Cám ơn lính chữa lửa Úc

Việt Luận

Trong những ngày khói lửa vừa qua, hình ảnh được người Úc quý mến và biết ơn nhất là lính chữa lửa. Ở Úc phần khá đông lính chữa lửa là người tình nguyện.

Là người tình nguyện tham gia vào lực lượng chữa lửa ở Úc, họ luôn luôn sống trong tình trạng báo động. Bất cứ lúc nào, khi đụng chuyện người tình nguyện chỉ được bốn phút là phải có mặt tại sở cứu hoả. Từ sở cứu hoả cho tới hiện trường, người tình nguyện được thêm bốn phút nữa. Hãy nhìn vào nhà của người tình nguyện ở Úc. Họ luôn luôn đậu xe ở chỗ dễ dọt ra nhất. Trong nhà của họ luôn luôn treo sẵn bộ đồng phục chữa lửa. Bằng không có những người tình nguyện đang đêm phải phóng đến trạm chữa lửa mà trên mình không một mảnh vải.

Trong những ngày qua, một trong những đám cháy lớn nhất ở NSW là ở cánh rừng nằm về phía Nam thủ đô Canberra: Đám cháy ở khu lâm viên quốc gia Namadgi và Kosciuszko rộng lên đến 100 ngàn mẫu tây. Sau hai tuần lễ bốc lửa, nhiều đám cháy đã dính liền nhau thành chảo lửa vĩ đại gọi là ‘mega-fire’. Ở Victoria, lửa ở Green Valley cháy lan qua và dính liền với lửa ở East Ournie Creek thành đám ‘mega-fire’ rộng đến 312,000 mẫu tây. Vì sợ lửa lan vào lãnh thổ thủ đô ACT, chính phủ Úc đã phái 19 lính chữa lửa vào biển lửa đó. Nhìn vào thành phần của toán chữa lửa này, chúng ta có thể suy ra ai là người tình nguyện chữa lửa ở Úc. Lẫn lộn ở giữa toán chữa lửa tiền phương là khuôn mặt quen thuộc trên … TV: Ông Tony Abbott, cựu thủ tướng Úc. Mặt ổng cũng lem luốc bụi khói như chàng Jacob Lemmey, 20 tuổi, đang học ngành bang giao quốc tế tại đại học ANU. Lớn tuổi nhất trong toán có nhiệm vụ giữ cho lửa đừng cháy đến tận toà nhà quốc hội Úc ở Canberra là cựu sỹ quan hải quân Alan Ashman, 63 tuổi. Lão tướng này cầm vòi rồng bên cạnh bà luật sư Benita Ainsworth di dân từ Anh quốc. Thật ra, không ai biết tên tuổi và công việc của họ cho đến khi bị… tử nạn. Trong cơn khói lửa hiện thời chúng ta nghe nhiều đến những anh hùng Andrew O’Dwyer, Sam McPaul và Bill Slate. Hai người trước tử nạn ở NSW và người sau ở Victoria.

Là người tình nguyện, phần lớn phải bỏ ngang việc làm để… vác ngà voi! Có người xin chủ cho nghỉ không ăn lương. Có người phải lấy những ngày nghỉ hàng năm. Có người phải bỏ ngang cuộc đi chơi holidays quí giá. Đã vậy, khi đụng chuyện, người tình nguyện phải bới theo cơm nước và phải theo lệnh trên xông vào khói lửa từng shift 8 tiếng mới được nghỉ xả hơi. Nghỉ xong. Tiếp tục shift khác. Vì lẽ này, để giúp người tình nguyện xả thân cứu hoả, mới đây chính phủ Úc đồng ý đền bù đến $6,000 cho công chức tham gia vào lực lượng chữa lửa. Chính phủ đang kêu gọi chủ các hãng tư ở Úc cũng làm vậy. Dù phải hy sinh nhiều, qua cơn bừng bừng của bà Hoả hiện nay, rất đông người sống ở Úc ghi tên tình nguyện vào toán chữa lửa. CFA ở Victoria cho biết gần đây đã nhận được gần một ngàn đơn xin tình nguyện. Thiếu niên từ 11 đến 15 tuổi có thể tình nguyện vào lực lượng ‘Junior Volunteers’. Người lớn có thể ghi tên vào lực lượng trực tiếp cứu hoả (Firefighters (operational) để xông xáo ở trận tiền hay chỉ ở phía hậu phương làm người tình nguyện yểm trợ (support volunters (non-operational). Cách nào cũng góp phần làm nguôi cơn giận của bà Hoả. Bạn đọc ở đâu thì tình nguyện chữa lửa ở đó và hỏi thăm chi tiết ở sở cứu hoả gần nơi mình ở.

Nhiệm vụ của người tình nguyện chữa lửa là gì? Xin thưa: không phải chỉ dập tắt ngọn lửa mà trên hết giữ cho mạng sống và tài sản của hết mọi người được an toàn. Vì lẽ này, trong con khói lửa đang xảy ra ở Úc, đã có người tình nguyện tiếp tục cứu nhà của người khác dầu cho mắt mình thấy lửa bừng bừng thiêu rụi nhà của mình. Chuyện này xảy ra ở Blue Mountains, phía Tây Sydney.
Khi dập tắt ngọn lửa, thông thường người tình nguyện không nhảy vào chảo lửa. Họ tính toán ngọn gió mà vạch ra những khoảng cách giữa lửa rừng với nhà ở của người dân cho lửa rừng không lan rộng thêm. Có khi phải đốt trước. Có khi phải cày thành rãnh lớn. Dẫu cách này hay cách khác chữa lửa luôn luôn là công việc nguy hiểm. Từ năm 1900 đến nay, tính trung bình mỗi năm có 17 lính chữa lửa Úc tử nạn và không ít người bị thương. Ở Blue Mountains, phía Tây thành phố Sydney vào thứ Sáu tuần qua, một chàng thanh niên chữa lửa trạc tuổi hai mươi mặt bị phỏng và phải vào nhà thương. Hai lính chữa lửa khác bị thương ở Kangaroo Island, Nam Úc.

Trước nghĩa cử của ngàn ngàn người tình nguyện trong lực lượng cứu hoả, nhiều bạn đọc nghĩ chắc là chúng ta phải mang bông hồng cài lên mũ áo bám đầy bụi khói. Ai có bông hồng, xin cứ tặng. Riêng người về từ đám tro tàn chắc không lấy gì làm vui hơn khi thấy vài ba mầm non bắt đầu nhú lên từ những gốc cây trơ trụi giữa cảnh hoang tàn.

