải chống lại.
– Nhiều người cho rằng chiến tranh VN là chiến tranh ý thức hệ, chú nghĩ sao?
– Ý thức hệ cái con mẹ gì. Lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để tự vệ, chiến tranh ý thức hệ là sản phẩm của mấy cha mấy mẹ trí thức chồn lùi, sa lông. Mấy cha mấy mẹ muốn chứng tỏ mình “học giỏi, thông minh hơn người khác” nên chế ra vụ ý thức hệ để hù con nít…
– Vậy đánh nhau giữa Bắc Việt và Nam Việt không phải do ý thức hệ?
– Để tôi cho em một thí dụ dễ hiểu: nếu Cộng sản miền Bắc (CSMB) không xúi dục đám “Giải phóng miền Nam” (GPMN) và không đưa lính vào phá miền Nam liệu chiến tranh có xảy ra hay không? Nếu tụi nó cứ ở yên ngoài đó mà xây dựng “chủ nghĩa Cộng Sản”, dân miền Nam có đi lính không? Trả lời được câu này em sẽ thấy chẳng ý thức hệ con mẹ gì hết!
– Có người lại cho rằng chiến tranh VN là nội chiến, chú đồng ý không?
– Theo suy nghĩ của tôi nội chiến là người cùng một nước đánh nhau vì tranh dành hay bất đồng gì đó. Việt Nam Cộng Hòa và “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, là hai nước độc lập không phải anh em trong nhà.
– Nói về anh em trong nhà lại có người cho rằng miền Nam và miền Bắc đánh nhau theo kiểu huynh đệ tương tàn. Chú nhận xét thế nào?
– Đó là ý nghĩ của đám trốn lính. Tụi nó là thứ hèn nhát sợ chết nên phải chế ra vụ “huynh đệ tương tàn” để từ chối đi lính. Tụi nó nại cớ “không muốn bắn vào anh em”.
– Một người viết cho rằng Việt Nam Cộng Hòa điên cuồng chống Cộng. Tác giả này còn đưa ra hình ảnh của hai nhân vật mà tác giả gọi là đại diện của hai quân đội. Một anh tên Lưu Quang Vũ lính miền Bắc, và Nguyễn Bắc Sơn của VNCH. Tôi xin phép đọc thơ của cả hai cho chú nghe (đọc thơ)…
– ĐM thằng nào viết ngu vậy?
– Chú có vẻ tức giận… xin cho biết lý do…
– Việt Nam Cộng Hòa mà điên cuồng chống Cộng thì đâu có chính sách chiêu hồi, đâu có bắt tù binh cả trăm ngàn nuôi ăn cho mập rồi trao trả? thằng cha này chắc chưa bao giờ cầm súng! Cũng chưa bao giờ biết rõ về Việt cộng. Chú em về biểu chả đọc bài của Trần Đức Thạch, cựu lính trinh sát Việt cộng về vụ thảm sát ở miền Đông. Hèn gì VNCH mất sớm chỉ vì còn có nhiều người quá khờ khạo và ngu xuẩn. Cha tác giả này chắc không biết vụ tết Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng… Tui nói cho chú biết Việt cộng được “chính huấn” là đằng trước mũi súng của tụi nó kể cả con gà con chó đều là kẻ thù. Cho nên chúng giết dân vô tội không gớm tay. Được bao nhiêu người trong lính Việt cộng giống như ông Lưu Quang Vũ nào đó? còn cha Nguyễn Bắc Sơn làm thơ để giải sầu chứ đâu có Sĩ quan nào đem bi đông rượu đi hành quân. Lính khát nước cần nước chứ đâu cần rượu, hơn nữa giữa trận tiền mà say rượu thì chỉ huy sao được? Mạng sống của lính nằm trong tay mình, đâu có giỡn được?
– Xin phép hỏi chú câu khác: chú có thể kể lại diễn biến những ngày cuối cùng tại sao chú vẫn còn cầm súng cho tới sau 30/4?
– Tôi là Trung đội Trưởng Nghĩa Quân. Nhiệm vụ của tôi là đóng đồn ở địa phương… Có mười tám anh em dưới quyền tôi.. Ngày tan hàng tôi biết tụi du kích sẽ không tha mạng nếu bị bắt sống, do đó tôi ra lệnh anh em giải tán về nhà. Còn tôi thì xách cây M16 vô rừng. Tôi tính thí mạng cùi, nếu bị phát giác trước sau gì cũng chết vậy nên chọn cái chết cho đáng. Trong số mười tám anh em có sáu thằng tình nguyện theo tôi
– Rồi sau đó thì sao?
– Khi thấy êm êm tôi nói tụi nhỏ giải tán, trốn đi xứ khác đừng trở về nhà…
– Vậy là chú không trở về nhà? Chú có ân oán gì với du kích địa phương không?
– Thì chiến tranh mà, tránh sao được….
– Vậy có lần nào chú bắn tù binh khi bắt sống không?
– Để tôi kể cho em nghe vụ này: một lần lính đi phục tóm được du kích dẫn về trình diện tôi. Thằng du kích cỡ khoảng mười bốn mươi lăm tuổi, nhìn đã thấy ngờ ngợ. Tới chừng hỏi ra mới biết là con trai của thằng Ba Cội…
– Ba Cội là ai vậy?
– Bạn cùng quê, lớn lên nó theo Việt cộng… Nó là Đội Trưởng du kích, tụi tôi thỉnh thoảng cũng chạm nhau..
– Rồi chú xử con Ba Cội ra sao?
– Xử gì, con nít mà…. tôi đá đít, bạt tai nó mấy cái rồi đuổi về. Tôi biểu nó: nói với tía mày có ngu thì ngu một mình đừng xúi dại con mình đi theo… Vụ này Ban Hai Chi Khu làm hồ sơ chuyển tôi lên Quận. Cũng may ông Quận biết tánh khí tôi nên vỗ vai cười rồi cho tôi về. Ổng biếu tôi chai rượu nói: Tôi biết anh mà anh Ba….
– Sau này chú gặp lại Ba Cội không?
– Không, Ba Cội chết rồi.. Bị Thám Sát Tỉnh dứt…
– Còn con Ba Cội?
– Nghe nói nó qua Công An bây giờ làm lớn lắm. Thời gian tôi trốn, nó có ghé nhà vợ tôi hỏi thăm. Có cho mấy chục kí gạo. Nghe nói nó có cám ơn tôi ….
– Rồi chú ra trình diện hay bị bắt?
– Bị bắt. Trốn hoài mệt quá, cũng mấy năm sau nhớ vợ con mò về thăm …
– Chú bị bao lâu?
– Sáu năm tám tháng mười bốn ngày!
– Vậy sao chú không xin đi HO?
– HO gì tôi, mình đâu phải sĩ quan, mà chữ Anh chữ U mình đâu có biết gì…
– Sau khi trở về nhà chú có bị khó dễ gì không?
– Nói thiệt chú nghe, Việt cộng nó ghét lính Tổng Trừ Bị (ND, TQLC, BDQ…) một, nó ghét tụi tôi mười. Lính đánh giặc xong rồi rút còn tụi tôi, đây là tài sản vợ con xóm giềng, địa phương mình nên tụi tôi sống chết cũng cố thủ, tụi nó đánh hoài mà không chiếm được. Nó đì tôi sói trán, nhưng mình thua rồi thì cứ làm câm làm điếc mà sống.
– Chú có cơ hội nào gặp lại mấy anh em dưới quyền?
– Có, hai thằng em giờ nghèo lắm, còn ba thằng đi vượt biên. Tội nghiệp, huynh đệ chi binh thỉnh thoảng hùn tiền gởi về cho mấy đứa nghèo.
– Họ có giúp chú không?
– Có, mà tôi không nhận. Vợ con buôn bán cũng sống được, để dành cho mấy đứa em khổ hơn mình.
– Xin phép chú được hỏi một câu về chính trị: Có vài người đang hô hào hòa hợp hòa giải với Việt cộng chú nghĩ sao?
– Tôi cảm ơn chú em đã tôn trọng mà hỏi tôi, cỡ TĐT Nghĩa Quân học hành bao nhiêu. Nhưng như tôi đã nói hòa hợp hòa giải là anh em trong nhà có chuyện xích mích mới ngồi xuống mà nói chuyện. Còn đàng nầy nước mình là Việt Nam Cộng Hòa bị nước khác, là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đánh chiếm thì làm sao mà có chuyện đó. Tôi hỏi chú em: Tàu lục địa đánh chiếm Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ… liệu dân mấy nước đó có chịu hòa hợp hòa giải với Tàu không?
– Bây giờ nói chơi cho vui một chút, chú biết Nguyễn Tấn Dũng chớ?
– Biết…
– Thí dụ nếu ngày xưa chú đi kích bắt được NTD thì chú làm sao, cha này nghe nói trước đây cũng là du kích mà..
– NTD cũng cỡ tuổi tôi. Hồi đó có bắt được chắc cũng bớp tai đá đít vài cái rồi gởi về cho Ban Hai.
– Nếu chú biết trước NTD sẽ là TT sau nầy chú tính sao?
– Làm sao biết được? Nhưng như chú em nói nếu có thiên lý nhãn thấy được vị lai tôi sẽ tính cách khác!
– Cách nào chú có thể cho biết…
– Bị mật quân sự mà chú em, làm sao cho biết được …thì cũng cỡ như người nhái Mỹ với Osama Bin Laden vậy thôi (cười….) – Vậy chớ bây giờ hỏi vui chú em điều này: đố chú em biết đám mới về hưu kỳ rồi (NTD, TTS, NSH…) đang làm gì ? Bí hả ? Tụi nó đang viết kiến nghị ! Thằng Cộng sản nào về hưu cũng giỏi viết kiến nghị hết. (cười…)
– Cụng ly cái chú Ba…. Tôi thấy chú lớn tuổi rồi và cũng đã cống hiến phần vụ của mình cho Tổ Quốc. Giả sử bây giờ nếu đất nước Việt Nam Cộng Hòa cần, chú dám cầm súng trở lại không?
– Già rồi, giờ chỉ nghỉ ngơi vui với con cháu. Nhưng nếu phải chiến đấu để lấy lại đất nước Việt Nam Cộng Hòa từ bất cứ ai chết tôi cũng chịu chú à. Cầm súng không nỗi thì cầm dao, bất cứ cái gì….
– Chiến tranh qua rồi giờ nghĩ lại chú có thấy căm thù lính bên kia không?
– Không, lính chỉ biết theo lệnh. Căm thù là căm thù đám lãnh đạo. Đám này đã lừa gạt lính của nó vào trong nầy chết cả triệu. Cả triệu gia đình ngoài kia mất người thân đến nỗi không có cái xác mà chôn. Hồi đó thiếu gì dịp bắn chết tù binh rồi quẳng xuống sông phi tang mà mình làm không được, ngoài chiến trường bắn nhau thì OK nhưng bắt tù binh rồi tôi chuyển qua cho Ban Hai thẩm vấn coi như mình xong nhiệm vụ… Cũng là con người với nhau cũng có gia đình, cha mẹ, vợ con sung sướng gì bắn người đã ngã ngựa?
– Theo chú những người Cộng sản có nghĩ như vậy không?
– Tôi đã nói rồi, tụi nó được chính huấn coi mỗi thứ trước đầu súng là kẻ thù cần phải giết hết. Thương binh của nó nó còn giết phi tang huống hồ gì lính mình. Bởi vậy mình thua nó vì phía bên mình còn nhân đạo quá!
– Dạo này có nhiều cuộc biểu tình về môi trường mà lượng người tham gia không đông. Có vẻ như dân Saigon rất thờ ơ cho chính tương lai của đất nước và của gia đình họ. Chú có ý nghĩ gì không?
– Giỡn hoài chú em mày! Để tôi nói cho chú em mày rõ: dân Saigon thứ thiệt thì hoặc là ở nước ngoài hoặc là chết tù chết biển hết. Còn dân “Saigon” bây giờ đa số toàn tụi Ba Ke 75. Tụi nầy thừa hưởng biết bao quyền lợi từ “bác” và “đảng” đâu có ngu gì chống! Cỡ phân nữa Saigon bây giờ là dân nguyên thủy Việt Nam Cộng Hòa thì Việt cộng hết nước sống!
– Chắc chú biết chuyến thăm của Obama. Ổng còn ghé ăn bún chả rồi thăm chùa Tàu gì đó ở Saigon…
– Biết chớ, có điều Tổng Thống của chú em đi lộn chỗ! Đáng lẽ ổng phải ghé mấy cái quán “phở chửi” “cháo mắng” để biết “văn hóa của Xã Hội Chủ Nghĩa”. Thay vì viếng chùa Tàu ổng nên đi thăm Nguyễn Trường Tô và Sầm Đức Xương (mấy thằng cô hồn các đãng môi giới và mua trinh nữ sinh) để học thêm về “đỉnh cao trí tuệ của loài người”…
– Chú Ba vui quá! cảm ơn chú về cuộc nói chuyện này. Chú có muốn nhắn gì với anh em không?
– Ai?
– Những người lính cùng chung chiến tuyến ngày xưa.
– À, vậy thì tôi xin có chút lời: Thưa anh em tôi Nguyễn Văn Ba, TĐT Nghĩa Quân xin có lời chào hỏi anh em mình: Tôi chỉ muốn nói là tôi hãnh diện từng chiến đấu dưới cờ của Việt Nam Cộng Hòa như anh em. Tuổi trai trẻ của tụi mình đã không phí phạm. Tôi cũng có nhiều dịp gặp anh em thương binh thỉnh thoảng ngồi uống cà phê, hút điếu thuốc. Anh em coi vậy chớ hãnh diện lắm vì đã cống hiến phần thân thể mình cho đất nước. Khổ thì có khổ, nhưng tới ngày chết tụi tôi còn ở trên quê hương không bao giờ mất đi niềm hãnh diện từng là người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Đi dân nhớ, ở dân thương; phải không các chiến hữu?
Cao Bá Tuấn

