Bí mật chưa tiết lộ

Lời giới thiệu: Quý độc giả hẳn không quên vụ khủng hoảng hoả tiễn giữa Nga và Mỹ tại Cuba vào năm 1962, với bối cảnh hai nước này đang ở vào thời kỳ Chiến tranh lạnh. Vụ đối đầu giữa hai cường quốc nguyên tử đã “nóng” dần lên đến cực độ, tưởng chừng như sẽ có một cuộc chiến tranh nguyên tử sắp xảy ra.

https://i2.wp.com/baotreonline.com/wp-content/uploads/2018/08/bi-mat-chua-tiet-lo1.jpg
Tàu ngầm Liên Sô trong khủng hoảng hỏa tiễn Nga Mỹ tại Cuba – nguồn nationalinterest.org

Trong một bài báo của tác giả Sebastien Roblin đăng trên tờ The National Interest, ngày 18 tháng 7 năm 2018, đã tiết lộ những tình huống mà ta không thể ngờ nó đã từng xảy ra cho những thuỷ thủ đoàn của Liên Sô một cách thật thảm thương dẫn đến nguy cơ nổ súng.

Chúng ta đều nghĩ rằng, những quyết định chiến tranh giữa các nước đối nghịch nhau thì thường đến từ các vị nguyên thủ quốc gia. Thật ra, nhiều khi diễn biến này ở ngoài tầm tay của Kennedy hay Khrushchev, mà nằm ở một nhóm các thuỷ thủ, đang trong tình trạng ngắc ngoải, vì thiếu nước uống và bị thấm hơi độc của khí CO2, trong một khoang tàu của một chiếc tàu lặn. Chiếc tàu này đang lâm tình trạng hư hỏng và bị những chiến hạm Hải quân Hoa Kỳ bao vây tứ phía mà không thể liên lạc được với Mạc Tư Khoa để nhận lệnh.

Hai vị sĩ quan chỉ huy trên tàu đã cho lệnh sửa soạn phóng hoả tiễn mang đầu đạn nguyên tử vào chiến hạm của Hoa Kỳ.

Khởi thuỷ vụ khủng hoảng hoả tiễn Cuba, được đặt tên là “Cuộc điều động Anadyr”, Sô Viết đã hoạch định đưa 50,000 quân nhân cùng những loại vũ khí hạng nặng đến Cuba bằng đường biển một cách bí mật. Những sĩ quan chỉ huy đội quân ấy chỉ biết nơi đến từ lá thư của nhân viên tình báo KGB đưa ra khi ở ngoài khơi.

Tổng cộng có tới 86 tàu của Liên Sô chứa toàn bộ sư đoàn trang bị vũ khí tự động tối tân đến Cuba, cùng với 40 phi cơ phản lực chiến đấu Mig-21, hai sư đoàn chống máy bay trang bị SA-2 hoả tiễn đất đối không (SAMs), 16 bệ phóng hoả tiễn R-12 và R-14, 6 phi cơ phản lực thả bom Il-28, 12 hệ thống hoả tiễn liên lục địa chiến thuật FROG-3, với ba hệ thống mang đầu đạn nguyên tử.

Cả đội quân và vũ khí được che giấu khỏi tầm nhìn bên ngoài các chiến hạm. Nói chung thì sự che giấu của Sô Viết đã khá thành công.

Vào ngày 14 tháng Mười, một chiếc phi cơ thám thính của Mỹ U-2 đã chụp hình được những hoả tiễn liên lục địa của Sô Viết đặt tại San Cristobal trên đất Cuba. Tám ngày sau đó, Tổng thống Kennedy ra lệnh phong toả Cuba. Hoa Kỳ điều động hàng trăm tàu Hải quân gồm cả bốn Hàng không mẫu hạm, cũng như một số lớn phi cơ tuần thám bờ biển để thi hành nhiệm vụ phong toả.

bi-mat-chua-tiet-lo2
Bằng chứng được trình bày bởi Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, tên lửa của Liên Sô tại Cuba. Bức ảnh được chụp ngày 23 tháng 10 năm 1962, trong khuôn viên tên lửa đạn đạo tầm trung đang được xây dựng tại khu vực San Cristobal của Cuba. . Nguồn AP photo/DOD

Ða số chiến hạm đã quay đầu lại, chỉ một số nhỏ cố vượt hàng rào phong toả.

Những tuần trước đó, Liên Sô đã tổ chức cuộc hành quân được đặt tên là Kama để triển khai bốn tàu ngầm loại dầu cặn lớp Foxtrot với danh số B-4, B-36, B-59 và B-130, mang thuỷ lôi thuộc hạm đội tàu ngầm có danh hiệu “Thứ 69” đến hải cảng Mariel của Cuba.

Những tàu ngầm lớp Foxtrot này hạ thủy vào năm 1957 – thiết kế còn lạc hậu. Tàu rất “ồn ào” vì có ba cánh quạt đẩy phía sau. Một ngăn lớn của tàu ngầm này chỉ để dành chứa một số lớn bình điện ắc-quy. Tốc độ tối đa là 2.3 miles một giờ. Và với đoàn thuỷ thủ là 78 người thì đành phải sống trong ngăn tàu còn lại rất chật hẹp. Tàu không có máy lạnh để dùng trong vùng biển thuộc miền nhiệt đới.

Sau đó, Liên Sô cũng điều động hai tàu ngầm khác lớp Zulu, một có danh số B-75 dùng để hộ tống cho những tàu Liên Sô mang hoả tiễn liên lục địa đến Cuba. Còn một với danh số B-88 thì được điều tới biển vùng Trân Châu Cảng ở đảo Hawaii của Mỹ, nếu chiến tranh xảy ra giữa Mỹ và Liên Sô,  họ sẽ tấn công Trân Châu Cảng. Hải quân Hoa Kỳ đã không hề phát giác được sự hiện diện của hai chiếc này.

Ðội tàu ngầm bốn chiếc lớp Foxtrots đã vượt biển từ bán đảo Kola vào ngày 1 tháng 10 và lặn sâu dưới nước để cố tránh né phi cơ chống tàu ngầm tên Neptune và Shackleton của khối NATO trên biển Bắc Ðại Tây Dương. Hiện trạng cuộc sống của các thuỷ thủ trong những chiếc tàu ngầm, phải lặn sâu dưới nước, càng ngày càng trở nên không thể chịu đựng nổi. Nhiệt độ trong tàu lên từ 100 đến 140 độ F. Khí CO2 ngày một tăng cao khiến thuỷ thủ đoàn trở nên yếu mệt về cả tinh thần lẫn thể xác. Vấn đề thiếu nước ngọt trên tàu để uống khiến tình trạng mất nước (dehydration) lan rộng, và bệnh ngứa truyền nhanh trong toàn thể các thuỷ thủ. Họ cần trồi lên.

Vào ngày 23 tháng 10, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara của Mỹ ra lệnh các tàu chiến Mỹ dùng một loại vũ khí đặc biệt được gọi là PDCs (Practice Depth Charges), có cỡ như quả lựu đạn với mục đích như ra tín hiệu cho thuỷ thủ tàu ngầm Nga biết là tàu ngầm đã bị phát hiện để buộc họ phải trồi lên mặt nước.  Tuy nhiên, những “cục tín hiệu nổ” đó đã khiến cho những cột ăn-ten của tàu ngầm bị hư hại, và càng làm cho thuỷ thủ đoàn hoảng sợ vì họ không phân biệt được tín hiệu đó từ vũ khí đặc biệt này. Mặc dù phía Mỹ trước đó đã thông báo cho Mạc Tư Khoa về phương cách dùng “cục tín hiệu nổ” để bảo họ phải trồi lên mặt nước (chứ không phải để tấn công), nhưng thông báo đó không thể truyền được cho các tàu ngầm của hạm đội 69th.

Hải quân Hoa Kỳ đã không nhận thức được mối nguy hiểm của “trò chơi mèo vờn chuột” mà họ đã sử dụng cho đội tàu ngầm Sô Viết. Sở dĩ nó nguy hiểm vì ngoài 21 thuỷ lôi loại thường, mỗi tàu ngầm lớp Foxtrot còn trang bị một vũ khí tối hậu: loại thuỷ lôi T-5 mang đầu đạn nguyên tử RDS-9. Thuỷ lôi T-5 có tầm hoạt động là 10 ki-lô-mét và tầm công phá dưới nước là 35 mét đủ để phá huỷ thân tàu gần đó qua sức ép của sóng.

Dù có nói gì đi chăng nữa, nếu có bất kỳ một đầu đạn vũ khí hạt nhân nào của phe bên này khai hoả ở vùng vịnh Caribbean thì cũng sẽ có hàng loạt vũ khí hạt nhân của phe bên kia đáp trả lại.

Lúc đó thuyền trưởng Nikolai Shumkov trên chiếc tàu ngầm B-130 cũng đã ra lệnh đưa loại thuỷ lôi mang đầu đạn nguyên tử lên giàn phóng. Với những bình ắc-quy đều cạn kiệt, tầu B-130 bắt buộc phải ngoi lên mặt nước ngay trước mũi chiếc pháo hạm USS Blandy của Mỹ vào ngày 30 tháng 10. Còn tàu ngầm B-36, bị pháo hạm Charles P. Cecil của Mỹ đuổi theo, Tàu ngầm B-36 cũng lâm vào tình thế cạn kiệt điện trong bình ắc-quy và cũng quay đầu về nước ngày 31 tháng 10.

bi-mat-chua-tiet-lo
Tổng thống John F. Kennedy(X) gặp các thành viên của Ủy ban điều hành của Hội đồng An ninh Quốc gia (EXCOMM) về cuộc khủng hoảng ở Cuba.- nguồn jfklibrary.org

Tuy nhiên, một biến cố nguy hiểm nhất là vào ngày 27 tháng 10, thời gian mà tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và Liên Sô lên đến cao điểm. Một chiếc phi cơ thám thính của Mỹ bay đến gần tàu ngầm B-59 nên đã khiến cho tàu ngầm này phải lặn xuống biển khi bình ắc-quy chưa kịp tích điện. Pháo hạm USS Beale của Mỹ thả ào ào loại “lựu đạn PDCs” (đã mô tả ở trên) . Tiếp đó hàng chục pháo hạm trong hạm đội theo Hàng không mẫu hạm US Randolph cũng làm theo.

Victor Orlov là sĩ quan truyền tin trên tàu ngầm của Nga gọi đó như trận chiến đã bị bỏ bom kéo dài hàng giờ, anh ta nói: “Nó giống như khi bạn ngồi trong một thùng sắt mà có ai bên ngoài dùng búa cứ gõ mãi lên trên cái thùng sắt. Thuỷ thủ đoàn đều bị chấn động”.  Thuyền trưởng tàu ngầm Nga là Valentin Savitsky vẫn một mực cho chiếc B-59 lặn dưới nước mặc dù nhiệt độ trong tàu đã lên đến 112 độ F và khí oxygen ngày càng cạn kiệt, khiến cho các thuỷ thủ muốn ngất xỉu.

Anatony Andreyev là một thuỷ thủ trong chiếc tàu này đã mô tả tình trạng tồi tệ của thuỷ thủ đoàn tàu ngầm B-59 trong nhật ký anh viết cho vợ: “Chúng tôi không có khí trời để thở trong bốn ngày. Trong khoang tàu thì nóng và nghẹt thở, quá nhiều khí carbon trong khoang. Tôi cảm thấy toàn thân yếu mềm, chóng mặt, toàn thân như nổi mề đay.” Nói về thuyền trưởng Savitsky, Andreyev đã viết: “Một điều tồi tệ nhất là tinh thần của thuyền trưởng đã lên cơn khủng hoảng, hắn la lối với tất cả mọi người và hành hạ với chính cả bản thân hắn ta. Thuyền trưởng đã lâm vào tình trạng hoang tưởng, sợ hãi với chính cái bóng của mình. Hắn không nghe ai nói hết. Tôi cảm thấy tiếc và đồng thời giận dữ với những hành động liều lĩnh của hắn.”

Vì không thể liên lạc được với Mạc-Tư-Khoa, thuyền trưởng Valetin Savitsky đã tự kết luận là chiến tranh đã nổ ra rồi. Savitsky đã ra lệnh đưa thuỷ lôi mang đầu đạn nguyên tử lên giàn phóng và sửa soạn bắn vào tàu USS Randolph.

Thông thường, khi có sự chấp thuận của hai vị sĩ quan chỉ huy thì đủ để thi hành việc phóng thuỷ lôi. Nhưng một trường hợp ngẫu nhiên xảy ra là lúc đó trên tàu có thêm sự hiện diện của Arkhipov, vị chỉ huy trưởng hạm đội, được xem là người có quyết định tối hậu. Arkhipov đã kịp thời ngăn cản và bàn thảo với Savitsky để không bắn mà trồi lên mặt nước.

Khi chiếc tàu ngầm B-59 vừa trồi lên khỏi mặt nước biển thì bị đèn rọi chiếu của những pháo hạm, máy bay trực thăng và phi cơ phản lực thuộc Hàng không mẫu hạm Randolph Mỹ quần thảo xung quanh trên độ cao thấp và chĩa súng vào cùng với những lời cảnh báo phát ra từ loa phóng thanh. Tàu ngầm Sô Viết bị buộc phải quay hướng về nhà.

Còn lại các tàu ngầm khác của Liên Sô cũng phải quay đầu trở về bến nhà.

Kết cuộc, Tổng thống Kennedy đã giải quyết cuộc khủng hoảng hoả tiễn Cuba với Khruschev ở một cuộc họp thương lượng bí mật vào ngày 28 tháng 10, năm 1962.  Trong đó Mỹ đồng ý rút hết hoả tiễn của Hoa Kỳ đang đóng ở Thổ Nhĩ Kỳ về nước và hứa không xâm chiếm Cuba, để đổi lại Liên Sô sẽ rút hết vũ khí nguyên tử của mình từ Cuba về nước.

Giả sử không có Arkhipov trên tàu thì B-59 với thuyền trưởng đang cơn khủng hoảng tinh thần đã nổ súng khai hỏa vào chiến hạm Mỹ thì hậu quả không biết đâu mà lường.

ĐTĐ

Nguồn: http://baotreonline.com/bi-mat-chua-tiet-lo/

Advertisements

Tiếng kêu từ quá khứ

Phan Hạnh

Sáng hôm ấy, lần đầu tiên cắp tập vở đi học, Trung miễn cưỡng để bà ngoại nắm tay dắt đi. Thỉnh thoảng, cậu bé năm tuổi vùng vằng như muốn phản đối khiến bà Ngoại phải bảo :- “Con đã năm tuổi rồi thì phải đi học đặng năm tới sáu tuổi vô lớp Năm trường làng.”

Trung thắc mắc hỏi :

– “Vậy chớ bữa nay đi học trường gì hả Ngoại ?”

Bà đáp :

– “Hổng có trường nào hết. Con đi học chùa.”

– “Chùa có Thầy chùa mà cũng có Thầy giáo nữa hả Ngoại ?”

– “Ừa. Thầy chùa dạy học nên cũng là Thầy giáo luôn.”

Trung đã tỉnh ngủ hẳn, có thể vì câu nói của bà gợi trong trí óc non nớt của Trung quá nhiều thắc mắc, nhưng cũng có thể vì cơn gió thoảng thổi phớt qua từ cánh đồng lúa bên đường còn phảng phất màn sương. Hai bà cháu ra đến đường cái tráng nhựa là đã thấy quang cảnh có vẻ nhộn nhịp hơn. Một chiếc xe thổ mộ sắp sửa chạy qua, tiếng vó ngựa lóc cóc gõ nhịp trên mặt đường nghe rõ dần. Trung hỏi bà :

– “Mình có đi xe ngựa hôn Ngoại ?”

– “Chùa gần xịch đằng kia kìa con. Đi bộ một chút nữa tới hà.”

Gần đến chùa, Trung đã thấy lác đác có vài đứa trẻ khác, mỗi đứa cũng đều có một người lớn đi kèm. Khi mọi người tiến đến gần nhau, bà giục :

– “Khoanh tay thưa bà Sáu đi con. Thưa bác Ba nè. Thưa dì Tư nữa nè.”

Trung làm theo lời bà, mặc dù chẳng phân biệt rõ ai với những ai. Chùa Bình Hạnh nằm phía bên kia con tỉnh lộ, qua một chiếc cầu ván bắc ngang mương dọc bên đường. Mặt trời đã lên tỏa ánh sáng ban mai rực rỡ. Tuy ngôi chùa cũ kỹ xiêu vẹo với những mảng ngói vỡ vụn dọc bên hiên, nhưng trước sân và dọc bên hông chùa có những cây bàng, cây vông, cây điệp với lá hoa nhuộm màu xanh vàng đỏ lẫn lộn khiến cho ngôi chùa mang một vẻ đẹp cổ kính êm đềm.

Bà ngoại dẫn Trung vào chùa đến trước mặt một ông Sư trẻ hơn bà Ngoại. Ông mặc quần áo nâu, đầu cạo trọc. Bà cúi chào Nhà sư và trao đổi với ông vài câu, xong bà bảo Trung :

– “Thôi con ở đây học với Thầy nghe. Ngoại còn phải về lo công việc. Xế trưa tan học, má con ra đón con về. Có mấy viên kẹo dừa bỏ túi để tới giờ ra chơi rồi con mới ăn nhen.”

Trung “dạ” rồi nhìn theo bà bước qua cầu, vạt áo dài phe phẩy phất phơ, ngoại ra lộ rồi còn quay nhìn lại. Không có bà bên cạnh, Trung chợt cảm thấy hơi bối rối và lúng túng. Khoảng một chục nhóc tì khác cũng đang lao nhao ngơ ngác. Ông sư vỗ tay ra hiệu bảo :

– “Các trò vào học.”

Lớp học không đâu khác hơn là ngôi chánh điện. Sát gần ngạch cửa ra vào là một cái bàn rộng, bốn bên là bốn băng ghế. Tấm bảng đen chắn giữa như tấm bình phong ngăn chánh điện làm hai phần, lớp học phía ngoài và bàn thờ Phật phía trong. Trên mái ngói và vách bổ kho có nhiều lỗ hổng và khe hở khiến cho tia nắng lọt vào như đèn chiếu. Ông sư lần lượt hỏi tên từng đứa học trò, xong ông viết tên mỗi đứa vào bìa mỗi quyển vở 32 trang và phát ra cho cả đám. Trung nhìn quyển vở có in hình bó đuốc trước bìa. Mặc dù chưa nhận ra mặt chữ và chưa biết đọc, Trung ngẫm đoán hàng chữ viết trên bìa tập là tên mình.

Buổi học đầu tiên trong đời học sinh của Trung chỉ gồm có ba chữ o, ô, ơ mà ông sư viết trên bảng thật lớn. Đám nhóc ê a đọc cả giờ để nhớ mặt chữ. Thấy như vậy đã tạm đủ, thầy hô :

– “Thầy cho các em ra chơi.”

Đám nhóc vẫn ngồi ì ra đó, đứa nào cũng khòm lưng tì khuỷu tay lên bàn. Chúng ngồi ì vì chẳng hiểu ra chơi là gì; khòm lưng vì cả giờ ngồi bàn thấp mà ghế không có chỗ dựa không quen nên đã mỏi. Đến khi thầy nhắc lại “Đi ra sân chơi đi” thì bọn nhóc mới chợt hiểu và phóng nhanh ra khỏi chùa, tha hồ chạy nhảy tung tăng, lượm trái bàng, bứt bông điệp, lá vông, cỏ cú. Trung lôi mấy cục kẹo chuối ra ăn. Kẹo chuối dẻo nhẹo dính răng khó chịu, Trung khát nước mà không dám hỏi.

Đến trưa, khi thấp thoáng thấy bóng mẹ đứng dưới tàng cây điệp chờ tan lớp, Trung cũng đã nghe bụng cồn cào đòi cơm. Cậu bé mừng rỡ đưa quyển tập ra khoe, chỉ cho mẹ hàng chữ ngoài bìa và hỏi :

– “Má ơi, có phải ông Thầy chùa ổng viết tên con hôn hả Má ?”

Mẹ Trung đáp “Phải”, xong dặn con :

– “Mà con đừng kêu ổng là “Ông thầy chùa” nữa nhen.

– “Ông thầy ở trong chùa thì là ông Thầy chùa không phải sao Má ?”

– “Ờ… ừ… nhưng Má nghe nó kỳ kỳ làm sao á… Mà thôi, chắc con đói bụng rồi phải không ? Về lẹ đi rồi Má dọn cơm cho ăn. Có tép rang và có canh chua bạc hà ngon lắm đó.”

Trung hí hửng nắm tay mẹ bước mau vừa bi bô hai câu mới học :

O tròn như quả trứng gà
Ô thì đội nón, ơ thì có râu.

Trên Quốc lộ nối liền Mỹ Tho và Gò Công, hai chiếc xe nhà binh chạy vút qua làm cát bụi tung lên che khuất hai mẹ con Trung vừa rẽ vào con đường quê rợp mát bóng dừa để về nhà.

***

Thầy Bửu Tâm đứng nhìn lớp học trống không, thử tập trung ý tưởng hình dung lại từng khuôn mặt thơ ngây của đám học trò mới và nghe lòng dậy lên một niềm an ủi và mãn nguyện đối với công việc mà thầy ưa thích. Thầy bước ra sau tấm bảng đen tiến đến trước bàn thờ Phật, chắp tay cúi đầu và lâm râm tụng niệm. Bỗng có tiếng xe nhà binh chạy ngang qua vừa bóp kèn inh ỏi.

Năm ấy là năm 1949, tính ra thầy đã trụ trì ở đây được bốn năm. Tông tích thầy Bửu Tâm như thế nào dường như ít ai trong làng được rõ. Người ta chỉ biết thầy là người có học, nói giỏi tiếng Pháp vì nhiều lần thầy đã giúp dân làng làm giấy tờ kiện tụng ở Quận đường.