Việt Luận

Nguồn: http://vietluan.com.au/cam-on-linh-chua-lua-uc/

XUÂN Ở NƠI NÀO? – Huy Văn

Huy Văn
Tôi ngồi nhìn qua khung cửa sổ, ngắm bông tuyết đang nhẹ bay. Bên kia đường là công viên với những hàng cây trơ cành, trụi lá. Mọi vật đang phủ một màu trắng xám. Đợt flurries đầu ngày chỉ là phần “mở màn” vì tin tức khí tượng cho biết tuyết nhẹ xuống rải rác vào buổi sáng, chiều tối tuyết sẽ rơi nhiều hơn. Mùa đông ở xứ người là vậy: ảm đạm và giá băng! Cơn lạnh đủ cho bên ngoài thêm vắng lặng. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe chậm rãi lăn bánh qua khu phố vốn đã rất yên tĩnh vào những ngày cuối tuần. Trong nhà cũng lắng đọng không kém. Trên chiếc bàn con kề bên cửa sổ là tách cà phê còn đang ấm khói. Tôi nhấp từng ngụm để thưởng thức mùi thơm và tận hưởng hương vị khi cà phê tan dần vào vị giác. Cứ như thế mà tôi ngắm nhìn mùa đông đang thả tuyết ngoài sân để sau đó hướng lòng về nắng ấm của mùa Xuân nơi quê nhà.
Xuân?! Nơi này đang đi vào giai đoạn cuối của thời tiết bốn mùa. Còn trên quê hương thì đang bắt đầu một vòng quay mới của chu kỳ nhật nguyệt. Ở xứ người với cơm no, áo ấm, mà sao lòng cứ canh cánh về mùa Xuân trên phần đất đã hơn 40 năm rơi vào tay giặc! Những mùa Xuân thanh bình, những cái Tết đích thực của miền Nam chỉ hiện hữu trước khi phần đất của Tự Do thay đổi chủ. Nói tới Xuân thanh bình là nói tới hạnh phúc và hy vọng của người dân khi đón Tết trong những năm đầu lập quốc tại miền Nam Việt Nam. Nhưng hạnh phúc không kéo dài và hy vọng càng ngày càng thêm mong manh khi chinh chiến tràn lan và an ninh thị thành rối loạn triền miên, chỉ sau đôi ba năm cả nước hưởng được chút hương thanh bình.
Ngày Xuân, ngoài những hoa trái muôn màu, hương nhang cúng bái, còn có “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ, cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”  cùng vài cách thức đón Xuân khác, vốn là những phong tục, tập quán được gìn giữ và truyền lại từ ngàn xưa. Trong đó có múa lân, đốt pháo. Pháo Tết dòn tan tiếng nổ, tươi tắn sắc màu, rộn ràng tình tự. Tiếng pháo làm tăng thêm sự hưng phấn trong lòng người và tô điểm thêm cho không gian vốn đã náo nhiệt và tất bật nhứt trong năm. Vì tiếng pháo- cũng như tiếng lòng hòa điệu với hoan ca của vạn vật mỗi độ Xuân về- chính là âm thanh của hạnh phúc tràn trề và sức sống sung mãn.
Tiếc thay, trong 20 năm tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa, những lần dân chúng có cơ hội tận hưởng một mùa Xuân tươi thắm chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nền Đệ Nhứt Cộng Hòa chưa thật sự ổn định được bao lâu thì xảy ra đảo chánh 11/11/1960. Chỉ vài tháng sau đó- vì lý do an ninh- các loại pháo lớn, nhỏ đều bị cấm đốt trong dịp Tết Tân Sửu ( 15/2/1961 ). Năm đó, tiếng pháo rải rác đó đây trong đêm giao thừa không đủ mang lại hạnh phúc trọn vẹn, vì hòa trong không khí Tết là sự bất an và tiếc rẻ trong lòng người dân Sài Gòn. Đón Tết mà chỉ có lân, không có pháo thì chẳng khác nào nhâm nhi cóc, ổi mà không có muối ớt!  Cũng vì muốn tận hưởng hạnh phúc đón mừng Xuân mới mà trong các hẻm nhỏ, nhiều người đã liều mạng đốt lén một vài phong pháo, bất chấp sự rượt đuổi hay rình bắt của cảnh sát và công an. Họ, quả đã rất nặng tình với không khí Tết! Ngày Xuân ngay tại thủ đô Sài Gòn, trong các thị thành và những vùng thôn quê thì vẫn đậm đà xuân sắc. Hoa vẫn đẹp, nắng vẫn tươi nên phố phường hay làng, xóm cũng không bỏ lỡ cơ hội…xum xuê với lụa là y phục. Có điều…không có tiếng pháo đêm giao thừa, không có sắc hồng khai xuân sáng ngày Mùng Một, thì ngày vui rõ ràng đã mất đi một phần sinh khí!
Phải đến mùa Xuân năm Đinh Mùi ( 9/2/1967 ), ngày Tết mới thật sự hồi sinh qua lệnh cho đốt pháo mừng Xuân của Hội Đồng Quân Lực VNCH, sau hơn hai năm nổ lực mang lại khí thế chống Cộng của toàn Dân và tái tạo sự đoàn kết trong Quân Đội. Đó cũng là pháo mừng sự ổn định về nhiều mặt của Quân và Dân miền Nam sau những cơn binh biến và tao loạn. Năm đó, pháo Tết lại nổ dòn tan cho phố xuân thêm khởi sắc trong bầu không khí sôi nổi, rộn ràng. Lòng người hân hoan. Hồn Xuân lai láng. Tình Xuân chứa chan. Nàng Xuân lại mang đến cho đời những đường hoa, phố hội và hạnh phúc tràn đầy trong những ngày im tiếng súng nhờ thỏa thuận hưu chiến đã được hai phe lâm trận loan báo một tháng trước Tết nguyên đán. Ngày Xuân dù mong manh và tạm bợ, vẫn khoe sắc thắm trong hoàn cảnh chiến tranh còn lãng vãng khắp nơi. Nhưng…
Thật khốn kiếp thay cho bọn Cộng Sản vô thần! Đáng thương và não nùng thay cho phần đất của miền Nam tự do! Chỉ không đầy một năm sau, nàng Xuân của năm Mậu Thân ( 31/1/1968 ) đã bị cộng phỉ “hiếp dâm tập thể” khi tiếng AK của bọn khát máu nổ thay cho tiếng pháo ngay từ lúc giao thừa. Để thực hiện mưu đồ xâm lăng và bất chấp sinh mạng của người dân vô tội, Hà Nội đã viện dẫn nhiều lý do láo khoét (1) để vi phạm hiệp ước hưu chiến khi bất ngờ xua quân tấn công hơn 100 thành phố và thị xã trên khắp lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa. Ngày Xuân của truyền thống, ngày thiêng liêng nhứt của Dân Tộc đã bị bọn quỷ đỏ biến thành cơ hội gây tiếng vang về mặt quân sự lẫn chính trị. Tết Mậu Thân! Xuân tang thương và cũng là điềm khởi đầu cho đại họa mà miền Nam sẽ phải gánh nhận sau này!
Nàng Xuân, một lần nữa, lại gượng khoe hương sắc trong những năm còn lại của nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Bài học Mậu Thân đã làm cho không khí thêm căng thẳng đằng sau bộ mặt hớn hở đầy màu sắc của phố phường. ” Vui Xuân không quên nhiệm vụ ” là thí dụ điển hình nhứt để nói lên tâm trạng bất an đó. Trong những ngày đầu Xuân Qúy Sửu ( 3/2/1973 ) ai cũng tưởng Hòa Bình đã thật sự trở lại trên quê hương miền Nam khi Hiệp Định Paris được ký kết đúng một tuần trước đó. Nhưng mọi người đều thất vọng để rồi lại trở về với trạng thái âu lo, mặc dù báo chí khắp nơi ca ngợi cuộc hòa đàm đã có kết quả như mong đợi. Cái mà mọi người mong đợi là một nền hòa bình chân chính. Đằng này, làm sao vui Tết khi mà đám Bắc Bộ Phủ lại cố tình lợi dụng ngày Xuân để cắm cờ, dành dân, lấn đất ở khắp mọi nơi!? Từ Cửa Việt ( Quảng Trị ), Đức Dục, Hiếu Đức ( Quảng Nam ) Đức Lập, Kiến Đức ( Quảng Đức ) Sa Huỳnh ( Quảng Ngãi ) cho đến Định Tường, Kiến Phong, Chương Thiện, chiến cuộc vẫn còn là mối hăm dọa cho nền hòa bình non trẻ.
Nếu như trận chiến ở Quảng Nam, Quảng Đức hay trong miền Tây Nam Phần chỉ mang tính cách quấy rối thì tại Sa Huỳnh, địch đã có âm mưu chiếm đất và cắt đứt giao thông giữa hai Quân Khu ( I và II ). Đó cũng là ý đồ của địch nhằm cô lập vùng duyên hải trung phần của Việt Nam Cộng Hòa.  Một khi lọt vào tay Cộng Sản, thì Sa Huỳnh sẽ là một phần đất quan trọng về mặt chính trị, đồng thời cũng là một hải cảng quân sự có tính cách chiến lược. Thêm một lần nữa, CSBV công khai thực hiện ý đồ thôn tính miền Nam và đã làm điều này ngay khi văn bản của cuộc hòa đàm Paris còn chưa ráo mực. Tết Nguyên Đán năm Qúy Sửu (1973) đi vào lịch sử Việt Nam như là một mùa Xuân thanh bình, nhưng trên thực tế, đó là phần mở đầu cho một vở bi kịch khi chiến tranh đang tiếp diễn và mùa Xuân vẫn còn đậm nét tang thương. Không còn gì trơ trẽn và khôi hài cho bằng máu vẫn đổ, người vẫn phải bồng bế và gánh gồng nhau lánh nạn ngay lúc tin tức về một nền hòa bình vừa được giới truyên thông công bố trên toàn thế giới!
Do đó, người dân Việt Nam chỉ còn có nước …hy vọng! Nhưng hy vọng để rồi tuyệt vọng vì chiến cuộc lại leo thang khi người lính đồng minh cuối cùng vừa rời khỏi phần đất của VNCH vào tháng 3/1973. Hai cái Tết cuối cùng là những mùa Xuân ảm đạm khi VNCH ngậm ngùi nhìn Hoàng Sa rơi vào tay Tàu Cộng sau một trận thủy chiến lịch sử ( 19/1/1974 ) và để tang cho tỉnh Phước Long khi bị CSVN đánh chiếm đúng một năm sau đó (1/1/1975 ). Bỏ qua việc Hoa Kỳ cắt giảm rồi cúp hẳn viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam, thì hai sự kiện trọng đại này có thể xem như là những vết thương trí mạng dẫn tới cảnh VNCH phải lần hồi lui binh, bỏ đất trong 3 tháng đầu năm 1975. Sau cùng thì việc gì đến, phải đến: phần đất tự do, tiền đồn ngăn chận làn sóng Cộng Sản tại Đông Nam Á mang tên Việt Nam Cộng Hòa biến mất trên bản đồ thế giới sau gần 21 năm tồn tại! Lịch sử của dải đất hình chữ S lại sang trang! Trang sử của hai nền Cộng Hòa đã khép lại vào lúc 11h30 sáng ngày 30/4/1975! Nàng Xuân cũng từ ngày đó không còn khoe hương sắc trên toàn cõi Việt Nam dù hai miền đã được gom lại làm một! Bởi vì…
Làm sao vui được khi chỉ sau một thời gian ngắn, người dân phía bên kia vĩ tuyến 17 đã ngỡ ngàng nhận ra là mình đã bị nhà cầm quyền cộng sản bịt tai, bụm mắt và lừa bịp một cách ngoạn mục về chuyện…”giải phóng” miền Nam!? Còn những người vừa thua cuộc thì lại càng thê thảm hơn khi Nước đã mất, Nhà đã tan mà còn phải hứng chịu đòn trả thù của phe thắng trận! Hà Nội trả thù bằng mọi cách và dùng đủ mọi thủ đoạn. Nổi bật nhứt là việc gom Quân, Cán, Chính của VNCH vào các trại tù lao động khổ sai từ nam chí bắc, kế đến là vụ đổi tiền, đúng 4 tháng sau khi chiếm được miền Nam. Sau đó là việc đánh tư sản và bức bách người dân- đặc biệt là gia đình của những ai đã từng phục vụ trong thể chế Cộng Hòa- phải đi đến những nơi khỉ ho, cò gáy mà chúng gọi là vùng Kinh Tế Mới.
Mới vừa bị bức tử, thì đã trở thành nạn nhân của chiến dịch ” Vơ, Vét, Về ” của Hà Nội, nên chỉ sau vài năm, miền Nam đã trở thành một cái xác không hồn, một ngôi nhà trống hoắc với tiền, của lần hồi ” bốc hơi” để đổi lấy cơm áo mà sinh tồn. Gia tài, sự sản của những ai khá giả thì bị tịch thu khi nhà cầm quyền gán cho cái  ” tội ” là tư sản mại bản, hoặc chui vào hồ bao của cán bộ từ địa phương tới trung ương để đổi lấy một chỗ vượt biên bán chính thức, tức là dùng sinh mạng của chính mình để thử thời vận trên bao la biển cả. Ba thế kỷ trước, con cháu của Nguyễn Kim còn được Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tặng cho câu ” Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” để xuôi nam lập nghiệp tại đất Thuận Hóa mà mở ra vương triều của họ Nguyễn. Còn năm 1975, con dân của thể chế VNCH chỉ biết liều chết vượt biển để tìm một cuộc sống tự do hơn thay vì ngộp thở trong nhà tù khổng lồ mang tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thê thảm như vậy đó!
Vì vậy, tiếng pháo mừng Xuân năm Bính Thìn ( 31/01/1976 ) và những năm kế tiếp chỉ mang lại hạnh phúc thật sự cho những kẻ trục lợi trên máu xương của người dân cả nước. Đảng hớn hở cụng ly vì đã đạt được mục đích. Trong khi đó thì Dân ngậm ngùi tưởng tiếc một thời ấm no, thịnh vượng hoặc thở dài cho số phận hẩm hiu của phần đất vừa bị nhuộm đỏ. Miền Bắc bị nhồi sọ bằng những tuyên truyền có tính cách mị dân của chế độ độc tài toàn trị trong suốt 30 năm. Còn sau khi rơi vào tay Cộng Sản, miền Nam đã phải nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi qua những chính sách trời ơi đất hỡi của Hà Nội vốn chỉ nhằm mục đích “…đưa miền Nam xuống để nâng miền Bắc lên về mọi mặt !”  Đói, lo, buồn, phẫn hận là trạng thái tâm lý của người dân khi bị “đỉnh cao trí tuệ của loài người” vừa siết thòng lọng vào cổ vừa buộc, thắt cả đến bao tử vốn đã xẹp lép vì thiếu ăn. Đó cũng là cảnh đón Tết trong thời kỳ- mà bạo quyền Hà Nội gọi là- bao cấp!
Mùa Xuân, hiểu theo nghĩa niềm vui và hạnh phúc đích thực của đời người, dường như đã không có ” duyên ” với Dân Tộc Việt! Trải qua 1000 năm làm nô lệ giặc Tàu, 100 năm bị giặc Pháp đô hộ, qua không biết bao lần nội chiến và nhiễu nhương của các thời đại, có khi nào Xuân thắm, đời tươi?!. Phải chăng- theo như Lịch sử đã ghi nhận- Dân tộc Việt chỉ thật sự thái bình trong 38 năm dưới thời vua Lê Thánh Tôn!? Nếu đúng như vậy thì con số quả thật là quá khiêm nhường! Là định phận bởi trời hay vì nhân quả- như theo lời nhiều người yếm thế thường rên rỉ- mà Việt Nam phải chịu tai ương hồng thủy rồi rơi vào tình trạng nghèo, đói, tụt hậu so với lân bang? Chắc chắn không phải như vậy mà là Việt Nam không may bị cai trị trong suốt 80 năm qua bởi những kẻ ngạo mạn với đời, nhưng lại hèn yếu trước bạo cường phương bắc. Những kẻ “Hèn với giặc, Ác với Dân” đó chính là Đảng và nhà nước Cộng Sản VN!
Nhớ xưa, khi đoàn người di cư ( năm 1954 ) đón Xuân xa xứ, thì nỗi buồn lo và tâm trạng ly hương vẫn còn được vòng tay nồng ấm đầy thạnh tình của chánh phủ và nhân dân miền Nam ôm ấp, vỗ về. Họ, những người cương quyết lánh xa bọn Cộng Sản vô thần, có niềm tin vững vàng vào chánh thể Cộng Hòa cộng với một niềm hy vọng vào tương lai nhờ ngọn đuốc tự do soi đường, mở lối. Còn sau 1975, người dân phải lây lất sống và trở thành những kẻ lưu vong ngay trong đất nước vì những chính sách ngu dân và độc tài toàn trị của bạo quyền CS. Do đó, những lần đón Xuân đều kèm theo một nỗi buồn dấu kín tận đáy lòng. Trong khi đó thì từ bên kia đại dương, những người may mắn sống còn sau những chuyến vượt biên kinh hoàng trên biển sóng và đã an cư lạc nghiệp tại xứ người, cũng khắc khoải trong niềm hoài niệm cố hương, nên mỗi năm họ cứ ngân nga hoài câu ” …Ngày máu xương thôi tuôn rơi. Ngày ấy quê hương yên vui. Đợi anh về trong chén tình đầy vơi…Ước mơ hạnh phúc nơi nơi. Hương thanh bình dâng phơi phới”! (2) Đối với Hà Nội, thì những lời này chẳng khác nào như là những lời châm chích chế độ, kèm theo câu hẹn hò trong sự mong đợi một ngày mai quang phục, nên phỉ quyền đã ra sức cấm đoán suốt mấy mươi năm và chỉ cho phép trình diễn mới lúc gần đây: 2016 mà thôi!
Người dân Việt Nam- trong nước lẫn hải ngoại- đón Xuân như vậy đó: buồn, nhớ, miên man, vời vợi…! Cách xa ngàn trùng nên mỗi năm, nỗi đau thầm chỉ tăng chứ không suy giảm. Lòng đã không an thì tâm làm sao tịnh? Người đã cách chia thì Xuân chỉ gượng vui hoặc chỉ tạm bợ mặc dù năm nào, bạo quyền trong nước cũng đều cố khoát lên những bộ mặt đầy màu sắc, hoa hòe trên mọi phố phường, mọi thôn xóm. Những thứ này chỉ thu hút được những kẻ ham vui, hay thích không khí sôi nổi, náo nhiệt tại quê hương. Trong khi đó thì đa số những người tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại đều hướng lòng về tổ quốc, qua những sinh hoạt mừng Xuân có tính cách cộng đồng như chợ đêm, diễn hành cộ hoa, biểu diễn văn nghệ, múa lân, đốt pháo…v/v…để thỏa lòng hoài vọng cố hương. Chắc chắn những người phải ngậm hờn qua ải nơi quê nhà- dù đang hít thở của Đất, Trời đang mở hội-  cũng man mác và bùi ngùi không kém.
Xuân đến muôn nơi. Xuân mang nét đẹp thiên nhiên hòa vào hạnh phúc nội tại của con người. Xuân làm cho người ta yêu đời vì mang lại gương mặt trẻ trung cho vạn vật. Nhưng với những người “xa quê hương nhớ Mẹ hiền” và những ai còn bí rị trong nội địa, thì Xuân có gì vui khi mọi thứ đều bỏ lại sau lưng, hoặc đã là quá khứ!? Với những người đã, hoặc sắp thành…” đồ cổ “, thì mỗi độ Xuân về là một lần mênh mang niềm nhớ, là ray rứt khôn nguôi về những dấu ái đã nhạt nhòa. Xuân xưa đã là kỷ niệm. Có chập chờn giữa đôi bờ đại dương hay lãng đãng đâu đó trong tâm hồn lãng tữ thì cũng là Xuân! Tuy vậy, trên quê hương sẽ có ai đó hỏi: “ Em ở nơi nào? Có còn mùa Xuân không em ?” (3), còn nơi tha phương cũng có người bâng khuâng và trĩu lòng trong lúc đón chờ năm mới: “Ở đây không có hoa Mai, không có hoa Đào trang điểm trần ai… Chỉ thương em gái quê hương trong sớm Xuân hồng thiếu hẳn người thương…” (4). Người đó là tôi, một kẻ lưu vong đang đón chờ Xuân qua màn sương tuyết và mượn hương lòng nâng ly cà phê thay rượu, rồi trầm ngâm buông tiếng thở dài ” …Ôi nhớ xuân nào thưở trời yên vui. Nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi …”  (5) Trên quê hương, ngay lúc này đây, chắc hẳn cũng có nhiều người đang chìm đắm trong trũng buồn vì qua hơn 40 năm, vẫn là một cái Tết chia phôi, một mùa Xuân ly tán, một nỗi đau thầm. Xuân ở nơi nào và vì đâu nên nỗi?!
HUY VĂN

Nhắp Chén Bồ Đào Đầu Năm Mới

Trần Kiêm Đoàn

blank

            Tết Nguyên Đán Canh Tý 2020 tin từ quê nhà cho biết là có tin vui và tin buồn đến cùng một lúc: Đó là việc lái xe dưới ảnh hưởng của men bia rượu sẽ bị phạt rất nặng. Đây là tin buồn cho dân nhậu và quán nhậu nhưng là tin vui cho đại chúng là điều hiển nhiên. Cho nên, vào thời điểm những ngày cuối năm Tất Niên sôi động năm nay, những quán nhậu vắng khách. Tiếng hô xuất quân của những binh đoàn đạo nhậu không còn vang vọng tiếng “Dzô! Dzô!” đầy hào sảng và hùng tráng như xưa nữa. Ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu.
Thôi thì cũng nên học đòi một kiểu triết lý sống ẩn nhẩn của người xưa mà tự an ủi: “Loạn thế độc thư, bình thời luyện võ”. Khi uống rượu không thông thì bàn chuyện rượu cũng là một cách “nhậu rì-mốt” (remote: tầm xa) vậy.
Nhậu rì-mốt dịch ra thuần Việt là “uống bóng, nhậu tầm xa hay uống hàm thụ”. Uống cái hồn thiên cổ của rượu chứ không uống hơi men nên dẫu có say tuý luý càn khôn thì police-cảnh sát giao thông cũng chỉ còn trơ mắt ếch nhìn thế sự mà thôi.
Thời đi học, tôi cũng đã từng… uống bóng như thế. Từ xóm bình dân “uống rượu không say đâu có hay”, cho đến uống rượu tiêu sầu qua văn thơ của Cao Bá Quát; túi thơ bầu rượu “đồ thích chí chất đầy trong một túi” của kẻ sĩ hoàn danh Nguyễn Công Trứ… đều là uống bóng. Nhưng những cơn uống bóng và say bóng “hoành tráng” hay bi tráng hơn cả là uống rượu Bồ Đào. Cảm nhận được nỗi niềm toan uống chén Bồ Đào Mỹ Tửu trong tiếng đàn thúc quân giục giã lên đường làm cho người ta say cơn say bi hùng như hình ảnh người chiến sĩ ra trận uống chén quan hà trong bài thơ chỉ bốn câu của Vương Hàn (687-726) nhưng đã chiếu sáng rực rỡ cả một góc trời văn học suốt hơn nghìn năm qua:

Lương Châu từ

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Tạm dịch:

Rượu hồng uống chén dạ quang
Nhấp môi đã vọng tiếng đàn thúc quân
Cười chi say gục sa trường
Xưa nay đánh giặc bốn phương ai về

Cho đến khi từ Huế qua sống ở Mỹ, cái anh chàng Huế lãng mạn vặt mà chân quê trong tôi vẫn tự ngẩn ngơ khi nhắc đến giống rượu Bồ Đào Mỹ Tửu. Tôi thường miên man suy tưởng về loại rượu nầy xa vời và huyền thoại như trái cây tri giác của Adam chia sẻ với người đẹp Eva thuở nọ trên vườn Điạ Đàng. Cho đến một chiều tôi ngồi trong quán Tower ở Sacramento, nhâm nhi ly rượu nho đỏ (Red Wine) với Chan Lum, anh bạn Đài Loan thông tuệ về nghệ thuật chữ nghĩa và ăn uống của Trung Hoa, mới vỡ lẽ ra rằng, chúng tôi đang uống rượu Bồ Đào Mỹ Tửu. Khi một huyền thoại bị mất đi, con người bỗng cảm thấy cô đơn và lang thang trở về với thực tại. Từ đó cho đến hôm nay, tôi uống rượu nho đỏ thiếu đi niềm cảm khái của dáng xưa “túy ngọa sa trường”.