Ngày 30 Tháng Tư – Nỗi Đau Không Tan

James Dieu

THANG 4 DEN, MAU VA NUOC MAT.jpg

Tối ngày 28.4.1975 khi việt cộng bắn những trái pháo vào phía sau rạp hát Quốc Thanh trên đường Võ Tánh – Sài Gòn 2, lúc ấy gia đình tôi đang sống trong khu cư xá bên trong BTL/CSQG gần đó, cạnh Sở Căn Cước và Sở Truyền Tin… phía sau sân cờ. Bố tôi lúc ấy là Đại tá Giám đốc Trung tâm Hành quân Cảnh lực trung ương và kiêm nhiệm một công việc mới theo Quyết định của Thủ tướng CP là ông Vũ văn Mẫu ngày 30/04/1975 là Chỉ huy trưởng CSQG Thủ đô Sài Gòn, Ông liên lạc với một người em kết nghĩa là chú Phạm Như Hoành (con trai của cụ Phạm như Phiên là TNS Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa) chú Hoành khi ấy đang làm Giám Đốc khách sạn Majestic gần bờ sông Bạch Đằng, thế là gia đình tôi di chuyển tới ở tại lầu 5 của khách sạn này, khi Mẹ tôi dắt đàn con 7 đứa ra xe , Bố tôi khi ấy bận công vụ không có nhà ,các sĩ quan và cảnh sát viên ở Nha Trang di tản về ở tạm quanh sân cờ BTL thấy vậy, họ nghĩ là gia đình tôi cũng bỏ chạy, có người hỏi chú Ba tài xế:
– Bộ gia đình Đại tá Chánh đi hả ?
– Không, chỉ ra ngoài ở sợ việt cộng pháo trúng mấy đứa nhỏ thôi.
Hình như họ không tin tưởng lắm qua những ánh mắt nhìn theo chúng tôi. Mẹ tôi có dừng lại và bà có nói gì đó với họ, tôi không nghe rõ . Tình thế lúc bấy giờ ở bên ngoài rất hỗn loạn, người ta đổ xô ra đường rất đông, các lực lượng phòng thủ ở thủ đô Sài gòn lúc bấy giờ có lẽ đông nhất là các chiến sĩ Nhảy Dù cùng với rất nhiều các binh chủng tập trung về Thủ đô, mặc dù vậy, thủ đô vẫn an ninh, không có việc cướp bóc như có một số người đã nói, những chiến binh của quân đội VNCH vẫn rất có kỷ luật, cầm súng trên các ngã đường trong thủ đô, đồng bào đổ xô và tranh nhau lên các chiếc tàu biển đậu trên bờ sông Bạch Đằng để hy vọng được thoát khỏi Sài Gòn giờ phút cuối cùng, tôi nhìn thấy các chiến sĩ Nhảy Dù đang cố giữ trật tự cho đồng bào lên tàu…

Cau B BTLHQ ngay 30 thang 4 1975

Nhưng những chiếc tàu vẫn không rời bến. 10 giờ sáng sớm hoặc trễ hơn một chút, ông Dương văn Minh ra lệnh đầu hàng, tôi thấy Mẹ tôi khóc, chúng tôi chờ Bố tôi tại khách sạn, những tên việt cộng đầu tiên xuất hịện trên đường phố cùng những chiếc xe thiết giáp gầm rú để trấn áp tinh thần dân chúng Sài Gòn. Mẹ tôi ôm chúng tôi vào lòng, Bố tôi trở về cùng với người tài xế, cả hai đều không mặc cảnh phục, Bố tôi ôm Mẹ tôi và hôn từng đứa con, chú tài xế lái xe đi đem theo khẩu M-16, trở lên phòng Bố tôi lại nói chuyện riêng với Mẹ tôi, không cho chúng tôi nghe, sau đó tôi nghe chị Thu là người giúp việc cho gia đình tôi òa lên khóc, chị quỳ dưới chân Mẹ tôi van xin được ở lại cùng gia đình tôi, chị không muốn về quê ở Gò Công, lúc ấy tôi mới biết Bố tôi định dùng súng bắn hết anh em chúng tôi rồi cùng Mẹ tôi tự sát. Mẹ tôi khi ấy không còn khóc nữa, Mẹ cũng chọn sự lựa chọn của Bố tôi, tôi khóc và ôm lấy Mẹ, có lẽ lúc ấy là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi biết khóc, tôi không ý thức được sống chết là gì, nhưng tôi rất sợ khi mọi người nói tới hai tiếng “việt cộng” !

https://hon-viet.co.uk/HQPD_1335203315.gif

Bố tôi rút khẩu súng ra và ôm lấy chúng tôi… Có lẽ có điều gì đó không nỡ, Bố tôi không đành lòng nổ súng vào đàn con thơ dại đang đứng chờ đợi… Những người phóng viên ngoại quốc họ đến tận phòng ở gia đình tôi và hỏi: “ Chuyến đi cuối cùng rồi ông có ra đi không ?. Bố tôi trả lời : “ Không “ . Tại sao vậy ? Bố tôi nhìn Mẹ tôi một hồi lâu, Bố nói ông không nỡ bỏ các anh em đang cầm súng ở lại ngoài kia, có lẽ ở BTL CSQG cũng không còn ai ngoài Bố tôi và ông Tướng Nhu, với cấp bậc của Bố tôi, ông có thể tìm được một chỗ cho ông và gia đình một cách dễ dàng để bay thoát ra ngoài hạm đội Mỹ đang đợi ngoài khơi, nhưng ông đã không làm như một định mệnh với quá nhiều đau khổ cho ông và gia đình về sau, khi ở lại dưới chế độ cộng sản, tôi xuống thang máy khách sạn và gặp một toán việt cộng cầm cờ đang tìm cách lên sân thượng của khách sạn, chúng quát người phục vụ khách sạn khi anh ta đưa họ vào thang máy, chúng bảo: “ Chúng tôi muốn lên trên ấy chứ không phải vào cái buồng nhỏ này “.

Chúng dí súng vào đầu người dẫn đường, sợ quá và không thể giải thích với chúng, anh ta đành dắt họ đi cầu thang… Thấy chúng lên lầu, tôi và chị Thu giúp việc sợ quá, vội dùng thang máy chạy vội lên phòng, và tôi đã ném chiếc kính cận của Bố tôi xuống cửa sổ, tôi khóc nói với Bố tôi: “ Con sợ tụi nó biết Bố ở đây nên con ném xuống dưới rồi ….. Sau đó gia đình tôi trở về cư xá Thanh Đa, nơi Bố Mẹ tôi có một căn nhà mua trả góp trước đây, căn nhà nhỏ này vốn dùng để cho các gia đình của các chú trước đây làm việc với Bố tôi ở Sư Đoàn 23 di tản về ở tạm, gia đình chú Thọ cũng đã đi đâu rồi nên gia đình tôi dọn vào, tất cả mọi người đều chỉ có một bộ đồ mặc trên người, Mẹ tôi phải đưa chúng tôi ra chợ mua thêm để mặc. Tất cả mọi người phải nằm chiếu, nhà không có bàn ghế hay giường tủ gì cả… Khởi sự cho một cuộc sống hoàn toàn trắng tay đúng nghĩa ! Lúc ấy đứa em út của tôi chưa biết đi. Ngày Bố tôi đi tù có hai chú ngày xưa làm việc cùng ở Sư Đoàn 23 trước khi Bố tôi được biệt phái về Cảnh sát là chú Phạm Ninh và chú Nghiêm xuân Đông đến đưa Bố tôi đi, ông đi ngay trong ngày sinh nhật thứ 41 của mình, tôi chạy theo đến tận chân cầu thang cư xá và đứng nhìn Bố tôi lên chiếc xe lam…

Từ ngày 30/4 năm ấy, một tay Mẹ nuôi dạy chúng tôi, sau này còn phải nuôi Bố tôi ở trong tù cộng sản, có những lúc Mẹ quá sức và tuyệt vọng vì không biết ngày về của Bố tôi, Mẹ có lần bạo gan hỏi việt cộng: “ Sao nói đi một tháng mà bây giờ đã hơn một năm chồng tôi vẫn chưa về ? Gia đình cũng không biết đang ở đâu, sống hay chết ?” Chúng trả lời : “ Nói một tháng là một tháng đi đường (?) chứ ai nói là đi cải tạo một tháng rồi về đâu…

Chừng vài năm sau, trong cuốc sống quá khổ sở, Mẹ tôi phải lặn lội sớm hôm kiếm tiền nuôi con, trong một lần quá tuyệt vọng Mẹ tôi đã viết một lá thư để lại cho Bố tôi và nấu một nồi chè đậu xanh trong đó Mẹ đã bỏ thuốc diệt chuột mà Tổ Dân phố cấp cho, Mẹ múc ra chén cho từng đứa con… Có lẽ tôi cũng không nhớ lầm thì lúc ấy bên ngoài mọi người đang tưng bừng mừng 2 năm “giải phóng” thì phải, có lẽ Mẹ tôi cũng mượn dịp này để Mẹ và đàn con 7 đứa cũng được giải thoát chăng ? Lúc ấy các em tôi cũng đã lớn, các em gái như Tuyết, Trinh, Hằng… đã khóc và quỳ xuống xin Mẹ cho chúng con được sống, chỉ sống để chờ Bố về, có đứa còn khóc gọi “ Bố ơi !” …

Mẹ tôi dường như đã cạn khô hết nước mắt rồi, thương con cực khổ quá thì chỉ muốn cho chúng chết đi để hy vọng một kiếp sống mới tốt đẹp hơn ? Sống với đời sống “con của ngụy” thì cũng chẳng ra gì ? Cuối cùng tình yêu thương của Mẹ vẫn chiến thắng, Mẹ đã hắt đổ nồi chè gần như trở thành định mệnh – như ngày nào Bố tôi đã bỏ khẩu súng lục xuống để đàn con tiếp tục được sống như sự an bài của Trời Phật vậy !