Người ta chứng kiến thầy đối đáp với quan hai người Pháp lưu loát. Mấy năm nay, thầy mở lớp học vỡ lòng tại chùa để giúp trẻ em trong làng chuẩn bị chính thức theo học trường làng năm kế tiếp.

Sinh hoạt hàng ngày của thầy đầy ắp bận rộn từ sáng sớm tới nửa khuya, từ tụng kinh niệm Phật tới trồng trọt rau cà rồi xoay qua dạy vỡ lòng cho đám trẻ. Một ít tương chao hoa quả do dân làng dâng tặng nữa là thầy có đủ hai bữa ăn qua ngày.

Gần đây, quân Du kích kháng chiến Việt Minh gia tăng hoạt động quấy rối ở các miệt Giồng Lớn, Ông Văn, Hòa Đồng lân cận. Đại đội Bảo An thuộc Tiểu Đoàn 306 đóng dưới Bến Đò thường thường phải đi tăng viện cho các đồn Dân Vệ khi họ bị tấn công. Hầu hết trai tráng trong làng đều vắng bóng và chỉ còn lại phụ nữ trẻ em và đàn ông lớn tuổi hay tật nguyền. Ba của Trung, sau nhiều lần bị cả hai phe Việt Minh và quân chính phủ thay phiên nhau bắt vì tình nghi, đã phải lên thủ đô Sài Gòn tìm kế sinh nhai, tạm thời gởi gấm vợ con cho cha mẹ vợ.

Phần thầy Bửu Tâm, tuy đã qui y cửa Phật nhưng cũng không thoát khỏi vòng hệ lụy. Một mặt Quan quận mến trọng tài đức của thầy nên hay cho xe đón thầy tới Quận đường để tham khảo ý kiến. Mặt khác Việt Minh cũng cho người tiếp xúc mời thầy cộng tác. Cán bộ cấp cao của Việt Minh từ tận Bến Tre qua vời thầy, nhưng thầy một mực từ chối.

Phiền não bủa vây, hôm nay cũng như nhiều lần khác, tiếng xe nhà binh chạy rầm rập không khỏi khiến cho thầy một thoáng suy tư lo nghĩ. Thầy bèn mượn câu kinh tiếng kệ để giải tỏa nỗi ưu tư. Trong giây lát, tiếng chuông mõ giúp cho thầy an định tinh thần trở lại.

***

Trung theo học ở Chùa Bình Hạnh đã được ba tháng. Giờ đây Trung đã quen viết được bằng tay mặt nhờ sự kiên nhẫn của thầy Bửu Tâm. Trung cũng nhớ hết tất cả các chữ cái cùng với một số rất nhiều bài học thuộc lòng. Ngôi chùa đã trở thành nơi Trung ham thích đến mỗi ngày và có thể đi cùng với mấy đứa bạn trong xóm mà không cần bà ngoại hay mẹ đưa đón nữa. Có cả những buổi xế chiều ngoài giờ học, sau khi đã tan học và đã về nhà dùng bữa ăn trưa, Trung cùng vài đứa bạn hẹn nhau trở lại chùa để vui đùa. Vui đùa chán rồi, đám nhóc xin thầy cho việc lặt vặt để phụ : nhổ cỏ, tưới rau. Thầy dặn bọn Trung nếu thấy sâu trong đám rau cải thì đừng có bắt, cứ để cho chúng ăn tự nhiên. Ba tháng học ở chùa Trung có biết bao là kỷ niệm khó quên. Nơi đó Trung đã bắt chước làm người rừng Tạc Giăng đu rễ cây bàng và bị té lọi khuỷu tay phải bó thuốc bắc. Nơi đó Trung đi chân đất đạp miễn sành chảy máu. Nơi đó một lần Trung lén đu xe ngựa bị té đập đầu xuống lộ.

Một lần nọ Trung chơi nghịch lấy miễn ngói chọi con cắc kè trên cột kèo mái chùa. Thầy bắt gặp tại trận và ôn tồn hỏi :

– “Trung nè. Tại sao con chọi nó vậy ?”

Trung đáp :

– “Thưa thầy. Tại nó cứ kêu cắc kè cắc kè nghe bực mình quá.”

– “Tại sao mấy năm nay thầy nghe nó kêu thầy không bực mình mà con bực mình ?”

– “Tại nó làm tàng đã bị con chọi mà cứ kêu hoài.”

– “Nếu con chọi nó chết rồi từ nay về sau con không còn nghe nó kêu nữa, con có nhớ tiếng kêu đó không ?”

Trung đứng tần ngần nghĩ ngợi một lúc lâu xong thành thật đáp :

– “Dạ thưa thầy con có nhớ.”

– “Vậy bây giờ con có còn muốn chọi cho nó chết không ?”

– “Dạ thưa thầy không.”

Thầy xoa đầu Trung mỉm cười hiền từ :

– “Con giỏi lắm. Thôi đi chơi đi.”

***

Một hôm, vào lúc buổi trưa nắng gắt, lớp học đang sắp sửa tới giờ tan, một chiếc xe Jeep nhà binh bỗng bị bể bánh và ngừng lại ngay bên đường trước chùa. Có tiếng người nói lao xao rồi một người mặc thường phục chỉnh tề có hai người lính cầm súng tiểu liên và quàng dây đạn trên vai đi vào chùa. Thầy Bửu Tâm bước ra thềm mời khách vào. Không đợi bảo, tất cả học trò đều đứng dậy cúi đầu chào khách. Vị khách lịch sự nói :

– “Thầy cho chúng tôi ngồi tạm đây tránh nắng là đủ. Xin thầy cứ tự nhiên.”

Nhìn qua lớp học với đám học trò im lặng ngoan ngoãn, vị khách buộc miệng khen :

– “Học trò của thầy có kỷ luật và lễ phép quá, thật đáng khen.”

Bấy giờ thầy Bửu Tâm mới nói :

– “Cám ơn quan quận. Quan quận có cần gì thì cứ dạy bảo.”

Vị khách vội đáp :

– “Dạ không dám. Chẳng may xe tôi chạy tới đây bị bể bánh. Trong lúc chờ tài xế thay bánh xe khác, chúng tôi vào đây trước là để tránh nắng, nhân tiện có dịp quan sát cảnh chùa và lớp học của thầy mà chúng tôi có nghe tiếng.”

Khi chiếc xe được thay bánh xong thì lớp học cũng tới giờ tan. Ông quận và mấy người lính lên xe phóng đi, bọn nhóc vẫy tay nhìn theo xe chạy khuất rồi mới lục tục ra về. Trên đám ruộng bên đường gần đó, một đám thợ đội nón lá đang gặt lúa. Trong đám dân chân lấm tay bùn, một cặp mắt cú vọ của Việt Minh đã theo dõi mọi diễn tiến của sự việc vừa xảy ra.

Đêm ấy, giữa lúc Trung đang ngủ, mẹ lay Trung dậy rồi bò xuống gầm giường. Trung nghe có tiếng chân người chạy thình thịch ngoài đường đất, đồng thời có tiếng mõ bằng gáo dừa vang dậy cùng với tiếng chó sủa văng vẳng đâu đó. Thế rồi có tiếng súng nổ xa xa.

Trung nghĩ đến hai người lính cận vệ của ông Quận trưởng mang súng tiểu liên lúc trưa ở chùa. Trung thơ ngây nghĩ chắc những tiếng súng nổ đó là do hai người lính đó bắn. Lạ lùng là Trung nghe tiếng súng không sợ bằng tiếng gõ mõ dừa trăng ăn. Đó là những trái dừa còn xanh nhưng đã bị sóc hay chuột khoét thủng lỗ rỗng ruột rụng xuống đất. Người ta dùng một khúc gỗ gõ trái dừa như gõ mõ. Tiếng mõ dừa có âm điệu cao thấp khác nhau, lúc chậm đều, lúc dồn dập gấp rút nghe ghê rợn như tiếng ma quỷ réo gọi mạng người. Tiếng chân người nện mạnh trên nền đất rồi tiếng một người trong bọn họ hô vang thật lớn, Trung nghe thật gần như sát bên hè : “Đả đảo Bảo Đại ! Ủng hộ Hồ Chí Minh !”, tức thì ngay sau đó, cả đám người đồng loạt hô theo.

Xen lẫn giữa mớ âm thanh hỗn độn đó, Trung tưởng chừng như nghe cả tiếng tim đập của chính mình và của mẹ vì hai tay bà đang ôm chặt Trung vào lòng. Hai mẹ con truyền cho nhau nỗi sợ hãi và sự che chở. Dưới căn hầm cạn tù túng ngột ngạt mà hai mẹ con run rẫy như lên cơn sốt nóng lạnh. Trung hồi hộp muốn nghẹt thở. Ngoài kia thỉnh thoảng lại vang lên một tiếng nổ ầm lớn của súng cối hay đại bác bắn vu vơ dọa nạt. Sau đó Trung nghe tiếng xe bọc thép chạy ngoài lộ. Tiếng mõ dừa dứt hẳn. Tiếng hô khẩu hiệu tuyên truyền nín bặt. Và tiếng chân người chạy nhanh hơn, dồn dập hơn. Cả tiếng súng máy cũng ngưng, chỉ còn lại tiếng súng cá nhân nổ lẻ tẻ cùng với tiếng động cơ xe bọc thép chạy rầm rì. Bấy giờ Trung mới nghe tiếng mẹ nghẹn ngào : “Thiệt khổ quá con ơi…” Tiếng than thở của mẹ phát ra như thể đã chất chứa dồn nén quá nhiều chịu đựng từ lâu, thế nhưng nó chỉ phát ra một cách yếu ớt như có một sức nặng vô hình nào đè mạnh lên trên đến không thể vang lớn hơn được nữa. Phải chăng đó là nỗi sợ hãi của người cô thế trước sự tàn ác.

Trong bóng tối dầy đặc, tiếng của bà ngoại từ một góc nào đó gọi nhỏ : “Má con thằng Trung đâu ? Chắc đã yên rồi. Thôi lên giường ngủ đi.”

Trung leo lên giường nằm co; mẹ Trung tấn mí mùng lại kỹ càng, nằm xuống choàng tay qua vai con. Một lúc sau Trung đã nằm yên ngủ say.

Sáng hôm sau, khi vừa ra đến đầu lộ để đi học, Trung đã thấy nhiều người đi lại hơn mọi ngày. Trung ôm chiếc cặp đệm dưới nách rảo bước. Khi gần đến chùa, Trung thấy hai chiếc xe nhà binh đậu ở đó. Một đám đông vừa dân vừa lính đứng trước sân chùa. Trung đến gần hơn, một người đặt tay lên vai Trung và nói : “Thầy Bửu Tâm chết rồi.” Trong lúc Trung vẫn còn đang bàng hoàng, một người khác nói lớn : “Mấy em học trò đâu ? Mau gom lại đây.”

Trung bước về hướng người đó đang đứng ở một khoảng trống trước sân. Trung gặp thằng Ngọ, bạn học thân nhưng lớn hơn Trung một tuổi. Ngọ mếu máo : “Thầy mình chết rồi kia kìa.” Nhìn theo tay Ngọ chỉ, Trung thấy một cái thây nằm ngửa trên đám cỏ cú bên cạnh cây điệp già. Trung vụt chạy đến đó để nhìn kỹ hơn. Chiếc áo nâu bê bết vết máu khô. Một tờ giấy cứng có viết mấy chữ để trên ngực của cái thây, Trung không biết chữ gì nên đứng đó chờ để nghe lóm người lớn nói chuyện. Một người đọc : “Việt gian đền tội.” Một người lính nói : “Quan Quận không để yên vụ này đâu. Vài bữa nữa điều tra xong thì coi ai đền tội cho biết.”

Viên chức của làng lúc nãy bảo học trò họp lại, một lần nữa lên tiếng : “Các trò nghe đây. Đêm hôm qua thầy Bửu Tâm đã bị Việt Minh giết chết. Vậy các trò hãy lo về nhà rồi sáng mai có mặt tại đây để làm lễ chôn cất Thầy. Nhớ ăn mặc cho sạch sẽ. Bận áo trắng thì càng tốt.”

Trung nấn ná cùng Ngọ ở lại và vào xem lớp học. Tất cả bàn ghế đã bị đập phá và đốt cháy, than gỗ nằm ngổn ngang cùng với đám ngói bể. Trần nhà cũng bị cháy, kèo cột nám đen. Tấm bảng đen đã ngã sập, bàn thờ và tượng Phật dường như chỉ bị nám khói.

Trung hỏi Ngọ:

– “Tại sao họ giết Thầy ?”

Ngọ đáp :

– “Hồi sáng nầy tao nghe ông Nội tao nói với bà Nội tao là Việt Minh xử tử thầy vì họ đổ tội Thầy làm việc với giặc.”

Trung ngây thơ hỏi :

– “Giặc nào ?”

– “Thì Việt Minh kêu quân Chính phủ là giặc đó,” Ngọ giải thích.

Có tiếng của Viên chức làng : “Mấy trò đi về nhà đi. Tránh chỗ cho người lớn làm việc.”

Trung cũng nôn nao muốn về nhà để hỏi mẹ và bà Ngoại cho kỹ nên chào từ giã Ngọ rồi lủi thủi bước. Vậy là Trung không còn được đi học và phải chờ tới mùa tựu trường năm tới. Trung đi một đoạn trên Quốc lộ, xong rẽ vào bờ ruộng đi lối tắt băng ngang qua vườn ông cả Thới hàng xóm của Ngoại để về nhà cho lẹ. Trung đạp trúng một miễng sành, may mà không bị đứt chân. Trung lượm miễng sành để quăng vô bụi tre cho ai đi lần sau khỏi đạp nữa. Bỗng Trung nhớ tới con cắc kè, nhớ tới chỗ nó làm ổ trên kèo nhà dưới mái hiên chùa. Nơi đó đã bị cháy sập, biết con cắc kè còn sống hay đã chết theo Thầy.

Trung lại nhớ lời thầy hỏi “Từ nay về sau con không còn nghe nó kêu nữa, con có nhớ tiếng kêu đó không ?” Trung nhớ rõ lắm, cho tới bây giờ 65 năm sau vẫn nhớ.

 

Phan Hạnh

https://hoiquanphidung.com/showthread.php?14726-Ti%E1%BA%BFng-k%C3%AAu-t%E1%BB%AB-qu%C3%A1-kh%E1%BB%A9

Chức Năng Người Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa

Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI
Nguyên Giảng Sư Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia

Trên thế giới, không hề có một lực lượng cảnh sát nào mà người cảnh sát vừa là quân nhân, giàn trận chống quân thù, vừa là bạn dân lo duy trì luật pháp trên toàn quốc, như người Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vào trước năm 1975.

Hoc vien canh sat Quoc Gia

Nếu Quân Đội VNCH, nổi danh với các Trường Võ Bị QG Đà Lạt và Trường Sĩ Quan Thủ Đức, vì hai quân trường này đã đào tạo cho đất nước nhiều sĩ quan ưu tú, thì ngành cảnh sát cũng có Học Viện CSQG để huấn luyện các sĩ quan cảnh sát văn võ kiêm toàn. Các khóa sinh sĩ quan CSQG không những tối thiểu phải có văn bằng tú tài toàn phần mà nhiều khóa sinh còn có cấp bằng cử nhân hay cao học. Có những khóa thi tuyển sĩ quan cảnh sát với khoảng 7.000 ứng viên mà chỉ nhận được có 500 người.

Vậy chức năng của người CSQG/VNCH là gì? Nếu so sánh CSQG/VNCH với cảnh sát Hoa Kỳ và cảnh sát của chế độ Cộng Sản VN thì có những điểm khác biệt nào?

I. CHỨC NĂNG NGƯỜI CSQG/VNCH:

Tại Việt Nam, những bảo đảm về quyền an toàn cá nhân đã được quy định trong Hiến Pháp ngày 1-4-1967, được cụ thể hóa trong Bộ Hình Sự Tố Tụng được ban hành do Sắc Luật số 027-TT/SLU ngày 20-12-1972. Bộ Hình Sự Tố Tụng là một trong năm bộ luật căn bản lần đầu tiên được điển chế bằng ngôn ngữ và văn tự thuần túy Việt Nam. Bộ luật này là “kết tinh của một công trình sáng tạo nghiên cứu, sưu tầm, du nhập các nguyên tắc luật pháp tiến bộ của thế giới, do nhiều luật gia danh tiếng, trong và ngoài ngành Tư pháp, góp sức thực hiện trong nhiều năm.” Bộ luật mới này nhằm “xây dựng một chế độ dân chủ pháp trị ngày thêm vững mạnh, an toàn pháp lý của dân chúng ngày một củng cố, nguyên tắc thượng tôn pháp luật ngày một chói sáng.”  (Trích diễn văn của Tổng Thống VNCH đọc ngày 30-4-1973 tại Pháp đình Saigon).

Quả đúng như lời Vị Nguyên Thủ Quốc Gia VNCH đã công bố, bộ Luật HSTT chứa đựng nhiều điều khoản rất tân tiến. Quyền lợi của các nghi can được bảo vệ ngay từ giai đoạn điều tra sơ vấn, vì luật pháp đã quy định chi tiết nhiệm vụ của Cảnh Sát Tư Pháp, nhằm hai mục đích: Bảo vệ quyền biện hộ và quyền an toàn cá nhân của nghi can.

A.-  QUYỀN BIỆN HỘ CỦA NGHI CAN

Khác với Hiến pháp nhiều quốc gia, điều 7 Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa đã đề cập đến quyền biện hộ trước nhiều quyền khác, như quyền tự do tín ngưỡng, giáo dục, tư tưởng, ngôn luận, hội họp, lập hội, bầu cử, ứng cử, v.v… Để hành xử quyền biện hộ, các nghi can sau khi được Cảnh Sát Tư Pháp thông báo tội trạng, sẽ được tự bào chữa một cách tích cực bằng quyền không nhận tội hay tiêu cực bằng quyền giữ im lặng. Ngay sau khi bị bắt giữ, thân nhân các nghi can phải được thông báo kịp thời để có thể nhờ luật sư biện hộ. Trong cuộc điều tra sơ vấn, nghi can không bị ép buộc khai cung bằng những phương cách thiếu lương hảo, như tra tấn hoặc dùng máy dò sự thật. Riêng đối với các thiếu nhi phạm pháp, cần phải có những bảo đảm rộng rãi và thích hợp nhằm mục đích giáo hóa hơn là trừng trị.

B.-  QUYỀN AN TOÀN CÁ NHÂN CỦA NGHI CAN

Một chế độ dân chủ pháp trị chỉ thực sự bền vững nếu chính quyền biết tôn trọng và bảo vệ quyền an toàn cá nhân của dân chúng.
Hiến Pháp VNCH đã tách rời quyền biện hộ khỏi quyền an toàn cá nhân, vì muốn đề cao quyền này và đặt ngang hàng với quyền truy tố. Ngoài ra, quyền an toàn nhân thân chỉ diễn tả ý niệm chống đối của người dân trước sự bắt bớ, giam cầm oan ức. Trong khi quyền an toàn cá nhân có một phạm vi bao quát trên toàn thể con người, gồm nhân thân và tài sản của người đó.

Đàng khác, an toàn cá nhân khác với an toàn pháp lý, vì an toàn cá nhân dựa trên yếu tố nhân bản, trong khi an toàn pháp lý là sự yên ổn do luật pháp mang lại, nhờ luật pháp mà có. Biết trước được rằng nếu hành động hợp pháp thì không bị xâm phạm đến tự do, tổn thương đến quyền lợi. Đó là sự an toàn pháp lý.

Sự an tòan ấy là điều kiện không có không được cho hạnh phúc con người, phải có sự an toàn ấy mới yên lòng sống được trong hiện tại, yên lòng xây dựng được ngày mai. Nói cách cụ thể hơn, quyền an toàn cá nhân có một phạm vi rất rộng rãi vì liên quan đến tinh thần, thể xác, tài sản của mỗi công dân.

Đối với dân chúng, quan chức không phải là các nhân vật lãnh đạo ở thượng tầng quốc gia, nhưng là những viên chức tầm thường nhất tại hạ tầng cơ sở, trong đó có Cảnh sát Tư pháp mà mỗi hành vi cử chỉ đều ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân chúng.

Nếu trong một xã hội, tính mạng và tài sản của người dân không được bảo đảm thì còn ai muốn cần cù làm việc, khép mình vào khuôn khổ luật pháp quốc gia nữa? Loạn từ đó mà ra.

Tóm lại, sự an toàn cá nhân là nền móng kiến tạo an ninh thịnh vượng chung cho công đồng xã hội và người CSQG/VNCH được trao phó nhiệm vụ bảo vệ.

II. SO SÁNH NGƯỜI CSQG/VNCH VỚI CẢNH SÁT HOA KỲ VÀ CẢNH SÁT CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VN

Hiện nay, có khoảng trên 1.700.000 người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản đang sống trên đất Hoa Kỳ (tại nhiều Tiểu Bang), có các Hội Ái Hữu CSQG hoạt động rất hữu hiệu từ nhiều năm qua, nên thiết tưởng việc so sánh hai lực lượng Cảnh Sát Hoa Kỳ và VNCH là điều khá lý thú. Đàng khác, kể từ ngày Đồng Minh bỏ rơi VNCH để giao miền Nam cho Cộng Sản miền Bắc, lực lượng Cảnh Sát và Công An của Đảng Cộng Sản VN đã áp bức dã man đồng bào như thế nào, thiết tưởng cũng cần so sánh để lịch sử rộng đường phán đoán.