Rượu Vang, rượu Nho, rượu Chát… nên gọi tên nào?

Rượu NHO trong tiếng Việt còn bị gọi là rượu VANG do phiên âm từ tiếng Tây thời đô hộ là “VINS”. Ngoài ra còn được gọi là rượu CHÁT vì rượu nầy có vị căn bản là chát để phân biệt với loại rượu nho vị ngọt, chiếm một tỷ số rất nhỏ có vị ngọt thường dùng cho người mới tập uống, phụ nữ và khai vị. Tên gọi chính danh nhất là rượu NHO vì rượu làm từ trái nho. Trong lúc thế giới gọi tên trái nho trong ngôn ngữ của họ: Wines (Anh), Vins (Pháp), 葡萄酒 (Bồ Đào Tửu: Trung Quốc)… thế thì hà cớ gì Việt Nam lại bám vào cái gốc Tây đô hộ để giữ cái tên thời mất nước mà gọi là “rượu VANG”?
Chuyện cái chén Dạ Quang (dạ quang bôi) trong 4 câu thơ của Vương Hàn đã là chất liệu tạo hứng cho nhiều cuộc luận bàn về chén rượu nho. Hai chữ Dạ (đêm) và Quang (sáng) đã làm cho người đời suy diễn về cái chén “phát sáng về ban đêm” hay như cụ Trần Trọng Kim thì cho đó là chén “Lưu Ly”. Nhưng thú vị nhất là lời bàn về các loại chén uống rượu của Tổ Thiên Thu với Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung: Rượu Bồ Đào thì phải uống với chén Dạ Quang; rượu Trúc Diệp Thanh phải uống với chén Dương Chi Bạch Ngọc đời Bắc Tống; rượu trắng phải uống trong sừng trâu để lấy mùi tanh tanh của của sừng mà chế ngự và hoà quyện với hương nồng của rượu; rượu Bách Thảo Mỹ Tửu ngâm với trăm loài hoa cỏ phải uống chén Thanh Trúc để hương gỗ trúc làm cho rượu thơm tho và ngây ngất hơn…! Như thế, thì trước hết, phải biết chén Dạ Quang có tên là Dạ Quang; rồi suy diễn xa vời hay sâu thẳm tới đâu thì cứ việc lên đường… vạn lý du!

Lịch sử rượu nho thế giới được ghi nhận là là đã có từ 7000 năm trước Tây Lịch tại Trung Hoa, 6000 năm TTL tại Georgia,  5000 năm TTL tại Iran… Nghĩa là rượu nho có mặt với con người cả hàng vạn năm nay rồi. Ngày nay, rượu nho được sản xuất khắp nơi, trừ các nước Hồi giáo. Bởi vì toàn cầu có đến 5000 loại nho khác nhau nhưng chỉ có khoảng vài trăm loại là làm rượu được. Thế giới rượu nho còn phức tạp hơn cả thế giới con người vì giá trị và chất lượng rượu còn tùy thuộc vào giống nho, đất đai, khí hậu, kỹ thuật sản xuất và sự khai phá tìm tòi, sáng tạo… Nhiều thế kỷ trước, Pháp và châu Âu là bá chủ võ lâm về rượu Nho. Nhưng anh chàng sinh sau đẻ muộn Huê Kỳ nay đã chiếm ngôi ngự trị rượu nho về phẩm cũng như về lượng trên toàn thế giới. Rượu nho ngon nhất xứ Mỹ là rượu nho sản xuất ở California; rồi ngon nhất California là rượu nho sản xuất ở Napa và ngon nhất của Napa là Napa Valley… mà tôi thì ở lại Napa Valley “nghiệp dư” với con gái nên có những chiều một mình nhâm nhi “bồ đào mỹ tửu” mà không còn nhớ là mình đang nối tiếp thưởng thức cái hương vị rượu hồng đào có mạng mạch cả vạn năm!

Thành phố núi đồi thung lũng Napa nhỏ nhắn thế mà có tới khoảng 450 hãng chế tạo sản xuất rượu nho (winery). Người Việt Nam, có tỷ phú Hoàng Kiều cũng chen chân làm chủ một hãng sản xuất rượu nho cao cấp ở Napa. Rượu nho Hoàng Kiều mạnh hơn (14.5 độ) tiêu chuẩn rượu nho thường (13.5 độ) uống đậm và ngon nhưng hơi đắt so với túi tiền bình dân (trung bình 57 đô la Mỹ một chai tiêu chuẩn 750 ml). Tôi sẽ đi xa hơn về thế giới rượu nho vào một dịp khác; giờ thì  mà chỉ muốn được rong chơi trên những núi đồi “Bồ Đào” cô tịch đó. Thân phận và cảm giác một mình nơi xứ Napa nầy thật lạ lùng mà thú vị. Tôi thường thăm viếng và ở lại chơi với gia đình con gái hơn mười năm mà chưa hề gặp hay thấy một người Việt nào hàng xóm hay quen biết nơi nầy. Buổi chiều Napa thường xuống nhanh với sương mù và gió lạnh từ San Francisco tràn về, gặp hơi ấm từ vùng thung lũng Rocky Mountain của Sacramento truyền lên tạo ra một vùng khí hậu đặc biệt nóng lạnh có lẽ không hợp với thể chất người Việt nhưng lại lý tưởng cho giống nho Napa chăng?

Tôi thường đi bộ vào khoảng 6 giờ chiều mùa Hè. Trời còn lâu mới tắt nắng nhưng cảnh vật khắp nơi im ắng khác thường của vùng đất Napa làm tôi cảm thấy hơi ngờ ngợ khi mới về đây. Có lần tôi nói đùa với các cháu rằng: “Hình như buổi chiều, cả thiên nhiên và vạn vật của Napa đều ngủ sớm vì thấm men rượu thiên nhiên vô hình nên cảnh vật mới im lìm trầm mặc đến thế (?!)”

Rượu nho ngày xưa và bây giờ

Trong tủ sách rượu Nho tiếng Việt, tác phẩm đầu tiên viết về rượu Nho khá công phu và bài bản về rượu là tập sách “Rượu vang, món quà của Thượng Đế” của Lê Văn. Tác giả đã viết về rượu nho khá thú vị qua điệu nhìn “nho như sản phẩm tự nhiên của Đất Trời”!

Người Ai Cập đã tôn sùng rượu nho như món “thánh ẩm” từ hơn 6.000 năm trước. Thần Rượu Nho (God of Wines) Hathor, đã được thờ phụng và tưởng niệm một cách tôn kính vào ngày “Tuý Ngoạ” (Day of Intoxication) hàng tháng.

Đã bao nhiêu nghìn năm, rượu nho được dung như một chất men thiêng liêng trong các lễ nghi tôn giáo và hội hè đình đám dân gian. Từ những thùng rượu Saké ở các đền thờ Thần Đạo của Nhật Bản đến Bồ Đào Tửu trên các bàn thờ Thần Tài của người Trung Quốc và rượu nho được dùng một các thiêng liêng và trang trọng trong các dịp Ban Thánh Lễ của Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo đã một phần nói lên biểu tượng tôn giáo của rượu nho.

Đạo Phật trong Năm Giới Cấm (Ngũ Giới) căn bản có giới “Không uống ruợu” nên tất nhiên là rượu nho cũng liệt vào hàng bia rượu nói chung không được dùng. Tuy nhiên, tôi đã hơn một lần được mời dự tiệc ăn chay với một cốc nhỏ rượu nho loại Table Wines nhẹ 12 độ cồn (so với bia 6-7 độ cồn và rượu tiêu chuẩn 40 độ cồn) nên không cảm thấy ảnh hưởng gì… phá giới cả. Dẫu sao thì cũng xin sám hối vì đã trình làng trường hợp “phá giới” của cá nhân mình bởi bị thuyét phục là “nhắm tí rượu nho để đối trị với vi khuẩn trong tương chao” (?!)

Khuynh hướng nhắm chút rượu nho trong bữa ăn để tăng cường sức khỏe đã lan rộng trong sinh hoạt ẩm thực Đông Tây đang trên đà phát triển từ hơn mười năm  nay.

Tôi ở Mỹ gần 40 năm nhưng một nửa thời gian trước không ai quan tâm đến rượu nho. Thế nhưng một nửa thời gian 20 năm sau, rượu nho đã nổi lên ồ ạt với một tốc độ phi thường. Tác dụng cho sự trỗi dậy của rượu nho là qua sự trải nghiệm của con người và thí nghiệm y khoa chứng minh cho tác dụng ưu việt của rượu nho đỏ đối với sức khỏe của con người như: “Uống điều độ một ly rượu nho đỏ trong bữa ăn chiều bằng tập một ngày tập thể dục…Các hợp chất hóa học có sẵn trong rượu nho chống ung thư, giảm tiểu đường, hạ huyết áp…”

Như thế là bà con Mỹ cũng như Việt rần rần uống “điều độ” rượu nho đỏ để trừ bá bệnh như ở quê nhà uống thuốc Xuyên Tâm Liên sau những ngày1975 bà con Bắc Nam gặp nhau thừa men mà thiếu thuốc. Ngày nay vào các tiệm thực phẩm khắp nơi ở Mỹ đều thấy các quầy rượu nho ngự trị khắp nơi. Sinh hoạt ăn uống trong đời sống xã hội người Việt Nam cũng bị cuốn hút theo trào lưu thời thượng… nho đỏ.

Một kỷ niệm nhớ đời mà tôi đã trải nghiệm về các “cao thủ rượu nho” hữu danh vô thực. Số là con rể và con gái của chúng tôi làm nghề thầy thuốc ở Napa, bệnh nhân đến phòng mạch các cháu một số lớn là người Mễ làm việc tại những trung tâm sản xuất rượu nho lớn trong vùng. Họ thường trả ơn thầy thuốc mát tay bằng những chai rượu nho chọn lọc hàng cao cấp để riêng trước khi dán nhãn hiệu và đưa ra thị trường. Bởi vậy, tôi thường có dịp nhấm nháp những chai rượu nho “đầu nước” loại giá cao từ quà miễn phí mà nếu mua thì khả năng túi tiền công chức của mình không rớ tới nỗi. Một lần tôi mời các ông bạn của tôi nổi tiếng – hay tự làm nổi tiếng – sành điệu rượu nho ở địa phương họp mặt nếm rượu cho vui. Những chai rượu nho đỏ giá từ 5 đến vài ba chục đô la (đi mua) đến 2,3 trăm đô la (được tặng) được lột hết nhãn hiệu nhưng chai có ghi tên và số liệu dán dưới đáy chai. Thế là bạn ta có dịp trổ tài nếm rượu nho cao thấp hàng chục loại khác nhau. Nhưng kết quả thật là ngỡ ngàng vì sự phân biệt chất lượng rượu nho rất lung tung. Những chai rượu bạc đồng, bạc chục cũng bị dính chùm với các chai rượu bạc trăm.  Không có một bạn già nào của tôi phân biệt đúng giá trị quy ước độ ngon (theo giá), độ quý phái (theo hãng), độ trân quý (theo tuổi) của các chai rượu nho đem ra làm thí nghiệm. Khi chúng tôi đưa “con bài lật tẩy” ra cho nhau xem thì đám bạn già chỉ còn biết ôm nhau mà cười. Một bạn đưa ra nhận xét vừa tếu, vừa cảm động rằng: “Không biết bọn mình vì ăn mắm muối và khoai sắn quá nhiều nên chai miệng, vị giác đã mất đi độ tinh tế hay bởi tuổi già… lạt miệng ?!” Diễn dịch cách nào cũng được miễn là vui. Uống rượu không có anh hùng, liệt sĩ, quan chức hay trường lớp đào tạo nào cả. Vui là chính!

Có lẽ rượu nho cũng như người đàn bà muôn thuở! Nghĩa là có thể có được trong tầm tay nhưng hiểu hết được và hòa quyện tương đồng trong cuộc sống đời thì không dễ. Kiếm được rượu và uống rượu nho thì ai cũng có thể có được nhưng tìm được cảm xúc thế nhân đi vào hồn rượu thì cũng khó như biến một giấc mơ thành hiện thực. Này nhé! Kiếm được chai rượu bồ đào Napa Valley thứ thiệt (nghĩa là “product of Napa” chứ không phải “vinted” hay “cellared & bottle” mượn danh Napa) giá bình dân cũng từ 45 đến 300 đô; nâng niu, ngắm nhìn rượu trong chai sóng sánh mềm mại xuôi dòng và cuốn hút. Khách trân trọng mở nắp, rót rượu vào ly. Dòng rượu chảy đỏ thẩm vào ly chân cao  đầy vẻ thanh nhã, mượt mà và kiêu sa. Người sành điệu phải lắc nhè nhẹ rượu quanh thành ly để cảm nhận được vẻ tình tự như hương nho tươi, màu nắng quái, dáng cuộn sóng ngỗ ngáo mà ngoan hiền im ắng. Rồi nâng ly… Cheers! Và nghiêng ly lên môi nhấp một ngụm. Dòng rượu đỏ chảy vào người như tình yêu thành chồng vợ… Rượu nho hồng rất dị ứng với kiểu uống “dzô!ôôô!…uống cạn ly đầy và rót đầy ly cạn” của lối uống bia rượu hội đồng mà người ta thường gọi là “ngưu ẩm” (trâu đồng uống nước ruộng)!

Bồ đào mỹ tửu – rượu nho ngon cũng ví như hồng nhan tri kỷ – gần gũi mà kiêu xa, bình thường mà vô giá. Có những chai rượu nho giá đắt nhất và rẻ nhất trong lịch sử rượu nho thế giới là:

Từ một chai Screaming Eagle Carbernet Sauvignon năm 1992 giá 500.000 đô la Mỹ (11.5 tỷ đồng Việt Nam) cho đến những chai rượu nho giá rẻ nhất quanh nước Mỹ hôm nay là Charles Shaw ($1.99), Pacific Peak ($2.42), Tisdale Carbenet ($3.49)… nói lên một thế giới từ đỉnh điểm đến đất đen sinh động vô cùng của rượu nho. Ai cũng có khả năng tài chánh, thượng vàng hạ cám, giá từ vài đồng đến nửa triệu đô la cho một chai ruợu nho với giá nào, thời nào và nơi nào cũng có. Giá thay đổi đến lạ lùng. Năm kia tôi thấy tại một quán hàng ở New Delhi một chai rượu nho đỏ Merlot hiệu Sutter Home của Mỹ, bán ở hàng CVS, California giá 4.99 đô la thì ở Ấn độ giá 47.00 đô la Mỹ. Bởi vậy, nói chuyện rượu nho cũng khề khà như kể chuyện 1001 đêm thật dông dài khó hết.