Sau đó Mẹ càng cố bương chải kiếm sống ngoài đường, có lúc bị kẻ gian đập đầu bất tỉnh ngoài bến xe khi Mẹ mua đồ xuống Cần Thơ cho dì bán nhà hàng, mong kiếm chút tiền mua cơm về cho con, lúc ấy việt cộng cấm mang gạo, ai có gạo sẽ bị tịch thu, nhưng nếu nấu thành cơm mang về Sài Gòn thì được… Chúng con biết Mẹ rất cực khổ – từ một bà mệnh phụ, Mẹ từng là Tổng thư ký Hội Bảo Trợ gia đình binh sĩ SĐ 23 BB, rồi Hội Trưởng Hội BTGĐBS của Trung Đoàn 44 BB ở Sông Mao khi Bố tôi làm Trung Đoàn Trưởng… Thế mà vì vận nước suy vong, Mẹ sẵn sàng lam lũ như những kiếp đời vốn dĩ bần hàn.

Những ngày 30 tháng Tư đi qua, tuy Mẹ không nói, nhưng trong đôi mắt của Mẹ – Chúng con biết Mẹ buồn tủi lắm !Thấy Mẹ tôi vất vả quá, cậu Khánh tôi ở Ban mê thuột có ý nhận nuôi phụ vài đứa, nhưng Mẹ không chịu, có một chú lính ngày trước của Bố tôi từ Nha Trang vào, thấy cảnh đời gia đình tôi khổ sở quá, bèn móc ví ra đưa cho thằng em tôi vài trăm, nó nhất định không lấy, chú lính phải năn nỉ mãi nó mới cầm và thằng bé chưa đầy 10 tuổi đã phải bật khóc vì tủi thân, có bao giờ nó phải nhận sự giúp đỡ thương hại như thế?

Thời gian sau này, có các chú may mắn ra đi được, có người ở Mỹ, có người ở Na Uy như các chú Nguyễn xuân Thọ, Phạm Ninh, Hồ Đắc Tùng, các bác bạn của Bố tôi Bác Thăng… gởi tiền và quà về giúp Mẹ tôi khi Mẹ đã quá sức cùng kiệt – nhờ vậy mà chúng tôi được sống !

Ngày 30/4 sắp đến – cũng dịp này, tôi xin mượn những giòng chữ này để một lần được nói lên lời tri ân những ân nhân của gia đình tôi, cũng như xin được thưa với Mẹ của chúng tôi rằng “Chúng con hiểu và suốt đời yêu thương Mẹ, đó là điều có thật đang diễn ra trong tâm hồn chúng con ! “ Và với Bố , một người Cha đã suốt đời sống thanh liêm, yêu thương đồng đội, trung thành với Tổ Quốc, kiên định trong gông cùm biệt giam của cộng sản, cho dù có lúc Bố đã từng nói trong cuốn sách lưu niệm của các sinh viên Sĩ Quan Khóa 8 Hoàng Thúy Đồng trường VBQG Việt Nam rằng: “Điều mà tôi ân hận nhất là để cho Vợ và các con của tôi phải sống những ngày tháng đau khổ đói khát dưới chế độ cộng sản… “Thưa Bố , chúng con hiểu được, chúng con bây giờ đã lớn khôn, trưởng thành, chúng con không trách cứ gì số phận của minh cả, mà bù lại có lẽ chúng con càng hãnh diện và tự hào hơn vì chúng con có một người Mẹ tuyệt vời, biết hy sinh và biết đau xót cho Quốc Gia, không như những người Mẹ bình thường, có một người Cha sống ngay thẳng, tận tụy cùng Tổ Quốc, Chức nghiệp, không hèn hạ và vô trách nhiệm… Nước mất nhà tan nên gia đình mình cùng hàng trăm ngàn gia đình sĩ quan binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải đau khổ, chia sẽ và thăng trầm cùng vận nước – Điều đó đâu có gì nhục nhã đâu !

Như Bố vẫn thường kể cho chúng con nghe về những trận đánh của Bố ngày xưa, kể về các sĩ quan của đơn vị Bố một cách hãnh diện và tự hào như các chú Xuân, chú Tài, chú Đức, chú Lâm, chú Ninh… trong số ấy có những người đã ra đi không bao giờ trở về…

Sau mười mấy năm tù đày – Bố tôi đã trở về với gia đình và được ra đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện RD-7 – Và mười mấy năm sau trên mảnh đất Utah, Mẹ tôi đã thực hiện một điều mà Bố tôi mơ ước, đó là một bộ quân phục khaki vàng với phù hiệu Quân Đoàn II, Sư Đoàn 23 BB cùng các loại huy chương Việt – Mỹ của Bố tôi trước đây… Trong bộ quân phục oai phong ấy, Bố ơi ! Người sĩ quan của ngày nào vẫn còn đấy, chúng con thấy Mẹ cười thật tươi, hạnh phúc, có phải chăng lý tưởng Quốc Gia vẫn âm ỉ trong tâm hồn của Bố Mẹ, dù thời gian có đi qua bao xa? Chúng con thấy bàn tay Bố vân vê Bảo Quốc Huân Chương lV và trong ánh mắt của người lính già gãy súng vẫn âm vang nỗi bi tráng của một thời binh lửa…

Ngày mất nước lần thứ 34 lại về, chúng con hiểu sự đau khổ trong tâm hồn của Bố Mẹ – âm thầm , chịu đựng, u uẩn, lực bất tòng tâm… Bố vẫn thường nhắc cùng với Mẹ về những người đã hy sinh ngoài mặt trận để bảo vệ miền Nam Việt Nam, những bạn bè của Bố đã ngã xuống trong ngục tù CS…. Con xin được tạm kết ở đây cho những dòng tâm tư này bằng hai chữ “Định Mệnh “ !

Vâng, Định Mệnh của cả một nền Cộng Hòa, của hàng trăm ngàn tử sỉ, của hàng trăm ngàn người không yên dưới biển sâu trên hành trình đi tìm tự do, và của ai nữa ? … Của những người Quôc Gia đang còn sống đây cho dù ở trên xứ sở Tự Do hay còn trong nước, vành khăn trắng này sẽ được cột lên đến bao giờ?
James Dieu

https://hon-viet.co.uk/JamesDieu_Ngay30thangTuNoiDauKhongTan.htm

 

Chuyện Người Em Gái Sài Gòn Và Con Tàu HQ 505

Người Em Gái Tên “Chi”

https://c1.staticflickr.com/3/2511/32636545610_88c16c879f_b.jpg

“… Phú là kỷ niệm đẹp của một thời học trò, mà mổi khi nhớ lại, vẫn khiến em bồi hồi dù em không còn trẻ nửa. Em muốn hỏi thăm Phú, mong rằng Phú hiện có cuộc sống bình yên và hạnh phúc…”

Chuyện đã 40 năm, khoảng thời gian quá đủ để một người trẻ tuổi già đi, trí nhớ bắt đầu giảm sút. Nhưng kỷ niệm, vốn như tên gọi, lại thuộc về quá khứ, mà người lớn tuổi thì luôn nhớ về quá khứ. Khi đó em chỉ là con nhỏ học trò lớp 12 ban toán. Anh có nhớ ở Saigon chổ ngã sáu Phù Đổng có mấy xe bán bột chiên rất ngon không? Học trò thường hay tụ tập sau giờ học. Em cũng không ngoại lệ. Một buổi chiều tan học về em và đứa bạn ngồi ăn ở đó, có hai ông HQ vô quán, bàn nào không ngồi lại ngồi bàn em. Mắc cỡ ăn không ngon và cũng không dám chuyện trò tía lia cùng bạn, lâu lâu ngước lên lại thấy một ông nhìn mình cười cười. Ông này mặc đồ xanh tím, vai áo gắn Alpha và ( hình như) hai gạch. Ông kia mặc đồ xanh biển hình như là Trung sĩ. Ông Tr/sĩ gọi ông kia là Tr/uý.

Em khều bạn, ăn nhanh về thôi, nhưng hai ông ăn còn nhanh hơn mình. Lính mà. Chia tay bạn, em chạy xe ra đường Trần Hưng Đạo để về nhà mình, xe dừng chờ đèn thì em đã thấy hai ông HQ chạy sát theo em. Ông Tr/sĩ chở ông Tr/uý cũng bằng Honda Dame. Tr/uý hỏi:” nhà Chi ở đâu?” em giật mình, sao biết tên mình vậy ta? Chắc hồi nãy nghe bạn em kêu thôi. Em không trả lời nhưng khi quay lại nhìn, thấy Tr/ uý cũng không có gì đáng sợ lắm. Nhà em ở trong một con hẽm rộng yên tĩnh thuộc Quận Nhì (giờ là Quận Nhất).

Em vào nhà khoảng 10 phút thì nghe má em kêu Chi có bạn tìm. Em bước ra. Trời ạ, Trung uý đang đứng trước mặt em, trong sân nhà em, tự tin như đã là bạn thân của em từ lâu lắm rồi. Trung uý đứng tựa lưng vào gốc ngọc lan, tay cầm chặt một nắm hạt dưa chắc hẵn vừa mua ở tiệm tạp hoá đầu hẽm nhà em. Hình như Tr/ uý muốn nhờ nắm hạt dưa để có thêm bình tỉnh. Trung uý nhìn em, đôi mắt trầm lắng, thiết tha như chịu lổi. Em không còn cách nào khác hơn đành mời Trung uý và Trung sĩ vào nhà, em phải làm ra vẽ tự nhiên đễ má em yên tâm. Trung uý tự giới thiệu mình tên Phú, Trung uý HQ đi tàu HQ 505. Sau một chuyến hải hành, tàu cập bến Bạch Đằng, Trung uý lên bờ rong chơi. Câu chuyện giửa cô học trò lớp 12 và anh Trung uý chỉ xoay quanh chuyện tàu bè, sông biển mà Phú có vẽ rất say mê. Phú còn nhiệt tình giải thích cho học trò biết sự khác nhau giửa HQTr/uý và Tr/uýHQ như thế nào. Phú cũng tự nhận đã mua hạt dưa ở tiệm đầu hẽm để hỏi thăm nhà em. Phú nói em phải giỏi toán mới dám học ban B. Em trả lời còn anh chắc cũng giỏi tấn công nên mới dám xông vào nhà người ta như vậy. Phú cười hiền hoà: anh tin Chi không nở đuổi anh. Mình cùng dân đồng bằng sông Cửu Long mà (trước đó Phú nói gia đình Phú ở Cần Thơ; còn em, ba má em đều sinh trưởng ở Vĩnh Long).