A.- NGƯỜI CẢNH SÁT HOA KỲ

Như đã nhận xét: Hai vai người CS/VNCH lãnh hai sứ mạng: Một bên chiến đấu với quân địch nơi tiền tuyến, một bên giữ gìn trật tự cho hậu phương. Ngược lại, người cảnh sát Hoa Kỳ chỉ giữ một nhiệm vụ là duy trì an ninh trật tự và bảo vệ luật pháp cho dân chúng mà thôi, tức là người CS HK chỉ đảm nhận một nửa công việc của người CS/VNCH.

Tuy nước nào cũng có cảnh sát, nhưng thực sự vai trò cảnh sát của mỗi nước đều có những điểm giống nhau và khác nhau, vì cách huấn luyện và luật pháp của mỗi nước đều khác nhau. Bởi vậy, dù sống trên đất nước Hoa Kỳ, nhiều người Mỹ gốc Việt lại tưởng là Cảnh Sát HK cũng giống Cảnh Sát VN, nên đã gây nhiều ngộ nhận.

Tại Bắc California có hai vụ cảnh sát đã bắn chết người VN, gây nên nhiều căng thẳng rất lớn giữa Cộng Đồng người Việt và Sở CS địa phương.

Vụ thứ nhất là hai cảnh sát – được chủ nhà mời tới – xông vào nhà của chị Trần Thị Bích Câu. Một cảnh sát đã rút súng bắn chết chị trong bếp, đang lúc tay chị cầm con dao gọt trái cây. Vụ này xảy ra năm 2003 với kết quả là viên cảnh sát được miễn tố về tội cố sát, nhưng thành phố San Jose đã phải điều đình, bồi thường cho hai con nhỏ của chị Trần Thị Bích Câu 1 triệu 8 trăm ngàn Mỹ Kim.
Vụ thứ hai xảy ra vào năm 2009. Cũng hai cảnh sát San Jose được gia đình kêu tới nhà, vì một thanh niên VN, tên là Daniel Phạm, mắc bệnh tâm thần, đang cầm dao áp đảo người trong nhà. Hai cảnh sát đã trông thấy Daniel Phạm ở ngoài sân và vì đã không tuân lệnh CS bỏ con dao xuống, nên anh bị hai cảnh sát bắn trúng 14 viên đạn. (Không rõ nạn nhân có hiểu được lệnh bằng tiếng Anh của cảnh sát hay không?) Cha mẹ anh Daniel Phạm rất buồn bực và hối hận, vì tưởng gọi cảnh sát đến giúp mình, ai ngờ đã gọi cảnh sát đến giết con mình.

Những sự việc đáng tiếc này không phải chỉ xảy ra ở San Jose, mà tại thủ phủ Sacramento của Tiểu Bang California, cũng năm 2009, cảnh sát bắn chết ông Trương Văn Giật với 5 viên đạn trúng người, khi ông này chỉ cầm chiếc khăn bông lên để đuổi cảnh sát ra khỏi nhà.

Tại San Diego, California, ông Lê Đình Vân cũng bị cảnh sát bắn chết khi trên tay ông đang cầm một cái kéo.

Cộng Đồng VN khắp nơi đã phẫn nộ vì cảnh sát HK đã bắn dân bừa bãi. Họ lập luận thế này: Những vũ khí (nếu có thể gọi là vũ khí) trên tay các nạn nhân đâu có nguy hiểm gì đến tính mạng cảnh sát, mà phải bắn chết nạn nhân một cách vô lý như vậy. Cùng lắm thì bắn bị thương nạn nhân cũng quá đủ rồi. Các nạn nhân thực sự không đáng phải chết, thế mà đã phải chết, chỉ vì cảnh sát phản ứng quá mạnh tay và nhát, sợ chết!

Đó chỉ là cách suy nghĩ của người VN. Nhưng các cảnh sát Hoa Kỳ được huấn luyện như sau: Khi nào cảnh sát cảm thấy tính mạng mình bị nguy hiểm trong lúc thi hành nhiệm vụ thì được quyền dùng súng để tự vệ. Và khi cảnh sát đã phải nổ súng thì đối phương phải chết ngay từ phát súng đầu tiên, vì nếu để đối phương hành động trước, tức là bắn trả trước, thì tính mạng cảnh sát bị lâm nguy. Người CS HK đã được huấn luyện như vậy.

Còn luật lệ VNCH như thế nào và các sĩ quan CS/VNCH đã được huấn luyện ra sao?

Trước khi người CS sử dụng súng – là vũ khí giết người – để trấn át đối phương đang muốn chống cự mình thì phải xem vũ khí đối phương sử dụng có tương đương với vũ khí của mình hay không? Đó là nguyên tắc pháp lý của người cảnh sát VNCH và nguyên tắc này xem ra rất đơn giản.

Con dao, cái kéo cũng có thể gây ra cái chết cho con người được, nhưng phải tùy hoàn cảnh. Nếu người cầm dao ở xa cảnh sát thì mức nguy hiểm ít hơn là ở gần. Thêm nữa, nếu cảnh sát có mặc áo giáp hay đội nón sắt thì cũng lại là yếu tố cần xét đến.
Nếu đem nguyên tắc này áp dụng vào bốn vụ cảnh sát HK bắn chết người Việt vừa kể trên thì chắc chắn người cảnh sát VNCH đã không có quyền nổ súng trong cả bốn vụ này, vì những vật dụng nạn nhân cầm trong tay không nguy hiểm tương đương với khẩu súng của cảnh sát được.

Thêm nữa, người CS/VNCH được huấn luyện rằng: khi phải nổ súng thì không nhất thiết lúc nào cũng phải giết chết đối phương, mà có thể bắn chỉ thiên để trấn áp hoặc bắn vào chân hay vào tay để triệt hạ mức phản công của đối phương thôi.

Hậu quả của hai cách huấn luyện này là gì? Người CS/VNCH rất uyển chuyển trong việc thi hành luật pháp. Đương nhiên người dân được cảnh sát bảo vệ hơn.

Ngoài ra, nếu người CS ở HK hay ở VN phải nổ súng, gây thiệt mạng cho dân mà bị đưa ra toà, kết quả sẽ ra sao?

Tại Hoa Kỳ, có hai trường hợp sẽ xảy ra: Một là: nếu toà công nhận người cảnh sát trong lúc thi hành công vụ đã thực sự gặp nguy hiểm và phải nổ súng bắn chết người thì sẽ được miễn tố. Hai là: nếu toà không công nhận cảnh sát được quyền nổ súng thì người cảnh sát đó sẽ bị kết tội cố sát, vì họ đã được chỉ dạy hễ nổ súng là phải bắn nạn nhân cho chết.

Còn người cảnh sát VN cũng phải đối phó với hai hậu quả: Nếu tòa nhìn nhận cảnh sát hành động đúng thì miễn tố. Nhưng nếu toà xác nhận cảnh sát sai thì nhiều tội danh có thể áp dụng, chứ không nhất thiết phải là tội cố sát như tại HK. Nếu nạn nhân chết thật thì người cảnh sát VNCH vẫn có thể khai rằng không có ý bắn chết. Gây chết người khi không cố ý, đó là ngộ sát. Còn nếu nạn nhân không chết thì đó là tội vô ý gây thương tích.

Tóm lại, cách hành xử của người CS HK và CS/VNCH khác nhau vì họ được huấn luyện khác nhau. Thật khó để kết luận phương pháp nào hay hơn.

B.- NGƯỜI CẢNH SÁT CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VN

Người CSQG/VNCH được mệnh danh là “Bạn Dân”, tức là người cảnh sát VNCH yêu mến dân và bảo vệ dân. Tại các Ty, Sở CSQG/VNCH có một ban riêng để bài trừ du đãng, côn đồ. Lý do: Khi những kẻ phạm pháp tập họp lại và có kế hoạch phạm pháp thì mức nguy hiểm gia tăng gấp bội. Cảnh sát VNCH và côn đồ không thể nào bắt tay làm việc chung với nhau, vì lực lượng CS là một tổ chức bảo vệ luật pháp, giữ trật tự cho dân. Còn các nhóm côn đồ chủ trương phá luật, gây rối trật tự.

Thế nhưng, dưới chế độ Cộng Sản VN hiện nay, các luật lệ của Đảng đều được viết theo tiêu chuẩn rừng xanh. Những người cai trị dân trong chế độ CSVN hiện nay chỉ thích áp dụng luật rừng. Những điều luật họ quen áp dụng để bỏ tù người dân đều không tìm thấy ở trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền hay giống các bộ luật hình của các quốc gia văn minh. Do đó, người ta gọi đó là “Luật Rừng”: Vì nó vô tổ chức như rừng và nhiều như rừng! Nhờ đó, công an của Cộng Sản VN và côn đồ đã có thể hợp lực, hợp tác với nhau để bảo vệ “Luật Rừng”. Những tin tức từ VN gửi đi đều cho mọi người thấy rõ rằng khi những người dân yêu nước, không thể ngồi nhìn Trung Cộng xâm chiếm đất nước mình, hoặc khi dân chúng bị oan ức, họ đứng lên đòi quyền lợi của mình thì công an chở đám côn đồ đến, hoặc chính công an đội lốt côn đồ đánh đập người dân thẳng tay. Tại những nơi thờ phượng tôn nghiêm, như ở nhà thờ Dòng Chúa Cứ Thế Thái Hà, Hà Nội trước đây, công an đứng canh gác bên ngoài để cho côn đồ đi vào bên trong phá phách và chửi bới các tín hữu…

Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 2-4-2012 loan tin rằng: ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng CSVN khi tới thăm Tổng Cục Xây Dựng Lực Lượng Công An Nhân Dân đã tuyên bố: “Công An Nhân Dân là lực lượng nòng cốt để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, là thanh kiếm và lá chắn để bảo vệ chế độ.”

Qua câu nói trên, ông Trọng đã hé lộ điều gì?

Thứ nhất, lực lượng cảnh sát của Cộng Sản VN là lực lượng bảo vệ “chế độ”, tức chế độ Cộng Sản. Đúng lý ra, lực lượng quân đội và công an của một quốc gia được hình thành với mục đích bảo vệ tổ quốc và dân chúng. “Chế độ” và “tổ quốc” là hai thực thể hoàn toàn khác nhau. Tổ Quốc VN có 4.000 năm lịch sử. Còn chế độ Cộng Sản hay chế độ XHCN do ông Hồ Chí Minh du nhập vào VN mới chỉ có khoảng 75 năm thôi. Mọi chế độ có thể thay đổi theo thời gian. Khi người dân không thích một chế độ nào thì có quyền xóa bỏ nó đi. Trái lại, người dân có bổn phận bảo vệ tổ quốc và chỉ tổ quốc mới trường tồn.

Thứ nhì, khi ông Nguyễn Phú Trọng nói rằng: lực lượng công an “là thanh kiếm và lá chắn để bảo vệ chế độ”, có nghĩa là khi ai chống chế độ CSVN, sẽ đụng phải lực lượng cảnh sát, công an, và họ sẽ phải đương đầu với thanh kiếm, với lá chắn; tức là sẽ bị đàn áp ngay. Từ đó, suy ra, Đảng CSVN đang mắc nợ Trung Cộng, đang phải thần phục Trung Cộng, cho nên, ai chống Trung Cộng tức là chống chế độ Cộng Sản, vì thế bị đàn áp thẳng tay.

Việt Nam sẽ mất, sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới cũng chỉ vì sự sai lầm của những người cầm quyền vì không phân biệt được thế nào là “chế độ”, thế nào là “tổ quốc”. Họ đã sử dụng quân đội và cảnh sát để phục vụ chế độ thay vì tổ quốc. Và cái chế độ cộng sản hay xã hội chủ nghĩa chỉ là một nấm mồ bên ngoài sơn vôi, bên trong là thây ma thối xình. Chẳng quý hóa gì. Các quốc gia Đông Âu đã khai tử chế độ Cộng Sản từ lâu rồi. Và ngay tại VN hiện nay, Cộng Sản cũng chỉ là cái xác không hồn, không ai còn thấy hình bóng xã hội chủ nghĩa ở đâu, mà chỉ thấy một bầy tham nhũng đang dùng lực lượng công an, cảnh sát để thu góp tiền bạc, làm giàu bất chính và chuẩn bị chạy ra ngoại quốc thụ hưởng. Đó là dụng ý của việc dùng cảnh sát để bảo vệ chế độ của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

KẾT LUẬN:   

Ngày kia, Đức Không Tử cùng vài học trò châu du nước Tề. Khi qua núi Thái Sơn, Ngài thấy một người đàn bà ngồi khóc ở ngoài đồng nghe rất thê thảm. Ngài dừng chân lại và nói với học trò:

–  Xem như trong nhà người đàn bà này có đám tang.

Rồi sai thầy Tử Cống đến hỏi han tự sự, người đàn bà thưa rằng:
–   Ở nơi này lắm hổ cùng các thú dữ khác. Cha chồng tôi đã chết vì hổ, chồng tôi cũng chết vì hổ, bây giờ con tôi cũng chết vì hổ nữa. Thảm lắm, ông ạ!

Thầy Tử Cống hỏi:
–  Thế sao bà không bỏ chỗ này để sống nơi khác có yên không?

Người đàn bà vừa khóc vừa nói:
Tuy vậy, ở đây quan lại công bình, liêm khiết hơn các nơi khác, thà phải chết tại đây vì thù dữ, tôi vẫn bằng lòng.
Đó chính là lý do đồng bào VN mỗi khi gặp hoạn nạn liền chạy đến cầu cứu “Bạn Dân” là các cảnh sát VNCH; nhưng khi nhìn thấy bóng dáng “Kẻ Thù Dân” (cảnh sát Cộng Sản VN), họ sẵn sàng liều chết trên biển cả hay trong rừng sâu nước độc để tìm đường vượt biển, vượt biên.

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI

Nguồn: http://saigonecho.com/index.php/cd-viet/gia-dinh-canh-sat-quoc-gia/tai-lieu/37903-chuc-nang-nguoi-canh-sat-quoc-gia-viet-nam-cong-hoa

Tổng thống Nixon và vụ Watergate tháng 8-1974 – Trọng Đạt

Trọng Đạt

 