Cuối năm, được mùa Tất Niên, có những buổi chiều liên tục được mời dự cúng lễ tất niên quanh thế giới Việt Nam trong cộng đồng người Mỹ – Việt đề huề. Khách đủ hạng người có thể khác nhau về nhiều mặt nhưng rất gần với một điểm chung: Chiếc ly rượu hồng đậm lặng lẽ mà gợi cảm ba đào: Ly rượu nho đỏ.

                                              Sacramento, mùa Tất niên tháng giêng 2020

                                                                    Trần Kiêm Đoàn

Nguồn: https://vietbao.com/p301436a301925/nhap-chen-bo-dao-dau-nam-moi

Những Mùa Xuân Qua – Mũ Đỏ Trương Văn Út

Mũđỏ Trương Văn Út (Út Bạch Lan)

Thuở lên năm lên sáu, cứ mỗi độ gió chướng từ biển Gò Công rào rạt thổi vào thành phố đìu hiu nghèo nàn ở quê tôi, cảm giác Xuân về làm tâm hồn tôi cứ lâng lâng, nôn nao, rạo rực đợi chờ từng ngày và từng ngày …! Tuần lễ trước Tết cuối năm âm lịch, Mẹ và Chị tôi tất bật với bếp lò, nào bánh chưng, bánh tét, bánh ú, bánh ít , dưa giá củ kiệu , nồi thịt kho nước dừa thơm phưng phức béo ngậy mùi mỡ, hương nồng nồng nồi canh khổ qua nhồi thịt xông lên mũi ôi sao mà tưởng chừng như muốn ăn cho no nên nức lòng, thoả dạ …! Tất cả người thân yêu trong gia đình cứ hân hoan vẻ mặt xuôi ngược với chợ Tết mua sắm nhang đèn, hoa quả và quần áo mới cho các anh chị em tôi. Mấy anh em trai tôi thì hì hục lau chùi đánh bóng ba bộ lư, chân đèn, mâm đồng, mấy bộ tủ bàn ghế cẩn xa cừ, phụ Cha tôi dựng cây nêu trước sân nhà trong không khí náo nức chờ đợi đêm giao thừa với món bánh tráng cuốn thịt kho Tàu dưa giá với tô nước thịt làm nước chấm có ớt cay tới xé lưỡi và nhất đám trẻ con chúng tôi được thay quần áo mới chờ bố mẹ lì xì tiền Tết… Chúng tôi chơi lô tô, chờ nửa đêm tới giờ giao thừa, kéo nhau ra sân bắn ống tre hơi khí đá thay cho pháo nổ đì đùng… !!!

Này mẹ có nghe xôn xao lá thay màu,
Này mẹ có nghe chim đua hót trên cành,
Này mẹ thấy chăng ngoài sân kia đàn bướm đang nhởn nhơ đùa vụi !
Này mẹ thấy chăng cây mai trước sân nhà nụ vàng ấp yêu như cô gái đương thì,
Này mẹ thấy chăng trời trong xanh,
Đàn én đang nhởn nhơ dập dìu…
Mẹ hay chăng mùa xuân vui đã sang,
Mẹ hay chăng khổ đau xưa đã chìm
Mẹ thấy chăng phố vui chân người về !
Mẹ thấy chăng thôn xóm rực đèn treo …
Nụ cười bỗng tươi trên môi đã khô cằn,
Mẹ mừng thấy con xa xôi đã quay về,
Mẹ mừng mái tranh từ bao năm quạnh vắng đã có thêm người thân…
Rộn ràng tiếng ca cô con gái bên nhà.
Hồng hồng nét môi khi thấy bóng trai về,
Dập dìu áo hoa từ thôn trên làng dưới đi rước Xuân về nhà.
(Xuân Về Với Mẹ – Nhật Ngân)

Những Mùa Xuân Qua - Mũ Đỏ Trương Văn Út

Theo thời gian…rồi cũng qua đi, tôi lớn dần cho đến khi lên trung học, rồi đại học, dường như tôi không còn cái cảm giác Xuân về Tết đến như lúc còn ấu thơ với gia đình và cho đến khi vào lính ! Sau 2 năm học tập, tôi luyện vất vả ở Quân Trường Võ Bị Đà Lạt, tốt nghiệp ra trường lại đúng vào Tết Mậu Thân (tháng 12 cuối năm 1967 – đầu năm 1968) là “cái“ Tết tang thương đẩm máu và nước mắt trên khắp mọi nẻo đường đất nước…! Có cần nhắc lại ở đây hay không? Dạ thưa không ! Vì có lẽ ai ai đang thời sống trong thời điểm lúc bấy giờ cũng biết, đã trải qua và ch ắc không thể quên những ngày Tết bi thảm đó…! Ôi … Tết Mậu Thân với bao nỗi chết như vết thương hằn sâu vào tiềm thức của mọi người thì làm sao quên cho được ? Ngay ngày Tết mà bọn khát máu man di mọi rợ Việt Cộng năng nổ , xông xáo, lùng sục đạp cửa từng nhà d ân lành vào đêm giao thừa, sáng mùng một Tết và cả thời gian sau đó tại vùng chúng chiếm đóng, chúng trốc nã lôi cả cha mẹ vợ con, bạn bè, thân bằng quyến thuộc ra trước cửa nhà rồi qui tội và hành quyết tại chỗ, mặc cho tiếng kêu gào thảm thiết của người thân …! Làm sao tôi quên được cái Tết đó, cái Tết mà tôi vừa mới “đăng quan” thiếu úy sữa, tưởng rằng ”áo gấm về làng vinh quy bái tổ” thì mùng hai, mùng ba Tết lại phải đi gát hòm cho vị Tiểu Đoàn Trưởng của đơn vị và vị Đại Đội Trưởng khác của Tiểu Đoàn 91Biệt Cách Dù – Lực Lượng Đặc Biệt) (TĐ91BCD/LLĐB) vừa ngã quỵ trên đường phố Độc Lập – Thị Xã Nha Trang đúng vào lúc giao thừa Tết Mậu Thân, đơn vị mà tôi mới vừa đáo nhậm chưa tới mười ngày ! Thời gian sau … cứ iên tiếp là những cái Tết: Kỷ Dậu (1969), Canh Tuất (1970), Tân Hợi (1971), Nhâm Tý (1972), giày saut mòn gót, áo trận bạc màu thay mới đã bao lần , miệt mài hành quân tới tận rừng sâu núi thẳm săn lùng , giết giặc chí cho tới những mặt trận khốc liệt trên khắp vùng chiến thuật … Chẳng có dưa hành thịt mỡ, chẳng có bánh chưng bánh tét mà chỉ có gạo sấy thịt hộp ba lác, rau rừng mọc dại dọc theo bờ suối, ven sông dưới chân đồi… Cũng chẳng có rượu nếp thang hay rượu đậu nành là đặc sản của Gò Công – Mỹ Tho quê tôi , mà chỉ có nước hố bom chứa sẵn trong bidong… Không còn nghe tiếng pháo đón giao thừa quen thuộc, thay vào đó là tiếng rít của hỏa tiễn 122 ly, đại pháo 130ly và đạn AK47 veo véo bay ngang qua đầu mà thân còn đang lội bì bõm dưới giao thông hào, hố cá nhân lầy lội bùn sình, lấp xấp nước … Chiến Tranh mà ! Chiến tranh sát hại sinh linh, chiến tranh tàn phá vạn vật thì huống hồ chi tuổi trẻ của tôi. Chiến tranh cũng không cần biết Xuân Hạ Thu Đông, Tết nhất sinh nhật giỗ kỵ gì hết, cũng không phân biệt già trẻ bé lớn, chỉ có bắn giết lẫn nhau để đoạt chiến thắng với bất cứ giá nào, dù cái giá phải trả bằng hằng vạn mạng sống của người dân lành vô tội !

.Tết Quý Sửu năm 1973:

Hiệp định Paris” hoặc hiệp định Paris 1973 (ở miền Nam còn gọi là Hiệp định Ba Lê) là hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Cộng Hoà Miền Nam và Việt Nam Cộng Hoà ký kết tại Paris ngày 27 – 1 – 1973. Về mặt công khai thì đàm phán có 4 bên và nội dung chính thức của bản Hiệp định cơ bản dựa trên Tuyên bố 10 điểm ngày 08-05- 1969 của phái đoàn Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam nhưng việc đàm phán để đạt được nội dung hiệp định lại chủ yếu được quyết định bởi các phiên họp kín giữa 2 đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Hoa Kỳ… (Trích Từ Báo Chính Luận Sài Gòn Phát Hành.

.Ngày 29 Tháng 1 Năm 1973: 