Trước khi ra về Phú để lại cho em danh thiếp mang tên Vũ Văn Phú với lời dặn tàu anh còn cập bến Bạch Đằng một, hai ngày nửa. Nhưng em đã không xuống bến BĐ. Tàu nhổ neo lúc nào em không biết. Trời Saigon đã vào mùa hạ. Em có kỳ thi Tú tài trước mặt, em không muốn mình đạp nhầm võ chuối. Nhưng đôi khi trong những bài toán hình học không gian, nhũng phương trình đại số lại ẩn hiện đôi mắt ấy, đôi mắt thiết tha của Phú.

https://i1.wp.com/1-22infantry.org/pics5/belis165.jpg

Em đậu Tú tài, em vào Đại học. Khoảng tháng 4/1974, lúc đó em đang học năm thứ 1 Đại học Luật khoa, HQ505 lại cập bến Bạch Đằng, Phú tìm gặp em. Vẫn vu vơ chuyện trường chuyện lớp, chuyện tàu bè sóng to gió lớn, chẳng đứa nào nói đến chuyện tình yêu dù tình yêu của ai đó, không phải cúa mình, như tình yêu trong phim Love Story chẳng hạn. Giờ nghĩ lại em thấy ngày đó mình thật ngây thơ và Phú cũng hiền lành quá đổi. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi Phú ở Saigon em có xuống bến BĐ đứng trên cầu nhìn con tàu 505 to lớn, nhìn thấy Phú bước ra từ đó, oai phong và hùng tráng.

Một lần như vậy rồi thôi. Chỉ có vậy mà thôi. Rồi tàu lại đi . Và Phú lại đi. Chẳng ai hứa với ai một điều gì. Em ở lại Saigon với Giãng đường Đại học, em làm thơ và viết báo. Nổi nhớ về con tàu 505 biến thành những bài thơ, tạp văn đăng rất đều trên báo Dân Luận, Đông Phương có ghi đề tặng, nhưng có lẽ lúc đó tàu đang ở biển khơi nên Phú không đọc được.

Cho đến khi Saigon nổi sóng. Phú và con tàu thân yêu của Phú đi đâu, về đâu giửa cơn giông tố đó, làm sao em biết được, khi em và Phú cách nhau muôn trùng hải lý và em thì nhỏ bé giửa biển đời mênh mông. Em ở lại và em cố quên. Những bài thơ, bài báo em cắt dán vào cuốn sổ tay, em cất cuốn sổ tay vào ngăn cuối cùng của tủ sách, vào ngăn thăm thẳm nhứt trong ký ức của mình.

Nhiều năm sau tháng Tư đó, em lấy chồng. Em nhớ có đọc ở đâu đó 2 câu thơ: “…Em và anh, mỗi người một đám cưới. Riêng rẽ họ hàng, riêng rẽ buồn vui…”. Em nghĩ Phú cũng đã như em, chẳng ai chờ ai, đợi ai; và chắc hẵn Phú cũng đã riêng rẽ một cuộc đời. Cho đến khi em đọc được “Kỷ niệm với con tàu máu 505″ của Nhà văn Điệp Mỹ Linh, sự tàn ác của chiến tranh, nổi thống khổ, đau thương của những người lính, của những dân lành được phơi bày trần trụi, tận cùng với nước mắt và máu hoà lẫn trên con tàu hùng tráng năm xưa em từng biết. Em đọc và em sợ hãi từng con chử. Em sợ bài viết có nói về MỘT CÁI CHẾT MANG TÊN LÀ PHÚ nhưng điều đó đã không xãy ra. Em tự hỏi khi đó Phú ở đâu, còn trên tàu hay đã về đơn vị khác? Phú có bình yên không? Em chỉ muốn biết một điều như vậy. Còn lại, tất cả đều đã…”ngày xưa”. Em chỉ muốn giữ lại hình ảnh một anh chàng SQHQ cao cao, tay cầm nắm hạt dưa, đứng hiên ngang giửa sân nhà em trong nhạt nhoà bóng tối thơm nồng hương ngọc lan. Em cũng muốn giữ lại trong ký ức ánh mắt dịu dàng, thiết tha đã từng đôi lần làm em khó ngủ.

Em cũng không muốn Phú gặp em lúc này, khi em đã không còn là con nhỏ ăn bột chiên ở ngã sáu Saigon, học Tú tài ban Toán mà Phú từng biết. Em đã không còn là “Người Của Muôn Năm Củ”.

Ở đâu đó trên hành tinh này, dù có đọc được hay không những dòng tin nhắn, em vẫn cầu mong Phú bình yên và hạnh phúc.

Người Em Gái Tên “Chi”

http://304den.blogspot.com.au/2014/12/chuyen-nguoi-em-gai-va-con-tau-hq-505.html

Nguyễn Văn Bến Nghé!

Tui rất thích cái tựa “Nguyễn Thị Sài Gòn”, tên một bài hát của nhạc sĩ nổi tiếng đấu tranh Việt Dzũng.

Nhưng ‘Thị’ là chữ lót của một người đàn bà, con gái; còn tui là đàn ông, con trai, tất chữ lót phải là Văn; nên tui tự đặt tên mình là: “Nguyễn Văn Bến Nghé”.

Hai cái tên nầy chỉ đối nhau chan chát giữa ‘Thị’ và ‘Văn’. Còn cái họ Nguyễn, người Việt mình nhiều vô số kể, nên mấy em Úc tóc vàng mỏ đỏ ở Melbourne nầy đây muốn dụ dỗ tui ‘tù ti tú tí’, bao giờ cũng gọi tui là “Mít-tờ (Mister) Nguyen!”

Còn Sài Gòn và Bến Nghé (là cái bến mà người ta thường cho trâu, bò ra tắm) chỉ là một mà thôi!

Sài đọc theo âm ‘Prei’, tiếng Khmer, nghĩa là rừng. Gòn là bông gòn. Như vậy Sài Gòn là Rừng cây bông gòn.

Ông bà mình hồi xưa từ miền Trung vào miền Nam khẩn hoang, đến vùng đất mới nào, thấy có nhiều loại cây hơn chỗ khác thì lấy tên loại cây đó đặt tên cho vùng đất mới.

Chính vì vậy mình mới có các địa danh dễ thương như: Gò Cây Mai, Gò Sao, Gò Cây Quéo và Gò Vấp…

Cây Da (miền Bắc gọi là Cây Ða) nổi tiếng với địa danh Cây Da Xà. đường Da Bà Bầu… (Cây Da có nhà bà tên Bầu, chớ hổng phải da của bà đang mang bầu đâu nhe!) gần nhà ông Trường Kỳ nhạc trẻ…

Rồi Cây Ðiệp, Cây Gõ, Cây Vông… đến Chợ Vườn Chuối, Chợ Rẫy, Chợ Ðệm, Chợ Cây Ðiệp…

Kinh rạch cũng mang tên các loài cây như: Rạch Bàng, Rạch Chiếc hay Hóc Môn (Rạch nước nhỏ có cây môn nước) hoặc Mười tám thôn Vườn Trầu, suối Lồ Ô (bà con với cây tre, cây trúc)

o O o

Nhà thơ Bùi Giáng có câu: “Hỏi rằng: người ở quê đâu? Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà!”

Mình đang ở Sài Gòn mà có người hỏi quê đâu? Sanh đẻ ở đây, lớn lên ở đây, mèo chuột gái gú ở đây, bị em yêu bắt làm tù binh, cũng ở đây! Rồi ăn nhậu, tụ bè tụ đảng cũng ở đây thì hỏi quê đâu là sao hè?

Tui cũng ở Sài Gòn khá lâu đó chớ, dù không liên tục nhưng gộp lại trước sau dẫu đứt khúc cũng khoảng 10 năm. Vậy mà hai thằng bạn nhậu nghe tui gáy te te là dân Sài Gòn mà quận Nhứt nữa, tụi nó cứ cười khằng khặc:“Ông chỉ là dân ở trọ đất Sài Gòn. Còn hai thằng tui là sanh đẻ ở Tân Ðịnh nè, là dân Sài Gòn chánh gốc, có trích lục thế vì khai sanh đàng hoàng do Chánh lục bộ của Tòa án cấp.”

nguyen-can-ben-nghe
                            Bảo Huân

Tuy nhiên hỏi phăng ngược lên đời trước nữa thì một đứa có ‘Thầy U’ đi tàu há mồm từ Bắc vào Nam, đứa còn lại có ‘Ba Mạ’ từ Huế, xứ thần kinh, bám xe lửa xuyên Việt vào tới Sài Gòn những năm 40.

Chính vì vậy mà hồi năm 1963, học Ðệ thất ở Petrus Ký, bạn cùng lớp tui không thấy thằng nào vỗ ngực xưng tên là ‘Made in Sài Gòn’ vì đứa nào cũng là dân tứ xứ.

Nhưng đến Sài Gòn là yêu Sài Gòn hè! Như ông nhạc sĩ Y Vân, sanh đẻ tại Hà Nội, vào Nam năm 1952, cũng khoái, nên la làng lên rằng: “Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi!” La xong còn nhảy ‘twist’ nữa mới đã!

Rồi nhà thơ Nguyên Sa, cũng người Hà Nội, vào Nam rồi cũng cảm nắng Sài Gòn.

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông

…Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết/ Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu.”

Vâng! Nắng Sài Gòn kinh lắm nhứt là vào đầu mùa Hạ, tháng Sáu, tháng Bảy.

Nhưng được cái là: nắng sớm mưa chiều! Mới nắng đó rồi bất ngờ Trời đế cho một trận mưa rào, ào ào ướt áo em yêu, ướt hết ráo cái áo dài của em may bằng vải Tetoron trắng mỏng dính.

Nên mưa Sài Gòn, (không phải tui tửng tửng với thời tiết gì đâu), là tui che dù, mặc áo mưa, dù đang ở trong nhà tạnh ráo, tui cũng ráng bò ra đường dòm, chắc bà con mình đã biết tại làm sao?

Rồi sau nầy mất nước làm thân lưu lạc, phiêu bạt quê người tới tận Melbourne nầy đây tui vẫn tự nhận mình là người Sài Gòn hè!

Mà nó đâu có chịu nằm im, cứ nhúc nhích hoài, gợi nhớ… nhứt là mỗi độ tháng Tư về.

Do đó khi ông Trịnh Công Sơn hỏi em yêu của ổng là: “Em còn nhớ hay em đã quên?” (Thì tui thấy hỏi vậy là thừa!)

Ông nhạc sĩ nầy sợ em quên, nên nhắc nhỏ em là: “Nhớ Sài gòn mưa rồi chợt nắng/ Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân? Nhớ đèn đường từng đêm thao thức…

…Nhớ đường dài qua cầu lại nối/ Nhớ những con sông nối hai dòng kênh / Nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng…”

Tuy nhiên đang bùi ngùi thương nhớ Sài Gòn thì nhạc của ổng bỗng chuyển ‘ton’ một cách lãng xẹt hè: “Em ra đi nơi này vẫn thế… Thành phố vẫn có những ước mơ/ Vẫn sống thiết tha/ Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi”

Ðang dịu dàng hỏi ‘ní’: “Có nhớ Sài Gòn không? Thì đàn đứt ngang cung, nổi khùng lên: “Em đi thì kệ em chớ! Sài Gòn vẫn thế, còn ngon hơn ngày hổng có em!”

Tới đây là tui không đồng ý với ông nhạc sĩ (gió chiều nào che chiều đó) rồi đó nhe!