https://i1.wp.com/www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2018/08/pic_giant_030315_SM_Richard-Nixon-2-696x406.jpg
TT Richard Nixon. Ảnh nationalreview.com
Vụ tai tiếng chính trị Watergate diễn ra những năm 1973, 74 đã khiến lần đầu tiên một vị Tổng thống Mỹ phải từ chức để tránh khỏi bị đàn hặc. Tại miền nam Việt Nam sau Hiệp định Paris biến cố này không được quan tâm nhiều, người dân được biết qua báo chí tường thuật lại, họ chỉ chú ý tới tình hình đất nước.Nhưng nay tại Mỹ vụ án chính trị này lại được nhắc tới nhiều hơn mỗi khi người ta đề cập tới kế hoạch đàn hặc Tổng thống đương nhiệm, họ thường nói vụ liên hệ với Nga của TT Trump còn lớn hơn vụ Watergate.
Sơ lược vụ xì căng đan
Watergate là tên sáu tòa building lớn tại Hoa Thịnh Đốn,trong đó Watergate Office Building có trụ sở chính của đảng Dân chủ. Giữa năm 1972, năm người nhân viên có liên hệ với Tòa Bạch Ốc đã đặt máy nghe lén hoạt động của đảng đối lập (Dân chủ), họ sơ hở nên bị bắt sau đó. Phó giám đốc FBI Mark Felt, bí danh Deep Throat cung cấp tin tức vụ nghe lén với các ký giả Carl Bernstein, Bob Woodward, những hoạt động bí mật này sau đó được phanh phui trên báo Washington Post năm 1972. Chính phủ Nixon bị tố cáo là chủ mưu vụ bê bối này, TT Nixon cho rằng đây chỉ là những trò chính trị, thiên kiến. Một loạt những phanh phui sau đó cho thấy Ủy ban tranh cử nhiệm kỳ hai của Tổng thống đã có liên hệ tới vụ “xì căng đan” nhằm phá đảng Dân chủ. Ngày 7-11-1972, Nixon tái đắc cử với tỷ lệ áp đảo, số phiếu tối đa, phiếu cử tri đoàn 96%, hơn đối thủ Dân chủ 18 triệu phiếu phổ thống, được coi như thắng cử lớn nhất từ xưa đến nay.
Nửa năm sau Hiệp định Paris, tháng 7-1973, một trợ lý Tòa Bạch Ốc tên Butterfield đã khai trước Quốc hội TT Nixon có một hệ thống băng ghi âm bí mật ghi lại các cuộc nói chuyện, các cú điện thoại (giống như nhật ký). Công tố viên đặc biệt điều tra vụ Watergate tên Archibald Cox gửi trát đòi Tổng thống phải cung cấp nhưng ông chỉ đưa bản copy thay vì bản băng gốc, lấy lý do đặc quyền của Hành pháp. Vì TT Nixon và Công tố viên Cox tranh cãi nên ông sa thải Cox, đưa Jaworski lên thay. Tháng 11, các luật sư riêng của Nixon nhận thấy cuộn băng bị trống (xóa) một đoạn 18 phút, nhưng bà Rose Mary Woods, thư ký riêng của Tổng thống tuyên bố bà chịu trách nhiệm việc này vì đã vô tình xóa đoạn ấy trong khi sang lại cuộn băng. Mặc dù phần xóa không chứng minh được TT Nixon làm bậy song ông bị nghi ngờ vì tuyên bố là không hay biết gì về việc che dấu này (của Rose).
Mặc dù không còn được dân Mỹ ủng hộ và ngay cả trong đảng Cộng hòa, Nixon vẫn phủ nhận những lời kết tội sai trái và quyết ở lại chức vụ, ông cho là mình có sai lầm nhưng không biết vụ nghe lén, trộm tin tức (Dân chủ), không phạm luật. Ngày 10-10-1973, Phó TT Agnew từ chức vì bị tố cáo trốn thuế từ hồi còn làm Thống đốc Maryland, Nixon cử Gerald Ford, Trưởng khối thiểu số Hạ viện lên thay.
Cuộc chiến luật pháp về các cuộn băng kéo dài cho tới những tháng đầu năm 1974. Tháng 4-1974, Nixon tuyên bố phát hành 1,200 bản ghi chép những cuộc đối thoại tại toà Bạch ốc giữa Tổng thống và các vị phụ tá. Ngày 9-5-1974, Ủy ban Tư pháp Hạ viện mở cuộc điều trần đàn hặc Tổng thống, buổi hội thảo đã được đưa lên các đài truyền hình lớn, cuộc điều trần đưa tới bỏ phiếu đàn hặc. Toàn bộ Tối Cao Pháp Viện ra phán quyết ngày 24-7 lệnh cho toàn bộ các băng phải được phát hành chứ không chỉ các bản được lựa chọn.
Mặc dù ủng hộ của Nixon giảm khi có nhiều tiết lộ mới song ông vẫn hy vọng có thể chống lại mọi hình thức kết tội. Một trong các băng ghi âm mới ngay sau cuộc đột nhập Watergate cho thấy ông đã thuật lại sự liên lạc của Tòa Bặc Ốc với năm người nghe lén, đã chấp nhận kế hoạch cản trở điều tra (obstruction of justice).
Các vị chức sắc Cộng Hòa trong Quốc hội cho Nixon biết chắc chắn ông sẽ bị đàn hặc tại Hạ viện và số phiếu của ông tại Thượng viện chỉ vào khoảng 15 phiếu, chưa được một nửa số phiếu tối thiểu cần để tránh bị truất phế (1/3, tức 33 hay 34)
Biết trước sẽ bị đàn hặc, truất phế nên Nixon từ chức ngày 9-8-1974, trở thành vị Tổng thống đầu tiên và duy nhất từ chức. Mặc dù ông thôi làm để tránh bị đàn hặc nhưng trên thực tế từ ngày Lập quốc đền nay Hoa Kỳ chưa hề có vị Tổng thống nào bị truất phế.
Nguyên do Đảng phái
Vì sao TT Nixon bị chống đối dữ dội, sắp bị đàn hặc phải từ chức?trước hết phải nói do đảng đối lập (Dân chủ) thua quá đau, nhục nhã. Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam từ TT Kennedy cho tới TT Ford, Dân chủ luôn nắm ưu thế tại Quốc hội: thời TT Kennedy (DC) 60% Hạ viện, 64% Thượng viện, Thời TT Johnson (DC) Hạ viện 67%, Thượng viện 68%, Thời TT Nixon (CH) Hạ viện 55%, Thượng viện 57%
Cuộc tranh cử Tổng thống 7-11-1972 đã khiến Nixon tái đắc cử với số phiếu lớn nhất từ xưa cho tới thời điểm này theo nhận xét của Kissinger (1). Nixon đã đem quân về nước gần hết, hòa bình tại Đông Dương đã gần kề, đã hoàn thành một lô công trạng lớn từ 1971-72 như Thỏa ước Bá Linh, Thượng đỉnh Bắc Kinh (tháng 2-1972), Thượng đỉnh Mạc Tư Khoa (tháng 5-1972) với Thỏa ước tài giảm binh bị. Ông đã hòa hoãn được với CS quốc tế Nga và Trung Cộng mang lại hòa bình lâu dài cho Hoa Kỳ trong nhiều thập niên. Nixon chấm dứt cuộc chiến VN mang lại hòa bình trong danh dự (peace with honor)trái ngược với chủ trương của Dân chủ, họ muốn rút bỏ miền Nam VN ngay không cần Hòa đàm Paris trong cả hai cuộc bầu cử TT năm 1968 và 1972: (2). Năm 1972 ứng cử viên TT Dân chủ McGovern công khai tuyên bố nếu đắc cử ông sẽ rút bỏ miền Nam ngay, không cần đàm phán với CS Hà Nội. Người dân Mỹ không chấp nhận đường lối bỏ chạy đầu hàng CS như vậy, họ muốn hòa bình trong danh dự, nghĩa là Mỹ rút đi khi miền Nam còn tồn tại, đó là lý do Nixon đại thắng và Con Lừa thảm bại.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972, Nixon được 520 phiếu cử tri đoàn, McGovern chỉ được 17 phiếu, về phiếu phổ thông Nixon hơn đối thủ 18 triệu phiếu (Nixon 47 triệu, McGovern 29 triệu) (3)
Tính tới thời điểm 1972, theo lời Kissinger có lẽ chưa có ai thắng lớn như vậy. Mười hai năm sau, 1984 TT Reagan (Cộng hòa) tái đắc cử với 97% phiếu cử tri đoàn (Reagan 525 phiếu, Mondale 13 phiếu), về phiếu phổ thông Reagan hơn Mondale 17 triệu phiếu.
Tranh cử 1972 và 1984 là hai lần thắng lớn nhất trong lịch sử Mỹ (4)
Trong America Longest’War trang 289, GS George C. Herring nói vụ điều tra Watergate cho thấy Nixon lợi dụng chức quyền Tổng thống, đảng Dân chủ cay cú từ lâu (long-embittered) có cơ hội rờ gáy Tổng thống, Cộng hòa miễn cưỡng ủng hộ ông. Trang 290 nói cuối năm 1973, Nixon thực sự không còn quyền hành (virtually powerless), vụ Watergate đã khiến tỷ lệ ủng hộ của ông chẳng còn gì, phải chiến đấu tuyệt vọng cho sự sống còn của sự nghiệp chính trị.
Thù oán
Chính sách quá cứng rắn với CS và với phong trào phản chiến của Nixon đã gây nhiều thù oán khiến họ chống chính phủ dữ dội, muốn Mỹ phải rút bỏ Đông Dương ngay. Nixon cho đàn áp biểu tình mạnh, có đổ máu, chết người khiến phong trào của sinh viên, thanh niên ngày một lan rộng, dữ dội. Ông đã kể lại trong hồi ký từ đầu năm 1969 tới tháng 2-1970 có 43 người chết kể cả cảnh sát trong các cuộc chống đối sô sát, hàng trăm người bị thương (5)
Nixon nói họ chống ông đòi hòa bình, nhưng sau khi đã đem lại hòa bình họ lại chống dối dữ hơn qua vụ Watergate, phản chiến không bỏ lỡ cơ hội trả thù. Đảng Dân chủ cuối cùng đã kết hợp được quần chúng nổi dậy chống kẻ thù chung, những người cùng chiến tuyến với Nixon, các vị dân cử Con Voiđã bỏ hàng ngũ để giữ nồi cơm của họ khi phong trào chống đối lên cao.
Ngày 8-11-1972, hôm sau ngày thắng cử, Nixon họp các viên chức Bộ tham mưu Tòa Bạch Ốc nói chuyện rồi ra cửa, giao lại cho Chánh văn Phòng Haldeman xử lý, ông này cho biết mọi người làm đơn từ chức ngay. Một vị Tổng thống đắc cử với số phiếu cao nhất lại đuổi các cộng tác viên, họ được biết các viên chức mới sẽ được bổ nhiệm trong một tháng. Ngay trong buổi sáng sau ngày thắng cử, họ bị đuổi, ai nấy đều bối rối vì bị sốc nặng. Một giờ rưỡi sau, Nội các cũng phải làm y như vậy, các vị Bộ trưởng cũng bị đuổi hết. Kissinger cho biết chẳng hiểu sao ông Tổng thống mới đắc cử với số phiếu cao nhất lại đuổi các viên chức thân cận nhất mà không giải thích bao giờ. Kissinger cũng phải làm đơn từ chức nhưng chỉ riêng ông được giữ lại để tiếp tục đàm phán tại Paris . (White House Years, trang 1406)
Ngay đối với cộng sự viên trong đảng mà ông còn như vậy nên bị thù oán nhiều, khi Nixon từ chức, các viên chức, cố vấn không thấy ai thương xót ông
Nhận xét Tội trạng
Trên đây là sơ lược diễn tiến vụ tai tiếng Watergate, ông Nixon bị kết tội vì: vượt quá quyền hạn Tổng thống, cho nghe lénđảng đối lập trái phép, cản trở công lý (sa thải Công tố viên Cox), nói dối với người dân….nhưng các tội trên đây không lớn lắm. Nghe lén không phải là tội lớn vì năm 1968, TT Johnson đã cho nghe lén Ứng cử viên Nixon (Cộng hòa) khi ông cử đại diện sang Sài Gòn để khuyên TT Thiệu tẩy chay, không tham dự Hòa đàm Paris (6) vì nếu đắc cử ông sẽ giúp VNCH tích cực hơn.Sở dĩ vụ nghe lén này êm xuôi vì hoặc Cộng hòa không biết, hoặc Johnson (Dân chủ) không đáng phải để Cộng hòa mất công lật đổ vì ông chẳng có uy tín gì, Johnson gây cuộc chiến VN sa lầy, làm chết 35 ngàn quân tính tới 1968, tạo phân hóa nước Mỹ trầm trọng. Chuyện Tổng thống nghe lén không có gì to tát, gần đây TT Obama bị Cộng hòa tố giác đã nghe lén cuộc tranh cử của Donald Trump. Tội cản trở công lý cũng không riêng gì Nixon, TT Bill Cinton năm 1998 cũng đã bị kết án cản trở công lý và nói dối (7), tội nói dối cũng không riêng gì Nixon, thiếu gì Tổng thống nói dối.
Nước Mỹ tự chửimình
Cuộc bầu cử Tổngthống ngày 7- 11-1972, Nixon đại thắng, đạt số phiếu tối đa 520 phiếu cử tri đoàn (96%), đối thủ McGovern được 17 phiếu, về phiếu phổ thông Nixon được 47 triệu, hơn đối thủ 18 triệu phiếu. Trong lịch sử tranh cử Tổng thống Mỹ ngoài Nixon ra, TT Reagan năm 1984 cũng là người đã đoạt số phiếu cao nhất: 525 phiếu cử tri đoàn (97%), đối thủ Mondale 13 phiếu, hơn đối thủ 17 triệu phiếu phổ thông.
Người dân bầu cho TT Nixon số phiếu cao nhất như vậy vì các công trạng quá lớn của ông, đã mang quân về nước, hòa bình trong danh dự đã gần kề, hòa hoãn với CS quốc tế Nga và Trung Cộng, mang lại hòa bình lâu dài cho Mỹ và thế giới. Họ đánh giá cao Nixon qua lá phiếu của họ nhưng nay lại vùi dập ông xuống đát đen vì những vi phạm mà họ cho là trọng tội như đã nói trên. Cả nước Mỹ, truyền thông, Quốc hội, Tối cao pháp viện… đều đã thồng nhất lập trường, nhận định về tội trạng của ông. Trước đó khoảng một năm rưỡi họ đưa Nixon lên tột đỉnh danh vọng với những lá phiếu tối đa, cho dù nay đã bị hạ bệ nhưng ông vẫn còn xứng đáng với công trạng vượt thời gian của mình. Nước Mỹ thật là mâu thuẫn, họ tự chửi chính mình bằng những hành động trái ngược nhau.
Người Mỹ vong ân
Dù ghét, dù thương Nixon cũng không ai phủ nhận được thành tích quá lớn của ông, ngay cả đám đông biểu tình đòi truất phế Nixon, những kẻ sỉ vả tội trạng của ông ta hăng hái nhất cũng đã thừa hưởng hòa bình do ông mang lại. Các cuộc họp Thượng đỉnh của Nixon với CS quốc tê tại Bắc Kinh tháng 2-1972 và tháng 5-1972 tại Moscow đã mang lại hòa bình cho nước Mỹ tới tận ngày hôm nay, từ đó nước Mỹ không còn mối lo hiểm họa CS bành trướng tại Á châu cũng như Âu châu. Ngay cả những chính trị gia, những kẻ đi biểu tình đòi truất phế Nixon cũng đã thừa hường nền hòa bình lâu dài do ông mang lại. Họ không phải tòng quân ra trận tại những phần đất xa xôi, con cháu họ đã được yên thân trong hòa bình hạnh phúc.
Những kẻ vô ơn họ không biết ngượng ngùng khi thừa hưởng hòa bình của kẻ mà họ hạ bệ, xỉ vả chửi bới đã mang lại cho họ.
Kết luận
Nhiều nhà sử gia, chính khách đặt ra một câu hỏi, một giả thuyết nếu không có vụ Watergate (TT Nixon còn tại chức), miền Nam VN có bị mất vào tay CS hay không? (8) Theo lời TT Nixon (9) sau khi ký Hiệp định Paris nửa năm, Quốc hội ra luật cắt hết các ngân khoản dành cho các hoạt động quân sự tại Đông Dương có hiệu lực từ giữa tháng 8-1973 khiến ông không còn quyền hành để buộc BV phải thi hành Hiệp định.
Tác giả Walter Isaacson trong cuốn Kissinger a Biography trang 487 nói sau này Kissinger cho rằng nếu không có vụ Watergate thì miền Nam VN sẽ không bị mất, cả hai ông đều đổ lỗi cho Watergate
Nếu không vì sự sụp đổ của Hành pháp do hậu quả của Watergate, tôi tin rằng đáng lẽ ta có thể thành công”
(lời Kissinger)
Và TT Nixon cũng nói:
“Nếu tôi còn tại chức, tôi nghĩ ta đã có thể thi hành Hiệp định, miền nam VN đã có thể vẫn là khu vực không Cộng sản”
Nhưng Walter Isaacson nhận định dù có hay không có Watergate, nước Mỹ sẽ không can thiệp trở lại, Quốc hội và người dân đã tìm đường ra khỏi VN (trang 487)
Ngay trước khi có vụ Watergate, Quốc hội đã ra luật trói tay Tổng thống khiến ông không còn quyền hành gì. Quốc hội Dân chủ, phong trào phản chiến đều đã muốn vứt bỏ miếng xương Đông Dương, nó gây chia rẽ xâu xé trầm trọng cho nước Mỹ. Dù có hay không có Watergate, VNCH không thể tồn tại vì người ta muốn như vậy.
Vụ Watergate có thể liên quan tới chiến tranh Việt Nam , những lý do họ viện cớ để đàn hặc Nixon như nghe lén, nói đối, cản trở công lý… không thuyết phục cho lắm. Mặc dù Quốc hội đã ra luật hạn chế quyền Tổng thống để ông không còn cơ hội can thiệp vào VN nhưng người ta cũng sợ ông sẽ làm liều cho oanh tạc CSBV khi họ vi phạm Hiệp Định. Quốc hội đối lập, phong trào phản chiến, truyền thông… đã nỗ lực truất phế Nixon để giải quyết dứt khoát nỗi ám ảnh của cuộc chiến VN.
Hậu quả của Watergate là sự chia rẽ trầm trọng giữa hai chính đảng cho tới ngày hôm nay, họ giống như mặt trăng với mặt trời. Năm 1998, Cộng hòa đàn hặc TT Bill Clinton để trả thù cho TT Nixon. Clinton bị tố cáo, luận tội vì nói dối, bội thệ và cản trở công lý qua hai vụ án tình dục, một trong tòa Bạch Ốc và một có từ thời ông còn làm Thống đốc trước đây. Cộng hòa nắm ưu thế tại Quốc hội nhưng thất bại vì không hội đủ số phiếu 1/3 (67 phiếu) tại Thượng viện, vả lại người dân nay lại thờ ơ với việc truất phế một ông Tổng thống, Bill Clinton không bị thù oán nhiều như Nixon.
Dưới thời TT Bush con, tình hình đảng phái lắng dịu một thời gian, tới TT Obama Cộng hòa nắm ưu thế tại lưỡng viện Quốc hội, họ gây khó khăn cho Tổng thống Dân chủ và nay dưới thời TT Trump, sự chia rẽ lại được đào sâu hơn bao giờ hết. Sự chia rẽ uất hận đến độ khi ông Tổng thống đảng này phát biểu trước Quốc hội, các vị dân cử của đảng kia không chịu đứng dậy, không vỗ tay. Không những thế họ đánh phá nhau liên tục, bằng đủ mọi cách, đủ mọi lá bài kể cả những trò nhỏ nhặt, hạ đẳng.
Người dân vẫn luôn tỏ ra trung lập và công bằng, khi chính sách của đảng cầm quyền bị mất tín nhiệm, họ sẽ bầu cho đảng khác để sửa sai ngay Watergate chỉ là chuyện nội bộ của Mỹ, các nước khác không quân tâm cũng như không hiểu gì mấy. Watergate đã khiến cho sự nghiệp chính trị của Nixon bị phá sản, tác giả Nguyễn Kỳ Phong nhận định (10): Cho dù Nixon được đánh giá là xấu hay tốt, giỏi hay dở nhưng không ai có thể phủ nhận ông ta không có một sự nghiệp chính trị vào hàng ngoại hạng.
Trọng Đạt
————————————
(1) White House Years, trang 1406
(2) GS Nguyễn tiến Hưng cho biết năm 1985, tại Luân Đôn ông Thiệu kể lại rằng hồi ấy nếu Humphrey (DC) đắc cử (năm 1968) thì nửa năm sau sẽ có liên Hiệp với CS tại miền nam VN, (Khi Đồng Minh Tháo Chạy Chạy chương I)
(3) Wikipedia , United States presidential election, 1972
(4) Wikipedia , United States presidential election, 1984
(5) Richard Nixon, No More Vietnams trang 126.
(6) Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Chương Một;
Trần Đông Phong, VNCH 10 Ngày Cuối Cùng trang 51, 52, 53
(7) VOX- Impeachment of the president, explained
(8) Larry Berman, No Peace, No Honor trang 180
(9) No More Vietnams trang 181
(10) Vũng Lầy Của Bạch Ốc, trang 398

Người Nhái, ước vọng của tôi – NN Lê Đình An

NN Lê Đình An
Vào năm 1950, khi tôi vừa được 10 tuổi, tôi thấy một hình vẽ trong tạp chí ngoại quốc: hình vẽ một tổ Người Ếch (vì lúc đó chưa có Người Nhái ) lặn xuống biển và đang đặt chất nổ để phá hủy trái Thủy Lôi. Hình ảnh trầm hùng đó đã in sâu vào ký ức của tôi mãi mãi….Hoàn cảnh gia đình của tôi từ nhỏ lúc tôi vừa 8 tuổi đã mất cha. Vì thời buổi chiến tranh, người anh của tôi cũng như bao nhiêu thanh niên cùng lứa tuổi đã vào bưng biền kháng chiến chống Pháp từ năm 1945, cho đến năm 1948. Một đêm bão bùng mưa gió đã phủ xuống gia đình tôi. Đêm đó có vài người mặc đồ đen đến gõ cửa nhà tôi và bắt Ba của tôi đem đi. Và mãi mãi ba tôi không còn trở về nữa. Má của tôi đi tìm kiếm thăm hỏi tin tức của ba tôi. Sau mấy tháng trời, má của tôi mới biết được tin ba và anh của tôi đã bị bọn Cộng Sản đem đi thủ tiêu với lý do ba và anh tôi là tín đồ đạo Cao Đài.

Gia đình tôi còn lại 4 anh em. Người Anh lớn đã có gia đình rồi nên ở riêng. Nhà của tôi ở tại làng Xuân Hiệp chỉ cách quận lỵ Thủ Đức khoảng 3 cây số, nơi đây có dòng suối Xuân Trường uốn mình chảy ngang qua ngôi đình làng và xuyên qua quốc lộ 1 xuôi về hạ nguồn ngang qua trước nhà của đại văn hào Nguyễn văn Vĩnh. Lúc đó vùng này đã trở thành vùng mất an ninh, má của tôi đành phải rời xa đất đai, đem 3 anh em tôi ra chợ Thủ Đức để lo buôn bán tảo tần kiếm sống nhưng vẫn không đủ ăn. Người anh kế tôi mới có 12 tuổi, may mắn được người quen giới thiệu vào giúp việc cho một quán cà phê. Ông chủ quán cà phê thấy anh tôi siêng năng chịu khó làm việc nên tôi cũng được ông chủ cho vào làm luôn trong tiệm của ông. Hai anh em tôi cố gắng đi làm để giúp cho đứa em nhỏ có đủ phương tiện học hành (Sau này em tôi Lê Đình Thành, tốt nghiệp kỹ sư trường Kỹ Thuật Phú Thọ và là giáo sư trường Kỹ Thuật Cao Thắng), còn tôi và anh tôi thì chỉ đi học tư trong những giờ thích hợp.
oOo
Lúc thơ ấu tôi rất ngưỡng mộ các vị danh tướng trong lịch sử Việt Nam như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Văn Duyệt, v.v. như kim chỉ nam cho cuộc đời. Do đó tôi rất mong muốn được học võ nghệ, và cũng mong sau này có dịp đóng góp được phần nào cho quê hương như câu Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu trách.

Tôi nhập môn Võ LâmTân Khánh

Qua sự giới thiệu của ông Ngoại tôi với vị võ sư Nguyễn Văn Đại là Cậu bà con bên ngoại nên tôi và người anh kế của tôi được võ sư nhận làm đệ tử sau buổi lễ bái sư.

Vì hoàn cảnh khó khăn của thời điểm 1950 Quân đội Pháp bị kháng chiến quân Việt Minh tấn công khắp nơi. Chúng ra lệnh cấm không cho dân chúng tập võ. Võ sư phải lén dạy võ cho thanh niên trong làng chia ra nhiều nơi nhiều nhóm. Vì vậy hai anh em chúng tôi chỉ học võ trong những đêm có trăng còn những đêm trăng mọc trễ thì đốt đèn dầu. Trung bình học được khoảng 15 ngày trong một tháng.

Anh tôi Lê Đình Trị sanh năm 1937 lớn hơn tôi 3 tuổi, hai anh em tôi đều rất say mê võ thuật, về sức khỏe mặc dầu là tôi nhỏ tuổi hơn nhưng không chênh lệch bao nhiêu so với anh tôi.

Những đêm học võ, chúng tôi cỡi xe đạp chở nhau từ nhà ở tại chợ Thủ Đức vào làng Bình Phú nơi nhà Thầy khoảng 3 cây số đường làng và học võ từ 6 giờ chiều cho đến 11 giờ đêm chúng tôi mới chở nhau về bằng xe đạp.

Phương pháp huấn luyện là 2 giờ đầu học tập đường thảo (Bài quyền) giờ còn lại là tập song đấu, mỗi đầu giờ được nghỉ giải lao khoảng 10 phút. Với bản tánh say mê và háo thắng của tôi trong lúc tập song đấu đã thường làm cho anh tôi bị trúng đòn hơi nặng, có lúc thầy tôi phải cho ngưng đấu để anh tôi uống giấm pha đường cho đỡ đau.

Một cuộc khảo sát bất ngờ của thầy.

Sau hai tuần trăng (2 tháng) chúng tôi mới học vỡ lòng bài quyền Đồng Nhi. Hôm nay chúng tôi vừa vào đến nhà thầy, ông gọi 2 anh em tôi đến gần và nói:

Hôm nay 2 đứa bây theo Cậu đến chỗ này.”

Rồi ông dẫn anh em tôi đi theo bờ ruộng mía quanh co khoảng 1 cây số thì đến một căn nhà bỏ hoang giữa ruộng mía. Khi bước vào trong căn nhà, tôi nhìn thấy tranh tối tranh sáng khoảng hai ba chục người ngồi xung quanh một ngọn đèn dầu. Khi thấy ba thầy trò tôi vào tất cả đều đứng lên cúi đầu chào vị võ sư, ông ra dấu cho tất cả ngồi xuống rồi ông chậm rãi giới thiệu anh em tôi là học trò nhỏ nhất mới nhập môn với tất cả mọi người và cũng giới thiệu tên của những sư huynh của chúng tôi. Lúc đó tôi hồi hộp quá nên không còn nhớ rõ tên các người đó chỉ nhớ có một tên người trưởng tràng là Nguyễn Văn Hương 18 tuổi, vì tôi được nghe thầy thường khen anh Hương là giỏi nhất trong tất cả các võ sinh của ông, trong thâm tâm anh em tôi đều ái mộ nên nhớ rất rõ và cũng rất mong có ngày được gặp anh Hương.

Với dáng điệu trầm hùng võ sư Đại ra lệnh:

“Hương bước ra!”

Anh Hương lên tiếng “dạ” rồi bước ra giữa khoảng trống.

Võ sư Đại ra lệnh tiếp:

“An bước ra!”

Tôi giật mình vì bất ngờ. Hơi chần chờ, Võ sư Đại nhắc lại: “An bước ra!”.

Tôi “dạ” rồi bước ra sân, Võ sư ra lệnh:

“Hai đứa song đấu!”

Tiếng lệnh song đấu đó đã làm cho tôi chới với. Trời! Thật sự tôi học Đường Thảo còn chưa nhuần nhã thì làm sao mà dám song đấu với một sư huynh, trưởng tràng của môn phái? Tôi lo lắng vô cùng nhưng cũng đành phải tuân lời thầy.

Tôi và anh Hương cùng bái tổ rồi bỏ bộ thủ thế thì tôi đã bị lọt vào thế hạ phong rồi.

Ghi chú: Môn võ thuật Tân Khánh khi học tập đều được huấn luyện quyền cước và chiến thuật cùng lúc, thí dụ như khi bước ra sân đấu ta phải chiếm vị trí thượng phong dồn địch thủ vào thế hạ phong. Có nghĩa là vào sân đấu phải chiếm vị trí trên gió địch thủ ở vị trí dưới gió, khi giao đấu địch sẽ bị bất lợi vì bụi bặm bay vào mắt mũi của mình. Ban ngày có ánh sáng mặt trời thì Thượng phong ánh sáng mặt trời ở phía sau lưng của ta còn địch thủ ở thế Hạ phong bị ánh sáng mặt trời chói thẳng vào mắt không thấy đường. Ban đêm cũng giống như ban ngày Thượng phong là ánh sáng ở phía sau lưng ta và địch Hạ phong sẽ bị chói mắt.