Ngày thứ bảy 27 tháng 1 năm 1973, ngày lịch sử bốn bên tham chiến cùng ký kết ngưng bắn, tái lập hòa bình cho cả hai miền Nam – Bắc Việt Nam sau hơn hai mươi năm chiến cuộc huynh đệ tương tàn ! Ngày lịch sử này nhằm ngày 24 tháng chạp năm Nhâm Tý. Tết Quý Sữu! Đêm hôm trước là ngày đưa ông táo về trời, mà trong đầu cứ phải nhớ những tọa độ để xin Pháo Binh bắn phản pháo. Sáng ngày 28 – 1 – 1973, tôi đứng trên một ngọn đồi thấp bên bờ Nam sông Thạch Hãn – Quảng Trị, dùng ống nhòm quan sát bên kia bờ Bắc. Thường thì chúng (quân Cộng Sản Bắc Việt) ẩn nấp sâu, lặn kỹ, không thấy một bóng dáng nào di chuyển trên mặt đất, tăng (tank) pháo (cannon, đại bác, súng lớn) thì được ngụy trang bằng lưới chụp, cày kết cành lá như bụi cây di động để tránh những cặp mắt cú vọ của phi cơ quan sát OV10 thường trựctừ ở đâu đó trên bầu trời săn lùng, phát hiện và chỉ điểm mục tiêu để cho quân ta thanh toán . Hôm nay thì hoàn toàn khác, lệnh ngưng bắn toàn phần đã được ban hành lúc O giờ đêm hôm qua, chiếu theo điều luật của Hiệp Định Paris, sự việc ngưng bắn phải được cả hai bên Bắc – Nam tuân thủ là không được động binh hay di chuyển quân, không được vô cớ nổ súng khi chạm mặt dù đang ở trong thế cài răng lược. Xuyên qua làn sương không dầy trôi lãng đãng trên sông Thạch Hãn, tôi thấy bọn chúng đang hì hục khiên súng ống, đạn dược xuống bờ sông chất lên xuồng và có vẽ như đang chờ đợi để vượt sông? Tôi làm chỉ huy đơn vị Đại Đội 2 Trinh Sát Nhảy Dù (ĐĐ2TSND) này hơn 5 năm, là đơn vị mà Đại Tá Trần Quốc Lịch – Lữ Đoàn Trư ởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù (LĐT/LĐ2ND) đặc cho một cái tên mỹ miều là “đầu trâu mặt ngựa” vì hầu hết các ông thần bán trời không mời thiên lôi quy tụ về đây quậy tới bến, đánh giặc gan dạ, liều lĩnh và tinh ranh như ma quỉ đánh nhau với địch thù “trên cơ “ và xem trò chơi như đùa giởn với tử thần và khi được nghĩ dưỡng quân, về phép trong thành phố thì hay kiếm chuyện ăn quỵt phá quán là chuyện thường như cơm bữa… Nhiều trường hợp vi phạm kỷ luật nặng nề, Trung Đội Trưởng không giải quyết nỗi phải giải giao lên cho tôi, thì các “ông thiên lôi ba búa” này tỏ ra khúm núm, khoanh tay, gãi đầu gãi tai ca “bài con cá sống vì nước, em sống còn là ở Đại Uý “ rất ư là “giáo khoa thư hiếu để, Lương Sơn Hảo Hớn” ăn năn hối cải, tội nghiệp quá đi thôi với nỗi oan thị Mầu … ! Tuy vậy tôi chỉ phạt nhẹ rồi tha và vài ba ngày sau thì chính mấy “ông cố nội” này lại làm chuyện khác còn động trời hơn lần trước, nhất quá tam…! Tôi gom lại cho đủ các “hảo Hớn lục lâm thảo khấu” rồi lập thành một toán xâm nhập đặc biệt thả vào hậu tuyến của địch để “lập công chuộc tội” …! Tôi cư xử “thân thương” dễ dãi với thuộc cấp rồi bị họ lừa gạt dài dài … khiến tôi sinh ra nghi ngờ đủ thứ và nhiều lần suýt bị treo áo lột lon vì cả tin thuộc cấp ! Nay có lệnh ngưng bắn tức cấm cả đôi bên động binh mà chính mắt tôi đã nhìn thấy bọn chúng chuẩn bị vượt sông, thì không còn gì nghi ngờ nữa là giặc vi phạm điều luật “Hiệp Định Ngưng Bắn” và do dự là một yếu tử của binh pháp đối với kế sách “Tiên Hạ Thủ Vi Cường” ! Tôi gọi ngay Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù (BCH/LĐ1ND)xin cung ứng khẩn cấp 20 cuộn kẽm gai (Concertina) và 100 hỏa tiễn chống Tank M72… Thời gian này, ĐĐ2TSND đang tăng phái hành quân cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù) (LĐ1ND). Tôi bố trí 3 trung đội tiền phương của ĐĐTS2ND đóng án ngữ cách bờ sông Thạch Hãn khoảng 50m (mét), từ bên phải của ch úng tôi kéo dài lên tới cầu Thạch Hãn do Tiểu Đoàn Biệt Động Quân TĐBĐQ) từ Vùng IV tăng cường, phía sau lưng là Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù (TĐ1ND) dưới quyền Trung Tá Lê Hồng chỉ huy. Nếu địch cố tình vi phạm lệnh ngưng bắn trong Hiệp Định Paris tấn tới lấn đất giành dân thì khoảng cách giữa ta với địch chỉ có 50m ngắn ngủi và nếu cứ để yên cho chúng ngang nhiên sang sông thì tuyến của TS2ND bị chọc thủng và BCH/LĐ1ND sẽ bị đe dọa ngay ! Quả thật như tôi đã cảnh giác , nhưng phía quân ta không được động thủ vì phải tuyệt đối tuân lệnh ngưng bắn ?! Vào lúc nửa đêm Bắc Quân âm thầm vượt tuyến sang sông không một tiếng động và sáng ngày hôm sau 29 – 1 – 1973 thì ta và địch “bốn mắt nhìn nhau trào máu họng” ta với địch chỉ cách nhau có 10m ! Làm gì nhau ? Chẳng ai làm gì nhau, chỉ còn nhìn nhau cười ruồi…! Tôi cảm thấy hụt hẩng, thua trí chúng nó và cũng vì “tuyệt đối thi hành lệnh cấp trên” mà bị bọn quỉ quyệt Bắc Cộng này chơi cho một vố “kèo trên” tưng tức cành hông ! Tới buổi trưa Đại Đội 2 Công Binh Nhảy Dù (ĐĐ2CBND) mang tới những cuộn kẽm gai, tôi liền cho lệnh binh sĩ căng ngay kẽm gai phân ranh giới, quân địch cũng tham gia phụ kéo kẽm gai phân ranh giới với sự hoan hỷ biểu đồng tình rất vui và rất vui với rộn rã tiếng cười, giọng nói rặc Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ huyên náo trộn lẫn vào nhau ì xèo ỏm tỏi trong niềm vui là từ nay cả hai bên Bắc – Nam chúng ta không còn có ai là “kẻ” thù “địch” nữa …! Hòa bình mà ! Hòa Bình thì phải sống chung với nhau chứ, chân không còn đạp mìn , đầu không còn đội pháo, không còn nhã đạn, đấm đá, đâm lút lưỡi lê vào thân thể nhau khi xáp lá cà cận chiến, không còn cơm gạo sấy với nước hố bom nữa … và bây giờ là thức ăn rau cải xanh tươi , gà vịt, thuỷ sản được tiếp tế hằng ngày… Phe “địch” đem cốm lương khô của Trung Cộng trao đổi gạo sấy, thịt hộp của phe ta, thuốc lào Bắc Việt trao đổi “hữu nghị” với thuốc lá Ruby Quân Tiếp Vụ, trà Lạng Sơn trao đổi với cà phê gói Ration C Mỹ quốc, anh anh tôi tôi trong niềm vui tưởng như chiến tranh đã lùi vào quá khứ xa xôi nào đó, và cả hai bên quên đi chỉ vài ngày trước đã tận tình rình rập lẫn nhau để hạ thủ vô tình vì Ta và Địch ! Tôi đứng đó, chứng kiến và quan sát hiện trạng, nhưng tận trong tâm trí vui buồn, mừng lo lẫn lộn. Vui vì thấy dưới hòa nhưng chắc gì trên thuận, trên ở đây là bọn chóp bu ma đầu Chính Trị Bộ Hà Nội tráo trở, lường gạt vẫn còn ôm mộng xâm lăng, cố chiếm cho bằng được phần đất nước giàu có mầu mở miền Nam. Mừng vì cuối cùng “Hiệp Ước Hòa Bình” đã được 4 bên ký kết ! Nhưng cũng lo lắng vì chắc gì bọn chúng tôn trọng, bởi Cộng Sản đã định nghĩa:” hòa bình là khi Tư Bản bị tiêu diệt” ! Tại Paris hoa lệ mà các phe phái Quốc – Cộng bàn cải chỉ vì hình dáng cái bàn hội nghị vuông hay tròn mà phải đôi co, kèn cựa cải vả suốt gần cả hai năm, trong hai năm đã có biết bao nhiêu xương máu, thân xác đã ngã gục trước họng súng ngút ngàn thù hận của cả hai bên, trong khi những thương thuyết “da” vẫn chểm chệ an bình ngồi salon phì phà điếu Cigar và nốc rượu Vine ở Paris ! Nếu phải sống chung đề huề với nhau thì ai sẽ hoá ai, ai sẽ thu tóm ai, quân cờ nào thua thiệt và bọn chóp bu Hà Nội với những thủ đoạn gian xảo, quỉ quyệt, lừa đảo vô nhân tính đang lom khom cúc cung thi hành theo chỉ thị của các quan thầy Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa là phải nhuộm đỏ toàn thể Á Châu và thế giới chứ không riêng gì Việt Nam. Hai ngày sau, tôi ra lệnh cho Trung Đội Chỉ Huy, dọn đất bằng phẳng để làm một sân bóng chuyền, làm xong cho binh lính ngõ lời mời phía bên kia qua bên này đấu bóng chuyền giao hữu Bắc – Nam cho vui. Khai trương sân bóng chuyền, lính ta đóng kịch với những trận đấu hào hứng la hét cổ võ của mấy ông chầu rìa đứng ngoài sân, sau đó gà nướng, sà lách trộn dầu dấm bày biện ra sân, khiến cho bên kia Bắc Quân chỉ biết đứng nhìn thèm thuồng nuốt nước miếng rõ rải !
Ngày 1- 2 – 1973, tức chỉ mới sau năm ngày Hiệp Định Paris về Chiến Tranh Việt Nam được phổ biến trên toàn thế giới, phái đoàn Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên hình thành, Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến cũng lần lượt đến Việt Nam và trú ngụ ở khách sạn Hương Giang – Huế. Chúng tôi, bên ta bên địch sống kề cận nhau, tay bắt tay, trao đổi với nhau thân mật những chuyện bá vơ rồi cuối cùng bên kia đồng ý gửi những cao thủ bóng chuyền sang đấu giao hữu với phe ta. Như vậy nhịp “Cầu Ô Thước” đã được bắt qua hàng rào kẽm gai concertina để cho “Ngưu Lang” Trinh Sát 2 Nhảy Dù “tao ngộ” “Chức Nữ” Việt Cộng răng hô mã tấu thi nhau nâng, banh đập bóng bình bịch, đùng rầm, bốp chát… Hai phe Nam – Bắc chầu rìa cổ võ la ó, vổ tay chan chát vang dội góc trời !!! Mỗi lần sau khi thi đấu xong, không cần biết thắng bại, phe ta khoản đãi phe địch một chầu cháo vịt còn nóng hổi rất ư là “đồng bào” một bọc 100 trứng chính hiệu made in Âu Cơ. Các ông quan to, mặt bự của Uỷ Ban Liên Hiệp Quân Sự 4 Bên (UBLHQS4B), các vị lớn có chức của Uỷ Ban Kiểm Soát Đình Chiến (ICCS) đang ở đâu, hãy đến đây mà chụp ảnh quay phim, rồi trở về căn phòng có máy lạnh mà múa bút, khoe khoang viết phét, tuyên bố láo lếu …! Cuộc vui của nền “ngoại giao bóng chuyền” giữa ĐĐ2TSND và Đại Đội Trinh Sát Đặc Công của SĐ 325CSBV (Sư Đoàn 325B Cộng Sản Bắc Việt) chỉ kéo dài được 5 ngày, thì một biến cố dở cười dở mếu bất ngờ xảy đến suýt chút nữa tôi bị truy tố ra tòa án quân sự vì tội bất tuân thượng lệnh ! Chẳng là vào ngày 3 – 2 – 1973 nhầm ngày 30 Tết Quý Sửu và cũng đúng là ngày sinh nhật 28 tuổi của tôi, trước đó mấy ngày tôi đã căn dặn Thượng Sĩ Nhất Tá – Hạ Sĩ Quan tiền trạm ở Huế ra chợ đặt cho tôi hai con heo quay cở lớn nhất, hậu cứ SàiGòn đả gửi ra cho chúng tôi 10 con khô vịt và bánh mì, bánh hỏi rau sống để lần đầu tiên đơn vị ăn Tết trong hòa bình vai kề vai bên cạnh kẻ thù không đội trời chung mà không có tiếng súng. Trưa nay, trận đấu bóng chuyền giao hữu đôi bên chấm dứt, một buổi tiệc tất niên linh đình được bày ra sân, ta với địch ôm eo ếch nhẩy sol đố mì cùng với hai can rượu đế Cầu Bạch Hổ. Tan tiệc dã chiến, ai về nhà nấy với lời chúc Tết của tôi và nhớ là ngưng giao chiến trong hai ngày Tết, vì bắt đầu ngày mai mùng một Tết, các binh sĩ sẽ lần lượt thay phiên nhau nhận sự vụ lệnh nghĩ phép về Sài Gòn thăm gia đình 10 ngày. Ngày mùng một Tết Nhâm Tý (4 – 2 – 1973) trôi qua trong cái lạnh giá buốt của vùng địa đầu giới tuyến, Tết này con không về được để ngắm những cây mai vàng mà Ba đã trồng trước ngõ, không ăn được món giò thủ mà Mẹ đã bó bằng những sợi dây lạc dừa, con chỉ ngồi đây mở radio ấp chiến lược nghe Hoàng Oanh hát:

Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cùng cười tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung tròn
Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi
Muốn yêu anh vác cầy trên đồi
Hay là yêu chiến sĩ ngàn nơi… !
(Hoa Xuân – Phạm Duy)