Một là Sài Gòn là thủ đô chớ không thành phố (?!)… gì ráo. Hai là: Bên cạnh một Sài Gòn hoa lệ với nhà cao tầng, trang phục hàng hiệu, xe cộ sang trọng là một Sài Gòn lam lũ, nhọc nhằn của những gánh nặng trĩu trịt hai vai của người bán hàng rong, của trẻ ăn xin, bán vé số, vất vả dãi nắng dầm mưa với hy vọng tối nay đi ngủ không phải với cái bụng đói meo.

Tui đi đã mấy chục năm mà chưa trở lại Sài Gòn, nhưng có nghe nói Sài Gòn giờ là một rừng bê tông, cao ốc… Vì CS muốn Sài Gòn giống hịt Singapore.

Úy trời đất ơi! Học cái hay thì học. Học cái ngu thì học làm gì.

Lý Quang Diệu xây cái Singapore trên một làng chài hoang vắng. Còn Sài Gòn có một kiến trúc tuyệt vời đâu phải ai cũng có, người ta thèm muốn chết mà không có được… Sao cứ chơi ngu đập và đập?

Viện lý do quy hoạch như hạch, bèn chặt dãy cây dọc đại lộ Nguyễn Huệ,  trên đường Cường Ðể, đốn ngã hàng cây cao trước Quốc Hội ngày xưa…

Thực dân Pháp dẫu xâm chiếm nước ta cũng không đến mức ngu xuẩn và tàn nhẫn như vậy!

Năm 1862, sau khi chiếm Sài Gòn – Gia Ðịnh, Kiến trúc sư Pháp đã thiết kế Sài Gòn là một thành phố Vườn, một Paris nhiệt đới! Sài Gòn có Sở Thú, Vườn Ông Thượng (vườn Bờ Rô hay công viên Tao Ðàn, cũng nó đó đa! )

Ai cũng biết là năm 1868, Tây cất Dinh Norodom cho Thống đốc Nam Kỳ.  “Vườn phía sau Dinh của quan lớn dân gọi là “Vườn Ông Thượng”

(Giữa vườn có một sân gạch, nên dân gọi là “Vườn Bờ Rô” (Préau tiếng Pháp, là “sân lót gạch”).

o O o

Tía tui rất thích chụp hình. Hồi xưa Chủ Nhựt, Tía dắt Má và đám con đi Sở Thú coi khỉ hay đi vườn Bờ Rô chụp hình….

Sau nầy xa quê, ngày anh em tui xúm lại làm đám giỗ Tía Má, đem những cái hình xưa cũ còn giữ trong album ra coi.

“Nè cái hình nầy là Má bồng thằng Phương. Tao với anh Nhiên mặc quần sọt mang giày săng đan, đầu chải bảy ba. Còn con Phượng, (em gái kế tui). thì mặc áo đầm tóc quăn (uốn tóc), thoa son môi của Má, vì Ba muốn làm đẹp cho đứa con gái của mình.

Còn thằng Quân trong hình, sao mầy lại khóc?” Thì thằng em tui cười khè khè nói: “Tại lúc đó tui khát nước… mía! He he!”

o O o

Nhớ Sài Gòn! Nhớ Bến Nghé! Nhớ nhà thơ Nguyễn Ðình Chiểu trong bài thơ ‘Chạy Giặc’ “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây/ Một bàn cờ thế phút sa tay? Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/ Mất ổ đàn chim dáo dác bay/ Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Ðồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây…”

Và tui cũng tự hỏi Sài Gòn, Bến Nghé bị CS làm cho tanh bành tí bị như thế nầy mà: “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng/ Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

DXT – Melbourne

http://baotreonline.com/nguyen-van-ben-nghe/

Chuyện tình thời chinh chiến

Tràm Cà Mau

Nguoi yeu cua linh 4.jpg

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Dốc nào cao bằng dốc Nam Vang,
Đói no em chịu theo chàng,
Xuống sông ra biển lên ngàn cũng theo. (Ca dao)

Năm đó, mới chen được chân vào Đại học, thì bất ngờ Thư nhận được lệnh Động viên vào trường Sĩ quan Thủ Đức. Cánh cửa tương lai dường như khép lại. Nỗi buồn thấm thía đó có pha một chút mơ hồ của buông xuôi, nhưng lại khỏe khoắn vì từ nay khỏi phải lo lắng gì cho việc sách đèn nữa. Đời lính, sống nay chết mai, chưa biết lúc nào. Hơn nữa, bố mẹ cũng làm ăn vất vả, phải hy sinh nhiều, mới có thể hỗ trợ cho Thư theo đuổi chương trình đại học.

Tưởng hết học là khỏe ru, nhưng không phải thế. Khi đút đầu vào Quân trường mới hết hồn, tập luyện mệt nhọc đến phờ người. Nhưng rồi mấy tháng huấn luyện gian khổ nhọc nhằn cũng quen đi và qua mau.

Mãn khóa ra đơn vị, đóng quân ở tiền đồn xa xôi, chỉ mong cho tạm được bình yên, địch quân đừng quấy phá, tấn công, để khỏi phải giết nhau tranh sống. Thư nghĩ rằng, đa số người lính miền Bắc cũng mang cùng tâm trạng với Thư, không muốn bắn giết ai, nhưng bị lùa vào cuộc binh đao, thì phải chiến đấu để sống còn. Không giết đối phương, thì cũng bị địch sát hại. Chán ngán chiến tranh dài ngày. Buồn chán rồi cũng thành nhàm quen.

Một lần nằm võng trong hầm trú ẩn, một anh bạn cắc cớ hỏi Thư : “Sau này thanh bình, được trở về đời sống dân sự, thì anh định làm gì để sinh sống ?”

Thư cười đáp : “Biết có còn sống đến ngày thấy đất nước thanh bình hay không ? Nghĩ chi xa xôi cho mệt. Cuộc chiến này như không bao giờ chấm dứt được. Cứ chết hết đợt này, thì miền Bắc xua quân vào đợt khác để thí mạng. Cứ thế mà dằng dai mãi.”

Anh bạn thở dài : “Biết đâu có một ngày nào đó, chính quyền miền Bắc thấy chết chóc, phí phạm quá nhiều nhân mạng và tài lực, mà không đạt được mục tiêu, thôi gởi quân vào Nam, thì hết chiến tranh. Hoặc khối cộng sản thôi tiếp tế súng đạn, bom mìn, lương thực cho miền Bắc, hoặc Mỹ thôi yểm trợ cho miền Nam, thì thanh bình sẽ trở lại với chúng ta.”

Thư nghĩ lời của anh bạn cũng có lý phần nào. Chiến tranh mãi, rồi cũng sẽ có ngày chấm dứt. Thư hoang mang nghĩ đến tương lai mà hoảng sợ. Làm gì để sinh sống sau này nhỉ ? Không một nghề chuyên môn, chẳng vốn liếng, mà học hành thì dang dở. Thì ra, chiến tranh đã là ngõ bí, mà hòa bình, thì cũng chẳng có lối thoát cho tương lai. Rồi nhân một lần về phép tại Sài Gòn, nghe các lứa đàn em xôn xao bàn tán, Thư nhờ họ ghi danh giúp, theo học đại học Văn Khoa. Nhờ chúng mua bài in, gởi ra nơi tiền đồn. Thư quăng bài vào hầm trú ẩn, khi nào buồn, không có việc làm thì đem ra đọc, như để giải trí. Học mà chơi, không cần thi đậu hay rớt. Bài học giáo khoa cũng gần gũi với những điều hiểu biết trong sách vở mà Thư đã đọc thường ngày. Đâu có gì khó khăn đến nỗi phải đến giảng đường nghe thầy giảng dạy.

Khi nhận được giấy báo danh dự thi, Thư nhờ đó mà xin được mấy ngày phép về Sài Gòn. Cõng theo một ba-lô đầy ắp bài vở, định về đến Sài Gòn thì đóng cửa nằm đọc lướt nhanh qua, được chừng nào hay chừng đó. Biết đâu sẽ “trúng tủ”. Nhưng mới về đến nhà, thì bạn bè ào đến đến rủ rê lên phố ngồi quán cà phê, nhởn nhơ nhìn những tà áo dài phất phơ bay. Những thứ này, thiếu vắng nơi tiền đồn heo hút giữa rừng rậm núi cao. Tội gì mà bỏ qua không tận dụng thời gian quý báu này. Ngồi mãi đến khi phố chiều đã thưa người. Trên đường về, thấy bảng quảng cáo có chiếu phim hay, Thư không cưỡng lại được lòng, cùng các bạn mua vé vào xem phim mãi đến gần khuya mới về đến nhà. Tắm rửa xong thì trời đã khuya, Thư đem bài ra đọc, chỉ mới được hai trang thì ông em bày bàn cờ tướng, hắn nói :

“Làm vài ván đi anh Thư. Học chi giờ này nữa !”

“Thôi, để kiếm vài ba chữ, lỡ mai vào thi trúng tủ, có chút gì mà viết”

“Chơi một ván thôi, xem dạo này trình độ cờ tướng của anh có khá hơn trước không ! Ở nơi tiền đồn, chắc anh luyện cờ kỹ lắm.”

Thư quăng tập bài xuống bàn nói : “Ừ, chơi thì chơi. Sợ chi. Mai vào thi đánh võ tự do. Đậu rớt đâu có quan trọng.”

Thư và chú em, khui hai chai bia, bày thêm một đĩa tôm khô củ kiệu, ngồi hai bên bàn cờ, chăm chú điều quân khiển tướng. Lên xe, qua pháo, nhảy mã, say sưa chơi ván này qua ván khác, mãi cho đến hơn ba giờ sáng, Thư giật mình gạt bàn cờ nói to:

“Bạy thật, đáng ra phải đi ngủ sớm để ngày mai có sức, tỉnh táo mà làm bài. Thôi đi ngủ.”

Vào giường, cái đầu Thư cứ nóng bừng bừng, hình ảnh mấy con cờ cứ hiện ra mãi, rồi trăn trở, không chợp được mắt. Cho đến khi gần sáng, thì chìm vào giấc ngủ vùi ngon lành, mê man không biết gì nữa, đến nỗi không nghe cả tiếng chuông đồng hồ báo thức. Khi tỉnh giấc, thì nắng đã lên cao. Thư giật mình, rửa mặt đánh răng qua loa, rồi xách xe chạy vù ra đường. Thấy đã trễ giờ, khó đến kịp phòng thi, đường lại kẹt xe. Thư định quay về, nhưng cứ tà tà lướt tới. Đi đâu bây giờ? Hay là vào quán kiếm gì ăn sáng cho đỡ đói bụng. Cứ suy nghĩ mông lung, cho đến khi đã dừng xe trước cổng trường Văn Khoa. Sân trường đầy cả xe mà vắng bóng người qua lại. Thư khóa xe, lững thững đi vào xem thử trường ốc ra sao, vì cũng chưa hề đến đây một lần. Khi vừa đặt chân lên hành lang, Thư thấy một thiếu nữ duyên dáng trong áo dài màu vàng nhạt, tóc xõa dài hai bên bờ vai, mắt nâu sáng long lanh, chiếc mũi thon, làn da trắng mịn màng. Ngẩn ngơ vì cái nhan sắc thanh thoát đó. Thư dừng lại, chìa tờ phiếu báo danh ra cho thiếu nữ để làm quen, và nói :

“Cô làm ơn chỉ giúp tôi phòng thi ở nơi nào. Tôi đến trễ, chắc giám thị không cho vào lớp.”