Tôi hoang mang vì bị ánh sáng ngọn đèn dầu chói vào mắt, những bóng người bao vây chung quanh ẩn hiện lẫn với bóng anh Hương, sau khi đảo bộ anh Hương phóng thẳng quả đấm vào mặt tôi một tiếng “bốp”. Cùng lúc với tiếng “bịch” vang lên, má bên phải của tôi đã lãnh cú đấm như sấm sét, mắt tôi hoa lên như có nhiều đốm lửa tung tóe. Tôi bị sức dội thối lui mấy bước. Và ngược lại bóng anh Hương theo tiếng “bịch”, cũng văng ra xa khoảng 2 thước té ngồi xuống đất.

Võ sư Đại ra lệnh tiếp tục đấu. Trong lúc đó tôi chưa kịp hoàn hồn, anh Hương đã vào thế, tôi cũng đảo bộ theo.

Anh Hương chuyển đổi phương vị từ trái qua phải và bất thần như cơn gió lốc tung một quả đấm vào má trái của tôi, tôi cũng không tránh né kịp nên lại lãnh thêm một quả thôi sơn. Nhưng lạ lùng là anh Hương lại cũng nhận một cú đá do phản ứng tự nhiên của tôi văng ra té ngồi xuống đất một lần nữa.

Võ sư Đại mỉm cười gật đầu mấy cái ra chiều thỏa thích, ông cho ngưng trận đấu và bảo tất cả võ sinh thu dọn rồi giải tán. Võ sư dẫn anh em tôi về nhà nhưng ông không nói lời nào cả, đêm đó anh em tôi được ông cho nghỉ tập để về sớm.

Trên đường về nhà, tôi đưa tay xoa nhẹ trên hai gò má nơi mà anh Hương đã tặng 2 quả đấm còn sưng vù. Anh em tôi hỏi nhau và lấy làm lạ về những việc đã xảy ra vừa rồi, vì anh em tôi thật tình chưa học được căn bản về võ thuật chút nào cả vì mới nhập môn và còn quá nhỏ, tôi thì mới có 10 tuổi còn anh Trị anh của tôi cũng mới có 13 tuổi. Câu hỏi tại sao cứ quanh quẩn trong đầu tôi.

Thứ 1: Tại sao đêm nay ông võ sư lại tập họp tất cả võ sinh khắp nơi về mà không thấy các anh đó tập võ hoặc song đấu với nhau.

Thứ 2: Tại sao lại chỉ định anh Hương, trưởng tràng nổi tiếng giỏi nhất trong hàng đệ tử song đấu với tôi là đệ tử nhỏ nhất và mới nhập môn. Và chỉ đấu một trận duy nhất? Với tinh thần tôn sư trọng đạo anh em tôi không dám hỏi gì cả nếu ông thầy không muốn nói ra. Suốt năm đầu chúng tôi được học về quyền cước, anh em chúng tôi rất cố gắng tập luyện bộ pháp di hành, nhanh, mạnh và phản ứng nhập tâm qua cách luyện tập với tám trái bưởi treo chung quanh.

Hai năm sau, chuyên tập về Côn (Roi) và Siêu Đao. Đến giai đoạn này anh em tôi phải đi về quê tìm mua cây Tầm Vông (đực) đặc ruột vừa tầm tay để đem về luyện tập khoảng 20 đến 30 mươi cây cho mỗi năm.

Phương pháp luyện tập để cho bàn tay chịu đựng được sức đàn hồi. Tập chịu đựng sức dội ngược của ngọn roi giáng thẳng đầu roi cấn xuống đất, lúc đầu mới tập bàn tay chịu không nổi bị bung sút ra, bàn tay bị tê thốn đôi khi bị tét da chảy máu dầm dề. Tập chịu đựng với va chạm mạnh của ngọn roi mà bàn tay vẫn giữ được ngọn roi, lần hồi không còn bị sút văng ra như lúc mới tập nữa. Chúng tôi lần lần nhuần nhuyễn hơn lanh lẹ hơn, và luyện tập chiêu thức Tám lượng chống ngàn cân để đỡ ngọn roi của địch, v.v.

Rồi về sau những ngọn roi bị đập cấn gãy càng lúc càng nhiều với những lúc tập luyện song đấu roi, tiếp theo là tập ngọn roi đâm với những trái vú sữa non hư rụng, anh em tôi gom lại và đem rải trên sân để thực tập ngọn roi đâm cho chính xác, chúng tôi cố gắng mong sẽ tiến đến đỉnh cao của võ thuật là tinh thần hợp nhất vì ý tưởng phát sinh ra hành động.

Thời gian 3 năm lần lượt trôi qua, anh em tôi đã học xong một bộ võ thuật gồm có Quyền, Cước, Đoản, Trường Côn và Siêu Đao. Trong thời gian 3 năm, thỉnh thoảng anh Hương trưởng tràng cũng có đến giúp thầy để chỉ dẫn thêm cho anh em tôi.

Nhưng có một ngày anh Hương đi chợ Thủ Đức gặp tôi cũng đang đi chợ. Anh Hương và tôi rất vui mừng anh Hương cùng tôi kéo nhau vào tiệm nước uống cà phê, sau khi thăm hỏi vài câu, anh Hương nói:

“Có một việc mà từ lâu tôi muốn hỏi chú nhưng không có dịp”

Tôi hỏi: “Anh muốn hỏi việc gì vậy?”

Hương nghiêm mặt: “Xin chú cho tôi biết cái đêm đầu tiên tôi và chú gặp nhau trong ngôi nhà hoang trong ruộng mía đó, tôi và chú đã đấu với nhau”.

Hương ngưng lại trầm ngâm như hồi tưởng hình dung lại trận đấu rồi tiếp: “Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa biết khi tôi tấn công chú lúc đó chú đã dùng chiêu thế gì phản lại mà tôi không thể đỡ được vậy?”

Tôi nhìn anh Hương trả lời: “Tôi xin nói thật với anh, lúc song đấu với anh thì tôi mới nhập môn mới có 2 tuần trăng (2 tháng) tôi chưa biết cũng như chưa hiểu gì về võ nghệ cả, thật sự là tôi chưa thuộc lòng đường thảo nữa đó anh.”

Anh Hương ngạc nhiên trợn tròn đôi mắt: “Chú nói sao? Chú nói thiệt chứ?”.

Tôi gật nhẹ đầu và nói: “Đêm đó khi nghe thầy kêu tên tôi ra đấu với anh, tôi bấn loạn vì tôi được biết anh là trưởng tràng, là người giỏi nhất trong hàng đệ tử của thầy. Anh cũng đã thấy tôi không tránh né gì được hết nên đã bị anh đánh trúng mặt hai lần…”.

Anh Hương ngắt lời tôi với vẻ ẩn ức: “Nhưng tôi bị chú phản lại một cú đá, chẳng những là một mà lại tới hai lần. Thật tôi không thể nào tưởng tượng nổi…”

Tôi nói: “Thật tôi cũng không hiểu lúc đó tôi phản ứng ra làm sao đó anh. Tôi xin anh cũng đừng để tâm mà buồn tôi.”

Anh Hương giật mình vì biết anh nóng nảy đã gay gắt với tôi, anh xin lỗi tôi rồi yên lặng suy nghĩ. Bỗng anh mỉm cười như tỉnh ngộ anh ôm vai tôi rồi nói: “Chú An à! Tụi mình thì không biết nhưng thầy mình biết và có lẽ trận đấu đó là để thầy xác định nhận xét của thầy về khả năng của chú đó!”

Anh Hương cười rồi tiếp: “Xin chúc mừng cho chú!”

Lúc đó tôi mới chợt nghĩ ra lời nói của anh trưởng tràng về việc làm của thầy trong đêm đấu võ!

Anh Hương đã vào quân ngũ và kể từ đó chúng tôi không còn gặp lại nữa vì “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”.

Trong suốt thời gian 3 năm học võ, chúng tôi được võ sư Đại dạy phần lý thuyết trong những giờ nghỉ giải lao về chiến thuật, chiến lược, địa hình và giải thích phân thế các đòn trong Đường Thảo Quyền, Cước, Côn và Siêu Đao một cách khéo léo tiềm ẩn qua các mẫu chuyện, qua các trận trao đổi võ thuật của chính ông và thầy của ông với các bậc võ sư danh tiếng thời bấy giờ ở khắp nơi từ các tỉnh miền Đông cho đến sáu tỉnh miền Tây Hậu Giang. Nhưng vì lúc đó tôi còn nhỏ quá nên không thấu hiểu được ẩn ý của ông Cậu tôi (mãi cho đến khi tôi được huấn luyện thêm về môn Thái Cực Đạo của Đại Hàn Tae Kwon Do tại võ đường khối Cận Vệ phủ Tổng Thống tôi mới hiểu được thâm ý của ông thầy.)

Những điểm đặc biệt riêng của môn phái Tân Khánh Bà Trà như sau:

• Chỉ sử dụng duy nhất một thế “ĐINH” tấn. Khi sử dụng sẽ biến đổi “Lặn, Mọc” tùy theo tiến hay thối.

• Môn Côn (Roi) và Siêu đao đều dùng thế đỡ “Tám lượng chống ngàn cân”.

• Thế tấn công “Cương mãnh” xuyên tâm mục tiêu (không bị hạn chế trong thế tấn)
• Ngọn Côn là căn bản chính của binh khí (18 môn binh khí). Có lẽ vì bị cấm học võ và dùng binh khí bằng sắt cho nên các võ sư ngày xưa đã tập trung vào ngọn roi và quyền cước để dễ qua mắt bọn điềm chỉ?

• Tùy theo khả năng thiên phú, người học võ Tân Khánh có thể biến tất cả những vật có trong tay đều trở thành binh khí.
oOo
Mộng ước trở thành Người Nhái

Hoàn cảnh khó khăn mồ côi cha và nghèo khổ của gia đình, lúc đó tôi thì còn quá nhỏ mà lại tứ cố vô thân chẳng có ai hướng dẫn và giúp đỡ, tôi phải tự mình tìm cách để vươn lên. Sau khi đã học võ thuật, mộng ước sau này được trở thành Người Nhái của tôi cứ lớn lần theo năm tháng. Cho đến năm 1956. Tôi suy nghĩ nếu muốn hoàn thành tâm nguyện thì phải tự tạo điều kiện cho mình, vì Người Nhái là phải biết bơi lội thật giỏi, phải có sức khỏe dẻo dai và phải chiu đựng nhiều thử thách gian khổ và nhất là phải kiên nhẫn trì chí, v.v.. Tôi quyết định theo đường hướng của mình vạch ra. Tôi xin vào hội đoàn Bơi Lội Thanh Long tại Chi Thanh Niên Quận Thủ Đức. Nhưng tôi bị từ chối vì tôi không có người giới thiệu, mặc dầu có người biết tôi! Chỉ một bước đầu mà đã có khó khăn. Nhưng tôi đã tự nói với mình dầu cho trở ngại cỡ nào tôi cũng phải tự tạo điều kiện để đạt cho được mục đích. Tôi đến hồ bơi Cộng Hòa gặp ông chủ hồ bơi để đóng tiền hàng tháng và xin ông vui lòng giúp đỡ cho tôi được vào hồ bơi lội lúc 5 giờ sáng, vì hồ bơi đến 8 giờ sáng mới mở cửa. Ông chủ hồ bơi thấy tôi ham thích bơi lội nên cũng đồng ý. Tôi bắt đầu tự đặt chương trình tập luyện thử xem mình có thể vượt qua được hay không?

Bắt đầu:

Ngày Thứ Hai = Bơi 100 thước môn Ếch
Thứ Ba = Bơi 200
Thứ Tư = Bơi 400
Thứ Năm = Bơi 800
Thứ Sáu = Bơi 1600
Thứ Bảy = Bơi 3200

Tôi rất vui mừng vì mình đã cố gắng vượt qua được, tôi tiếp tục giữ 3200 thước làm chuẩn như là phần khởi động cho mỗi ngày tập và tập thêm phần tập bơi tay riêng, bơi chân riêng. Cái khó khăn nhất là tôi không biết mình tập dượt nó có tiến triển gì không, bởi vì tôi không có ai giúp bấm giờ. Thôi thì đành chịu vậy! Tôi tập dượt được khoảng 6 tháng thì đến ngày lễ Song Thất năm 1957. Chi Thanh Niên Quận tổ chức tranh giải Vô Địch Bơi Lội Toàn Quận. Tôi đến ghi tên Độc Lập vì tôi không phải là Hội viên của các hội đoàn Bơi Lội. Đến ngày tranh giải gồm có các hội đoàn Bơi Lội Thanh Long, Hội Bơi Lội trường La San, v.v.. Các lực sĩ của các Hội được săn sóc viên thoa dầu nóng cho ấm. Huấn luyện viên dặn dò. Thôi thì đủ thứ. Còn tôi thì đứng gần đó để chờ một mình vì tôi chẳng có ai ủng hộ hay cổ võ cho tôi cả. Bắt đầu tranh các môn như bơi Tự Do, bơi Ngửa và đến phiên tôi bơi Ếch 100 thước. Tôi đã thắng các lực sĩ của các hội đoàn qua vòng loại và vòng chung kết, khoảng cách gần nửa mặt hồ giữa tiếng hoan hô cổ võ của các khán giả đi xem. Các Trưởng Đoàn của các Hội Bơi Lội ngạc nhiên. Sau khi kêu tên tôi nhận lãnh giải Vô Địch Toàn Quận, các anh Trưởng Đoàn có đến nói chuyện và mời tôi gia nhập Hội, tôi từ chối vì thấy vào hội đoàn phải đi họp hành theo điều lệ nội quy, mà tôi không có giờ để nghỉ ngơi vì còn phải đi làm.

Đơn độc dự tranh giải Vô Địch Bơi Lội toàn quốc Việt Nam

Tôi tiếp tục thao dượt dự tính sẽ tranh giải cao hơn cấp Quận là cấp Tỉnh vì đã có thông cáo trên các báo chí, Bộ Thanh Niên Thể Thao sẽ tổ chức Giải Vô Địch Bơi Lội toàn quốc vào dịp lễ Quốc Khánh 26-10-1957. Các lực sĩ phải có thành tích là phải thắng liên tục từ cấp Tỉnh hay cấp đô thành Sài Gòn, rồi tranh giải cấp Khu (gồm 5 tỉnh) và sau cùng là cấp toàn quốc. Tôi hơi lo lắng vì biết các lực sĩ của các Hội Bơi Lội của đô thành và Gia Định là giỏi nhất trong toàn quốc. Nhưng vì muốn thực hiện mộng ước của mình để sau này có đủ khả năng theo học Người Nhái nên tôi đi ghi tên tại Ty Thanh Niên đô thành. Lúc ghi tên không phải hội viên của các Hội Bơi Lội, ông thư ký đã gạn hỏi tôi mấy lần vì ông ta lấy làm lạ có lẽ ông nghĩ: Ở đâu lại có thằng nhỏ lạ này không biết khả năng tới đâu mà dám ra tranh giải với các lực sĩ nổi tiếng của đô thành? Nhưng ông cũng cho tôi ghi tên độc lập. Đáng lẽ tôi phải ghi tên ở Ty Thanh Niên Gia Định nhưng vì tôi không biết Ty Thanh Niên Gia Định ở đâu, mà chỉ biết có Ty Thanh Niên đô thành ở đường Hiền Vương (vì tôi là một chú nhỏ nhà quê mà!).

Tôi càng cố sức tập dượt nhiều hơn vì biết mình sẽ gặp nhiều khó khăn hơn với các lực sĩ có kỹ thuật và thành tích cao, có huấn luyện viên nhiều kinh nghiệm chỉ dẫn. Nhưng với lòng hăng say quyết thắng tôi muốn được trực diện tranh tài.

Đến ngày tranh, tôi phải thức dậy lúc 5 giờ sáng, điểm tâm một chén cơm nguội sơ sài rồi ra chợ Thủ Đức đón xe đò đi xuống bến xe An Đông Chợ Lớn, gần Hồ Bơi đô thành, tôi thay đồ bơi lội xong đi lên thành hồ bơi. Xung quanh hồ đã đông khán giả và quan khách. Tôi nhìn mặt hồ bơi mà lo lắng vì là lần đầu tiên tôi mới tới đây. Hồ bơi này khác với hồ bơi mà tôi thường tập dượt, vách thành chỗ trở đầu rất cao, tôi chưa biết khi trở đầu phải làm thế nào? Loa phóng thanh của ban giám khảo lần lượt kêu tên các lực sĩ tranh tài từng bộ môn và ban giám khảo tuyên bố sẽ áp dụng luật thi của Quốc Tế. Riêng về môn tranh bơi Ếch, các lực sĩ khi lội đến bờ hồ, 2 tay phải chạm thành hồ, nếu người nào chỉ chạm thành hồ 1 tay sẽ bị loại vì không đúng luật. Khi chạm thành hồ rồi thì phải xoay người lại đầu phải thẳng hướng đàng trước rồi mới lội đi, và cấm không được nhào ngửa lại khi tay chạm thành hồ. Chỉ được bơi một đạp chân và một quạt tay dưới mặt nước mà thôi, nếu lực sĩ nào vi phạm sẽ bị loại.

Ngày hôm nay chỉ tranh vòng loại vì lực sĩ quá đông. Mỗi lần lội là 8 người, ban giám khảo chỉ chọn 2 người về nhất và nhì được vào tranh chung kết trong tuần lễ sau. Tôi suy tính, vì chưa biết hết luật lệ và hồ bơi lạ nên tôi quyết định sẽ cố gắng lội về hạng nhì trong vòng loại này để được tuyển vào tranh chung kết mới quan trọng. Ban giám khảo cũng là các huấn luyện viên của các Hội Bơi lội, nên khi đến môn Ếch, ban giám khảo thấy chỉ có tên tôi là độc lập nên họ sắp lực sĩ giỏi lội vòng đầu với tôi để họ xem khả năng của tôi. Vì tôi đã có chủ ý nên chỉ lội thật đúng luật và về nhì, thua lực sĩ về nhất tới nửa mặt hồ. Tôi xem toán lực sĩ lội vòng sau và tôi đã biết cách trở mình. Tôi được tuyển vào vòng chung kết của giải Vô Địch đô thành trong cuối tuần lễ tới. Tôi trở về hồ bơi lo tập lại cách trở mình cho nhuần nhã để chuẩn bị tranh vòng chung kết. Ngày tranh vòng chung kết, các đấu thủ của tôi họ không còn để ý đến tôi nữa, vì họ thấy tôi thua đến nửa mặt hồ quá xa trong vòng loại, nên nói năng rất vui vẻ. Tiếng còi hiệu của trọng tài vừa ré lên, tôi phóng mình xuống nước bơi thật nhanh vì tôi đã tập nhuần nhã cách trở mình khi đến bờ hồ. Đấu thủ đã thắng tôi trong vòng loại bất ngờ khi tôi bơi vượt qua mặt, anh ta cố hết sức theo tôi đến mặt hồ thứ 3 thì anh đã đuối sức. Tôi đã về nhất ở mặt hồ thứ 4, bỏ anh về nhì khoảng cách gần nửa mặt hồ…. Với niềm vui cảm xúc khi đoạt giải Vô Địch cấp đô thành, nhưng đường đi vẫn còn nhiều chông gai vất vả với 2 chặng tranh tài càng lúc càng khó khăn. Tôi còn phải tiến lên, còn phải cố gắng thật nhiều mới mong đạt thành.

Cái trở ngại mà tôi gặp phải là đơn độc một mình, không ai chỉ bảo, hoặc bấm giờ khi tập luyện. Tôi không biết được kỷ lục của mình hàng ngày có tiến triển gì không? Ngoài giờ tập dượt ra, tôi còn phải lo nghỉ ngơi để đủ sức làm việc suốt đêm nơi quán cà phê (vì tôi muốn có giờ để tập dượt nên xin đổi việc làm về đêm.) Nhiều khi tôi tự mỉm cười một mình, vì các lực sĩ khác họ có đủ phương tiện cơm áo bạc tiền nên mọi thứ cần thiết họ đều có, họ tranh giải Vô Địch để hãnh diện với bạn bè v.v.. Còn tôi nghèo nàn, mọi thứ đều không. Tôi chỉ có một ý chí kiên cường và sự chịu đựng gian khổ. Các lực sĩ khác, họ tập luyện có một thì tôi phải tập luyện cực khổ mấy lần hơn. Nhưng đó lại là ý muốn của tôi tự tìm cách để thắng mình. Lúc nào tôi cũng tự an ủi lấy mình “nếu ta chịu đựng được thì mới mong có ngày hoàn thành lý tưởng của mình mà đã nhiều tháng nhiều năm mong đợi…”

Cách hai tuần lễ sau là ngày tranh Vô Địch cấp Khu tại hồ bơi Chi Lăng Gia Định gồm có 5 tỉnh miền Đông. Các tay vô địch của các Tỉnh sẽ về đây tranh tài. Các lực sĩ của đô thành cho tôi biết tôi sẽ tranh với lực sĩ Nguyễn Phú Đức, vô địch tỉnh Gia Định, thành tích rất cao, kỷ lục vô địch 100 thước Ếch là 1 phút 27 giây. Còn tôi thành tích vô địch đô thành là 1 phút 32 giây. Tôi biết sẽ gặp những địch thủ rất khó thắng nổi, nên tôi phải tập luyện nhiều giờ hơn. Và qua 2 tuần lễ khổ công luyện tập, tôi cảm thấy có tiến bộ nhưng cũng không dám chắc.