Tôi hướng đôi mắt về phía bên kia bờ Bắc trong lo âu hồi hộp canh chừng biến cố địch phản thùng như vụ Tết Mậu Thân ! Khoảng gần nửa đêm thì Hạ Sĩ Nhất Sơn Nhung gốc Khmer trung tín của tôi trình báo:
– Thưa Đại Úy, Trung Sĩ Nhất Triết muốn xin gặp Đại Úy.
Lê Văn Triết tốt nghiệp trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế cuối năm 1971, vốn là “dân Bắc Kỳ di cư” chính cống, sau một năm chết sống với Toán 3 Viễn Thám, được thăng cấp Trung Sĩ Nhất và làm Toán Phó cho Thiếu Úy Đoàn Kiên Em. Tôi đưa tay ra hiệu cho Triết vào gặp tôi và hỏi:
– Có chuyện gì quan trọng không mà anh muốn gặp tôi giờ này?
– Thưa Đại Úy, thật tình đối đế lắm, tôi mới xin gặp Đại Úy để giải quyết dùm cho tôi việc khó xử này !
– Anh cứ nói đi?
– Thưa đại úy, … Gia đình bố mẹ của em là dân miền Bắc di cư năm 1954 lúc em khoảng độ một hai tuổi. Gia đình người chú ruột của em còn bị kẹt ở lại miền Bắc với 4 người con, trong số này có hai người con trai bị xung vào bộ đội năm 1972 tên là Châu và Phong, một người phục vụ ở Đại Đội Đặc Công thuộc Sư Đoàn 325 và người nữa là bộ đội ở Trung Đội Phòng Không của Trung Đoàn 95 cũng trực thuộc SĐ 325CSBV. Định mệnh run rủi trớ trêu, ba anh em họ chúng em gặp lại nhau qua những trận đấu bóng chuyền “ngoại giao bóng chuyền” vừa qua do Đại Uý tổ chức và sau trận đấu trưa ngày 30 Tết, chúng em nhận ra nhau và hai anh em họ của em quyết ở lại với phe ta, nhất định không trở về lại bên kia dù có bị xử bắn tại chỗ hay bất cứ hình phạt nào của cả hai bên dành cho hai đứa em họ của em!
Tôi cho mời hai anh em họ Triết vào. Trước mặt tôi, Triết hỏi hai người em họ Phong và Châu và cả hai trả lời:
– Trước khi vào Nam, Bố có dặn là phải tìm anh (Triết)… và tìm cách liên lạc với anh cho bằng được… Có lẽ Ông Bà Nội linh thiêng đã phù hộ cho giòng họ nhà mình mà tụi em đã nhận ra anh trong những lần “đánh bóng trao” vừa qua …!
Nhìn vào ánh mắt lo âu bối rối của Triết, tôi thấy phảng phất nét van lơn cầu khẩn xin giúp đỡ. Triết thương tình anh em họ chú bác ruột thịt đã cùng nhau trải qua một đoạn đường ấu thơ trong thời kỳ “cải cách ruộng đất” máu thấm đẫm ruộng vườn của cha ông để lại, Triết mong đợi ở tôi có giải pháp giúp đỡ mà tình thật rất khó giải quyết sao cho êm xuôi ? Tôi ngồi trầm ngâm như một pho tượng đá không biết phải nói sao với Triết ! Sau ngưng bắn, lệnh cấp trên là không được nhận hồi chánh viên, đầu thú, hay trong trường hợp chạm súng bất đắc dĩ bắt được tù binh, ngay chính cả hàng binh thì phải “giải giao tại chổ” có nghĩa bắn bỏ, không báo cáo, không giải giao. Trong trường hợp của Triết tôi phải làm sao đây ? Tôi không thể vâng lệnh cấp trên làm như thế, vì là người sinh trưởng tại miền Nam hiền hoà hấp thụ nền giáo dục đề cao nhân phẩm, văn hoá, đạo đức, hướng thượng cho dù đang cầm súng chiến đấu bảo vệ dân lành và phần đất miền Nam trù phú, tôi cũng không thể đánh mất lương tri cũng là ương tâm để ra lệnh bắn bỏ 2 cán binh Bắc Quân là anh em họ với Triết trong tình cảnh chẳng đặng đừng này được, và tôi biết chính cái nhất điểm lương tâm này sẽ đeo đuổi dày vò tâm thức mình mình suốt cuộc đời còn lại, nếu tôi ra lệnh cho binh sĩ thi hành lệnh “giải giao tại chỗ” ! Tôi nói:
– Thôi các cậu về ngủ đi, sáng mai tất cả lên gặp tôi… Tôi sẽ có quyết định.
Trong căn bạt hành quân dã chiến được ngụy trang hoa lá cành và nằm dưới mặt đất khoảng một mét, Châu và Phong gầy gò ngồi xổm khúm núm dưới đất bên cạnh Triết, đầu cuối gầm, thỉnh thoảng ngước nhìn lên với đôi mắt lo âu, e dè, sợ sệt, vẽ mặt xanh xao vì ăn uống thiếu dinh dưỡng lâu ngày …! Tôi ngồi trên cái chỏng tre gọi Sơn Nhung:
– Anh pha cho tôi bốn ly cà phê sữa “cứt chồn” nóng ! Rồi quay sang nói với Châu và Phong:
– Tối qua, tôi đã nghe thấy sự tình của ba anh em cậu… Hai cậu nhất định ở lại với Triết, không trở về lại đơn vị của mình bên kia nữa dù có phải chết cũng không về. Thế bây giờ tôi không chấp nhận và dùng vũ lực để đẩy hai cậu qua hàng rào kẽm gai, nếu hai cậu kháng cự hoặc chạy trở qua bên này, tôi ra lệnh bắn hai cậu ngay tại chỗ, thì hai cậu nghĩ sao?
Phong từ tốn trả lời :
– Thưa Đại Úy, tụi em cũng biết nếu trở về thì sớm muộn gì cũng chết với chúng nó, vì em nghe lóm được chúng nó kháo nhau rằng chẳng còn bao lâu nữa mình cũng sẽ tới Sài Gòn. Tụi em nghĩ thà chết ở đây có mặt của anh Triết, ít ra tụi em cũng có được một nấm mộ và một cái bia, để mai kia bố mẹ tụi em biết được tụi em đang ở đâu. Còn nếu Đại Úy tha cho thì tụi em được sống với anh Triết trong tình thương yêu đùm bọc có nhau mà xây dựng lại cuộc đời mới…!
Thật ra là từ đêm qua tôi đã có quyết định rồi nhưng còn do dự không nói ra, bây giờ tôi không quan tâm tới những lời chân thật cầu khẩn của Phong và Châu mà chỉ hơi giật mình vì câu nói :“Chúng nó kháo nhau rằng chẳng còn bao lâu nữa cũng tới Sài Gòn”. Như vậy là quá rõ ràng ý đồ của Hà Nội qua Hiệp Định Paris mà chúng mới ký xong chưa tròn 1 tháng ? Thật là bọn giảo quyệt với kế gian : giai đoạn đầu vừa đàm vừa đánh, giai đoạn sau ký kết là giả hòa để lấn chiếm, chiếm đất giành dân rồi tấn tới chiếm luôn cả nước…! Tin tức này tuy chỉ nghe từ một lời tâm sự của cán binh Việt Cộng tép riêu, nhưng rất quan trọng trên tầng chiến lược. Chắc chắn thượng cấp của tôi cũng hiểu được “thế hạ phong” của mình trong tình trạng đình chiến da beo trộn trấu như thế này : Nam Quân chi giữ được thành, Bắc Quân giữ đất đai lãnh thổ, núi rừng, sông biển, ruộng đồng thì cái chuyện phản bội bất ngờ đánh úp của đối phương dễ như trở bàn tay. Tôi ngưng dòng suy nghĩ và nói tiếp với họ:
– Thôi các cậu trở về vị trí đóng quân đi, trong thời gian chờ đợi lệnh cấp trên, tôi giao trách nhiệm cho Triết, Chuẩn Úy Em và cả Toán 3 Viễn Thám, ngay bây giờ tôi không thể quyết định được gì cả, ngày nào hay ngày nấy, nếu có chuyện gì bất trắc xãy ra thìchính các cậu sẽ nhận lãnh hậu quả trước tiên. Có vậy thôi.
Tôi gọi ngay BCH/LĐ1ND đang trú đóng ven quốc lộ 1 phía đông La Vang khoảng vài ba cây số và xin trình diện Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lê Văn Ngọc (Ngọc Kiến) ngay ngày hôm nay và cũng xin có sự hiện diện của Trung Tá Nguyễn Văn Be đang kiêm Trưởng Phòng 2 SĐND. Lời yêu cầu được chấp thuận ngay. Lúc 5 giờ chiều ngày mùng 2 Tết Quý Sữu (4 – 2 – 1973), một chiếc M113 chở tôi đến BCH /LĐ1ND khi nhị vị này đã có mặt. Tôi chỉ trình vắn tắt gọn gàng câu chuyện “hồi chánh” của Châu và Phong cùng sự liên hệ ruột thịt với Trung Sĩ Nhất Triết TS2ND, đồng thời cũng bày tỏ nỗi khó xử của tôi giữa tình và lý trong nghịch cảnh này.
Trung Tá Be lên tiếng trước:
– Cái vụ này cả tôi và Đại Tá Ngọc (LĐT/ LĐ1ND) cũng không dám quyết định gì lúc này được. Trước đây thì dễ ợt rồi, không có gì phải bàn cải trình lên trình xuống mất công, chỉ làm biên bản giải giao qua Bộ Chiêu Hồi là phủi tay. Đại Tá nghĩ sao?
Trầm ngâm suy nghĩ một lát, Đại Tá Ngọc LĐT/ LĐ1ND chậm rải trả lời:
– Chà… cái vụ này hơi rắc rối à nha ! Xử theo tình thì Đại Úy Út lãnh cán búa, xử theo lý thì… thì… thất nhân tâm quá ! Thôi hay là anh Be thử gọi hỏi Lê Lợi ( Tướng Lê Quang Lưỡng – Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù) và xin quyết định xem sao?
Trung Tá Be rời ghế ngồi, bước vào căn hầm kế cận, nơi đặt máy siêu tần số Hot Line để liên lạc riêng với Tư Lệnh. Năm phút sau Ông trở ra chỉ với một câu nói ngắn gọn: “chẳng lôi thôi gì cả, giải giao tại chỗ” ! Như thế là xong lệnh là lệnh, cái lệnh dù có có thất nhân tâm mấy chăng nữa cũng là quân lệnh và kỷ luật ! Bài toán nan giải giữa lý và tình của tôi đã được Tướng Tư Lệnh cho đáp số thì chẳng còn gì để phân giải nữa…! Ngồi trên tháp chiếc thiết vận xa M113 trở về vị trí đóng quân, tâm hồn lãng đãng mù sa không biết phải giải quyết ra sao khi mà những đôi mắt van lơn khẩn cầu của ba anh em Triết – Châu – Phong như đang chập chờn lãng vãng trên cành cây ngọn cỏ ven đường về. Trải qua bao nhiêu chiến trận, tôi đã từng lấy mạng sống của mình trêu đùa với định mệnh, cái sống cái chết như nhau trong những lúc dầu sôi lửa bỏng, giờ đây trước hai kẻ thù với thân thể gầy còm, da xanh xao với ánh mắt hiền lành e dè, sợ sệt đang khép nép quay đầu về với Ta, mà cảnh ngộ đưa đẩy tôi phải ra lệnh giết chết họ thì quả thật là trớ trêu ? Tôi suy tư : “Ta không phải là định mệnh, là thần chết để gặt lưỡi hái tử thần lấy đi sinh mệnh của Phong và Châu trong hoàn cảnh này éo le đáng thương này”…! Đêm mùng 2 Tết, tôi ngồi một mình bên chai Remy Martell với cái đùi vịt quay nồng mùi dầu ẩm mốc của ba Tàu Chợ Lớn, trong căn chòi dã chiến chỉ cách Bắc Quân khoảng 50 mét. Trước khi đi ngủ, tôi đã tự quyết định là chẳng làm gì cả. Lại một lần nữa tôi đang trêu đùa với định mệnh ! Tôi cứ làm thinh, làm ngơ coi như chẳng có chuyện gì xãy ra cả, nhưng tự trong đáy lòng có nỗi ngỗn ngang không biết xử trí như thế nào cho hợp lý hợp tình với hai “ông cố nội” báo cô này…? May mắn thay, trưa ngày 6-2-1973 nhằm ngày mùng 4 Tết, ĐĐ2TS được lệnh di chuyển về phía Nam Sông Bồ (An Lỗ – Huế), Tiểu Đoàn Biệt Động Quân sẽ trám tuyến cho ĐĐ2TSD nội trong ngày. Nhá nhem chiều hôm đó bầu đoàn thê tử của tôi phải lội bộ hơn 3 cây số ra Quốc Lộ 1 để quân xa GMC chở về An Lỗ… dĩ nhiên phải cõng theo hai ông Việt Cộng ốm o gầy còm xanh như tàu lá chuối này ! Cá tính của tôi là khi suy tính một chuyện gì mà chưa tìm ra một giải pháp để thực thi thì trong dạ cứ nôn nao khó chịu, nhưng lại cứ nhởn nha cù cưa không dứt khoát liền, nhưng khi có giải kết rồi thì … trời cản cũng không được !
ĐĐ2TSD được nhé vào phòng tuyến giữa TĐ3ND và TĐ9ND dọc từ trên núi xuống tận cầu An Lỗ, phía Nam Sông Bồ, bờ sông phía Bắc là Trung Đoàn 95 của SĐ325CSBVchiếm giữ chỉ cách Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của SĐND hơn một kí lô mét về hướng Tây – Nam. Cả hai bạn – địch cùng tắm giặt nấu ăn cùng một dòng sông oan nghiệt chia cách đôi bờ ! Sau hai ngày phối trí quân tạm ổn định, tôi gọi Trung Sĩ Nhất Triết trình diện:
– Tôi thông cảm tâm trạng khó xử của cậu, tôi tạm thời giải quyết như thế này. Tôi biết gia đình và cha mẹ của cậu đang sống trong giáo sứ Khiết Tâm – Thủ Đức, một giáo xứ có tới 100% người Bắc di cư 1954, cha của cậu hiện là thầy bốn, thầy năm gì đó của giáo xứ, có nhiều uy tín với Linh Mục chánh xứ tại đây, có phải đúng như vậy không?
– Dạ đúng như vậy thưa Đại Úy.
– Vậy thì như thế này. Tôi cho cậu đi phép 2 tuần, ứng trước cho cậu 2 tháng lương, tôi cũng cấp giấy phép (giả) cho Châu và Phong cùng đi với cậu. Cậu có nhiệm vụ đưa hai đứa em nó về giao cho Cha cậu, và xin Cha cậu liệu bề cưu mang tụi nó vì là cháu con … Tôi nghĩ với uy tín và công quả, mục vụ của ông đối với giáo xứ , Cha cậu có thể giải quyết được chuyện này, và lại nữa với tình ruột thịt chú bác như Cha…Ông có thể sẽ hết lòng lo cho tụi nó. Lo như thế nào tôi không biết, nhưng tôi chắc chắn rằng ông sẽ lo được…? Khi về đến nhà, cậu phải xé bỏ và đốt ngay hai cái giấy phép giả này, và nhớ một điều tối quan trọng là : căn dặn gia đình nói rằng hai tụi nó là lao công đào binh của SĐ3BB với hai cái tên mới. Chỉ có vậy thôi, cậu đã hiểu và thông suốt những gì tôi căn dặn chưa? Tôi tin ở cậu chuyện này, nhớ rằng nếu có chuyện tráo trở, đổ bể sau này, tôi sẽ là người chịu trách nhiệm trực tiếp và chuyện tốt lành trở thành xấu dữ… sẽ đem tai họa cho tôi và anh em cậu, cậu hiểu không?
Triết nghe qua và như ngẩn người ra, có lẽ Triết không bao giờ nghĩ tôi lại đi đến quyết định liều lĩnh như vậy ? Một quyết định khá táo bạo gần như trêu đùa với định mệnh về tương lai và số phận của mình ! Triết lí nhí cám ơn và trở về nơi đóng quân của toán.
Hai ngày sau họ đã ở Thủ Đức, và ba tháng sau Triết báo cho tôi biết, Châu và Phong đã trở thành dân quân Xã Khiết Tâm thuộc Quận Thủ Đức với giá 100 000$ (một trăm ngàn đồng tiền VNCH -1973) cho mỗi người.
Tôi nghĩ trong mỗi một con người đều có “cái thước” để đo chính lương tâm của mình, dài hay ngắn, căng hay chùng là tùy vào mức độ lượng khoan dung, tha thứ của mỗi cá nhân . Khoan dung, tha thứ tuy chưa chắc và có thể không thay đổi được hận thù địch – bạn trong quá khứ, nhưng nó có khả năng mở rộng cho tương lai những conđường tốt đẹp khác? Tôi đã không thi hành nghiêm khắc quân lệnh “giải giao tại chỗ” mà còn âm thầm lén lút giúp cho hai cán binh Cộng Sản Bắc Việt một con đường sống, một lối sống. Trong trường hợp và tình cảnh của Triết, Phong, Châu thật đáng được giúp theo lương tâm là người đã khó mà làm Người (viết Hoa) vốn tự là nhân phẩm của Người ngay lành lại còn khó hơn vạn lần sinh ra…? Tôi chẳng có gì phải thù hận họ và cần thiết đến nỗi phải mang Phong – Châu bắn bỏ bằng một phát đạn thù ! Nếu có thù hận chăng và qui tội đám chóp bu quyền bính lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Bắc Việt chúng nó là : Hồ, Đồng, Chinh, Duẫn, Giáp… đã tha cái học thuyết Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản là thứ rác rưỡi lịch sử khốn nạn và rước giặc vào nhà giết dân lành, cướp của, dày xéo quê hương điêu linh, chinh chiến hoang tàn, đỗ nát … ! Trái tim của tôi có chỗ bao dung, uẩn lương dành cho những kẻ thù đã sa cơ thất thế muốn tìm một con đường sống lương thiện và sự tha thứ ! Chẳng những tôi đã tha cho Phong, Châu mà còngiúp cho họ làm lại cuộc đời vốn dĩ đã không may trong suốt quảng đời tuổi trẻ dưới chế độ dã man cùng cực tại miền Bắc nước Việt Nam. Lý lẽ từ ái và độ thương cảm tha nhân của tôi “bảo” tôi phải làm như vậy dù lý trí có phân vân, đắn đo hơn thiệt khi tính cá cược thân phận của mình.
Cuối tháng 10 năm 1973, tôi được lệnh trình diện Phòng An Ninh Quân Đội Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù để làm phúc trình về vụ việc “tha Tào” này vì tin tức đã thấu đến tai của An Ninh Quân Đội (ANQĐ). Trong cuối bản phúc trình tôi đã viết: “… hận thù như một viên đá đè nặng trong hồn tôi ! Trong tình huống đáng thương tâm của tha nhân và của anh em Triết , Phong, Châu ! Tôi quyết định vứt bỏ sự hận thù sinh tử trên chiến trường Quốc – Cộng để tha chết và mở cho họ con đường sống kể từ sau khi có lệnh ngưng bắn chẳng phải là dễ chịu hơn không. Tại sao tôi cứ phải để một viên đá vô hình như sự tàn bạo đè nặng lên tâm hồn vốn tự có nhiều nhân ái trong những trường hợp phải tha hay phải giết…” ? Sau đó, tôi không thấy phòng ANQĐ và Phòng Nhì của SĐND đá động gì tới nữa vụ việc này nữa ? Điều nầy cũng tự “nói” lên tính cách Nhân Đạo (viết Hoa) của cơ quan hữu trách và cấp chỉ huy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà .
Thuở nhỏ, Ông Ngoại tôi cứ căn dặn rằng con cháu rằng: “… ai cho con một chén cơm, manh áo thì các con, cháu phải nhớ ơn suốt đời, nhưng con cho ai chén cơm, manh áo thì con, cháu phải suốt đời quên đi…” ! Tôi đã vi phạm quân lệnh tha cho Châu và Phong tôi đã quên, nhưng Châu, Phong không quên.Tết Bính Thìn năm 1976, tôi đang bị giam giữ ở trại tù tập trung Hốc Môn, thì tôi nhận được một thùng quà Tết nặng tới 3 ký lô, người gửi là Lê Thanh Triết – Thủ Đức gồm có: một 1 tấm chăn dầy, 1 ký thịt bò khô xào mắm ruốt xã ớt, bàn chải kem đáng răng, sà bông cô ba, trộn lẫn trong ruốt là hai tờ giấy 50 $ (tiền Hồ) kèm theo dòng chữ :” tụi em sẽ cố gắng lo cho anh “đi” càng sớm càng tốt”. Tuy rất đổi mừng vui vì bị giam tù mà nhận được quà của người thân không bao giờ nghĩ tới, nhưng tôi cũng rất bình thản với “đi đâu” và dù có đi được hay không tôi dám nghĩ tới, chỉ thở “khì” một tiếng thì ra nhân – quả là đây ! Bốn tháng sau, tức tháng 5 năm 1976 tôi vượt ngục (trại tù Long Giao) rồi đi tới Xã Khiết Tâm tìm nhà ông Lâm cha của Triết cũng là chú ruột của Châu và Phong nhờ liên lạc với gia đình cha mẹ tôi ở Tiền Giang. Bấy giờ anh em Châu, Phong đã có giấy tờ hợp lệ sau “giải phóng”, họ đi làm phụ hồ cho những nhà thầu xây cất nhà cửa, riêng Triết đã có vợ và hai con, vợ chồng cùng đi làm chung ở một hãng dệt tại Thủ Đức. Cuộc sống bình thường của họ cứ thế mà trôi dần với thời gian, giờ đã gần nửa thế kỷ, 44 năm từ sau 1975 rồi còn gì…. Nhân dịp cuối năm và còn mấy ngày nữa là Tết Kỷ Hợi 2019 và cũng như thường lệ mọi năm, từ Việt Nam họ đều gửi thiệp chúc Tết cho gia đình tôi tại Mỹ, trong thiệp thư thăm hỏi không quên nhắc lại câu nói mà tôi đã từng nói với họ khi xưa: “tha thứ cho kẻ làm bạn tổn thương là món quà dành cho họ…” ! Quà Tết hằng năm của vợ chồng Triết và hai em Phong, Châu luôn là 3 hủ mắm tôm chà Gò Công, loại mắm mà tôi ưa thích nhất, 3 con thỏ nhà phơi khô ướp xã ớt được bọc gói cẩn thận dấu trong các hành lý của người thân từ Việt Nam sang Mỹ thăm thân nhân. Cuộc sống là tiếng vọng của luật nhân quả ? Những gì tôi “gửi” đi nay quay trở lại, những gì tôi đã gieo trồng nay tôi đang gặt hái, những điều tôi cho đi nay tôi nhận lại và quan trọng trong tình người tôi đang nhận lại những trái tim chân tình yêu thương vượt qua thù hận của người bên kia chiến tuyến đã có một thời bắn giết nhau trong quá khứ, nhưng cảnh ngộ trớ trêu xưa như một định mệnh an bày qua biến thiên thời thế đổi thay mà Tôi với gia đình Triết, Phong, Châu lại thương mến nhau như cùng một mái ấm gia đình tình thâm . Năm cũ sắp hết, năm mới sắp đến, những cành đào sau nhà đã trổ nụ, tôi chợt nhớ đến quê tôi xứ Gò Công nước mặn đồng chua với những cánh đồng lúa chín ngút ngàn, những vườn mãng cầu serie chín đỏ mọng, khi đông tàn Xuân đến, hằng chục chiếc ghe bầu khẩm nặng với dưa hấu, dừa xiêm ghé bến sông nước đục ngầu chảy xiết, chợ búa tất nập ngược xuôi, người mua kẻ bán, trong đó có Mẹ và Chị tôi, buôn tảo bán tần nuôi năm chị em tôi ăn học và như còn nghe văng vẳng đâu đây tiếng của Ông Ngoại dặn dò Mẹ tôi: “Nghèo Mà Biết Cho Đi Là Giàu Hơn Tất Cả, Giàu Mà Không Muốn Bỏ Ra Là Thiếu Tận Cùng” . Tôi đã giúp cho Châu và Phong một cuộc sống mới. Giờ đây tôi được một cuộc sống mới bình an. Trong Thánh Kinh đã có đề cập: Khi ấy đám đông người vây quanh và chuẩn bị liệng đá vào người đàn bà phạm tội ngoại tình, họ xách mé hỏi Chúa Jesu:
– Chúng tôi sẽ ném đá vào người đàn bà phạm tội ngoại tình kia, còn ông là con Thiên Chúa thì ông sẽ cư xử như thế nào ?
Chúa Jesu bình thản nhìn vào đám đông cuồng nộ và hỏi:
– Ai là người trong số các ngươi không có tội thì hãy cầm đá và ném người phụ nữ kia ?
Bắt đầu những người lớn tuổi trong đám đông bỏ đi …và người đàn bà phạm tội ngoại tình vẫn còn ngồi lại… Chúa ôn tồn nói với bà:
– Này người phụ nữ kia hãy đi đi và đừng làm tội nữa, ta không bắt tội bà đâu …!
Chúa Jesu nhân từ và vạn pháp trong thế gian này vận hành như nhiên , tuần hoàn và nhân – quả vô thuỷ và vô chung. Trăm năm đời người quá ngắn ngủi, nhìn lại có khác chi bọt bèo, cát bụi với trăm năm, ngàn năm … Sự sống hiện tiền chân thật với nhu cầu căn bản của sinh vật để sinh sống, ngoài ra tất cả : lý tưởng, trí thức, học thuật, giáo dục, văn hoá, triết lý, kỹ thuật, khoa học, chính trị, kinh tế, thương mãi, …là sản phẩm trí óc của loài người chúng ta sản sinh ra “nó”, rồi theo “nó” và bị vướng mắc “nó” , rồi làm nô lệ cho “nó” và cũng chính “nó” lại làm “thang điểm” phẩm chất cho cuộc sống của chúng ta “hướng thượng”…? Ôi ,… hệ luỵ biết bao giờ mới thôi ? Và trong giới hạn của vấn đề Việt Nam tuyệt nhiên cũng theo luật Nhân – Quả kẻ gieo gió sẽ gặt bão. Tôi đang chứng kiến từng ngày huỷ thể của đảng Cộng Sản Bắc Việt. Ai bảo tôi có thể “xử huề” với chúng, bọn đồ tể giết dân, cướp của, dâng bán đất nước – dân tộc Việt Nam cho Tàu cộng ? Trong Thánh Kinh cũng có “viết”: Lấy mắt trả mắt, lấy răng đền răng …? Phải không ?