Cô gái giật lấy tấm giấy báo danh, nhìn thoáng qua, rồi nắm lấy tay Thư dắt chạy về hướng cầu thang, rồi kéo chạy thẳng lên lầu. Tiếng guốc gõ lóc cóc trên sàn xi-măng rộn rã. Thư mê mẩn người, tim đập dồn dập, bàn tay như lâng lâng trong lòng tay mềm mại, và ngoan ngoãn chạy theo cô gái, tóc cô bay dạt ra sau, thoang thoảng mùi hương. Khi đến đúng phòng thi, cô dúi lại tấm giấy báo danh vào tay Thư, và đẩy vai chàng vào lớp. Thư đứng lại nhìn cô và nói :

“Tôi không thể thi được nữa ?”

“Sao thế ?” Cô gái tròn mắt ngạc nhiên.

“Cô kéo tay tôi mạnh quá, sái tay rồi. Không viết được nữa !”

Cô gái vụt nâng tay Thư lên và nói: “Đâu, đưa xem, để tôi chữa cho” – Rồi chu miệng thổi phù một cái, nói tiếp: “Lành rồi đó nhé! Vào thi đi. Ráng làm bài cho khá, thi đậu về đòi mẹ thưởng quà !”

Không dám lần khần hơn, Thư ấp úng cám ơn. Thầm nghĩ giá như phòng thi còn xa hơn nữa, hoặc được bàn tay mềm mại đó, nắm chạy không bao giờ ngưng nghỉ, thì hạnh phúc biết bao. Thư chẳng tha thiết chuyện thi cử nữa, mà muốn quay ra, đi theo cô gái, hỏi tên xin làm quen, nhưng lại sợ cô hiểu lầm.

Giám thị phòng thi phát giấy và chỉ ghế ngồi cho Thư. Tất cả thí sinh trong phòng đang im lặng chăm chú làm bài. Thư như người mất hồn, ngẩn ngơ, ngồi nhìn lên trần, và tiếc đã không bỏ phòng thi để đi theo người thiếu nữ duyên dáng đó mà làm quen. Trễ mất rồi. Thư chép đề bài ghi bằng phấn trắng trên bảng màu xanh lục: “Văn học Việt Nam từ năm 1929 trở lại.” Thư thầm bảo, dễ ợt, chỉ là kiến thức phổ thông của người có đọc sách báo. Không biết bài học của giáo sư viết gì về vấn đề này, nhưng Thư chắc chắn làm bài được, có thể thiếu sót, nhưng không lạc đề. Tay thì viết lia lịa, mà đầu óc cứ vẩn vơ nghĩ về thiếu nữ, Thư ghi nhanh những ý tưởng thoáng qua đầu mà không viết nháp. Ráng viết cho đầy bốn trang giấy, làm xong kết luận, rồi đem nộp bài, để chạy vội ra, mong tìm được người đẹp đã nắm tay và làm Thư mê mẩn. Khi đưa bài làm cho giám thị phòng, Thư nhìn vào bài nộp của một thí sinh khác, và khám phá ra người này có đề thi không giống như đề ghi trên bảng. Thư hỏi nhanh :

“Thế thì có hai đề thi mà tôi không biết, tôi chỉ làm đề ghi trên bảng mà thôi”

Vị giám thị ngẩn ngơ và nói : “Ai bảo anh làm bài theo cái đề ghi trên bảng ? Đó là đề của khóa thi ngày hôm qua mà!”

Cả phòng thi cười ầm lên khi nghe lời thầy giám thị. Thư thất vọng và giận, nói gằn giọng :

“Không ai cho tôi biết đề thi, thì tôi làm theo đề ghi trên bảng. Tại sao không xóa đề cũ đi, để cho người khác hiểu lầm? Tôi xin hỏi thầy, tại sao không cho tôi biết đề thi ?”

Vị giám thị điềm đạm trả lời : “Đề thi tôi đã kèm trong tờ giấy nháp phát cho anh đó”.

“Ôi trời ! Có bao giờ tôi viết nháp đâu ! Luận văn mà viết nháp thì lấy thì giờ đâu để làm bài ? Thầy hại tôi rồi !”

Vị giám thị phòng nhìn đồng hồ, rồi đưa cho Thư một tờ giấy thi mới, nói :

“Thời gian còn gần một giờ rưỡi nữa. Thôi anh ráng viết một bài ngắn, gọn, súc tích, chắc cũng kịp.”

Thư chán nản trở về ghế ngồi, và mở tờ giấy nháp ra, đọc đề thi: “Lĩnh Nam Chích Quái là một tác phẩm nhân dân và của nhân dân.” Đề thi này do giáo sư linh mục Thanh Lãng soạn. Thư mơ hồ như đã đọc tác phẩm này từ thời còn học tiểu học. Ngồi yên lặng, và ráng nhớ lại xem, đây là cuốn sách gì, viết chuyện gì. Nghĩ mãi không ra, mà thời gian thì cấp bách. Thư quay qua cô thí sinh ngồi bàn bên cạnh, lên tiếng xịt xịt làm dấu rồi hỏi nho nhỏ :

“Này cô, Lĩnh Nam Chích Quái là cái mốc khô gì hở cô ?”

Nghe hỏi, cô gái không nhịn được cười, hai vai rung rinh bần bật, và cười thành tiếng khúc khích nho nhỏ. Cô đáp :

“Đừng làm tôi tức cười, viết bài không được. Gần hết giờ rồi mà hỏi ngớ ngẩn.”

Thư thì thầm : “Có phải là tập chuyện cổ tích không ?” Cô gật đầu. Thư hỏi nhỏ tiếp: “Có chuyện Tấm Cám không?” Cô lắc đầu. “Có chuyện Hồng Bàng không ?” Cô gật đầu. “Có chuyện Phù Đổng không ?” Cô gật đầu. “Có chuyện Bánh Chưng, Dưa hấu, Rùa vàng không ?” Cô gật đầu ba lần. Thư cám ơn, rồi cắm cúi viết bài. Tưởng gì, chứ Lĩnh Nam Chích Quái gồm 24 truyện truyền kỳ của dân gian, không chắc ai là tác giả. Thư cứ viết thao thao bất tuyệt. Khi hết giờ, cả lớp đã ra khỏi phòng thi, chỉ còn mình Thư, ráng viết cho xong đoạn kết luận, thầy giám thị phòng kiên nhẫn đứng chờ.

Trên sân trường, xe đã thưa thớt, Thư chưa về vội, nhẩn nha đi loanh quanh qua các hành lang, với hy vọng mong manh sẽ gặp được nàng, người con gái tử tế yêu kiều đó. Tại sao không lạc quan tin tưởng. Cứ tin tưởng, rồi sẽ thành, biết đâu. Đi quanh vài ba vòng, khi trường ốc đã vắng người, Thư chán nản uể oải ra về.

Hôm sau, Thư đến phòng thi thật sớm, đi quanh sân trường, hành lang, mắt láo liên tìm kiếm, bây giờ mục đích chính không còn là tiếp tục kỳ thi, mà đi săn tình cảm. Không tìm ra tung tích người, Thư dò hỏi bạn bè, mô tả người con gái áo lụa vàng, mảnh khảnh, da trắng, tóc thề dài. Trong cái trường Văn Khoa này, có cả mấy trăm cô cùng nhân dạng đó. Mấy ngày phép còn lại, sáng chiều nào Thư cũng đến khuôn viên đại học Văn Khoa kiếm tìm. Sân trường mùa hè vắng vẻ làm Thư thêm buồn nhớ.

Về lại đơn vị, Thư lấy giấy phác họa dung nhan người thiếu nữ đó, treo trong hầm trú ẩn. Mỗi lần vào ra, nhìn cho đỡ nhớ nhung. Bạn bè cười đùa chế nhạo, Thư nói đùa : “Biết đâu người đẹp trong tranh, sẽ rời tường và xuống nói chuyện tâm tình đêm đêm.”

Sau một lần đụng trận nặng, Thư bị thương, về nằm bệnh viện Cộng Hòa gần hai tháng, rồi được bổ sung về một đơn vị Địa phương quân tại Biên Hòa. Hàng tuần, Thư chạy đi chạy về con đường Biên Hòa-Sài Gòn, khi nào cũng hớn hở ghé ngang qua trường Văn Khoa. Thỉnh thoảng ngồi uống nước, nhìn đám sinh viên trẻ cười đùa hạnh phúc, và vui lây với cái sung sướng của họ. Có khi Thư vào các lớp đang học, đứng cửa sau nhìn lên, tìm hình dáng nàng, nhưng rồi buồn bã ra về. Vài người bạn biết chuyện, khuyên Thư đừng đi mò kim đáy biển, nên tìm một bạn gái khác. Đời này thiếu chi người dễ thương, tốt lành, mà chắc chi cô gái trong mộng của Thư đã không neo thuyền bến khác rồi.

Rồi một hôm, Huy là bạn thân, chèo kéo, muốn dẫn Thư đến giới thiệu cho một người bà con. Huy nói : “Có năm chị em, tuổi tác sàn sàn nhau, con nhà đàng hoàng gia giáo, khá đẹp, tính tình ôn nhu hòa nhã, tha hồ mà lựa chọn. Vấn đề là tùy theo tài ăn nói của cậu mà thôi.”

Thư lắc đầu, vì nhất quyết tin rằng, sẽ gặp lại được người con gái hôm cũ, không muốn dây dưa tình cảm lang bang, chẳng muốn quen biết với ai nữa cả. Sau một lần đi uống cà phê, trên đường về nhà, Huy bảo Thư :

“Tôi có việc vào nhà quen một chốc, cậu ráng chờ chừng hai mươi phút. Hay là đi theo tôi cho tiện, khỏi đứng phất phơ bên đường.”

Thư lặng lẽ đi theo Huy. Vào trong, thấy cả nhà ngồi quanh bàn, đang ăn cơm chiều, Thư giật thót mình, suýt la lên một tiếng ngạc nhiên. Vì thấy cô gái mà mấy lâu nay Thư tuyệt vọng kiếm tìm ngồi đó, mặt hướng ra phía cửa. Tim Thư đập mạnh, hơi thở dồn dập. Bà mẹ trong gia đình nói :

“Tiếc quá, bữa cơm đã gần xong, nên không dám mời hai anh cùng ăn cho vui. Mời hai anh ngồi” – Rồi quay qua nói với cô con gái – “Con pha trà mời khách giúp mẹ.”

Huy nói lớn : “Thôi, nước nôi làm chi, chúng tôi mới đi uống cà phê về. Đây là anh Thư, bạn học cũ, mà cũng có thời cùng đơn vị. Chúng tôi đi qua đây, tiện đường ghé thăm, và cũng định nhờ anh Năm một việc nhỏ.”

Hình như cô gái chưa nhận ra Thư, hoặc hôm trước, vì gấp gáp bận chỉ đường, mà không nhìn kỹ người cô giúp đỡ. Một thoáng buồn gợn qua trong Thư vì cái vô tình của cô. Quanh bàn ăn, có bố mẹ và năm chị em suýt soát nhau, khó biết cô nào chị, cô nào em. Các cô đều duyên dáng, mặn mà, mỗi người mỗi vẻ. Huy giới thiệu năm cô theo thứ tự: “Hai Huệ, Ba Trúc, Tư Cúc, Năm Hường, và Sáu Lài”. Thư nhìn cô Ba Trúc thật lâu, như nhắn hỏi có còn nhớ gì không ? Sợ các cô rút lui vào phòng sau, Thư nhìn thẳng vào cô Ba Trúc, và nói :

“Nhân dịp gặp nhau lại nơi đây, tôi xin cám ơn cô Ba Trúc một lần nữa, ngày đó đã sốt sắng chỉ cho tôi phòng thi khi tôi đến trễ. Không có cô, chắc tôi đã bỏ kỳ thi mà ra về rồi. Tôi cứ nhớ đến cô mãi, mong tìm gặp được thêm một lần, để nói lời tạ ơn.”