Đến ngày đi tranh, tôi đến hồ bơi Chi Lăng cũng là lần đầu tiên tôi biết hồ bơi này. Thấy hồ bơi này lại khác với các hồ bơi đô thành, hai đầu hồ bơi để trở mình lại có một khoảng trống, vách hồ bơi sát với mặt nước, tôi không biết phải chạm tay bằng cách nào cho đúng? Tôi nghĩ là phải áp dụng lại chiến thuật cũ, là phải chịu thua vòng loại trước, chỉ cần được chọn vào vòng chung kết, để tôi xem lại cách trở mình của các lực sĩ khác và rút kinh nghiệm. Tôi nghi ngờ ở nơi đây ban giám khảo cũng sẽ cho tôi bơi tranh với anh Nguyễn Phú Đức vì tôi là lực sĩ độc lập, và ban giám khảo sẽ sắp đặt cho tôi và anh Nguyễn Phú Đức tranh vòng loại đầu để họ có dịp xác định khả năng của tôi. Nếu tôi có thể thắng Nguyễn Phú Đức trong vòng loại thì họ sẽ chỉ bảo cho Nguyễn Phú Đức biết những ưu và khuyết điểm của tôi để Nguyễn Phú Đức có thể khai thác mà thắng tôi…. Đến giờ tranh, quả thật như tôi đoán, anh Nguyễn Phú Đức và tôi được sắp xếp gần nhau để tranh vòng loại đầu. Kết quả là Nguyễn Phú Đức thắng tôi khoảng nửa mặt hồ trong vòng loại, tôi xem vòng loại kế các đấu thủ bơi tranh, và tôi đã nắm vững cách chạm tay vào mặt hồ rồi! Ban giám khảo tuyên bố kết quả cuộc thi vòng loại xong, các lực sĩ ra về tuần sau sẽ tranh chung kết giải Vô Địch cấp Khu. Trên đường về, tôi nghĩ cách phải tập như thế nào để có thể đoạt giải. Nguyễn Phú Đức anh được sự huấn luyện theo phương pháp và kỹ thuật bơi lội mới nhanh hơn và ít mất sức hơn, còn lối bơi của tôi đã quá lỗi thời rồi, vì tôi không có khả năng và phương tiện để học hỏi, chỉ bắt chước theo cách lội của các phim ảnh đã quá xưa. Nhưng bây giờ không có thời giờ để mình sửa đổi kịp nữa! Thôi thì đành cố đem hết sức mình để tranh lần này vậy.

Đến ngày tranh vô địch vòng chung kết cấp Khu, tôi đến hồ Chi Lăng với chiếc khăn tắm, đã thấy ban tổ chức trưng bày trên bàn các chiếc Cúp Vô địch cấp Khu, chiếu sáng chói lấp lánh dưới ánh sáng của mặt trời. Anh Nguyễn Phú Đức đang khoe với các bạn của anh: Chiếc cúp này một chút nữa tao sẽ lãnh! Khi anh quay đầu lại thấy tôi đang đứng chấp tay sau lưng. Anh hơi ngượng cúi đầu chào tôi, tôi cũng cúi đầu chào lại, tôi thầm nghĩ anh Nguyễn Phú Đức nói như vậy cũng đúng, vì anh đã thắng tôi trong vòng loại gần nửa mặt hồ rồi nên không còn e dè gì nữa!

Lần lượt các môn bơi đã tranh, bây giờ đến môn 100 thước Ếch giữa tôi và anh Đức là gay cấn, vì là hai tay vô địch của 2 vùng nổi tiếng trong toàn quốc là Sài Gòn và Gia Định. Tất cả các ông trong ban giám khảo đều đứng dậy để cổ võ cho anh Nguyễn Phú Đức. Lượt tranh này có 4 vô địch của vòng loại, tôi và Đức được sắp sát đường dây để dễ dàng theo dõi. Sau tiếng còi hiệu, tôi và Đức phóng mình xuống nước, Đức bơi theo lối mới một đạp chân dưới nước, một quạt tay khi nổi lên như Kình Ngư vượt sóng ào ạt, còn tôi thì bơi theo kiểu xưa, chân và tay cùng quạt một lúc phải chờ cho bớt trớn lướt mới ngóc đầu lên thở nên nhìn giống như chiếc tàu lặn, không động sóng… anh Đức và tôi đều đem hết sức ra tranh, vì Đức ỷ y nên khi tôi bơi vượt qua Đức, Đức vội vã rượt theo tôi thì đã muộn rồi. Khi về đến điểm cuối, tôi cũng chỉ hơn anh Đức một cái vói tay mà thôi. Đức và tôi đều lả người, ngâm mình dưới nước để lấy lại sức. Nhưng khi ban giám khảo tuyên bố kết quả lại là Nguyễn Phú Đức về nhất còn Lê Đình An về nhì? Bỗng có tiếng phản đối Ban Trọng Tài và Giám Khảo là thiên vị, tiếng la ó của khán giả vang lên: “Anh bên này thắng! Anh bên này thắng!” khán giả chỉ tay vào tôi. Lúc đó có mấy anh mặc quân phục đi đến bàn của ban giám khảo phân trần và yêu cầu ban giám khảo phải chấm điểm cho công bằng. Sau vài phút bàn thảo, ban giám khảo tuyên bố xin lỗi khán giả vì có sự lầm lẫn của đồng hồ bấm giờ, và xin tuyên bố lại Lê Đình An về nhất với số giờ 1 phút 21 giây 5/10 sao. Nguyễn Phú Đức về nhì với số giờ 1 phút 22 giây….

Sau khi lãnh giải Vô Địch bơi lội với chiếc cúp danh dự, tôi nhìn về phía khán giả cúi đầu chào với ánh mắt biết ơn các anh quân nhân đã giúp tôi có được danh dự này, khi tôi đi ra ngoài các anh quân nhân bước đến vỗ vai tôi và khen ngợi. Tôi ngỏ lời cám ơn các anh. Khi ra về lòng tôi cảm thấy hơi buồn. Các ông giám khảo đã vì tình riêng mà làm mất lẽ công bằng. Có lẽ các ông biết tôi đi dự tranh mà không có Trưởng Đoàn đại diện và cũng không có bạn bè hay người thân nào theo giúp đỡ nên mới xử thiên vị ép tôi như vậy!

Chỉ còn một bước nữa là đến tột đỉnh danh dự của ngành bơi lội là vô địch toàn quốc mà tất cả các lực sĩ đấu thủ đều ao ước. Với một tháng tập dượt thêm mới đến ngày tranh, tôi cảm thấy phấn chấn mặc dầu rất khổ cực.

Hôm nay là buổi tranh tài của các vô địch khắp nước từ Bến Hải đến Cà Mau về đây để dự thi. Bắt đầu ban trọng tài và giám khảo giới thiệu thành phần quan khách và các mạnh thường quân bảo trợ giải thưởng cho cuộc tranh Vô Địch Bơi Lội toàn quốc đến tham dự. Lần này ban tổ chức tuyên bố lực sĩ các môn bơi phải tranh vòng loại và vòng chung kết cùng một ngày, vì lý do lực sĩ ở các nơi về quá đông, cho nên Ban Tổ chức không thể cung ứng nơi ăn chốn ở đầy đủ, nên phải tổ chức rút ngắn thời gian lại! Tôi suy tính khi tranh vòng loại tôi phải về nhì như 2 lần trước để dưỡng sức cho vòng chung kết. Sự việc đã xảy ra đúng như dự tính của tôi, sau khi qua vòng loại và thắng vòng chung kết bộ môn lội Ếch 100 thước, với thành tích là 1 phút 16 giây.

Buổi lễ phát giải thưởng Vô Địch Bơi Lội toàn quốc 1957, do Ông Bộ Trưởng Thanh Niên Thể Thao Trần Chánh Thành chủ tọa tại sân Vận Động Phan Đình Phùng. Các Lực sĩ Vô Địch gồm có các anh Phan Hữu Dõng, Nguyễn Văn Phân, Trương Kế Nhơn, Dương Văn An và tôi Lê Đình An

oOo
Tham gia Phong Trào Lực sĩ Thẩm Mỹ và Cử Tạ Việt Nam

Sau khi tôi đã chiếm giải vô địch bơi lội toàn quốc Việt Nam, tôi thực hành dự tính kế tiếp là phải tập cho có sức mạnh bằng cách tham gia Phong Trào Thể Dục Thẩm Mỹ và Cử Tạ Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Thành Nhơn sáng lập. Giáo sư Nguyễn Thành Nhơn là anh ruột và cũng là huấn luyện viên của lực sĩ Nguyễn Công Án khi còn du học tai Pháp. Lực sĩ Nguyễn Công Án đã từng chiếm giải Lực sĩ Đẹp Nhất Thế Giới vào năm 1955 và 1957. Tôi bắt đầu tập tạ năm 1958. Mỗi ngày tôi phải đạp xe đường dài khoảng 14 cây số từ Thủ Đức xuống phòng tập Trung Ương tại số 203 đường Võ Tánh Phú Nhuận, để được Giáo sư Nguyễn Thành Nhơn huấn luyện phương pháp tập tạ. Sau 2 năm tập tạ, tôi tốt nghiệp khóa huấn luyện viên Thể Dục Thẩm Mỹ, phụ trách Huấn Luyện phòng tập tại Trung Ương Phong Trào Thể Dục Thẫm Mỹ, buổi sáng từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa….

Buổi Thi Lực sĩ Đẹp (Thẩm Mỹ) 1961 tại Ty Thanh Niên Đô Thành. Góc đường Hai Bà Trưng và Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Là lần cuối cùng. Vì sau đó Bà Cố vấn Ngô Đình Nhu đã cấm vì cho là “Công xúc tu sĩ”.

oOo
Tôi tham dự khóa Huấn Luyện Săn Bắn Cá Dưới Biển Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Thành Nhơn huấn luyện và tham gia tranh giải Săn Bắn cá năm 1960 (sau này khi vào Hải Quân, tôi tranh giải săn bắn cá cho Đoàn Hải Quân, đã chiếm ba giải vô địch 1961, 62 và 1965).

Giáo Sư Nguyễn Thành Nhơn Chủ Tịch Tổng Cuộc Săn Bắn Dưới Biển VN và
Đội Hải Quân đoạt giải Vô Địch.196-1962 và 1965.

oOo
Nhìn lại đoạn đường mà tôi đã cố gắng, kiên nhẫn vượt qua không biết bao nhiêu là trở ngại, tôi nghĩ đã có nhiều hy vọng để đạt được điều mơ ước của mình!

Năm 1961, lại xảy ra một việc rất khó lựa chọn là vì tôi đã đến tuổi động viên. Tôi rất mong muốn tình nguyện vào binh chủng Hải Quân, nhưng vào Khóa Sĩ Quan thì tôi không đủ điều kiện về bằng cấp. Vì hoàn cảnh của gia đình, nên việc học của tôi không liên tục, tôi chỉ học được tới Đệ Tứ Trung Học mà thôi.

Hai người bạn thân là Nguyễn Văn Định, thư ký của phòng tập Trung Ương và Đỗ Cao Luận em ruột của Đại Tướng Đỗ Cao Trí, hai anh rủ tôi cùng ghi tên nhập khóa 14 Sĩ Quan Bảo An, vì điều kiện chỉ cần Chứng Chỉ Đệ Tứ Trung Học. Tôi suy tính mãi hơn một tháng đã qua, hai bạn tôi đã nộp đơn rồi mà tôi vẫn chưa quyết định. Vì giấc mộng trở thành Người Nhái tôi đã ôm ấp, và tôi đã cố công tạo dựng cho mình những thành tích như đã nêu phần trên, bây giờ mà đổi hướng đi vào binh chủng khác. Thì tôi không đành lòng. Cuối cùng tôi quyết định đi theo con đường mà mình đã chọn từ hồi còn thơ ấu là tình nguyện đầu quân vào binh chủng Hải Quân khóa Tân Binh Thủy Thủ để sau này hy vọng được tuyển chọn về học khóa Người Nhái.

Tôi ghi tên tình nguyện đầu quân nơi phòng Tuyển Mộ tại đường Thi Sách ngày 4-10-1961 khóa 26 Thủy Thủ Chuyên Nghiệp. BTL/HQ/Phòng Quân Huấn (PQH) gởi khóa sinh Tân Binh lên TTHL/Quang Trung để học căn bản quân sự. Sau khi mãn khóa căn bản quân sự, BTL/HQ/PQH gởi chúng tôi xuống các chiến hạm để thực tập về hải nghiệp.

Thực tập hải nghiệp trên chiến hạm HQ 225 “Nõ Thần”

Sau đó chúng tôi được đưa ra TTHL/HQ/Nha Trang nhập khóa chuyên nghiệp. Sau 4 tháng huấn luyện, tôi mãn khóa với bằng chuyên nghiệp Vận Chuyển. Khóa 26 được tàu đưa về tạm trú tại Trại Bạch Đằng 2 để chờ lệnh thuyên chuyển ra đơn vị. Vài ngày sau tôi nhận lệnh thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Hải Trấn, Liên Đội Người Nhái.

Tôi rất vui mừng vì đó là kết quả của bao nhiêu năm trải qua biết bao là khó khăn vất vả, để tự tạo cho mình có được một quá trình đạt thành ước mơ từ khi tôi còn nhỏ mà BTL/HQ/Phòng Nhân Viên đã nhìn thấy qua hồ sơ cá nhân của tôi, và mặc dầu đây chỉ là bước đầu.

Nhưng có một việc mà tôi không biết và cũng không ngờ là từ hồi nhỏ, khi tôi thấy được tấm hình một tổ Người Nhái trên tờ báo Pháp vào năm 1950, đã làm cho tôi say mê… mãi cho đến bây giờ Binh Chủng Hải Quân vẫn chưa có Quyết Định thành lập đơn vị Người Nhái.

Vì theo tài liệu thành lập Hải Quân VNCH. Nếu tính thời gian năm 1950 lúc đó thì còn Hải Quân của Pháp, mãi cho đến ngày 20 tháng 8 năm 1955 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm mới ban hành Nghị Định thành lập Hải Quân VNCH.

Tôi trình diện Trung Úy Lâm Nhật Ninh, Liên Đội Trưởng LĐNN. Trung Úy Ninh cho biết hiện đang huấn luyện 2 khóa Biệt Hải tại Đà Nẵng, còn LĐNN thì còn đang chờ Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH chấp thuận cho thành lập. Trung Úy Ninh giao việc bí thư LĐNN cho tôi tạm giữ. Vài ngày sau Trung Úy Ninh đem một số trợ huấn cụ ra Đà Nẵng để tiếp tục huấn luyện khóa 2 Biệt Hải.

Năm 1963, sau khi huấn luyện khóa 2 Biệt Hải xong, toàn ban huấn luyện trở về Sài Gòn.

Trong thời gian này tôi đã nhận được văn thư của BTTM/QLVNCH, chấp thuận cho Bộ Tư Lệnh Hải Quân thành lập LĐNN, tôi trình cho Trung Úy tất cả các văn thư tôi đã nhận. Trung Úy LĐT duyệt lại hết văn thư và giao lại cho tôi và bảo tôi xem lại Bản Điều Lệ và Nội Quy thành lập LĐNN để biết và lưu vào hồ sơ.

Sau khi tôi xem xong tôi cảm thấy có một vài điểm không được công bằng cho Người Nhái.

(Trong điều lệ ghi:…

– Sau khi đậu Khóa Người Nhái, hàng năm, mỗi 6 tháng định kỳ đều phải khám sức khỏe và trắc nghiệm lại thể năng. Nếu nhân viên không còn đủ tiêu chuẩn NN thì sẽ trả về Hải Quân….

– Nhân viên NN thi hành công tác nếu chẳng may hy sinh, mất tích hay bị thương tật thì hồ sơ sẽ đưa trả về Ban Xã Hội Hải Quân giải quyết như các quân nhân HQ mà không được hưởng đặc ân chi cả….

Tôi nghĩ những điểm này không công bằng vì NN đã hy sinh mạng sống trong những công tác hiểm nghèo mà khi bị thương tật hay mất tích v.v. gia đình của NN không được hưởng sự đền bù xứng đáng, không khác gì vắt chanh bỏ vỏ.)

Hôm sau tôi đem những điểm trong Bản Điều Lệ và Nội Quy ra bàn thảo với Trung Úy Lâm Nhật Ninh. Trung Úy nói những điểm này là do Bộ TTM đã sửa lại. Tôi đề nghị Trung Úy làm văn thư trình lên BTL/ HQ can thiệp với Bộ TTM để giúp cho quân nhân Người Nhái khỏi bị thiệt thòi, vì những điểm đó bạc đãi nhân viên Người Nhái…. Trung Úy Liên Đội Trưởng lắc đầu và cho tôi biết rất khó khăn lâu nay bây giờ mới được Bộ TTM chấp thuận cho thành lập đơn vị Người Nhái, bây giờ mình không thể xin gì được nữa. Tôi đành làm thinh mà lòng buồn vời vợi….

Sau khi được chấp thuận cho thành lập LĐNN, Bộ TLHQ chỉ thị Trung Úy LĐT mở khóa 1 huấn luyện Người Nhái tại TTHL/HQ Nha Trang. Tất cả Ban HLNN lo chuẩn bị trợ huấn cụ. Còn tôi thì quyết định không xin ghi tên nhập học, lại làm đơn xin trở về Hải Quân, vì tôi thất vọng bởi các điều khoản ghi trong Nội Quy. Trung Úy LĐT không chịu ký cho tôi về Hải Quân mà khuyên tôi, nếu tôi không muốn học thì cứ ở lại đây để giúp cho Ban HL, vì Trung Úy LĐT biết tôi hiểu biết nhiều về kỹ thuật Người Nhái. Sau khi suy nghĩ tôi đồng ý làm bí thư cho đơn vị phụ giúp cho ban huấn luyện khóa 1 NN tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.

Sau khi mãn khóa huấn luyện, tất cả di chuyển về Sài Gòn. Vài tháng sau, Bộ Tư Lệnh Hải Quân thi hành chỉ thị của Bộ TTM. Trung Úy Liên Đội Trưởng và đa số NN khóa 1 tình nguyện tăng phái cho Sở Phòng vệ Duyên Hải, và di chuyển ra Đà Nẵng.

Trung úy Lâm Nhật Ninh bàn giao chức vụ Liên Đội Trưởng lại cho HQ Trung Úy Phan Tấn Hưng. Vài tuần sau BTL/HQ phổ biến văn thư đến tất cả các đơn vị Hải Quân để tuyển mộ quân nhân Hải Quân tình nguyện theo học khóa 2 Người Nhái. Ban huấn luyện NN lo sắp đặt chương trình và lãnh trợ huấn cụ.

Trung úy Phan Tấn Hưng sau khi nhận bàn giao chức vụ Liên Đội Trưởng, xem lại hồ sơ nhân viên phục vụ tại Đơn vị NN, Tr/Úy Hưng gọi tôi vào văn phòng và hỏi lý do tại sao tôi đủ điều kiện học khóa NN mà lại không học? Tôi trình bày vì có vài điều khoản trong Nội Quy và Điều Lệ không công bằng cho NN nên tôi không muốn học. Sau khi tôi chỉ các điều khoản đó, Tr/Úy Hưng nói để Tr/Úy xem lại. Vài ngày sau gọi tôi vào văn phòng Tr/Úy Hưng cho tôi biết là đồng ý với tôi vì các điều khoản đó thiệt thòi và bất công cho NN. Tr/Úy Hưng khuyên tôi nên học khóa 2 NN và hứa sẽ làm văn thư xin điều chỉnh lại cho đơn vị sau khi mãn khóa. Sau khi suy nghĩ tôi ghi tên theo học khóa 2 NN.

Khóa sinh tình nguyện theo học NN từ các đơn vị HQ lần lượt về trình diện và được đưa đi khám sức khỏe, và phải qua phần trắc nghiệm thể năng rất gay go mệt nhọc trong vòng 1 tuần lễ để thử sức chịu đựng của khóa sinh.

Trắc nghiệm bơi lội: Thứ hai, bơi 200 thước tính giờ; đến ngày thứ bảy, phải bơi được 1,000 thước, tính giờ.

Trắc nghiệm chạy bộ: Thứ hai, chạy 1 giờ; đến ngày thứ bảy, khoá sinh phải chạy được 4 giờ liên tục, vượt qua các chướng ngại vật, vượt đường cát, chạy nhanh, đường quanh co v.v..

Tất cả khoá sinh về trình diện hơn 400 người, sau 2 tuần lễ trắc nghiệm chỉ còn lại là 120 người. Tất cả khoá sinh và Ban HL di chuyển ra TTHL/HQ Nha Trang vào mùa Đông năm 1964, để nhập khóa. Tất cả khoá sinh chúng tôi đều hồi hộp lẫn lo âu. Chương trình HL rất nặng nhọc cực khổ, đòi hỏi khoá sinh phải dẻo dai chịu đựng, không được bỏ bất cứ 1 giờ học nào, nếu khoá sinh nào bỏ học vì lý do bệnh thì sẽ bị trừ điểm, và cũng là lý do duy nhất dành cho khoá sinh. Ngoài lý do bệnh khoá sinh nghỉ sẽ bị loại khỏi khóa và được đưa trả về đơn vị gốc.

KHÓA HUẤN LUYỆN NN BẮT ĐẦU.

Ngày đầu tiên sau phần thể dục, Thượng sĩ 1 Đào Ngọc Kỳ, Trưởng ban HL giới thiệu chương trình khóa học. Và bắt đầu vào chương trình qua các môn, thực tập bơi bằng chân nhái với ống thở băng ngang qua biển, chèo xuồng cao su Zodiac, chạy bộ đường trường, đường cát, đường sỏi đá và đường núi. Thực tập đột kích, phục kích và phản phục kích, thực tập xử dụng chất nổ phá hoại v.v.. Khóa sinh được HL trong 4 tuần lễ đầu cho đủ sức để bước vào tuần lễ Địa Ngục. “Tuần lễ Địa Ngục”.. Chỉ nghe qua chúng tôi cũng đã hình dung được sự kham khổ khó nhọc vô cùng. Nhưng chúng tôi vừa được trang bị với câu Những gì người khác không làm được, Người Nhái phải làm được.