Houston –Texas . đầu năm 2019.

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vn/item/256-nh-ng-mua-xuan-qua-mu-d-truong-van-ut

MÙA XUÂN ĐEN (Hải Triều): Karl Marx mắng đảng CS

Karl Marx mắng mỏ đảng Cộng Sản Việt Nam

Thiệt tình mà nói, trước khi vô bài, tôi đặt cái tít này chắc bà con khó hiểu, chắc mấy ông đầu đảng Cộng Sản ở Hà Nội ngạc nhiên tưởng tôi điên. Nhưng hãy khoan! Cứ bình tâm nghe tôi lý sự, nghe tôi kể chuyện.

Quả thật. tôi là người không ưa Cộng Sản Việt Nam, không ưa chủ nghĩa Cộng Sản, không phải chỉ vì mấy năm tù bị đì như thú vật mà tôi có định kiến mà vì Cộng Sản dã man và nhiều khi mấtt nhân tính thật. Ơ trong tù như ở trong địa ngục, mà ra khỏi tù thì cũng thấy Cộng Sản đối xử với đồng bào như cỏ rác, như nô lệ. sống vất vưởng đầu đường xó chợ trong khi Cộng Sản thi nhau bỏ giép râu đi xe Mẹc-Sơ-Đì bóng loáng, nhà cao của rộng phung phí như ông hoàng. Tôi có cảm giác Cộng Sản Việt Nam là những sinh vật đến từ một thứ hành tinh nào, chứ không cùng nòi giống Việt Nam.

Thoát ra được nước ngoài. nghĩ lại những năm tháng ở Việt Nam mà còn lạnh xương sống, cóng xương sườn, đêm trường ngủ mơ thấy ở tù kỳ cục, rồi chợt nhớ lời ông Karl Marx phán mà thấy thấm thía. Ổng phán rằng thì là:“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình…”

Nói thiệt với bà con, tôi ghét cay đắng chủ nghĩa Mác Lê Nin, nhưng rất khoái và thấm câu nói của Mác. Có thể Marx nói xỏ mấy ông chủ bóc lột công nhân thời của ông bên Anh khoảng thế kỷ 17, 18 thì phải. Tôi dốt sử nên đoán mò, trúng tôi nhờ, trật bà con chịu và thông cảm cho.

Tuy nhiên, hôm nay, khi viết những dòng này, nhớ về Việt Nam, nhớ những gương mặt “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu anh em” của năm 1975, với những đổ nát, đau thương, chết chóc, mất mát, chia ly, đọa đày trên khắp nước vẫn còn tiếp diễn dưới bàn tay thống trị của Cộng Sản Việt Nam, nhớ những ngày chính tôi và bạn bè khiêng xác anh em bạn tù đi chôn ven rừng, mồ xiêu, mã lạng, tôi bỗng thấy dường như câu nói của Mác là câu nói ông nói của Mác là câu nói với đảng Cộng Sản Việt Nam. Mác tiên tri? Mác mặc khải? Mác làm ông Trạng Trình?. Tôi không biết. nhưng điều tôi biết là Mác nói không sai khi áp dụng vào đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ngày 13 tháng 7 năm 2001, vào một buổi xế chiều tại công viên Stanley Park nổi danh của Vancouer, Canada (đứng vào hàng công viên đẹp hàng thứ 7 trên thế giới), người ta chứng kiến một trường hợp lạ lùng: Một con vịt mẹ dắt một bầy vịt con từ một mé rừng công viên đến bờ ao. Trên đường đi, cả đám vịt con rớt tòm xuống một cống nước . Vịt mẹ đứng nhìn xuống cống nước cất tiếng cạp cạp tuyệt vọng không biết làm sao đem bầy con mình lên bờ.

Cảnh sát vỉên Ray Peterson tình cờ đi ngang gần đó khi tuần tra, ông ngạc nhiên thấy con vịt mẹ chạy lạch bạch tới cắn ống quần ông kéo đi về hướng ống cống. Thoạt đầu ông tưởng con vịt cắn sảng, ông hất nó ra, nhưng nó cứ một mực cắn ống quần ông kéo đi. Ông ngạc nhiên , đi theo con vịt, nó dẫn ông tới lỗ cống có song sắt lớn chắn rác. Con vịt mẹ chạy trước đến đó và chờ ông vói tiếng kêu kêu cạp cạp thống thiết. Ray Peterson vô cùng ngạc nhiên thấy 8 con vịt con rơi tòm kẹt duới cống lỏm bỏm nước. Ray Peterson chợt hiểu chuyện gì đã xẩy ra.

Cảnh sát và xe cứu hỏa được gởi tới, và chuyện lạ lùng này lọt vào lai phóng viên tờ Vancouver Sun. Tức thời báo chí bay đến viết tin và chụp hình khi người ta giở tấm vĩ sắt, dùng vợt vớt 8 chú vịt con lên bờ trả cho vịt mẹ. Vịt mẹ dắt bầy con, từ giã đám người hiếu kỳ đang bu quanh, dắt bầy con đến một cái ao bên cạnh và mẹ còn ùa xuống nước. Nhiều người vừa chụp hình, vừa gãi đầu trước hiện tượng lạ lùng kỳ thú này.

Hình ảnh vịt mẹ dắt bầy con cùng bản tin lạ này lập tức được Reuters loan đi khắp thế giới với tựa đề : Ducklings in trouble, mother calls the police. (By Reuters 07/13/01). Người viết có được hình con vịt thông minh dắt bầy vịt con trên tờ Vancouver Sun, nhưng không biết nó thất lạc đi đâu trong cái núi sách báo và hồ sơ…. Tuy nhiên, cũng như rất nhiều người ở Vancouver và độc giả khắp nơi, câu chuyện có thật lạ lùng và cảm động này cứ nằm trong đầu tôi với câu hỏi tại sao con vịt mẹ này lại thông minh đến độ như vậy’? Nó không bỏ bầy con, nó lại biết gọi cảnh sát mới là kỳ diệu! Ai bảo loài vật không có lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào’. . ! ?”

Ngày 14 tháng 5 năm 2007 mới đây, phóng viên Trung Đông Ali Jareki, lại cũng của Reuters phóng lên bản tin và tấm hình một con mèo nuôi gà con. Con mèo tên Nimra, một năm tuổi. Sau khi con gà mẹ của 7 con gà con sơ sinh bị chết: con mèo Nimra đứng ra thay thế gà mẹ chăm sóc 7 con gà con. Bầy gà con mất mẹ tưởng mèo là mẹ nó nên lẩn quẩn theo mẹ mèo. Chuyện xảy ra ở Amman, Jordan.

Ngày 25 tháng 5 năm 2007, phóng viên Arben Celi, cũng của Reuters tung lên các hệ thống truyền thông một bản tin, một tấm hình cảm động khác. Tại một thành phố nhỏ tên Mamurras thuộc vùng nước Albani cách thành phố Tirana 50km, một con mèo mẹ sinh ra mấy con mèo con và chẳng may tất cả mèo con bị chết trong lúc vú mèo mẹ còn căng sữa.

Cùng sống trong một ngôi nhà một con chó sinh ra hai con chó con, một đen và trắng và không may, con chó mẹ bị xe cán chết. Mất mẹ, hai con chó con chạy theo con mèo mẹ mất con để tìm vú bú sữa. Con mèo mẹ nằm xuống cho hai con chó con bú sữa mèo. Và rồi ngày ngày con mèo mẹ chăm sóc hai con chó con như con ruột! Một hình ảnh cảm động, rất dễ thương.

Con mèo, con chó, con vịt… là những con vật, tại sao đối xử với con, với loài khác giống như những con người có lương tri, đầy tình thương với đồng loại’? Có những trường hợp con người không hiểu nổi sự thông minh và tình thương trong phản ứng của loài vật, như trường hợp con vịt được đề cập phần trên. Phải chăng Marx đã nói oan cho loài vật? “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”

Marx sai với con vịt. Con vịt đâu có bỏ đi và bỏ con chết dưới cống nước, nó biết gọi cảnh sát cứu con nó mà !

Marx sai với con mèo. Con mèo còn thay mẹ gà nuôi và chăm sóc mấy con gà con mất mẹ, dù mèo và gà không là đồng loại.

Marx sai với con mèo. Con mèo còn biết thay con chó mẹ bị chết để cho chó con bú và nuôi hai con chó con. dù mèo không cùng loại với chó.

Nhưng Marx hoàn toàn đúng với trường hợp chế độ Cộng Sản Việt Nam. Tôi nhắc lại lời Marx:

“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”. Vì sao?

Từ ngày thành hình, đảng CSVN, qua dòng lịch sử, đã thể hiện rõ nét, là họ đã quay lựng với những nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sức cho quyền lực của đảng Cộng Sản, của giai cấp thống trị, của quyền lợi giới tư bản đỏ tai Việt Nam, và của gia đình họ.

Oan khuất của đồng bào trùng trùng khắp trời Nam Bắc, khát vọng của đồng bào bị dập tắt dã man. Mất lòng dân, mất lòng người.,mất biên thổ của tổ tiên… Cộng Sản Việt Nam đã và đang quay lưng lại với nỗi đau và khát vọng của đồng loại và dân tộc. Và thưa cụ Karl Marx, theo cụ thì chế độ CS Việt Nam là loại gì?

Thưa cụ Mác! Ai bôi bác cụ vì Cộng Sản Việt Nam cứ dùng hoài cái món ngoại lai mà họ gọi là “Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến bách thắng muôn năm” . . nhưng cuối cùng cũng chầu ông Bush hay Ohama . . . thì cứ bôi bác, nhưng tôi phải thành thật mà thưa rằng cái tâm ban đầu của cụ là tốt, là thiện nhưng bị ông Lê, ông Sịt và VC biến chế thành ác để dùng, để đi làm cách mạng kiểu:

Đỗ 10 học hết lớp ba
Đi làm cách mạng chết cha giống nòi!
Không tin hỏi bác mà coi
Muôn dân ở dưới, đảng ngồi ở trên!

Không biết tôi đoán có sai hay không, cụ linh thiêng thì hiện hình dạy bảo nhưng dù sao tôi cũng cám ơn cụ đã phán một câu quá đúng về mặt đạo lý và nhân bản: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”.

Cụ hết sẩy cụ Mác ui! Cụ phán trúng phóc, không trật một ly ông cụ nào khi đem câu đó trùm lên đầu chế độ cộng sản cầm quyền hiện nay ở Việt Nam! Mấy ông VC ở Hà Nội nghĩ sao thì mặc xác mấy ông, nhưng theo kẻ hèn này thì ông Mác nói đúng, chỉ có “loài vật” mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại mà chỉ lo chăm sóc mấy đồng đô la trong túi mình.

haitrieu_sign

Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2013/05/31/mua-xuan-den-hai-trieu-karl-marx-mang-dang-cs/

Món “thịt kho tàu” ngày Tết có phải là món của người Tàu?