Cô Trúc tròn mắt ra nhìn thẳng vào Thư, cười rất tươi và nói :

“Ủa, thì ra người đó là anh ?” Mặt cô ửng hồng.

“Vâng, chính tôi. Cô sốt sắng làm tôi cảm động, cứ nhớ mãi. Sau này trở lại trường Văn Khoa nhiều lần, mong tìm gặp mà không thấy.”

Thư kể tiếp cho cả nhà nghe, hôm đó làm lộn đề thi ngày trước. Mọi người cười vui.

Từ đó, thỉnh thoảng về phép, Thư ghé thăm Trúc, ban đầu ngồi nói chuyện văn chương trong phòng khách, rồi hẹn hò đi xem chiếu bóng, đi ăn tiệm, ghé quán ven đường chung uống trái dừa tươi, cùng ra phố mua sách, ngồi quán cà phê nghe nhạc… Nhiều hôm Thư đến giảng đường ngồi bên nhau trong giờ học, mà bút đàm liên miên, mặc cho Giáo sư khan cổ giảng bài. Tình yêu đâm chồi nảy lộc xanh tươi.

Tình yêu càng sâu đậm, thì Thư càng thấy buồn, trong lòng xót xa khi nghĩ đến mạng sống bấp bênh của đời lính chiến, mà bom đạn thì càng ngày càng khốc liệt. Lẽ nào để cho người yêu thành góa phụ bơ vơ. Thư đem ý nghĩ này nói với Trúc, nàng khóc, những giọt nước mắt lăn dài trên má làm xót xa lòng người chiến binh. Một lần Trúc nói :

“Nếu ai cũng nghĩ như anh, thì bọn con gái chúng em đều không thể có chồng cả hay sao? Chiến tranh thì cứ chiến tranh, chết chóc thì cứ chết chóc, con trai vẫn cưới vợ, con gái vẫn lấy chồng. Không may thành góa phụ, cũng phải cam chịu mà thôi. Thanh niên thời này, ít ai thoát được cái áo lính.”

Trầm ngâm, Thư nói trong đau xót : “Anh không muốn là kẻ vô trách nhiệm, làm dang dở đời em, vì anh yêu em, tình yêu dâng hiến không vị kỷ. Anh muốn em có được đời sống vẹn toàn.”

Trúc cười buồn : “Nếu phải lập gia đình, thì em kiếm đâu ra một người không là lính ? Rồi nếu chẳng may, thì cũng thành góa phụ. Tại sao chúng ta không kết hợp, và cứ chấp nhận cái may rủi của tương lai. Em sẽ chấp nhận gánh chịu rủi ro.”

Thư thở dài : “Chiến tranh ác độc thật. Làm tắt ngúm bao nhiêu mộng ước đơn sơ hiền hòa. Con mất cha, vợ mất chồng, bao nhiêu là tan tác, khổ đau.”

Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết, thiên hạ vui mừng vì tưởng chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng không, miền Bắc vẫn chuyển quân ồ ạt vào Nam. Tiếng súng vẫn nổ đều đều khắp nơi như khi chưa ký kết hòa ước. Miền Bắc kiên trì, và quyết tâm thôn tính cho được miền Nam. Thư bị thương tích một lần nữa trong lần Bắc quân tấn công định phá cây cầu do đại đội Địa phương quân canh phòng. Pháo địch như mưa lên hầm trú ẩn. Thư chỉ huy Đại đội, đẩy lui nhiều đợt tấn công ào ạt. Nhờ trọng pháo yểm trợ, địch cay đắng rút lui khi trời gần sáng. Buổi sáng, xác địch ngổn ngang bên ngoài, toàn là trẻ con mang áo quần bộ đội, nhiều thân thể trần truồng, mà háng còn chưa mọc lông măng. Nhìn xác địch mà lòng Thư tan nát, nước mắt chảy dài thương cảm đám trẻ em vô tội, bị xua vào chiến trường thí mạng, cho cuồng vọng u mê.

Khi Thư và Trúc tính đến chuyện cưới hỏi, thì miền Nam mất. Thư đi tù cải tạo. Tưởng đi “học tập” hai tuần rồi về như thông cáo. Trúc hy vọng, từ nay hai người sẽ mãi mãi bên nhau, xây đắp tương lai trong một đất nước thanh bình sáng ánh tương lai. Nhưng rồi dân miền Nam biết bị đánh lừa, tù tội khổ sai được mang mỹ từ là Học tập cải tạo. Trong tù đói khát, thất vọng, không biết ngày về, Thư mừng vì còn độc thân, chưa có vợ con, chưa trách nhiệm. Những tù nhân khác, ngoài nỗi cực nhọc, lo âu cho bản thân, còn có mối lo lớn khác gởi ra ngoài trại tù, thành những tiếng thở dài đêm đêm, là vợ con làm sao mà sinh sống, ai chăm sóc nuôi nấng trong xã hội mới đầy khó khăn này ? Thỉnh thoảng, Thư cũng nghĩ đến Trúc, đến những kỷ niệm đẹp đẽ êm đềm của thời tuổi trẻ, tình yêu tô thắm ý nghĩa cho tháng ngày dễ thương đó. Thư thấy quyết định đã giữ thế độc thân trong thời chiến là sáng suốt, dù bây giờ, không ai thăm nuôi, tiếp tế thực phẩm, thuốc men. Nhưng Thư lại thấy tinh thần khỏe và nhẹ nhàng hơn bạn bè khác, họ biết vợ con trăm ngàn khổ cực, đói khát, thiếu thốn bên ngoài, mà còn phải chia cơm xẻ áo cho kẻ nằm trong tù. Bây giờ, có chết đi cũng thôi, khỏe, khỏi phải chịu đựng đọa đày dài ngày. Không vợ, không con, không trách nhiệm, chỉ tội cho người yêu ôm mộng tình dang dở.

Năm năm tù trôi qua nặng nề, thân tàn ma dại, Thư được tha về. Tưởng như đã chết rồi lại được hồi sinh. Chưa kịp mừng vì thân xác thôi bị quản thúc, thì công an khu vực đến nhà, đuổi đi kinh tế mới theo chính sách của nhà nước.

Thư đến thăm gia đình Trúc. Hai người ôm nhau cùng khóc trong nỗi niềm vui mừng gặp gỡ. Bố mẹ và năm chị em Trúc xanh xao, mặt dài ra, trong ánh mắt không còn niềm vui, tinh anh hạnh phúc như thuở nào. Cả năm chị em vẫn phòng không chiếc bóng. Thư hỏi lý do, chị Hai Huệ thở dài chua chát :

“Thời buổi này, chẳng còn thanh niên ngu dại nào dám xâm mình cưới vợ. Tương lai đen kịt trước mắt. Khó khăn, đói khổ hành hạ, kiếm cho ra miếng bỏ vô dạ từng ngày chưa xong. Đời sống lại bất an. Bị đe dọa thường trực. Lấy nhau để đem nhau vào ngõ cụt sao ! Quan trọng hơn hết là đàn ông cùng trang lứa, đã chết nhiều trong cuộc chiến tranh dài, lớp còn lại thì rủ nhau đi tù, chạy dạt ra ngoại quốc lánh nạn. Thanh niên trong tuổi lập gia đình trở thành hiếm hoi, khó tìm. Bọn con gái tụi này, không còn đàn ông để nghĩ đến, mà có nghĩ đến, cũng sợ hãi tương lai. Lấy nhau để đem lại khổ đau cho nhau, và sinh con ra, cho chúng đói rách lầm than, cũng là một cái tội lớn. Chắc rồi bọn con gái tụi em sẽ chết già không chồng cả thôi anh ạ.”

Thư đùa : “Thế thì, còn mấy anh Cán bộ miền Bắc đó.”

Cô Hai Huệ cười lớn : “Cán bộ miền Bắc, cán bộ miền Nam, ô hô, bọn họ cũng đã chết như rạ trên rừng Trường Sơn, chết gần mười lần hơn Quân đội miền Nam mình. Vả lại, anh nào may mắn còn sống sót, thì cũng mặt bủng da chì vêu vao, và đã có vợ có con ở đâu đó rồi. Ăn nói dóc láo hơn Cuội. Nói láo không biết ngượng miệng. Lại xoi mói ti tiện nhỏ nhen. Bọn con gái tụi em, chỉ có đứa nào mặt mày chai đá lắm, mới dám muối mặt giao du thân mật với bọn họ. Anh có nghe câu ca dao thời đại :”

“Trai miền Nam như chim oanh vũ.
Trai miền Bắc như lũ khỉ rừng xanh.
Gái miền Nam như cành liễu rũ,
Gái miền Bắc như củ khoai sùng.
Chim oanh vũ đậu cành liễu rũ.
Lũ khỉ rừng xanh ngậm củ khoai sùng.”

Thà chết già không chồng, còn hơn là…

Thư cười cắt ngang : “Chim oanh vũ đã bị vặt lông, bẻ cánh đem ướp muối nướng hết cả rồi cô Huệ ơi. Buồn thay cho những cành liễu rũ. Thời đại bao tử trống rỗng này, củ khoai sùng cũng còn có chút ích lợi.”

Trúc và mấy cô em đồng hỏi : “Thế thì anh có dám ngậm củ khoai sùng không ?”

Thư lắc đầu : “Thà chết còn hơn.”

Thư không có hộ khẩu Thành phố, sống bất hợp pháp bằng giấy tờ giả do công an bán ra. Lang thang tạm trú nay đây mai đó. Đạp xe thồ, ngày có khách ngày không, cũng đói rách đắp đổi qua thời gian. Những khi có dư chút tiền, đến chở Trúc đi chơi, ngồi bên bờ sông chuyện trò, uống chung ly nước ngọt, chia nhau miếng bánh, củ khoai. Tình yêu như sương như khói. Cả hai, đều không dám nghĩ đến tương lai xa hơn ngày mai.

Trúc nói : “Tương lai của đất nước này đã đen như mõm chó, nhưng sẽ còn đen tối hơn, còn gian khổ hơn nữa. Đây chưa phải là tận đáy của địa ngục như người ta tưởng. Phải đi ra miền Bắc một lần, thấy tận mắt, nghe tận tai, tâm sự của những người thân ngoài đó, mới nhận thức đứng đắn hoàn cảnh đất nước hơn. Họ cho rằng, chúng ta đã sung sướng thế này, mà còn kêu ca, họ không hiểu nổi.”

Trúc nắm chặt tay Thư nói : “Giá như chúng ta đi vượt biên được, thì mọi sự đều giải quyết dễ dàng. Chúng ta sẽ xây dựng lại tương lai hạnh phúc, và nuôi nấng con cái cho thành người hữu dụng.”

Thư thở dài thành tiếng lớn. Bữa đói, bữa no, lo cho cái dạ mỗi ngày chưa xong, lấy đâu ra vàng để đi vượt biên.

Một lần Thư và Trúc ôm nhau trong căn phòng vắng. Hạnh phúc chan hòa. Quên hết cả trời đất. Trúc thúc dục :

“Thương em đi anh ! Giữ gìn để làm chi nữa ! Cả đất nước, cuộc sống, tương lai, đều mất sạch rồi. Còn gì để tiếc ?”