Thể dục “Người Nhái”

Tuần lễ Địa Ngục của Người Nhái.

Tất cả các nơi trong khu vực trại của khoá sinh đều được căng những tấm biểu ngữ màu đen tang tóc với những dòng chữ rất “ân cần” như Mời các bạn khoá sinh vào thăm tuần lễ Địa Ngục. Nào là Quỷ Môn Quan đang chờ các bạn. Và Các bạn hãy tranh đấu với bản thân để vượt qua khổ ải này thì mới lột xác trở thành Người Nhái. Tấm thực đơn nơi phòng ăn cũng được đổi món hàng ngày với các món ăn toàn là họ hàng của Người Nhái như: Ếch chiên bơ, Nhái xào lăn, Cóc Tía nấu canh chua, Nòng nọc lăn bột chiên v.v. Khóa sinh thầm bảo nhau phải hết sức cố gắng nếu vấp ngã thì coi như mộng ước tan thành mây khói.

Khai mạc: 5 giờ sáng còi tập họp. Trưởng Ban Huấn Luyện giới thiệu chương trình trong tuần lễ này tất cả khoá sinh đều phải thi đua tranh thắng với tình đồng đội, mỗi xuồng cao su là một đội. Điều lệ tranh đua, nếu xuồng nào về áp chót và chót thì phải tự động vào thế nhận phạt. Và các bạn được ngủ 7 giờ trong một tuần bắt đầu từ 12 giờ đêm sau buổi ăn khuya, các bạn sẽ được huấn luyện viên hướng dẫn.

Thể dục NN là căn bản cho sức khỏe hàng ngày đều phải tập luyện, tiếp theo là khoá sinh tranh môn Trò Chơi Thuyền Trên Bãi Cát. Nghe thì hấp dẫn nhưng không phải vậy. Tất cả các Đội đều đội trên đầu chiếc xuồng cao su đã sẵn sàng trên lằn mức. Sau tiếng còi của HLV các đội tranh nhau vượt chướng ngại vật trên đường đua để về trước nên đã đụng nhau té lăn trên bãi cát nóng. Cố gắng giành nhau về trước, nhưng vẫn có 2 xuồng về sau, và được HLV cho vào thế 20 cái hít đất với chiếc xuồng cao su trên lưng nặng khoảng 200 ký. Và cứ tiếp tục hết tranh đua môn này thì lại tiếp theo môn khác. Quần quật cho đến giờ ăn trưa, khoá sinh có 15 phút để ăn và nghỉ. Chúng tôi phải ăn thật nhanh để còn lo vệ sinh cá nhân và nằm dưỡng sức không dám nói chuyện với nhau vì sợ hết giờ. Sau đó lại tiếp tục tranh đua các môn khác do HLV chỉ dẫn.

Tuần lễ này lại gặp phải thời tiết mưa bão liên miên (bão Lucy kéo dài suốt tuần lễ Địa Ngục.) Khi bóng đêm chìm xuống, người dân xóm Chutt thỉnh thoảng lại thấy qua những lằn sét chớp lên trong cơn mưa, ẩn hiện một đoàn người như bóng ma, âm thầm lặng lẽ miệt mài trong bóng đêm chịu đựng gian khổ. Có đêm phải chèo xuồng vượt sóng dưới cơn thịnh nộ của biển cả. Ngọn sóng cao từ 3 dến 4 thước sầm sập ập vào những chiếc xuồng đầy nước. Có chiếc lạc tay chèo lái bị sóng đánh bay lên bãi cát. Các khoá sinh cố đẩy xuồng vượt sóng ra khơi thật không phải là chuyện dễ dàng. Có chiếc đang vượt ra lại bị sóng đánh lật ngược chiếc xuồng, một khoá sinh không may bị xuồng đè lên bị trật cả khớp xương sống, HLV chở vào nhà thương nên đành bỏ cuộc.

Cũng tuần lễ Địa Ngục này tôi bị trợt chân trong khi vượt đường núi, té xuống gành đá, tôi chống tay trên san hô ngón tay cái bị tét một đường dài, đau nhức vô cùng vì trong san hô có chất nhớt tiết ra rất độc, tôi phải cố chịu đựng ôm ngón tay càng lúc càng sưng lên, tôi chịu đựng trong 3 giờ vượt núi mới được nghỉ và tự lo săn sóc cho mình vì đây là tuần lễ Địa ngục mà (cho đến bây giờ ngón tay cái của tôi vẫn còn vết thẹo xẻ đôi vòng tròn hoa thị, sau khi lành lại đã biến thành 2 vòng hoa thị.)

Ban đêm thì cũng tranh đua tìm phương hướng, phục kích, đột kích, phản phục kích. Đến 12 đêm, khoá sinh được ăn cháo và bắt đầu ngủ, khoảng 15 phút sau HLV thổi còi ra lệnh: khoá sinh tập họp, quân phục quần đùi áo trận, giày bên phải boot, bên trái là dép, 2 phút sau tập họp. HLV chờ sẵn ngoài sân đón các khoá sinh ra trễ và 20 hít đất vào thế. Đoàn người khập khễnh chạy ra bãi biển trong mưa gió và ngâm mình dưới nước biển lạnh căm căm. Vài phút sau, chạy lên bờ hú gió kêu mưa vang trong bầu trời mùa đông lạnh lẽo. Nhận thấy khoá sinh đã đuối sức, HLV dẫn chạy về trại cho ngủ tiếp. Và cứ như vậy khoá sinh ngủ được 15 phút lại được đánh thức với lệnh của HLV mà thi hành. Suốt đêm cộng lại ngủ được 1 giờ mà thôi. Vì quá sức chịu đựng nên có một số khoá sinh đã tự động xin bỏ cuộc.

Các môn huấn luyện trong tuần lễ Địa Ngục như sau đây:

• Thực tập chất nổ trên bờ, chất nổ dưới nước.
• Phá hoại trên bờ, phá hoại dưới nước.
• Đột kích, phục kích, phản phục kích.
• Phòng thủ trên bờ, phòng thủ dưới nước.
• Giết lính gác, bắt tù binh, giải thoát tù binh.
• Thu thập tin tức tình báo tác chiến.
• Bơi trên mặt nước, lặn dưới mặt nước ban ngày và ban đêm.
• Đội xuồng vượt chướng ngại vật.
• Chèo xuồng vượt sóng, ban ngày và ban đêm.
• Chạy bộ vượt đèo, vượt núi, chạy bộ đường cát, sình lầy ngày và đêm.
• Thả và vớt bằng xuồng cao su.
• Thám sát trên bờ, thám sát dưới nước.
• Lặn sâu, lặn xa, lặn có bình hơi và không có bình hơi.

Mỗi ngày đều bắt đầu bằng một giờ thể dục Người Nhái và tiếp theo là chạy bộ 30 cây số đường trường, rồi lội 4 hải lý (1 hải lý là 1,852 thước) 1,852 th x 4 hl =7,408 thước. Tất cả vệ sinh thường thức đều hủy bỏ hết, vừa ăn xong là tiếp theo giờ cận chiến trên bãi cát nóng, gồm các thế võ Việt Nam, Judo, Jiu Jitsu, Karate, Aikido và Teakwondo…. Tập luyện những thế võ giết địch không gây tiếng động.

Liên tục như vậy cho đến ngày thứ sáu, chúng tôi đã trải qua khổ nhục:

• 2 lần bơi từ bãi TTHL/HQ qua Hòn Lớn và trở về điểm Cầu Đá (khoảng cách 7,450 thước một lần).
• 2 lần đi dây Tử Thần bên TTHL/Biệt Động Quân.
• 2 lần chèo xuồng cao su quanh Hòn Lớn v.v..

Tất cả khoá sinh chúng tôi đều mệt mỏi dật dờ. Có anh đã ngủ gục trong lúc chèo xuồng vì đuối sức. Nhưng mọi sự việc rồi cũng trôi qua.

Hôm nay là ngày cuối cùng của tuần lễ Địa Ngục, khoá sinh chúng tôi lên tinh thần vì chỉ còn buổi hành xác 4 giờ chạy bộ là chúng tôi được “mở ngục”. Đúng 5 giờ sáng, tập thể dục xong, khoá sinh ăn điểm tâm và bắt đầu chạy từ TTHL/HQ dọc theo bãi biển vòng qua thành phố Nha Trang rồi chạy về Cầu Đá, vòng qua núi Lớn xuống Đồng Bò và trở về TTHL/HQ đúng 12 giờ trưa là chấm dứt.

Một khoá sinh gặp rủi ro khi đang chạy, anh bị sụp lỗ trên đường làm anh bị trật gân chân, đau quá nhưng cũng cố lê lết về đến trại thì đã quá giờ ấn định nên bị loại, anh ôm đầu tuôn rơi nước mắt.
oOo
Chấm dứt tuần lễ Địa Ngục, tất cả khoá sinh đều vui mừng nhưng không còn sức để reo hò mà tất cả đều nằm lăn ra ngủ vùi. Sau tuần lễ này cân đo lại mỗi khoá sinh đều sụt mất từ 4 cho đến 5 ký lô. Và nhân số khoá sinh đã rơi rụng từ đầu khóa là 120 người, đến sau tuần lễ Địa Ngục chỉ còn lại khoảng 40 người….

Bắt đầu khoá sinh học qua phần chuyên môn cao cấp tiếp theo như:

• Lặn sâu với bình hơi thở

• Thực tập đo nước lập Thủy Đạo

• Cập nhật hải đồ qua các phương pháp Bình Hành và Tác Chiến

• Thực tập chất nổ TNT, C4, v.v. các phương pháp và công thức khác nhau và các cách phá hoại để chận đường tiến quân, tạo chướng ngại vật để cản trở đường di quân của địch bao nhiêu phần trăm v.v.

• Thực tập Hải bàn và địa bàn của Bộ binh.

• Huấn luyện cận chiến võ thuật chiến đấu dưới nước v.v.

Thực tập Đột Kích. Ngày và đêm

Hôm nay là ngày đầu tiên thực tập nhảy không có dù từ trực thăng xuống biển từ ngoài khơi bơi vào bờ để phá hoại.

Thời tiết biển động cấp 3, cấp 4, sóng cao và gió thổi mạnh. 8 giờ sáng, 2 chiếc trực thăng của TTHL/KQ đáp xuống bãi biển trước TTHL/HQ. Chúng tôi đã sẵn sàng, một chiếc chở 6 khoá sinh bay lên trước để thử tốc độ gió. Khoá sinh Hồ Văn Khếnh được chỉ định nhảy trước vì anh đã được huấn luyện trong khóa Biệt Hải tại Đà Nẵng rồi. Trực thăng bay lượn một vòng rồi hạ thấp xuống lần còn cách mặt nước khoảng 20 thước, anh Khếnh đã đứng trước cửa hông của trực thăng sẵn sàng chờ khi hạ thấp còn chừng 10 thước thì đúng độ nhảy. Theo quy luật 30-30 nghĩa là trực thăng bay cách mặt nước 30 feet với tốc độ 30 Knots (30 Miles/giờ hay là 30 dặm/giờ), bỗng chiếc trực thăng bị hụt gió nên giật mạnh về một bên, anh Khếnh bất ngờ bị văng ra khỏi trực thăng vì mất thăng bằng chới với rớt xuống biển chìm luôn, khoá sinh chúng tôi vội nhào xuống biển tìm vớt, nhưng vì biển động mạnh đã cuốn xác anh ra xa.

Tạm ngưng chương trình huấn luyện, chúng tôi lo tìm kiếm xác anh Khếnh. Qua đến ngày thứ ba, toán ca nô đã vớt được xác của anh trôi qua gần tới Hòn Bãi Miếu. Khi khám nghiệm thi thể, bên hông anh bị gãy hết mấy xương sườn vì bị đập xuống mặt nước. Tang lễ tiễn đưa anh Khếnh ra nghĩa trang Khánh Hòa.

Ngày hôm sau chúng tôi bắt đầu thực tập nhảy trực thăng trở lại. Tiếng trực thăng bay vòng qua xóm Chutt làm kinh động người dân họ chạy ra xem chúng tôi đang thực tập. Họ lo sợ xôn xao bàn tán vì thấy tai nạn vừa xảy ra mà sao chúng tôi còn dám tập? Nhưng cuộc thực tập của chúng tôi ngày hôm đó đã thành công.

Lần lượt các môn học và thi mãn khóa. Tôi đậu Thủ khoa của khóa 2NN. Khóa sinh chúng tôi thở phào nhẹ nhỏm. Điểm lại khóa sinh đậu bằng chỉ còn lại 33 người (gồm 2 SQ và 31 HSQ/ĐV.) Thật là gian nan!

Ngày lễ mãn khóa được ấn định vào tháng 1/65. Khóa sinh được nghỉ ngơi một tuần trước khi làm lễ mãn khóa. Trung úy Hưng giao cho tôi trách nhiệm vẽ Phù Hiệu cho đơn vị.

Tôi nghĩ tới bức hình vẽ một tổ Người Nhái và trái Thủy lôi, đã làm cho tôi say mê và đã giúp tôi đạt được ước vọng trở thành Người Nhái như ngày hôm nay. Tôi vẽ hình trái Thủy Lôi đó vào giữa phù hiệu và màu đen của trái Thủy Lôi tượng trưng cho sự nguy hiểm, và cũng có ý nghĩa để tang cho tất cả Người Nhái anh dũng hy sinh vì Tổ Quốc.

BUỔI LỄ MÃN KHÓA 2 NGƯỜI NHÁI tại TTHL/HQ/NT

Hôm nay16-1-1965, là ngày trọng đại của khóa sinh chúng tôi. 5 giờ sáng anh em đã có mặt nơi diễn trường, cùng lo xếp đặt vật liệu, dụng cụ biểu diễn. Nơi khán đài các toán Sinh viên sĩ quan Hải Quân lo chuẩn bị dàn chào danh dự, và kiểm soát các hàng ghế của quan khách. Đúng giờ khai mạc, Đại Tướng Nguyễn Khánh Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến, Tư Lệnh Hải Quân Đề Đốc Chung Tấn Cang cùng với Hải Quân Trung Tá Nguyễn Đức Vân Chỉ Huy Trưởng TTHL/HQ, ra tiếp đón quan khách.

Bắt đầu làm lễ, khóa sinh Thủ khoa bước ra khỏi hàng quân tiến lên giữa hàng quay mặt về hướng khóa sinh, dõng dạc hô to: Khóa sinh! Quỳ! Dưới hàng quân Khóa sinh hô to đáp lại: Xuống! Và tất cả khóa sinh đồng quỳ xuống, Thủ khoa xoay người lại, hướng về phía quan khách rồi quỳ xuống, đưa tay thẳng về trước, đọc lời tuyên thệ Trung thành với Tổ Quốc, từng câu một, và khóa sinh cùng lập lại. Khi dứt lời tuyên thệ, Thủ khoa đứng lên và bước tới 3 bước, đứng nghiêm chào.

Đại Tướng Nguyễn Khánh bước đến trước Thủ khoa trao bằng Danh Dự rồi trở về khán đài. Thủ khoa xoay trở lại trước hàng quân, dõng dạc hô to Người Nhái… Đứng. Khóa sinh hô to đáp lại: Lên! Và kể từ giờ phút đó Khóa sinh đã trở thành Người Nhái.

Cuộc biểu diễn những kỹ thuật đặc biệt của Người Nhái

Bắt đầu các cuộc biểu diễn các môn như: Cận chiến, đột kích, phục kích, đổ quân từ ngoài khơi lội vào bờ phá các chướng ngại vật, phá hủy các công sự phòng thủ. Rồi bơi ra khơi so hàng dưới nước rồi tàu chạy đến kéo vớt lên với kỹ thuật đặc biệt của NN.

Tổ NN đổ quân bằng trực thăng để Người Nhái lặn đến mục tiêu phá hủy tàu ngoài khơi, do tôi và NN Nguyễn Đức Nguyên biểu diễn. Sau khi lặn đến đặt chất nổ dưới lườn ghe (tượng trương cho chiếc tàu), tổ của tôi lặn thẳng vào bờ biển và chạy đến trước khán đài. Đứng nghiêm chào thì là đúng giờ khai hỏa, chất nổ C4 đặt dưới lườn ghe phát nổ và chiếc ghe tan tành theo cột nước khổng lồ tung lên không trung.

Ảnh từ trái qua: Đại Tướng Nguyễn Khánh, Tổng Tư Lệnh QL/VNCH.
Ảnh giữa: Quan Khách chụp ảnh lưu niệm. Khóa 2 NN
Ảnh Phải: Phó Đề Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân

Sau buổi biểu diễn mãn khóa, Người Nhái chúng tôi được lệnh phải biểu diễn thêm một lần nữa tại Vũng Tàu theo chỉ thị của Đại Tướng để cho Hội Đồng Quân Lực và Nội Các Chánh Phủ xem, vì Đại Tướng cho biết rất thích cuộc biểu diễn của Người Nhái vừa rồi!
oOo
Riêng về phần tôi, những mơ ước ngày còn thơ ấu, nay đã trở thành sự thật. Sự thành công mà tôi đã phải trả một giá thật đắt, thật gian nan nếu tôi không đủ nghị lực, kiên nhẫn thì chắc không có được như ngày hôm nay. Và sự thành công này cũng đầy hiểm nguy trùng trùng điệp điệp cho đời tôi đang mở ra trước mắt vì nhiệm vụ Người Nhái là phải thi hành công tác đặc biệt trong nhiều lãnh vực, v.v.. Với lòng tự tin Người Nhái chúng tôi qua câu “Những gì người khác không làm được, Người Nhái phải làm được” để tự khuyên mình cố gắng nhiều hơn để hoàn thành mọi công tác do cấp trên giao phó.

HUẤN LUYỆN VIÊN NGƯỜI NHÁI

Năm 1965, Sau khi mãn khóa 2 NN, Liên Đội Người Nhái di chuyển ra căn cứ Hải Quân Cát Lở Vũng Tàu. Vào cuối năm BTL/HQ gởi văn thư cho LĐNN mở khóa huấn luyện cho một toán LLĐB gồm 5 người gốc Miên ở Hậu Giang để thi hành công tác bí mật ở Nam Vang.

Huấn luyện viên gồm có: Nguyễn Đức Nguyên (Trâu cổ) Nguyễn Văn Cang (Cang Mão) Huỳnh Ngọc Sâm (Sâm khùng), Nguyễn Văn Đạt (Đạt gồ) và tôi (An trâu nước).

Các khóa sinh ưu tú của LLĐB đã được tuyển chọn gởi đến. Nhưng sau hơn một tuần huấn luyện các khóa sinh LLĐB đã gởi thư xin đơn vị cho bỏ khóa học vì không theo nổi. Nhưng vì nhu cầu cần thiết của công tác nên BTL/LLĐB gởi công điện cho BTL/HQ yêu cầu giảm bớt phần huấn luyện chỉ cần học 1/3 chương trình huấn luyện mà thôi.

Sau khi mãn khóa, toán LLĐB trở về đơn vị. Và khoảng một năm sau báo chí loan tin chánh phủ Nam Vang kiện VNCH lên tới Liên Hiệp Quốc lý do là đã huấn luyện Biệt Kích đưa qua phá hoại Cam Bốt.

Nhân đây tôi xin lược qua nhiệm vụ huấn luyện viên NN là phải tập luyện cho các khóa sinh nếm mùi khổ nhọc, nhẫn nại để đi đến thành công. Vì Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu để sau này tung ra công tác tại các toán trên 4 Vùng Chiến Thuật, khắp 5 vùng Duyên Hải.

Nhưng khi nói đến huấn luyện viên Người Nhái thì phải biết các anh có sức chịu đựng hơn người vì các anh này là thành phần ưu tú trong các khóa học cũng như công tác và cũng từng trải qua các trận chiến. Ngoài chương trình huấn luyện chính, các anh còn đem kinh nghiệm của bản thân để giúp cho các khóa sinh hiểu biết thêm.

Khi huấn luyện nếu các khóa sinh thi hành không đúng lệnh thì huấn luyện viên cũng tự động VÀO THẾ 20 đến 50 cái hít đất với khóa sinh, nhiều khi cùng lúc phạt hết khóa sinh này lại đến khóa sinh khác, khi cộng lại người huấn luyện viên hít đất đến cả ngàn cái trong buổi huấn luyện. Các môn huấn luyện khác HLV luôn luôn hướng dẫn và cùng thi hành với khóa sinh chớ không phải chỉ tay năm ngón, vì thế nên các khóa sinh trong khi thụ huấn đều gọi các huấn luyện viên là HUNG THẦN. Còn các HLV khi vào khóa thì cũng giống như đang học thêm một khóa NN.

Mục đích sử dụng hình phạt trong lúc huấn luyện chính yếu là:

1. Phải TỰ GIÁC khi mình lầm lỗi, phải tự động phạt mình để tự mình sửa chữa lỗi lầm, phải cẩn trọng trong mọi công việc, vì khi đi công tác mà lầm lỗi chỉ một lần thôi thì đã về bên kia thế giới rồi (không có lần thứ hai) như ngành Phá hoại dưới nước UDT, tháo gỡ chất nổ EOD, v.v..)

2. Phạt hít đất hay những hình phạt khác đều có tính cách là tạo thêm sức khỏe, sự chịu đựng dẻo dai và nhẫn nhục cho khóa sinh, nhưng huấn luyện viên vẫn phải đi đầu! Nếu đem so sánh với các quân trường khác thì chúng ta sẽ thấy khác biệt, vì các quân trường đều áp dụng hình phạt kỷ luật, huấn luyện viên hoặc huynh trưởng chỉ ra lệnh cho khóa sinh hay sinh viên thi hành mà thôi, mục đích chính là tạo cho khóa sinh, sinh viên sĩ quan sợ kỷ luật mà tuân hành (vì người viết bài đã tốt nghiệp khóa 5/70 SQĐB Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức).