Không biết từ lúc nào, người miền Nam ăn Tết luôn có món thịt kho tàu, món ăn thân thuộc giống như là bánh tét, dưa món, củ kiệu vậy. Cái tên “thịt kho tàu” có thể làm nhiều người nghĩ là món ăn này có nguồn gốc bên… Tàu. Nhưng thực sự không phải như vậy vì người Hoa không hảo món này cho lắm.

Nhà văn Bình Nguyên Lộc giải thích: chữ “tàu” trong thịt kho tàu nói theo nghĩa của người “miền dưới” là “lạt”, ví dụ sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ là hai con sông nước lợ. Như vậy thịt kho tàu không phải là thịt kho của người Tàu, mà đơn giản là món thịt kho lạt. Chữ “tàu” có nghĩa là ngọt mặn lờ lợ, và món thịt kho tàu là của người Việt chính cống. Không phải là đồ Made by China.

Giáo sư Trần Văn Khê cũng từng nói: “Món thịt kho “tàu” hóa ra lại là “ta” hoàn toàn, món Việt trăm phần trăm!”.

Sau đây, xin đăng kèm công thức nấu món “thịt kho tàu”, trích nguồn báo Tuổi Trẻ:

Muốn món thịt kho tàu thật ngon, phải chọn được phần thịt heo ngon là thịt nách, rõ 3 chỉ, không nhiều mỡ, không quá nạc, màu tươi hồng, ngửi miếng thịt sống nghe thơm.

Thịt rửa qua với nước, xắt miếng vừa ăn, ngang cỡ hai đốt ngón tay, ướp sơ hành, tỏi, ớt, muối chút đường.

Trứng vịt tuyệt đối không mua trứng ung, thối. Trứng mang luộc chín, để vào nước lạnh sẽ dễ dàng bóc vỏ và không bị nứt. Bóc vỏ trứng, lấy cây tăm đâm vào trứng rồi đem đi chiên sơ qua dầu cho có màu vàng đẹp.

Bắc nồi lên bếp, để lửa to, cho thịt đã ướp vào đảo đều, chờ thịt bắt mùi thơm và ra mỡ. Khi thấy thịt ra đều mỡ và chuyển màu thì cho chút nước mắm, tiếp tục đảo cho thịt ngấm. Sau đó tạm nhắc nồi xuống để một bên.

Tiếp theo là chưng nước hàng: muốn thịt kho tàu đẹp mắt, không dùng nước hàng bán sẵn ở chợ mà nên tự làm. Đặt chảo nóng trên bếp, cho chút đường cát vào đảo đều, chờ chuyển dần màu. Chuẩn bị sẵn chén nước, khi thấy nước hàng chuyển sang màu cánh gián, nhanh tay đổ nước vào, vẫn đảo đều để đường không vón cục.

Nước hàng đun sôi xong rồi chắt vào nồi thịt, đảo đều. Tiếp đó đổ nước dừa xiêm ngang mặt thịt, lưu ý để nhỏ lửa. Cuối cùng cho trứng vịt đã chiên vào khi nước sôi, và nấu sôi thêm 2-3 dạo. Nêm nếm thử thấy vừa ăn.

Món thịt kho tàu sau khi nấu chín thì toàn bộ trứng phải nổi lên mặt nước. Nước thịt màu vàng óng như mật ong. Trứng vịt màu đỏ au. Món ăn phải vừa miệng, không quá mặn hoặc quá nhạt.

Thịt kho tàu má nấu là món Tết vô địch của tôi – Ảnh 2.
Má tôi hay dặn những khi múc thịt ra dùng, chỉ nên múc một bên và múc xong thì đậy ngay nắp lại để tránh “hôi gió”, không bị thiu. Mỗi lần hâm lại thịt cần vớt sạch bọt. Nếu thấy nước cạn, cho thêm chút nước lã vào rồi nếm lại cho vừa ăn. Như vậy sẽ bảo quản tốt món thịt kho tàu và mỗi lần thưởng thức, hương vị không giảm đi.

Thưởng thức món thịt kho tàu có nhiều cách. Có người thích kiểu ăn thịt kho tàu với bánh tráng như một món ăn chơi. Chiếc bánh tráng gạo mỏng nhúng sơ qua nước, gói cùng ít rau thơm, đồ chua, kèm thịt và trứng đã cắt nhỏ, chấm một ít nước thịt ăn khá hấp dẫn.

Phổ biến nhất là dùng với cơm. Bới một tô cơm nóng, chan ít nước thịt, cắt trứng ra, bỏ thịt và trứng vào và dùng chung với dưa giá, củ kiệu hay dưa cải chua sẽ thưởng thức trọn vẹn hương vị của món thịt kho tàu không gì sánh bằng.

Nguồn: https://nhacxua.vn/mon-thit-kho-tau-ngay-tet-co-phai-la-mon-cua-nguoi-tau/

Ký ức cuộc chiến Hoàng Sa 1974 – Minh Kiệt 

Minh Kiệt 

(GDVN) – “Dù chúng tôi không thể giữ được mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc nhưng cũng luôn đau đáu nghĩ về nơi ấy. Đó là nơi chủ quyền của ông cha ta đã chịu nhiều hi sinh mất mát để bảo vệ.

Chúng tôi tìm về Tiền Giang gặp lại nhân chứng sống trực tiếp tham gia trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974 chống lại quân Trung Quốc tấn công, thôn tính quần đảo thiêng liêng của người Việt. Qua những câu chuyện cho chúng ta thấy được phần nào mức độ ác liệt của trận chiến, tình cảm thiêng liêng đối với Tổ Quốc của những người con Đất Việt đã cầm súng bảo vệ Hoàng Sa.


Ông Đoàn Văn Nghiệp là thủy thủ tàu HQ16, một trong 15 người đổ bộ chốt giữ đảo Quang Ảnh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974.

Cuộc chiến xảy ra ác liệt lắm…

Ông Đoàn Văn Nghiệp 62 tuổi, ở xã Thới Sơn, TP. Mỹ Tho, Tiền Giang là thủy thủ tàu HQ16, một trong 15 người đổ bộ chốt giữ đảo Quang Ảnh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974 nhớ lại: “Sáng ngày 19/1/1974, chúng tôi nhận lệnh đổ bộ lên bờ để bảo vệ đảo, anh em rất tự hào tiến lên. Lúc đấy, Trung úy Lâm Chí Liêm làm trưởng toán mang theo 2 súng M79, 3 súng M16, một máy thông tin liên lạc và một số súng đạn khác cùng một ít lượng thực. Chúng tôi tiến lên đảo để chiếm đóng và tổ chức phòng thủ tại đây”.

Ông Nghiệp nhớ lại: “Lúc đó, chúng tôi lên được đảo và thiết lập hệ thống phòng thủ chờ lệnh tiếp theo từ phía chỉ huy. Không ai nghĩ rằng sẽ xảy ra một trận thủy chiến với tàu Trung Quốc. Bởi trước đó, hai bên chỉ “khẩu chiến” với nhau”.

Theo ông, tàu VNCH liên tục phát tín hiệu yêu cầu tàu Trung Quốc di chuyển ra khỏi khu vực chủ quyền của Việt Nam. Nhưng phía họ cũng phản ứng lại tương tự. Đôi bên giằng co “khẩu chiến”, đến trưa cùng ngày, phía VNCH nhận thấy Trung Quốc có dấu hiệu dùng vũ lực tấn công, nên đã chủ động đánh đòn phủ đầu.

Đến khoảng trưa ngày 19/1/1974, hai bên bắt đầu nổ súng. Tàu VNCH bắn chìm tàu chiến 274 của Trung Quốc trước. Sau đó, đối phương cũng đã kịp phản ứng và bắt đầu khai hỏa tấn công ngược lại. Khi ấy, tôi đứng trên đảo quan sát diễn biến trận đánh và bắt đầu lo lắng” – ông bồi hồi nói, Trung Quốc huy động lực lượng quá đông và mạnh.

TUAN DUONG HAM LY THONG KIET HQ16.

Ông Nghiệp nhớ lại: “Năm đó, lực lượng của VNCH gồm 4 tàu chiến: 2 tuần dương hạm là HQ16 (Lý Thường Kiệt), HQ5 (Trần Bình Trọng) và 2 tàu HQ4 (Trần Khánh Dư), HQ10 (Nhật Tảo). Còn phía Trung Quốc, lúc đấy có 6 tàu và lực lượng tiếp ứng của đối phương cũng nhiều hơn”.

Trưa hôm đó, tàu HQ10 đã hạ tàu 396 của Trung Quốc khiến tàu này ủi vào bờ và mất khả năng chiến đấu. Tuy nhiên, HQ10 cũng bị tổn thất nặng nề, bị hỏa lực của 2 tàu chiến Trung Quốc bắn trúng đài chỉ huy và hầm máy khiến tàu bốc cháy dữ dội và bắt đầu chìm, quân số trên tàu tổn thất nghiêm trọng, chỉ còn lại 22 người kịp thoát khỏi tàu.

Riêng HQ4 cũng bị trúng đạn tại đài chỉ huy và chạy về phía bắc của đảo để bảo vệ an toàn. Còn chiếc HQ5 vẫn bám sát tàu chiến 271 của địch. Tuy nhiên, do chiếc 389 của Trung Quốc hỗ trợ, hỏa lực hai tàu địch dồn vào HQ5 buộc tàu phải rút lui để đảm bảo an toàn.

Chỉ còn lại chiến hạm HQ16 nhưng cũng bị đạn Trung Quốc bắn trúng, làm mất điện và nước tràn vào khoang làm tàu bị nghiêng, buộc phải di chuyển ra xa vùng chiến sự để bảo toàn lực lượng.

Sau gần 2h nổ súng, lực lượng phía VNCH tổn thất nặng, HQ10 bị chìm không thể rút về, còn HQ4 và HQ5 lần lượt rút về Đà Nẵng. Riêng HQ16 vẫn còn muốn quay lại đón chúng tôi về cùng, tuy nhiên sau đó được lệnh từ ban chỉ huy, tàu cũng phải cơ động về, không quay lại rước.”- ông nhớ lại.

Ngồi kể lại cho chúng tôi nghe trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa cách đây gần 40 năm như cứ tưởng ông vừa mới trở về từ đấy.
Ngoài những hình ảnh trận đánh năm xưa, ông vẫn còn nhớ như in, nhớ từng chi tiết cụ thể thì ký ức đứng trước ranh giới sự sống và cái chết cũng khiến ông không thể nào quên được.

Giành giật sự sống với tử thần

Sau trận chiến đó, toàn bộ tàu của VNCH rút về đất liền, phía Trung Quốc cũng đưa thêm tàu và máy bay ra tiếp viện, chuẩn bị tấn công vào các đảo đang có người của VNCH đóng giữ.

Trước tình thế nguy cấp đó, ông và 14 người trên đảo Quang Ảnh có một đêm mất ngủ vì lo lắng. Ông kể: “Sau trận chiến, chúng tôi nhận được điện đàm cho biết tàu không thể trở ra cứu hộ được, anh em toàn quyền quyết định hành động. Lúc đó, anh em cũng đã hiểu rõ tình thế. Buộc lòng chúng tôi phải bàn tính kế tiếp theo”.

Tối 19/1, mọi người rất căng thẳng và lo lắng, nếu ngày mai phía Trung Quốc quay lại công kích, chắc chắn sẽ chết bì không thể chống lại được những làn đạn pháo dồn dập của địch.

Đúng như dự đoán, sáng ngày 20/1/1974, ở đảo phía đối diện, Trung Quốc đã công kích và bắt toàn bộ quân số của VNCH trên đảo đó.
Ông Nghiệp nhớ lại thời khắc quyết định: “Trước tình thế nguy cấp đó, anh em chúng tôi đã bàn tính kế hoạch và thống nhất ý kiến rút quân tìm đường về đất liền để đảm bảo an toàn. Thế là chúng tôi sử dụng bè để rời đảo vào lúc 11h trưa cùng ngày, dù còn một chút hi vọng mong manh cũng phải đi”.

Suốt 10 ngày trôi lênh đênh trên biển, chúng tôi chỉ uống nước cầm cự mạng sống. Anh em thống nhất tuân thủ quy định, mỗi người chỉ uống một muỗng nước, ngày uống 3 muỗng. Không ai được uống nhiều vì sợ không đủ nước cầm cự đến khi gặp được thuyền cứu hộ”.

Dù đã tiết kiệm nhưng đến ngày thứ 6, đoàn đội cũng hết nước ngọt để uống. Lúc này, mỗi người phải uống nước tiểu của mình mà sống. Có anh bị sảng đến nỗi nhảy xuống biển và nói: “Các anh ở đây, tôi đi lấy nước ngọt về cho mọi người uống”.

Ông cũng kể lại rằng, trước khi xuống bè đi đã quy định rõ, nếu ai chết trước thì không thể mang xác về được, mà sẽ bỏ lại biển khơi. Bởi nếu để xác lại thì mùi hôi thối sẽ khiến những người còn lại không chịu được. Tất cả thống nhất và một lòng hi vọng trở về đất liền để gặp lại gia đình, vợ con. Đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết, con người mới bộc lộ hết được những phẫm chất, ý chí đáng quý của mình.

Đến ngày thứ 10, ông và các đồng đội may mắn được một tàu cá cứu và đưa về căn cứ Hải đội 2 ở Quy Nhơn. Toàn đội nhanh chóng được đưa đến bệnh viện quân y Quy Nhơn cấp cứu. Nhưng trước đó, một người đã chết khi vừa gặp tàu cá.

Mãi đến ngày hôm nay, ông vẫn không thể quên được những ký ức đó. Mỗi lần nhớ lại, ông đều rơm rớm nước mắt. Có lẽ, đó là những ký ức mà ít ai trải qua. Một cuộc đời nếm trải cái ranh giới sự sống và cái chết, chứng kiến những hi sinh mất mát của đồng đội. Ông khóc vì tiếc thương cho đồng đội đã ngã xuống vì biển đảo, khóc vì những chuỗi ngày đối diện với cái chết nhưng đồng đội không bỏ nhau, vẫn đoàn kết chia sẽ từng giọt nước.

Lâu lâu, ông lại lấy tời giấy thăng cấp ra xem và chỉ tên từng đồng đội. Ông cũng đánh dấu vào đấy tên những người đã cùng mình vượt qua cái chết sau 10 ngày trên biển. “Sau ngày 30 tháng 4, 1975, chúng tôi mất liên lạc và không còn gặp nhau nữa. Nếu ngày đó, không có anh Nguyễn Ngọc Cẩn (quê Kiên Giang) thì toàn đội không dám lên bè đi về. Vì anh ấy giỏi thiên văn và có kinh nghiệm đi biển” – ông thở dài nhớ lại.

Rồi ông khẳng định:

Cuộc chiến đã lùi xa gần 40 năm nhưng ký ức vẫn còn đó như mới ngày hôm qua, dù chúng tôi không thể giữ được mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc nhưng cũng luôn đau đáu nghĩ về nơi ấy. Đó là nơi chủ quyền của ông cha ta, đã chịu nhiều hi sinh mất mát để bảo vệ. Vì vậy, mong thế hệ trẻ sau này cần phát huy tinh thần của thế hệ trước, đòi lại chủ quyền và bảo vệ mảnh đất của mình…”.

Nguồn: http://batkhuat.net/van-kyuc-cuocchien-hoangsa-1974.htm