Siết chặt Trúc trong vòng tay, Thư thì thầm : “Anh có bổn phận giữ gìn cho em. Anh không thể làm tổn thương em được.”

Trúc gục mặt vào ngực Thư và khóc rấm rứt.

Hai hôm sau, Trúc đến tìm Thư và hớn hở báo tin mừng: Gia đình Trúc được nước Pháp chấp nhận cho đi tỵ nạn, vì trước đây, có thời gian bố Trúc đã làm việc cho một công ty người Pháp. Thư mừng, ôm Trúc và hôn tới tấp. Thư thì thầm:

“Mừng em thoát khỏi địa ngục trần gian. Trên đất nước này, con người còn thua con vật. Sống còn tệ hơn chết. Mừng em sẽ được tái sinh, làm lại kiếp con người có nhân cách xứng đáng.”

Trúc và Thư gặp nhau đều đặn hơn trong thời gian chờ đợi đi Pháp. Trong lòng Thư vui sướng hân hoan, vì Trúc sẽ thoát, nhưng đôi khi cũng buồn thấm thía vì sắp đến ngày chia cách đôi đường.

Trúc hớn hở theo gia đình đi Pháp tỵ nạn. Tự do quan trọng hơn tình yêu, hơn cả mạng sống. Thư ở lại quê nhà, cũng quay quắt tìm đường vượt thoát, nhưng chẳng thành công. Nguyên nhân chính là yếu kém tài chánh và thiếu may mắn.

Rồi chương trình nhân đạo H.O của Mỹ cũng đem Thư ra khỏi thiên đường xã hội chủ nghĩa. Ra đi bằng đường hàng không, yên lành, an toàn, không bị truy lùng bắt bớ, chẳng lo bão tố hoặc hải tặc Thái Lan. Xem như trời đãi, được đền bù những khổ nạn đã trải qua trong bao năm dài.

Hai năm sau ngày đến Mỹ, Thư đã tạm ổn định cuộc sống nơi miền đất mới, vô tình biết được tin tức của Trúc. Nàng vẫn phòng không chiếc bóng. Trước đây, Trúc tưởng phụ nữ cứ ra khỏi Việt Nam, muốn lập gia đình, là chọn được ngay những ông chồng đàng hoàng, giàu có, tử tế. Nên Thư không dám liên lạc, sợ khuấy động cuộc sống yên lành của gia đình Trúc.

Thư quyết định đi thăm Trúc. Xin phép nghỉ hai tuần. Thuê khách sạn tại Quận 13 Paris. Nghỉ ngơi một hôm cho lại sức, rồi thăm thành phố Paris mà lòng cứ nôn nao nghĩ đến Trúc. Không biết sau bao nhiêu năm, Trúc bây giờ ra sao. Không biết gặp lại nhau, có ngỡ ngàng thất vọng, hay tình cảm ngày xưa đã phai nhạt theo thời gian cách xa. Trong trái tim Thư, tình cảm dành riêng cho Trúc vẫn đầy ắp.

Một ngày trời âm u gió lộng, Thư đi bộ đến tận ga Universitaire, bắt chuyến tàu đi về hướng nam thành phố. Mua vé xuống ga Massy Palaiseau. Con tàu vừa khởi hành thì mưa như xối nước quật xuống ào ào. Thư nhìn ra cửa kính, thấy cây cối vật vã, mưa xóa mờ cảnh vật. Con tàu lầm lũi chạy trong mưa xối xả và gió thốc từng hồi. Trời đất đẹp và buồn, nhưng lòng Thư thì hân hoan rộn rã.

Ra khỏi ga Massy Valeseau, mưa đã nhẹ hạt, Thư che dù đi bộ thêm chừng mười lăm phút đến đường Gustave Flaubert, có khu chung cư mà gia đình Trúc cư ngụ. Hồi hộp bấm chuông. Cửa mở ra, Trúc đón Thư với nụ cười rạng rỡ, hai vòng tay ôm choàng lấy nhau, nước mắt vui mừng rưng rưng. Tưởng như nằm mộng, họ ôm nhau không rời.

Một hồi lâu, tiếng Hai Huệ nhắc nhở : “Thôi, vào ăn đã chứ, thức ăn nguội rồi đó.”

Thư bắt chước Tây, ôm từng cô một, cọ má, rồi chúm môi hôn gió, phát ra một tiếng “chụt”. Định hỏi thăm sức khỏe bố mẹ các cô, nhưng Thư thoáng thấy hình ông bà trên bàn thờ.

Trên bàn đã bày đầy các món ăn. Trúc kéo ghế cho Thư và ngồi bên cạnh ríu rít chuyện trò. Năm chị em gái, tóc đều muối tiêu, chưa ai lập gia đình. Họ ở với nhau hòa thuận, an vui với cuộc sống đơn giản.

Trong bữa ăn, năm chị em tranh nhau nói cười vui nhộn, trêu chọc nhau không ngớt. Bữa ăn kéo dài gần hai giờ. Sau khi ăn xong, dọn bàn, mỗi người một việc. Thư thấy năm chị em đứng sắp một hàng dài cùng rửa bát đĩa. Người đầu gạt bỏ thức ăn thừa, chuyền qua cho ngưòi thứ hai sát xà-phòng, rồi giao cho người thứ ba xối nước, người thứ tư tráng nước sạch, người thứ năm lau khô và xếp vào tủ. Họ vừa làm việc, vừa kể chuyện ríu rít. Thấy Thư nhìn với đôi mắt ngạc nhiên, một cô giải thích :

“Ban đầu tụi em chia nhau rửa bát, mỗi người trách nhiệm một ngày. Nhưng rồi cũng thấy không công bằng, vì có ngày nhiều, có ngày ít. Vả lại, làm một mình không vui bằng rửa tập thể. Luân phiên đứng trong hàng, không ai phàn nàn ai được cả.”

Thư nói : “Thấy mấy chị em vui vẻ hạnh phúc quá. Chắc các cô không bao giờ biết buồn. Sống chung với nhau, vui thế này, nên không ai muốn lập gia đình cũng phải.”

Cô Lài cười : “Không phải chẳng muốn lập gia đình đâu anh ạ. Ai cũng muốn có chồng, nhưng tìm không ra người xứng đôi vừa lứa. Vả lại, chúng em cũng đã quá tuổi xuân thì, mà lại làm cao, không chịu lấy những người thấp kém. Chỉ có chị Trúc khóa cửa buồng tim chờ đợi người tình lý tưởng.”

Trúc mắng em; “Con khỉ ! Mầy biết gì mà nói ?”

Cô Hai Huệ đùa : “Năm chị em tôi lập thành một nội các thu hẹp. Tôi là bộ trưởng Nội Vụ, lo tổng quát việc gia đình, giữ an ninh trật tự, phân xử các bất đồng. Trúc là bộ trưởng Kinh Tế Tài Chánh, lo giữ tiền bạc, ăn tiêu trong gia đình, làm sao cho tiền đừng thiếu, và khi có thừa thì đầu tư. Cúc là bộ trưởng Giao Thông, lo việc chuyên chở, lái xe cho cả nhà, trách nhiệm nặng nề và vất vả nhất. Hường là bộ trưởng Kiến thiết, khi nhà có gì hư hỏng, cần sửa chữa tu bổ, thì tìm người lo giúp, tưởng là nhẹ, nhưng công việc cũng lu bu lắm. Còn Lài là bộ trưởng Thông Tin Văn Hóa, lo mua các máy móc như truyền hình, máy vi tính, điện thoại cầm tay, băng nhạc, đĩa, kinh, sách, truyện. Làm sao cho các sinh hoạt giải trí được vui nhộn quanh năm, không nhàm chán.”

Trúc nhìn qua Thư và hỏi : “Nếu có anh Thư gia nhập nội các này, thì nên bổ nhiệm cho anh bộ nào đây ?”

Cô Huệ đáp liền : “Bộ trưởng không bộ nào. Anh chấp nhận việc bổ nhiệm nhé !”

Đêm đó, cả sáu người ngồi bên bàn dài, hàn huyên tậm sự. Uống hết hai chai rượu vang ngọt, mấy đĩa bánh khô lạt cùng hộp phó-mát mặn mùi nồng nặc. Mấy bình trà thơm và cà-phê cứ châm thêm mãi. Các cô thay phiên nhau kể chuyện về những ngày vui xưa, thời tóc còn xanh màu, những gian khổ khó khăn đói khát trong giai đoạn miền Bắc cai trị, và những vui buồn thời mới đến quê hương mới tỵ nạn. Rồi thay phiên nhau ca hát. Thư cũng tham gia, hát mấy bài tình ca. Khi Trúc yêu cầu đọc thơ, Thư hứng khởi, ngâm nga :

“Một lần anh chợt nhớ
Tiếng thì thầm của sông,
Nước từ nguồn bỡ ngỡ,
Xô nhau về biển đông.
Dòng sông từ muôn thuở
Gọi mời người ruổi giong.
Một lần trời bão tố,
Máu đổ quê hương hồng.
Tưởng không ngày hội ngộ.
Năm châu bước phiêu bồng.
Gặp nhau như phần số !
Trời dành nỗi chờ mong.
Không gian nào đau khổ ?
Thời gian nào viễn vông ?
Xót xa hồn cổ mộ
Tay ôm kín hai vòng.
Nước mắt chưa lần đổ,
Đã tràn đầy mênh mông
A ha! Đời bể khổ.
Mê mải vòng sắc không.”

Cuộc vui hàn huyên kéo dài cho đến gần sáng. Trúc và Cúc nhường phòng cho Thư ngủ. Nằm thao thức chưa chợp mắt được, Thư nghe tiếng cửa phòng mở nhẹ, Trúc dè dặt bước, luồn tay vào tóc Thư, rồi nằm xuống bên cạnh. Hai vòng tay ôm nhau khắng khít. Những nụ hôn êm ái, nhẹ nhàng. Trúc thì thầm bên tai Thư : “Từ nay, chúng ta mãi mãi có nhau. Không còn gì ngăn trở được nữa. Cám ơn Trời đất cho đem anh đến cùng em.”

Im lặng một lúc, Thư nói khẽ vào tai Trúc : “Chậm rồi Trúc ạ, Anh bị ung thư đến thời kỳ cuối. Bác sĩ bảo anh không còn sống hơn được sáu tháng nữa.”

Trúc bật khóc nức nở : “Trời ơi, sao duyên phận em hẩm hiu đến thế này ?” – Bỗng Trúc vùng dậy, nắm hai vai Thư mà lắc và nói với giọng quả quyết – “Không, Còn nước thì còn tát. Anh phải sống, để sống với em. Em không thể mất anh được. Cứ tin tưởng rồi phép lạ sẽ đến. Không có quyền tuyệt vọng.”

Trúc theo Thư về Mỹ.

Trước đây, Thư không muốn chịu xạ trị cũng như hóa trị để kéo dài đau đớn trước khi lìa đời. Bởi rồi thế nào cũng phải chết. Được chết yên lành thì sung sướng hạnh phúc hơn. Nhưng bây giờ, Thư thấy cần sống. Sống cho Trúc. Sống cho tình yêu từ lâu dang dở.

Thư và Trúc đã đem lại cho nhau những ngày tháng tuyệt vời, chan hòa thương yêu. Thư chuyên tâm chữa trị. Cả thuốc Tây cùng lúc với thuốc lá cổ truyền. Bác sĩ ngạc nhiên với những kết quả càng ngày càng khả quan. Những u bướu nhỏ lại và tan dần.

Mọi người đều nghĩ rằng mầu nhiệm của tình yêu quả có thật.

Tràm Cà Mau