Được trui rèn trong lò “Luyện thép” của Người Nhái (Vietnam Navy SEALS) nên khi đi công tác hành quân, Người Nhái cảm thấy những khó khăn gặp phải đều không bằng trong lúc thụ huấn cho nên họ rất tự tin, và dĩ nhiên nếu NN có can trường xông pha oanh liệt nơi chiến trường thì chúng ta phải hiểu rằng huấn luyện viên của Người Nhái còn cao hơn họ một bậc!

NN Lê Đình An

Trận Tết Mậu Thân tại Vùng I văm 1968: Mặt trận trong thành Nội Huế – Trương Dưỡng

Trương Dưỡng

 

Huy hieu dai doi 90, 91, 92, 93, 94, TĐND

    Sáng hôm sau tiểu đoàn được chở cấp tốc bằng trực thăng Chinook vào giải tỏa thành nội Huế. Để tránh phòng không địch, phi công chỉ bay là đà sát ngọn cây, vậy mà cũng có một số bị thương vì đạn AK từ dưới bắn lên!

    Bãi đổ quân là một sân trống, trước bệnh viện Nguyễn Tri Phương, trong đồn Mang Cá. Lúc nầy tình hình Huế vô cùng bi đát! Địch đã làm chủ hết các cổng thành và bờ cao kiên cố, chỉ còn lại một góc nhỏ là đồn Mang Cá.

    Tại đây, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Sư Đoàn 1, đang chỉ huy cố thủ bằng những “Lính kiểng” cơ hữu. Mặc dù hằng ngày chịu đựng nhiều loạt pháo, họ vẫn bảo vệ được đồn, trong đó chứa hàng ngàn thương binh.
https://i1.wp.com/farm8.staticflickr.com/7196/6913283725_82ed4da043_b.jpg

    Trước khi kể đến cuộc quần thảo của Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù với sư đoàn chính qui của Việt Cộng trong Thành Nội, tôi muốn nói qua về Tướng Ngô Quang Trưởng, một vị tướng mà toàn quân hết sức khâm phục. Ngoài đức tính liêm khiết (nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng). Ông còn là người  đầy mưu lược, lễ độ, và vô cùng dũng cảm.

    Trong trận tái chiếm Quảng Trị năm 1972, ông đã dùng kế hoạch “Phong Lôi” rất tài tình. Do biết rõ địch đã gài nhiều nội tuyến trong các đơn vị, nhất là Bộ Binh và Địa Phương Quân. Ông lừa địch bằng cách phổ biến ngày N, sẽ cho quân Dù và Thủy Quân Lục Chiến vượt sông Mỹ Chánh tái chiếm Quảng Trị. Đối phương được tin, vội dàn quân tăng cường dầy đặc, gồm bộ binh chủ lực, hỏa tiễn 122 ly, chiến xa T-54, phòng không 30 ly,…dọc theo bờ Bắc sông Mỹ Chánh, để chuẩn bị nghênh chiến.

    Nhưng vào ngày N, Tướng Trưởng đã cho B-52 rải thảm suốt đêm, dọc theo tuyến án ngữ của địch. Ban ngày thì pháo binh, phản lực, và hải pháo luân phiên nã vào vị trí đối phương, khiến địch không có một phút nào yên ổn, để ngốc đầu trốn chạy. Thật đúng như là bị “Thiên lôi đánh”!

    Chờ vài ngày sau, biết địch không còn dám dàn quân như thế nữa. Họ phòng thủ hời hợt, vì tưởng ta chỉ pháo dọa chứ không dám làm thiệt. Đúng lúc đó, Tướng Trưởng đích thân dùng trực thăng ban khẩu lệnh cho từng đơn vị trưởng. Các Chiến đoàn Dù lập tức vượt sông vào lúc 1 giờ khuya, bên phải Quốc lộ I có Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, tất cả đồng loạt khởi binh!

    Mới 8 giờ sáng đã nghe Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù tịch thâu tới 11 khẩu phòng không 30 ly! Đây là chiến lợi phẩm lớn nhất từ trước tới giờ. Trong vòng một thời gian ngắn, Tiểu đoàn 11 Dù đã bắn cháy hơn mười chiến xa T-54, và Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm được cổ thành Quảng Trị.

    Ngũ Giác Đài và các tướng lãnh Mỹ và Pháp hết sức ngạc nhiên. Trước đây họ chỉ đánh giá cao tướng VC Võ Nguyên Giáp ở trận Điện Biên Phủ, nhưng tướng Giáp đã dùng chiến thuật biển người, phải nướng hơn trăm ngàn bộ đội. Cộng Sản đã bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích theo chủ thuyết Duy Vật: “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”.

     Tướng Giáp quả đúng là “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Tướng Trưởng trái lại, ông quý trọng và giữ gìn sinh mạng của từng người lính. Ông cũng khuyến khích, kiểm soát và chỉ dẫn cho từng sĩ quan, dù là sĩ quan cấp trung đội.

    Tướng Trưởng còn là người biết trọng lễ nghĩa, khi nghe Tướng Đống ra Huế, ông đã đến phi trường sớm, và ra tận cầu thang máy bay tiếp đón người thầy cũ của mình. Mặc dù lúc đó hai người cùng cấp bậc, nhưng SĐND thì trực thuộc quyền chỉ huy của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Tướng Đống cũng rất biết điều, mỗi lần họp hoặc nhận lịnh Quân Đoàn, ông thường cho Tư Lệnh Phó ra mặt. Riêng ông có mặt ở Huế để đốc thúc và trấn an các quân nhân trong SĐND (Vì các đơn vị trưởng rất nể trọng Tướng Tư Lệnh; có mặt ông, họ sẽ làm việc siêng năng hơn).

    Tướng Trưởng còn là người rất can đảm, mặc dù địch đã làm chủ hầu hết thành nội Huế, Đồn Mang Cá như chỉ mành treo chuông, nhưng ông vẫn cùng các lính kiểng ở lại cố thủ một diện tích nhỏ hẹp, ngày đêm chịu đựng mưa pháo, để bảo vệ an toàn cho hàng ngàn thương binh. Ông còn là người rất năng động nhiệt thành trong mọi công việc. Khi còn là Tiểu đoàn Trưởng TĐ5ND, lúc chạm địch, ông xung phong trước hàng quân. Ông đã chỉ huy linh động tài giỏi giành thế chủ động chiến trường, dù trong những tình thế khó khăn,…Trận Đỗ Xá ở Quảng Ngải năm 1965, trận Liên Kết năm 1966 đã đưa Tiểu đoàn nầy được hơn 6 lần tuyên dương trước quân đội và tiểu đoàn được đeo dây biểu chương màu Đỏ.

    Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, đơn vị xuất sắc đã cung hiến cho QLVNCH tám vị Tướng lãnh tài ba: Nguyễn Chánh Thi, Ngô Quang Trưởng, Trương Quang Ân, Hồ Trung Hậu, Đỗ Kế Giai, Lê Quang Lưỡng, và hai vị tướng đã hiển danh “Vị quốc vong thân”: Tướng Phạm Văn Phú và Nguyễn Khoa Nam.

    Sư Đoàn 1 rồi Quân Đoàn I, dưới tay ông, đã làm khiếp vía địch quân ở vùng Hỏa Tuyến.
https://i2.wp.com/farm6.staticflickr.com/5041/5361661323_8e7ede21dd_b.jpg

    Bây giờ xin trở lại trận chiến Tết Mậu Thân tại thành nội Huế. Về tình hình địch, bộ đội Bắc Việt từ hướng Tây Bắc, vùng thung lũng A Shau, A Lưới vừa xâm nhập, phối hợp với du kích địa phương, chĩa nhiều mũi dùi tiến vào cố đô Huế. Hướng Tây từ quận Nam Hòa, Nam Giao băng qua cầu Bạch Hổ chiếm cửa Chánh Tây. Hướng Bắc từ rặng Trường Sơn, qua chùa Thiên Mụ, Kim Long. Hướng Đông từ Đồng Xuyên, Mỹ Xá, dọc theo La Vân Thượng tới An Hoà chiếm cửa Đông Ba. Cánh cuối cùng từ Phú Thứ, Đập Đá, qua cầu Trường Tiền chiếm cửa Thượng Tứ.

    Về tình hình bạn, đại đội Hắc Báo của anh bạn cùng khóa Phan Gia Lâm đang bị bao vây trong Đại Nội. Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù sáng Mùng 1 Tết, chạy băng đồng marathon gần 20 cây số từ Sịa, Quảng Điền, và cây số 17, An Lỗ về giải cứu cố đô (Hai tiểu đoàn bị chận lại ở An Hoà mãi tới mùng 3 mới vào được BTL Sư đoàn 1 BB). Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù chúng tôi ở mặt trận Quảng Trị đã hao hơn trăm chiến sĩ, tới Huế vào trưa mùng 4 Tết, tạm bố trí trong đồn Mang Cá.

    Sáng Mùng 5 Tết, chúng tôi xuất phát để tái chiếm phi trường Tây Lộc và Cửa Chánh Tây. Vừa mới ra khỏi đồn được 200 thước, tôi gặp Thiếu tá Lê Minh Ngọc, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù đang dẫn binh đi ngang qua. Hỏi thăm thì biết lúc nầy quân số của Tiểu Đoàn 2 và 7 Nhảy Dù chỉ còn phân nửa! Họ bị thiệt hại nặng từ đêm Giao Thừa khi chiếm đầu cầu An Hòa, và đã giao tranh với địch trong Thành Nội mấy ngày qua. Chỉ 3 ngày mà đơn vị bạn đã hao quá nhiều. Chúng tôi ai nấy mặt mày bí xị, vì mình sắp sửa tiến vào vùng tử địa!  Không biết ai còn, ai mất, đúng là:

                    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

                    Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao

                                        (Chinh Phụ Ngâm)

    Khi vào tới gần tường thành Đại Nội, chúng tôi thấy phía trước có nhiều bóng đen thấp thoáng và nghe vài tiếng súng lẻ tẻ. Cả đại đội dàn quân xung phong, gặp một số người mặc áo đen giơ tay đầu hàng. Hỏi ra mới biết đó là binh sĩ của đại đội Hắc Báo.
https://i1.wp.com/farm6.staticflickr.com/5210/5362274944_8264652bc2_b.jpg

Gặp lại bạn đồng khoá Phan Gia Lâm, hai đứa bắt tay mừng mừng lo lo. Lâm nói giọng Huế:

    __ Lính mi sao còn nhiều quá vậy? Lính của tao chuồn về nhà ăn Tết gần hết!

    Hỏi thăm Lâm về tình hình phía trước, rồi chúng tôi thận trọng tiến dọc theo bờ kinh, thẳng về hướng phi trường L-19 ở Tây Lộc. Khu nầy nhờ Tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy Dù đã dọn sẵn, nên chỉ chạm địch lẻ tẻ, thỉnh thoảng có vài binh sĩ bị bắn tỉa từ phía bên kia bờ kinh. Sau khi chiếm phi trường, tiểu đoàn tiến về cửa Chánh Tây. Đánh trong thành phố thật không dễ, chúng tôi phải phá tường, leo cửa sổ để di chuyển. Các ngõ hẻm, cao ốc, đường cái, và ngả tư, đều có thượng liên địch chực sẵn.

    Khi đến gần cửa Chánh Tây, tôi thấy có rất nhiều địch đội nón cối, tay đang cầm súng Ak-47, B-40, đi qua lại trên bờ thành. Chúng tôi chờ trời tối cho khinh binh lén leo lên dùng lưỡi lê đánh cận chiến, chiếm được một góc thành làm đầu cầu cho đại đội nhào lên bắn ào ạt khiến địch trở tay không kịp. Dùng cách nầy tuy tổn thất nhiều, nhưng vì địch quân đã có lợi thế bờ thành cao trên 5 thước, nếu không liều mạng vào hang cọp thì làm sao bắt được cọp con. Càng dây dưa trì hoãn thì càng tổn thất tiêu hao dần dần, rốt cuộc không có thành quả gì. Trong hai ngày tiểu đoàn chiếm lại được cửa Chánh Tây và bàn giao lại cho Sư đoàn 1 BB trấn giữ. Chúng tôi bọc ngược trở lại để chiếm cửa Đông Ba .

    Tại đây có cây thượng liên đặt nơi cửa thành cao và rất kiên cố, chúng tôi thử xung phong nhiều lần mà không lên được cửa. Trung đội tôi lúc ấy còn 21 người, nhưng do khí thế chiến thắng từ Quảng Trị và cửa Chánh Tây vừa rồi, nên binh sĩ rất tự tin. Đợi ngay khi điều chỉnh pháo binh dập nát khẩu thượng liên, cả trung đội vừa bắn vừa hô xung phong tiến nhanh lên và chiếm được cửa thành. Thấy tên xạ thủ thượng liên chết nằm trên súng, hai chân bị khoá bằng dây xích.
https://i1.wp.com/farm8.staticflickr.com/7070/6913283019_22d680dd1e_b.jpg

    Kiểm điểm quân số lại thấy chỉ còn mười người nguyên vẹn. Mười một mạng người chết và bị thương, để đổi lấy cửa thành nầy đây. Lính Nhảy Dù trả nợ máu cho quê hương miền Nam, lấy lại sự thanh bình cho đồng bào xứ Huế. “Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”.  Gần ba mươi năm qua, trên đất Mỹ, tôi vẫn nhớ cảm giác cay cay đau đớn khi đứng trên cổng thành đổ nát của mùa xuân năm xưa! Mùa Xuân rây máu của xứ Huế mù trời sương đục, tang tóc đau thương!

    Mấy ngày sau, tiểu đoàn tiếp tục mở rộng kiểm soát các khu vực bên trong Thành Nội. Sáng Mùng 10, chúng tôi chuẩn bị vượt qua hồ Tỉnh Tâm để tìm cách đánh lấy lại cửa Thượng Tứ, cửa chính Nam, đi thẳng vào Đại Nội. Suốt tuần lễ, người không tắm rửa, chân không rời đôi giày trận, sống giữa màn trời chiếu đất, lót dạ bằng những chén cháo trắng. Tuy lương thực không được tiếp tế, nhưng lúc đó không ai ăn vô nổi, vì hằng ngày nhìn thấy xác chết đầy đường, không có người thu dọn. Chúng tôi sống với và giữa những người chết, họ là những người dân đã sống trong chịu đựng và chết trong oan khiên. Họ đã chết cho ai, vì ai?.. Bao nhiêu năm câu hỏi vẫn còn, không được ai đứng ra lãnh trách nhiệm trả lời.

    Trung đội vượt qua hồ Tỉnh Tâm phía ngoài Cầu Kho, tiến vào lục soát ngôi biệt thự khá sang trọng. Khi vừa rút ra khỏi nhà, thì nghe “Đùng” một tiếng, một quả lựu đạn hay súng cối gì đó rơi đúng vào giữa đội hình trung đội tôi! Mọi người đều ngã lăn vì trúng mảnh đạn. Lưng tôi bị đầy mảnh, máu ướt đẩm cả áo trong lẫn áo ngoài.

    Tôi đang kiệt sức dần, thì bỗng nhiên thấy một tên lính địch chạy qua nhà tôi đang nằm. Trong khi tên bộ đội chưa phát giác, do từ một phép lạ hoặc bản năng sinh tồn, tôi đứng dậy, chạy băng về bộ chỉ huy đại đội, các anh em binh sĩ cũng nhanh chân rút theo. Mắt loáng thoáng nhìn thấy Đại đội trưởng Thành Râu từ xa, tôi kiệt sức ngã lăn nằm bất tỉnh trước sân đất trước nhà.
https://i2.wp.com/farm8.staticflickr.com/7045/6913278987_449a33b9a6_b.jpg

    Lúc tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trên lầu của một biệt thự sang trọng. Anh bạn tốt là bác sĩ Thiện mượn mền để đắp cho tôi nhưng chủ nhà không chịu. Tối đến thấy trên mình có cái mền mới tinh, nhưng nó bị trượt qua một bên, vết thương bắt đầu hành sốt, người run lập cập. Tôi định kéo mền lên đắp, nhưng dở tay không nổi, đành nằm chịu trận! Nhìn xung quanh thấy có vài thương binh bị nặng quá đã hy sinh, còn những người khác thì mê man. Sáng ra mới biết anh Thiện đã lén “Mượn tạm” mền để đắp cho tôi. Sau đó nghe nói chủ nhà nầy là kinh tài (hãng xe bus vàng) của Việt Cộng. Hắn ta cùng bọn nằm vùng đã làm nội tuyến hướng dẫn bộ đội vào thành, quấy nhiễu dân chúng, gây bao nhiêu cảnh chết chóc, lầm than cho những kẻ vô tội trong ba ngày Xuân.

    Hơn một tuần quần thảo trong thành nội, Tiểu đoàn 9 Dù còn thảm hơn hai Tiểu đoàn Dù bạn. Quân số còn lại những người nguyên vẹn không quá một trăm!

    Lúc chuyển quân ra Vùng I Chiến Thuật, Tiểu đoàn cần tới 5 chiếc vận tải cơ C-130, nhưng trở về với một chiếc mà còn thấy rộng. Riêng Trung đội 1 của tôi thì coi như báo cáo tổn thất “ Nằm, ngồi ”(chết, bị thương) là 100%.

    Để diễn tả về trận chiến Tết Mậu Thân tại Vùng Giới Tuyến nầy, tôi xin phỏng theo hai câu thơ bất hủ ở mặt trận An Lộc, Bình Long :

                    Cố đô Huế Mậu Thân chiến tích

                    Chiến sĩ Dù vị quốc vong thân!

Trương Dưỡng

Nguôn: dtruong.com/stories/MotCanhHoaDu

Có biết tôi là ai không ?

VietHai Tran
Một anh bạn thích lối văn tếu của nhà văn Bùi Bảo Trúc. Anh nhờ tôi đăng một bài, tôi chọn bài sau đây, câu chuyện ý nhị về bản ngã con người khi cái tôi khá lớn… VHLA.
————————————————————————————————–
Có biết tôi là ai không ?
Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi lăm năm trước.
Một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sàigon, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi : “Ông biết tôi là ai không ?”
Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết. Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.
Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.
Sang đến Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng bị hỏi câu hỏi đó, mà đau cho những người đó, cả Mỹ lẫn Việt, tôi không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi đó của họ cả. Họ thì nghĩ tôi phải biết họ, mà thật tình, tôi thì không hề biết họ bao giờ. Và cứ mỗi lần bị những nhân vật như thế cật vấn, thì tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, giả bộ lục lọi cái trí nhớ thảm hại của tôi để tìm câu trả lời cho người nổi tiếng nhưng vô danh và không ai thèm biết đó.

Mấy tháng trước, trong chuyến về lại Los Angeles, California , tôi phải ghé lại Newark, New Jersey để đổi máy bay. Phi cơ của tôi bị trễ hơn một tiếng. Hành khách có một số rất bực bội vì công việc bị xáo trộn do sự chậm trễ của máy bay gây ra.

Tại quầy bên cạnh cổng 112, một tiếp viên dưới đất của công ty đang cố giải quyết những yêu cầu, khiếu nại của khách hàng thì bỗng nhiên một hành khách có vẻ tức tối lắm, lấn lên phía trên, len qua mặt mấy người khác và ném tấm vé lên quầy.
Ông ta nói lớn rằng ông ta muốn được cho bay chuyến sớm nhất và phải xếp cho ông ta ngồi hạng nhất. Người tiếp viên trả lời rằng cô xin lỗi về những phiền nhiễu mà chuyến bay gây ra cho ông, nhưng cô cũng phải giải quyết những hành khách tới trước và hứa là sẽ giúp ông khi đến lượt ông.
Nhưng ông khách không bằng lòng, ông hỏi như hét vào mặt cô, rõ ràng là để cho các hành khách khác cũng nghe được. Ông hỏi đúng câu mà tôi cũng bị hỏi mấy lần : “Cô biết tôi là ai không ?” (Do you know who I am ?).
Thì ra người Mỹ, trẻ và xinh như cô tiếp viên cũng bị hạch hỏi bằng câu đó chứ chẳng riêng gì tôi. Tôi liền cố lắng tai nghe xem cô tiếp viên ở quầy trả lời như thế nào để biết mà ứng phó sau này. Người phụ nữ này, vẫn tươi cười, cầm chiếc micro của hệ thống khuếch âm lên và nói lớn bằng giọng rành rẽ rằng: “Ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quí hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”
Ông khách tự nhiên, vì chính câu hỏi của ông, biến thành một bệnh nhân tâm thần, một người mắc Alzheimer, một người lãng trí, tâm lý, thần kinh thác loạn, lẫn lộn bản thể, không còn nhớ mình là ai, tên gì, ở đâu nữa. Và lúc ấy thì đám hành khách đang sốt ruột đứng trước quầy đều phá ra cười.
Ông khách điên tiết, chỉ mặt người tiếp viên ở quầy và bật ra một câu chửi thề tục tĩu : “Đ.M. mày” (F..k you) .
Người phụ nữ ở quầy, không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này : “I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too”. (Thưa ông, chuyện đó, chuyện ông đòi giao hợp với tôi, ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được.).
Chao ôi, hay biết là chừng nào ! Thế mà tôi không nghĩ ra từ bao nhiêu năm nay để mà ấm ức không nguôi.
Bây giờ, nếu người đàn ông ngày xưa ở Saigon hay dăm ba người khác đặt lại câu hỏi đó với tôi, thì tôi đã có ngay được câu trả lời học được của người tiếp viên phi hành ở phi trường Newark, New Jersey hai hôm trước.
Bùi Bảo Trúc
Image may contain: one or more people and text
Image may contain: one or more people and suit
Image may contain: 1 person, eyeglasses and closeup
No automatic alt text available.